Tải bản đầy đủ (.docx) (9 trang)

NGUYÊN TẮC DẠY HỌC NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (55.69 KB, 9 trang )

MỞ ĐẦU
Giáo viên là một nghề có đặc tính khác hẳn với các công việc trong cuộc sống. Dạy
học là một nghệ thuật với các kĩ năng kết hợp vô cùng phức tạp. Không phải cứ có
tấm bằng sư phạm và đứng trên lớp thì có thể hoàn thành những thiên chức “trồng
người”. Một nhà giáo không chỉ cần cái tâm mà còn cố gắng khai thác tất cả tài
năng của bản thân để phục vụ tiết học. Để làm được điều đó người dạy phải hiểu rõ
các nguyên tắc tổ chức dạy học để linh hoạt trong giảng dạy. Đối với môn Ngữ
Văn thì các nguyên tắc này càng khó áp dụng hơn bởi nó là môn học với đặc thù tư
duy ngôn ngữ. Vậy những nguyên tắc nào trong dạy Văn có thể hỗ trợ cho người
giáo viên chiếm lĩnh và đưa học trò đến gần hơn với Văn học?
Gồm có 6 nguyên tắc sau:
a. Nguyên tắc tiếp cận giao tiếp trong dạy học Ngữ văn
b. Nguyên tắc tiếp cận quan điểm lịch sử trong dạy học Ngữ văn
c. Nguyên tắc tích hợp trong dạy học ngữ văn
d. Nguyên tắc rèn luyện và phát triển các loại hình tư duy: tư duy logic và tư duy
hình tượng
e. Nguyên tắc xây dựng bản sắc cá nhân, phát triển nhân cách (cá thể) trong
mối quan hệ thống nhất với cộng đồng.
f. Nguyên tắc khai phóng tư duy, phát huy tính tích cực, chủ động của người
học
Nhưng trong đề tài hôm nay nhóm chúng tôi tập trung tìm hiểu hai nguyên tắc a và
b.


NỘI DUNG
1. Nguyên tắc tiếp cận giao tiếp trong dạy học Ngữ văn
1.1. Khái niệm
Tiếp cận giao tiếp là một kiểu hành động lấy giao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ
làm nền để triển khai các hoạt động dạy học. Vậy tiếp cận giao tiếp trong dạy học
ngữ văn là dựa vào hoạt động giao tiếp của tác phẩm văn học để dạy học sinh tiếp
nhận chúng trong tiết học phân môn Văn học; cụ thể là dùng tiếng Việt để dạy học


sinh cách viết, cách đọc hoàn chỉnh một văn bản tiếng Việt đúng ngữ pháp và đúng
chính tả, là dạy cho học sinh những kĩ năng để trình bày một văn bản theo yêu cầu.
Những điều này đang thực hiện nguyên tắc tiếp cận giao tiếp.
1.2. Ứng dụng trong dạy học Ngữ Văn
1.2.1. Yếu tố ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài
người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Song các yếu tố ngôn
ngữ hoạt động trong lời nói lại kết hợp với các tín hiệu khác (không phải ngôn
ngữ) như điệu bộ, cử chỉ, tình huống giao tiếp, … để làm nên đơn vị giao tiếp (phát
ngôn, ngôn bản hay diễn ngôn).
Các nhà văn, nhà thơ, nhà biên kịch giao tiếp với chúng ta thông qua tác
phẩm nhằm truyền tải tư tưởng trong chính đứa con đẻ tinh thần của mình đến với
người đọc. Muốn truyền tải hết giá trị ý nghĩa tác phẩm thì những nhà văn, nhà thơ,
nhà biên kịch phải sử dụng ngôn ngữ như là công cụ giao tiếp giữa mình và công
chúng. Chính vì vậy, mà mỗi tác phẩm được tạo dựng lên như là một phát ngôn
trước cuộc đời, tức là đơn vị lời nói bằng ngôn ngôn ngữ với các yếu tố phi ngôn
ngữ.


