Tải bản đầy đủ (.docx) (10 trang)

THƠ TỰ DO CỦA PUSKIN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (58.21 KB, 10 trang )

1. Các
1.1.

vấn đề về tư tưởng tự do
Tư tưởng tự do
Trong nhiều ngôn ngữ phương Tây, từ tự do xuất phát từ liber của tiếng Latinh, có
nghĩa tự do, không phải nô lệ. Từ này đi liền với từ liberty trong tiếng Anh và khái
niệm tự do. Âm ỉ suốt trong đêm trường Trung Cổ, cuộc đấu tranh vì tự do bắt đầu từ
phong trào Phục hưng Ý, trong cuộc đấu tranh giữa một bên là những người ủng hộ
các thành bang độc lập và một bên là những người ủng hộ Giáo hoàng hay Hoàng đế
La Mã Thần thánh.
Theo Bách khoa toàn thư mở “Thuyết tư tưởng tự do khẳng định rằng các cá nhân
không nên chấp nhận hay phủ nhận các quan niệm được đưa ra như là các chân lý mà
không dùng đến tri thức và lý tính. Do đó, những người có tư tưởng tự do cố gắng xây
dựng các niềm tin của mình dựa trên cơ sở của các dữ kiện, truy vấn khoa học, và các
nguyên lý lôgic, tránh phụ thuộc vào bất cứ ngụy biện dữ kiện/lôgic, tránh chịu ảnh
hưởng của quyền lực, sự thiên vị trong nhận thức (cognitive bias), kiến thức truyền
thống, văn hóa đại chúng, định kiến, chủ nghĩa bè phái, truyền thống, lời đồn đại, và
các nguyên tắc giáo điều hay sai lầm khác. Theo đó, khi áp dụng cho tôn giáo, triết lý
tư tưởng tự do cho rằng: với các dữ kiện hiện có, các lý thuyết khoa học đã được chấp
nhận rộng rãi, và các nguyên tắc lôgic, không đủ bằng chứng cho sự tồn tại của các
hiện tượng siêu nhiên.”
Tư tưởng tự do nhấn mạnh đến quyền cá nhân. Nó đi tìm kiếm một xã hội có đặc
điểm là tự do tư tưởng cho mỗi cá nhân, hạn chế quyền lực (nhất là của nhà nước và
tôn giáo), pháp trị, tự do trao đổi tư tưởng, một nền kinh tế thị trường hỗ trợ doanh
nghiệp tư nhân tự do, và một hệ thống chính phủ minh bạch trong đó các quyền của
công dân được bảo vệ. Chủ nghĩa tự do phủ nhận nhiều giả thuyết nền tảng đã thống
trị các lý thuyết đầu tiên về nhà nước, chẳng hạn như thần quyền của vua chúa, vị trí
có được do thừa kế và quốc giáo. Những quyền căn bản của con người mà tất cả
những người theo chủ nghĩa tự do đều ủng hộ là quyền được sống, quyền tự do và
quyền sở hữu tài sản.



1.2 Tư tưởng tự do trong nghệ thuật và
1.2.1 Tư tưởng tự do trong nghệ thuật:

văn học

Không phải chính trị hay khoa học, chính nghệ thuật lại là phạm trù quan tâm đến tự
do nhất. Tự do và nghệ thuật như một quả cam mọng nước, bao bọc lấy nhau và sở
hữu lẫn nhau, như lời tuyên bố của Albert Camus “Không có tự do, không có nghệ
thuật; nghệ thuật chỉ sống dựa vào sự gò bó nó tự tạo nên cho mình, và sẽ chết dưới


mọi dạng khác.” Với một mong muốn về cuộc sống bình đẳng, con người được hưởng
sự sống tuyệt vời với tất cả quyền lợi của mình, các nhà làm nghệ thuật đã nhắc đến
vấn đề tự do trong rất nhiều tác phẩm của mình. Đó là tư tưởng thấm vào Picasso
khiến ông sáng tạo nên những bức tranh khỏa thân nổi tiếng như bức Những người
phụ nữ Algiers, Lá xanh, khỏa thân và bầu ngực. Hoặc như trong lịch sử các tác phẩm
hội họa kinh điển của nền mỹ thuật Pháp, bức “La Liberté guidant le peuple” (Nữ thần
Tự do dẫn dắt người dân) của danh họa Pháp Eugène Delacroix luôn được xem là tác
phẩm đắt giá, ghi lại được tinh thần của Cách mạng Pháp. Bức “Nữ thần Tự do dẫn
dắt người dân” khắc họa lại sự kiện Cách mạng Tháng 7 (1830) của nước Pháp,
nhưng khi bình luận về bức tranh này, người ta thường nhìn nhận sự kiện như một cái
cớ để danh họa Delacroix sáng tác, còn bản thân bức tranh đã vượt ra khỏi ý nghĩa
của một sự kiện cụ thể, để vươn lên tầm vóc của một bức tranh khái quát nên những
biểu tượng lớn lao của nước Pháp. Hay như người đàn ông "đã tạo ra những sự diễn
đạt thi vị theo cách mới trong truyền thống ca khúc tuyệt vời của Mỹ"_Bob Dylan đã
đưa những vấn đề về tự do xuất hiện liên tục trong các tác phẩm âm nhạc của
mình_“How many years must a mountain exist before it is washed to the sea? How
many years can some people exist before they're allowed to be free?” (Tạm dịch: Bao
nhiêu năm núi vẫn ung dung,cho đến một ngày núi sẽ nằm dưới biển? Bao nhiêu lâu

