BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
----- Ο -----
NGUYỄN XUÂN HIỆP
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH
THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
----- Ο -----
NGUYỄN XUÂN HIỆP
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH
THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số
: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGÔ HÀ TẤN
Đà Nẵng - Năm 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Hiệp
MỤC LỤC
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC
CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG................................................................................1
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC
CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG................................................................................2
[27] SZILVESZTER FEKETE & DUMITRU MATIŞ (2008), “FACTORS INFLUENCING THE
EXTENT OF CORPORATE COMPLIANCE WITH IFRS: THE CASE OF HUNGARIAN LISTED
COMPANIES”, ANNALES UNIVERSITATIS APULENSIS SERIES OECONOMICA, 10(1)............95
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC
: Báo cáo tài chính
BCĐKT
: Bảng cân đối kế toán
BCKQHĐKD
: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
BCLCTT
: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BĐS
: Bất động sản
CLTGHĐ
: Chênh lệch tỷ giá hối đoái
CMKT
: Chuẩn mực kế toán
CTCP
: Công ty cổ phần
DN
: Doanh nghiệp
HTK
: Hàng tồn kho
TN
: Thu nhập
TSCĐ
: Tài sản cố định
T&TĐT
: Tiền và tương đương tiền
VAS
: Vietnam Accounting Standard
DANH MỤC CÁC BẢNG
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC
CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG................................................................................1
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC
CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG................................................................................2
[27] SZILVESZTER FEKETE & DUMITRU MATIŞ (2008), “FACTORS INFLUENCING THE
EXTENT OF CORPORATE COMPLIANCE WITH IFRS: THE CASE OF HUNGARIAN LISTED
COMPANIES”, ANNALES UNIVERSITATIS APULENSIS SERIES OECONOMICA, 10(1)............95
DANH MỤC CÁC HÌNH
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC
CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG................................................................................1
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở CÁC
CÔNG TY
CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG................................................................................2
[27] SZILVESZTER FEKETE & DUMITRU MATIŞ (2008), “FACTORS INFLUENCING THE
EXTENT OF CORPORATE COMPLIANCE WITH IFRS: THE CASE OF HUNGARIAN LISTED
COMPANIES”, ANNALES UNIVERSITATIS APULENSIS SERIES OECONOMICA, 10(1)............95
1
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Báo cáo tài chính vẫn là kênh cung cấp thông tin quan trọng về tình hình
tài chính doanh nghiệp cho nhiều đối tượng khác nhau (chủ DN, nhà đầu tư,
ngân hàng, cơ quan thuế). Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, Việt Nam sẽ hội
nhập toàn diện, bình đẳng với các nước trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán
(xuất hiện cả nhập khẩu và xuất khẩu dịch vụ kế toán, kiểm toán [19]). Sự
cam kết của chính phủ Việt Nam với các nhà tài trợ và các tổ chức quốc tế là
cải cách hệ thống kế toán Việt Nam trong đó có cam kết về hoàn thiện hệ
thống chuẩn mực kế toán hoàn chỉnh phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế. Bộ
Tài chính đã nghiên cứu soạn thảo và ban hành hệ thống CMKT Việt Nam từ
năm 2001 và cho đến nay đã có 26 chuẩn mực. Hệ thống CMKT Việt Nam ra
đời đã tạo dựng khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực kế toán nói chung và cho
công tác lập BCTC tại các DN.
Tuy nhiên, quá trình vận dụng các CMKT trong việc lập BCTC tại các
DN thời gian qua đã xuất hiện nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và giải đáp
thoả đáng. Chất lượng BCTC của các DN niêm yết trên sàn chứng khoán đã
được nghiên cứu và chỉ ra những hạn chế nhất định.
Vấn đề đặt ra ở đây là, các CMKT đã được vận dụng ở mức độ nào trong
quá trình lập BCTC ở các DN? Liệu CMKT Việt Nam có được vận dụng một
cách phù hợp và đã thực sự tạo ra một khuôn khổ pháp lý hoàn thiện để lập
BCTC không?
Từ khi 26 CMKT được ban hành, vẫn chưa có một nghiên cứu nào
đánh giá một cách toàn diện tình hình lập BCTC theo CMKT ở các DN Việt
Nam, ngoài một số nghiên cứu về công tác lập BCTC ở các DN vừa và nhỏ,
hay nghiên cứu về mục tiêu lập BCTC nhằm giảm thiểu chi phí thuế.
2
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu tình hình lập BCTC theo CMKT ở các công
ty cổ phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” sẽ góp phần làm sáng tỏ các vấn
đề về vận dụng CMKT trong công tác lập BCTC.