Như trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du thì con số 3254 câu thơ
đó chính là yếu tố ngôn ngữ mà Nguyễn Du truyền tải đến người đọc. Với kết cấu
theo mạch truyện ngắn và những thi pháp đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực thì
Nam Cao đã xuất sắc tạo dựng truyện ngắn Lão Hạc đến người độc giả như là một
phát ngôn của Nam Cao về cuộc sống của người nông dân Việt Nam trong xã hội
Việt Nam lúc bấy giờ. Bối cảnh trong Xí nghiệp Thắng Lợi và những đoạn đối
thoại giữa vị giám đốc và những người công nhân trong xí nghiệp được Lưu Quang
Vũ dựng lên trong vở kịch Tôi và chúng ta để đề cập đến hàng loạt vấn đề nóng
bỏng của thời kì đổi mới những năm 80 của thế kỉ trước trên đất nước ta.
1.2.2. Yếu tố phi ngôn ngữ
Tuân thủ nguyên tắc tiếp cận giao tiếp trong dạy học tác phẩm Văn học

nghĩa là phải gắn nội dung văn bản với bối cảnh xã hội lịch sử. Tác phẩm văn học
là một phát ngôn của nhà văn trước cuộc đời và bằng một văn bản thuần túy về câu
chữ thì ta chưa thể hiểu được nội dung của tác phẩm đó một cách sâu sắc và đầy
đủ. Mỗi tác phẩm văn học được ra đời trong một hoàn cảnh riêng. Những thăng
trầm lịch sử tác động vào tác giả và được tái hiện vào tác phẩm theo cảm quan
riêng của tác giả. Chính vì vậy, ta phải đặt tác phẩm đó vào bối cảnh lịch sử xã hội,
với tiểu sử cùng cảm quan, nhân sinh quan, thế giới quan của tác giả mới có thể
nắm bắt được tư tưởng chủ đề của tác phẩm đầy đủ nhất.
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, nếu như ta không đặt tác phẩm vào bối
cảnh lịch sử xã hội cuối thế kỷ XVIII thì ta không thể hiểu hết được Nguyễn Du
đang muốn nói gì. Chính vì vậy, việc soi chiếu Truyện Kiều vào bối cảnh lịch sử xã
hội lúc bấy giờ sẽ giúp người đọc nhận thức được giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực
của tác phẩm và những tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Du. Hay trong vở kịch Tôi và
chúng ta của nhà thơ, nhà biên kịch tài hoa Lưu Quang Vũ, ta có thể nhận thấy


rằng nếu như vở kịch Tôi và chúng ta không được đặt trong bối cảnh xã hội Việt
Nam của thời kì đổi mới ở những năm 80 thì chúng ta không thể hiểu được Lưu
Quang Vũ muốn nói đến vấn đề gì. Khi ta đặt vở kịch cùng với bối cảnh nó được
ra đời thì ta có thể nhận thấy Tôi và chúng ta khẳng định rằng không thể có thứ chủ
nghĩa tập thể chung chung, không thể giữ mãi các nguyên tắc, phương pháp của
thời cũ trước sự chuyển biến sinh động của cuộc sống, của xã hội Việt Nam thời kỳ
đổi mới.
Để hiểu toàn vẹn giá trị của các tác phẩm văn học, người giáo viên dạy văn
phải đặt các tác phẩm văn học vào trong bối cảnh. Chính vì vậy, khi dạy tác phẩm
văn học thì người giáo viên phải giới thiệu cho học sinh về hoàn cảnh ra đời, vài
nét về tác giả, tác phẩm. Khi chúng ta đặt tác phẩm vào bối cảnh giao tiếp thì ta
mới hiểu hết về nhân vật, sự kiện, ý đồ, tư tưởng, chủ đề mà tác giả gửi gắm vào
trong tác phẩm. Và khi chúng ta đánh giá nhân vật văn học, sự kiện thì chúng ta
phải cần đặt nó vào trong bối cảnh giao tiếp lịch sử để sự đánh giá đó không mang

tính chủ quan, phiến diện. Và đặc biệt phải nhấn mạnh những sự kiện lịch sử có
liên quan đến nội dung tác phẩm.
1.2.3. Phát ngôn trong Tiếng Việt
Dạy học Ngữ văn trong nhà trường cho học sinh với mục tiêu chủ yếu là
hình thành ở các em năng lực tiếp nhận và năng lực tạo lập các phát ngôn. Ta có
thể thấy trong SGK lớp 10 bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thì có đề cập
hoạt động giao tiếp có hai quá trình: Quá trình tạo lập (hay sản sinh) lời nói, văn
bản. Quá trình này do người nói hoặc người viết thực hiện. Quá trình tiếp nhận
(lĩnh hội) lời nói, văn bản do người nghe hoặc người đọc thực hiện. Hai quá trình
của hoạt động giao tiếp luôn diễn ra trong quan hệ tương tác với nhau. Trong khi
giao tiếp, người nói (viết) có thể vừa là người tạo lập nhưng cũng lại vừa là người