ta sẽ sống, nhưng đến một ngày mới thật sự tự do?)
1.2.2

. Tư tưởng tự do trong văn học:
Hoàng đế Marcus Aurelius - được mệnh danh là một vị vua - triết gia lý tưởng trong
tác phẩm "Suy ngẫm", đã viết về: “...ý niệm về một thực thể chính trị được quản lý
theo cách sao cho có quyền bình đẳng và có tự do bình đẳng trong ngôn luận, và ý
niệm về một nhà nước quân chủ tôn trọng tự do của những người bị trị...” - Marcus
Aurelius Antoninus Augustus, một trong những tác phẩm đầu tiên nói đến tự do. Hay
Những đứa con của tự do (Marc Levy) đi đến những khẳng định về những con người
khao khát tự do, trải qua bao nhiêu khó khăn của cuộc chiến với Đức quốc xã, đối
diện với cái chết, với thiếu thốn,... nhưng họ vẫn hướng về tương lai: một mùa xuân
của tự do. Nhà thơ Nga nổi tiếng Mikhail Yuryevich Lermontov thường xuyên viết về
tự do đã từng lên tiếng:
“Я ищу свободы и покоя!
Я б хотел забыться и заснуть!”
(Tạm dịch: Tôi đi tìm tự do và tĩnh lặng


Tôi chỉ mong giá được ngủ và quên!)
Rồi tiếng lòng tha thiết và dữ dội của Paul Éluard:
“Trên quyển vở nhà trường
Trên án viết thân cây
Trên cát trên tuyết
Ta viết tên em
Trên những trang đã đọc
Trên những trang trắng tinh
Đá, máu, giấy hay tro
Ta viết tên em
Trên tranh ảnh tô vàng

Trên vũ khí chiến binh
Trên mũ miện vua chúa
Ta viết tên em
Trên rừng hoang sa mạc
Trên tổ chim hoa đồng
Trên tiếng vang tuổi trẻ
Ta viết tên em
Trên huyền diệu những đêm
Trên bánh trắng ban ngày
Trên những mùa cưới hỏi
Ta viết tên em
Trên các mảnh trời xanh
Trên ao mặt trời mốc


Trên hồ trăng lung linh
Ta viết tên em
Trên đồng ruộng chân trời
Trên những cánh chim bay
Trên máy xay bóng tối
Ta viết tên em
Trên mỗi thoáng bình minh
Trên mặt biển thân tàu
Trên ngọn núi điên cuồng
Ta viết tên em
Trên bọt nổi mây lồng
Trên mồ hôi cơn giông
Trên mưa dày và nhạt
Ta viết tên em
Trên hình dáng long lanh

Trên chuông ngân màu sắc
Trên chân lý hữu hình
Ta viết tên em
Trên những nẻo rộn ràng
Trên đường sá thênh thang
Trên quảng trường toả rộng
Ta viết tên em
Trên ngọn đèn mới khêu
Trên ngọn đèn đang tắt


Trên mái nhà sum họp
Ta viết tên em
Trên trái bổ đôi
Gương soi và phòng ngủ
Trên giường bỏ trống không
Ta viết tên em
Trên con chó của ta háu ăn và trìu mến
Trên tai nó vểnh lên
Trên chân nó vụng về
Ta viết tên em
Trên bục cửa nhà ta
Trên các đồ quen thuộc
Trên sóng ngọn lửa thiêng
Ta viết tên em
Trên da thịt hiến dâng
Trên trán yêu bè bạn
Trên bàn tay đưa nắm
Ta viết tên em
Trên cửa kính ngạc nhiên

Trên làn môi chú ý
Vượt xa trên im lặng
Ta viết tên em
Trên chỗ ẩn bị tan
Trên hải đăng sụp đổ


Trên tường niềm ngao ngán
Ta viết tên em
Trên xa vắng không ước thèm
Trên quạnh hiu trần trụi
Trên bậc thềm cái chết
Ta viết tên em
Trên sức khỏe phục hồi
Trên hiểm nguy tan biến
Trên hy vọng chẳng nhớ nhung
Ta viết tên em
Và do phép màu một tiếng
Ta làm lại cuộc đời
Ta sinh ra để biết em
Để gọi tên em
TỰ DO” (Tế Hanh dịch)
Để tìm thấy những tư tưởng về tự do trong văn học không hề khó khăn, dù là trong
nước hay thế giới. Bởi tư tưởng tự do là điều ám ảnh và ăn sâu vào tiềm thức mỗi
người, và khi đến với nhà văn điều đó lại có cơ hội bộc lộ và thể hiện mạnh mẽ hơn
bao giờ hết.
2. Tự do trong thơ Puskin
2.1.Tự do ở hình thức
Có một nhà thơ được Gorki mệnh danh là “khởi đầu của mọi khởi đầu” trong văn học
Nga, được Belinski gọi là “nhà cải cách vĩ đại của văn học Nga”, Gogol xem là “con

người của tinh thần Nga”, và đặc biệt Dostoievski khẳng định là “người duy nhất nói
tiếng mới”- tiếng nói “toàn nhân loại”. Đó chính là lời ca ngợi dành cho “mặt trời thi
ca Nga”. Nhưng để chính những người Nga, những nhà văn nổi tiếng của xứ sở bạch
dương khẳng định điều này thì thơ ca của Puskin đã đạt được những thành tựu vô


cùng rực rỡ, đó chính là thành công ở phương diện nghệ thuật. Bởi lẽ đây là người đã
tạo ra một sự tự do vô tận trong hình thức thi ca Nga.
Ông đã phá vỡ nguyên tắc của chủ nghĩa cổ điển khi ông mới 18 tuổi, để rồi ông
khai khá chủ nghĩa hiện thực vào năm 26 tuổi và chính thức đặt nền móng cho chủ
nghĩa hiện thực vào năm 1925. Không chỉ vậy, Puskin còn đem đến những sáng tạo
mới trong ngôn ngữ Nga ở văn học hiện đại, một thứ ngôn ngữ đậm đà bản sắc và
thoát khỏi sự vay mượn, khoa trương trống rỗng. Chính nhờ Puskin mà văn học Nga
có sự hòa quyện giữa dòng văn chương bác học và văn học dân gian.
2.2.

Tự do trong nội dung:
John Adam từng nói rằng: “Hãy để trí óc con người tự do. Nó phải được tự do. Nó sẽ
được tự do. Sự mê tín và giáo điều không thể giam cầm được nó.” Tư tưởng này có lẽ
được thể hiện sâu sắc nhất trong thơ ca của Puskin.
Thơ ca của Puskin vô cùng đa dạng về nội dung, nhưng một phạm trù không thể thiếu
đó chính là cổ vũ cho sự tự do, đấu tranh cho quyền con người. Chủ đề tự do trong
thơ Puskin được thể hiện rất đa dạng và đầy hình ảnh. Trong tác phẩm Người tù
(1822), nhà thơ từng khuyến khích con người hãy:
“Bay bay đi, ta loài chim tự do
Bay về nguồn nước vô cùng trong sáng”.
Có lẽ chủ đề tự do được tập trung mãnh liệt nhất ở bài Tự do, ngay từ nhan đề tác giả
đã chủ đích hướng người đọc đi theo mạch nguồn của sự giải phóng khỏi những ràng
buộc. Những lời thơ đanh thép mà tha thiết rền rĩ:
“Hỡi nàng thơ kiêu hãnh của tự do?

Hãy tới gỡ hoa vinh dự khỏi đầu ta!
Tới đập tan cây đàn thơ ẻo lả!
Ta muốn ngợi ca tự do cho trần thế,
Ta muốn đập vào những tật xấu gian tham
Đang nghiễm nhiên ngự trị trên ngai vàng...”
Đó không chỉ là tự do đơn thuần, mà đó là sự thoát ly khỏi những cái xấu xa và đáng
sợ đang thắt chặt cuộc sống đau khổ của con người. Puskin ý thức được nguồn gốc