tiếp nhận lời nói (văn bản) bởi các vai giao tiếp luôn luôn thay đổi. Chính vì vậy
khi xem xét các quá trình giao tiếp, chúng ta phải đặc biệt chú ý tới các tình huống
giao tiếp cụ thể khác nhau.
Hoạt động giao tiếp có sự tham gia của nhiều nhân tố. Các nhân tố này vừa
tạo ra chính hoạt động giao tiếp lại vừa chi phối tới hoạt động giao tiếp. Các nhân
tố đó là:
a) Nhân vật giao tiếp : Ai nói, nói với ai,?
b) Hoàn cảnh giao tiếp : Nói trong hoàn cảnh nào, ở đâu, khi nào ?
c) Nội dung giao tiếp : Nói cái gì, về cái gì ?
d) Mục đích giao tiếp : Nói để làm gì, nhằm mục đích gì ?
e) Phương tiện và cách thức giao tiếp : Nói như thế nào, bằng phương tiện gì ?
Để đi đến khái quát hóa, ta có thể phân tích văn bản sau:
Anh Tuấn: Cháu chào ông ạ! (chào)
Ông: -Anh Tuấn hả? (chào lại)
-Lớn tướng rồi nhỉ? (khen)
- Bố cháu có gửi pin đài lên cho ông không? (hỏi)
Anh Tuấn: Thưa ông, có ạ! (trả lời)

Từ đây, ta có thể thấy rằng cả ba câu trong lời nói của ông già đều có hình
thức của câu hỏi, nhưng câu thứ ba (Bố cháu có gửi pin đài lên cho ông không ?)
mới có mục đích hỏi thực sự. Câu "A Tuấn hả ?" mang hình thức là câu hỏi nhưng
thực chất là chỉ câu chào đáp, và câu "Lớn tướng rồi nhỉ ?" là một lời khen, do đó
Anh Tuấn không trả lời. Lời của nhân vật ATuấn đối với ông thể hiện sự kính


trọng (Thưa ông, có ạ!). Lời của ông già thể hiện thái độ yêu quý, trìu mến của
ông đối với cháu (hả, nhỉ).
Các quy tắc hội thoại, tức quy tắc tạo ra và tiếp nhận phát ngôn gắn liền với
các nhân tố giao tiếp buộc người tham gia giao tiếp phải nắm vững chúng. Chính
vì vậy, là giáo viên dạy Ngữ văn thì chúng ta cần hình thành ở các em năng lực
tiếp nhận các phát ngôn để hiểu rõ những phát ngôn đó đang nói gì và đề cập đến
cái gì. Từ đó tạo dựng cho các em năng lực tạo lập các phát ngôn để các em có thể
rèn luyện khả năng nói, khả năng diễn đạt về tư duy ngôn ngữ của mình trong sự
giao tiếp với mọi người xung quanh một cách trôi chảy, mạch lạc và đúng ngữ
pháp. Trong quá trình rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ Tiếng Việt, người giáo viên
phải lưu ý cho học sinh vận dụng trong môi trường giao tiếp bên ngoài. Từ đó, tạo
cho học sinh có một thói quen đúng trong việc xây dựng và tiếp nhận các phát
ngôn.
2. Nguyên tắc tiếp cận quan điểm lịch sử trong dạy học Ngữ văn
2.1. Khái niệm
Tiếp cận quan điểm lịch sử là một kiểu nhận thức có tính khoa học, là nhận
thức sự vật, sự việc, con người trong mối liên hệ với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của
nó.
Các Mác đã nêu lên một luận điểm rất nổi tiếng: “Con người là tổng hòa các
mối quan hệ xã hội”. Bản chất con người hay cụ thể hơn là tư tưởng, không phải là
cái gì đó nhất thành bất biến mà nó được hình thành và phát triển dựa trên hiện
thực xã hội. Nói như vậy cũng đồng nghĩa với việc muốn tìm hiểu một cá nhân ta
buộc phải đặt cá nhân đó vào hoàn cảnh xã hội cụ thể. Từ đó, xác định được quan

điểm cộng đồng và sự vượt trội của quan điểm cá nhân.