của sự mất tự do, hơn ai hết ổng hiểu cách để tìm thấy tự do. Mà muốn có tự do thì
không còn cách nào khác là đấu tranh:
“Ôi! Nhìn bất cứ về đâu ta cũng thấy;
Những gông cùm, xiềng xích với roi da
Và lệ sầu thê thảm cuộc đời tù
Và tình cảnh tan hoang vòng pháp luật…”
Tự do chính là bản tuyên ngôn của các nhà cách mạng: lật đổ chế độ Nga hoàng. Bài
thơ mang một sức mạnh cổ vũ lớn lao trong cuộc đấu tranh giải phóng con người
bằng một niềm tin mãnh liệt. Kết thúc bài thơ ông viết:
“Tự do nhân dân và cuộc sống thanh bình
Sẽ là kẻ đứng canh muôn đời bên ngôi báu”
Thiên nhiên chính là nơi nhà thơ gởi gắm tâm hồn tự do của mình, bởi lẽ những gì
thuộc về tự nhiên vốn dĩ là đỉnh cao nhất của tinh thần tự do. Trong Gửi biển, tác giả
gào thét:
“Người qua đời niềm tự do gào khóc
Để lại cho thế giới cả vòng hoa
Hãy gầm lên, biển cả, hãy gầm sóng
Chính vì ngươi, Người đã cất lời ca”
Rồi đến với Hỡi sóng cả (1823) - viết theo bút pháp lãng mạn, lại miêu tả xã hội như
một ao tù chật hẹp:
“Gió, gió đâu cuốn ao tù thành thác

Phá tan tành đập chắn âm u
Giông tố đâu hình ảnh của tự do
Hãy phủ lên mặt nước tù u uất”.
Puskin đã liên tục đấu tranh bền bỉ và không biết mệt mỏi cho tự do, nhà thơ dám lên
tiếng chỉ đích danh những kẻ cướp đi sự sống con người, căm thù xã hội Nga hoàng
đáng sợ lúc bấy giờ. Không lâu trước khi đón nhận cái chết bi thương, Puskin đã viết


bài thơ bất hủ Đài kỷ niệm (1836) như một lời di chúc cho muôn vàn thế hệ mai sau,
như lời ca thiên nga bi tráng và bất diệt. Nhà thơ hiểu rằng cuộc đời mình không uổng
phí, sự nghiệp của mình sẽ sống mãi trong trái tim nhân loại:
“Ta đã dựng cho ta đài kỷ niệm
Không bởi sức tay người! Đường tới viếng
Cỏ không trùm dấu bước thế nhân,
Cao hơn cả trụ thờ Alếcxanđrơ bởi cái đầu bất trị.
Và nhân thế còn yêu ta mãi
Vì đàn thơ ta thức tỉnh thân ái
Vì trong thủa bạo tàn ta ca ngợi tự do
Và gợi từ tâm với kẻ sa cơ.”
(Đài kỷ niệm)
Ông nguyện làm một chú chim nhỏ mang sự tự do bay cao, làm làn sóng mạnh vỗ mãi
bài ca tự do, cả cuộc đời đấu tranh bền bỉ cho những áp bức. Để làm được điều này
không hề đơn giản. Đó phải là một trái tim thức nhận mạnh mẽ với hiện thực cuộc
sống, là một tâm hồn rung cảm với bao đau khổ kiếp người, và một trí tuệ siêu việt
cùng lòng can đảm. Chính những điều này đã thôi thúc Puskin viết nên những câu thơ
về tự do hay đến thế. Ông hiểu được rằng mình chính là Người gieo giống tự do trên
đồng vắng:
“Tôi ra đi từ sáng sớm tinh mơ
Bàn tay tôi trong trẻo ngây thơ
Gieo mầm sống trên luống cày nô dịch

Nhưng tôi chỉ phí thời gian vô ích
Cả tư tưởng và việc làm thiện chí của tôi
Nhân danh than bình, cứ gậm cỏ đi thôi!
Tiếng vinh dự không thể làm tỉnh giấc
Tự do đâu cho một bầy súc vật?


Chúng chỉ cần cắt xẻo, cạo lông
Đời nối đời, di sản chúng nó chung
Là ách nặng đeo chuông và roi vọt.”
Chính những ám ảnh về tự do đã khiến tác giả quan tâm đến cả những sinh linh bé
nhỏ đang khao khát sự sống trọn vẹn ngoài kia:
“Nơi đất khách quê người tôi tôn kính
Tục ngàn xưa thân thiết của cha ông:
Trong ngày hội tưng bừng đầu xuân thắm
Trả tự do cho chim nhỏ giam lồng

Tôi cảm thấy lòng mình đầy an ủi
Còn việc chi mà phải trách ông xanh:
Khi có thể đem tự do kia tới
Trao tặng cho dù chỉ một kiếp sinh!”
Như một ca sĩ say mê hát hai từ tự do, Puskin đã để lại cho nước Nga và thế giới một
di sản khổng lồ, mà ở đó thơ ca được sống trong một không gian tự do để nói về tự
do.
Hegel đã khẳng định: “Lịch sử của thế giới chính là tiến trình của ý thức tự do.” Và
“tiến trình ý thức của tự do” trong thơ Puskin chính là đỉnh cao nhất của sự tự do
thông qua nghệ thuật của Nga lúc bấy giờ.




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×