Tác phẩm văn học là một phát ngôn riêng của tác giả. Nó thể hiện đầy đủ và
sâu sắc quan điểm tư tưởng và tài năng nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ. Để tìm
hiểu về nội dung và ý nghĩa văn bản đòi hỏi người đọc phải đặt tác phẩm vào trong
một bối cảnh giao tiếp nhất định. Bối cảnh giao tiếp xã hội sẽ giúp người đọc xác
lập được tư tưởng chủ đề của tác phẩm.
2.2 Ứng dụng trong dạy học Ngữ Văn
Nếu áp dụng được nguyên tắc tiếp cận quan điểm lịch sử thì người giáo viên
đang khai thác cả hai lợi thế của môn Văn học và Lịch sử. Triết gia Marcus Tullius
Cicero_ một nhà hùng biện được coi là vĩ đại nhất La Mã đã nhận định: “Một thế
hệ ngoảnh mặt lại với lịch sử là một thế hệ không có quá khứ - và cũng không có
tương lai”. Những quá khứ, những bối cảnh xã hội trước đây kết hợp cùng với nội
dung văn bản chắc chắn sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về những tác phẩm văn học,
hiểu rõ hơn về những đau thương, những hào hùng thông qua các áng văn thơ bất
hủ.
Trong dạy học bộ môn Ngữ Văn, nguyên tắc tiếp cận quan điểm lịch sử là
một trong những yếu tố then chốt để tìm hiểu về ý nghĩa tác phẩm. Các câu văn,
dòng thơ – phát ngôn của tác giả là những yếu tố ngôn ngữ được xác lập. Song để
lý giải và làm sáng rõ nội dung ý nghĩa văn bản thì việc đặt tác phẩm vào bối cảnh
xã hội là một điều bắt buộc. Bối cảnh xã hội chính là yếu tố phi ngôn ngữ giúp
người đọc khảo sát một cách khách quan về những vấn đề tư tưởng, dư luận và đời
sống của tác phẩm.
Chẳng hạn như tách những câu thơ sau ra khỏi bối cảnh xã hội của Việt Nam
trung đại thì người đọc liệu có thể tiếp nhận được:
“Phong lưu rất mực hồng quần,


Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.”
Hay như không để Chí Phèo được sống trong làng Vũ Đại những năm trước
Cách mạng tháng Tám làm sao để lý giải được sự tha hóa và thay đổi nhân cách
đến đáng sợ của người nông dân?
Rồi có bao giờ mọi người thử tách Sử thi Đăm Săn ra khỏi tiến trình phát
triển của người Ê-đê và đọc nó với tư duy của người hiện đại chưa? Sẽ rất ngớ
ngẩn nếu ai đó có ý định làm điều này.
Hoặc một lúc nào đó bạn muốn đưa anh hùng Ô-đi-xê bước ra với thế kỉ
XXI để tìm hiểu về chân dung của nhân vật này thì hãy kể với chúng tôi vì đó chắc
chắn sẽ là công trình táo bạo bậc nhất.
Chỉ với vài ví dụ đơn giản và cơ bản này đã có thể thấy được vai trò quan
trọng của nguyên tắc tiếp cận quan điểm lịch sử trong dạy học Ngữ văn. Nhà cách
mạng, Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam, người viết và đọc bản Tuyên ngôn
Độc lập Việt Nam đã từng tuyên bố: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích
nước nhà Việt Nam”. Biết sử chính là cách để học Văn tốt nhất.
Nhưng có một lưu ý là người giáo viên không được phép bịa đặt hay xuyên
tạc lịch sử, không được thay đổi lịch sử để thể hiện quan điểm cá nhân mà ảnh
hưởng đến tiếp nhận của học trò. Đây là một yêu cầu bắt buộc mà bất cứ nhà giáo
nào cũng phải nắm rõ.


KẾT LUẬN:
Kết hợp các nguyên tắc tổ chức dạy học là điều cơ bản mà bất cứ người giáo
viên nào cũng cần quan tâm. Đặc biệt với hai nguyên tắc mà chúng tôi vừa trình
bày là nguyên tắc tiếp cận giao tiếp trong dạy học Ngữ văn và nguyên tắc tiếp cận
quan điểm lịch sử trong dạy học Ngữ văn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với bộ
môn Ngữ văn. Nếu người nhà giáo áp dụng linh hoạt chắc chắn sẽ mang lại hiệu
quả cao trong môn học. Bộ môn Ngữ Văn đang thiếu đi sự quan tâm và ngày càng
bị coi nhẹ bởi xã hội. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, hơn bao giờ hết những

nhà giáo dục của chúng ta phải không ngừng cách tân, đổi mới, áp dụng linh hoạt
những phương pháp theo nguyên tắc dạy học tiến bộ.



×