2.
Mục đích nghiên cứu
Đề tài được triển khai nhằm nắm bắt thực trạng lập BCTC theo CMKT ở
các công ty cổ phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, mức độ vận dụng các
CMKT trong công tác lập BCTC đến đâu. Đồng thời xác định các nhân tố ảnh
hưởng đến công tác lập BCTC theo CMKT và thông qua đó, đề xuất những
giải pháp góp phần hoàn thiện việc lập BCTC theo CMKT.
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tình hình lập BCTC của các công ty cổ phần
độc lập, không bao gồm BCTC tổng hợp, BCTC hợp nhất của các Tổng công
ty, tập đoàn.
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có rất nhiều DN với qui mô và đặc
điểm khác nhau, nhưng phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ gồm các công ty cổ
phần đang áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định số 15/2006/QĐ - BTC trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế qua hai giai đoạn. Giai đoạn 1, bằng cách khảo
sát BCTC được lập qua 3 năm liên tiếp gần nhất của các công ty cổ phần đang
hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm đánh giá mức độ cung cấp
thông tin trên BCTC theo các yêu cầu trình bày BCTC của CMKT. Giai đoạn
2, kế thừa và bổ sung kết quả khảo sát qua BCTC, dựa vào phương pháp điều
tra thông qua bảng câu hỏi, số liệu sẽ được thu thập, xử lý để làm sáng tỏ hơn
những khảo sát trên.
5.
Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương, gồm:
3
Chương 1. Cơ sở lý luận về lập báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp
Chương 2. Thiết kế nghiên cứu tình hình lập báo cáo tài chính theo
chuẩn mực kế toán ở các công ty cổ phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và kiến nghị về lập báo cáo tài chính theo
chuẩn mực kế toán ở các công ty cổ phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
6.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu
a. Luận văn “Vận dụng và hoàn thiện CMKT BCTC tại Việt Nam” của Đào
Thị Kim Yến (2004), Đại học Kinh tế Tp. HCM
Tác giả Yến (2004) trong bối cảnh Bộ Tài chính ban hành 16 CMKT đã
tìm hiểu thực trạng vận dụng CMKT về BCTC áp dụng tại các DN Việt Nam
và đã đưa ra một số ý kiến giúp việc vận dụng CMKT về BCTC được tốt hơn
cũng như phương hướng hoàn thiện hệ thống BCTC. Bằng cách khảo sát
BCTC được lập năm 2003 của 3 DN kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau
(Công ty đường Khánh Hoà, Công ty chế biến thuỷ sản xuất khẩu Nha Trang,
Công ty cổ phần giấy Linh Xuân) và nghiên cứu 16 CMKT ban hành vào thời
điểm nghiên cứu, Yến (2004) đã nêu ra những hạn chế trong việc vận dụng
CMKT về BCTC như hệ thống BCTC quy định chưa thật sự thích hợp với
tính đa dạng của các loại hình DN trong nền kinh tế thị trường (cụ thể là đối
với mô hình tổng công ty và công ty cổ phần). Yến (2004) cũng chỉ ra rằng
BCKQHĐKD theo quy định của Việt Nam được lập theo chức năng của chi
phí, điều này chưa linh hoạt vì nền kinh tế nước ta gồm nhiều loại hình DN
với quy mô khác nhau nên có những DN có quy mô nhỏ thì không cần thiết
phải lập báo cáo kết quả kinh doanh theo phương pháp này, đối với BCLCTT
chưa phải là loại báo cáo bắt buộc nên vấn đề soạn thảo và trình bày các
thông tin trên loại báo cáo này chưa được nhiều DN quan tâm. Ngoài ra tác
giả còn nhấn mạnh BCTC tại Việt Nam chưa thích ứng trong điều kiện nền
kinh tế lạm phát. Nguyên tắc trình bày các tài sản theo giá gốc (hay giá phí
4
lịch sử) trong BCTC tỏ ra không phù hợp với các nhu cầu sử dụng thông tin
kế toán để đưa ra các quyết định trong kinh doanh và nhu cầu thể hiện các tài
sản trong điều kiện nền kinh tế lạm phát. Mặc dù đã có một số quy định cho
phép DN thực hiện đánh giá lại tài sản để đảm bảo giá trị thực tế của tài sản
nhưng trong chế độ kế toán hiện nay chưa có quy định rõ ràng cho kế toán về
biến động giá cả.
Phần cuối của công trình nghiên cứu, Yến (2004) đã đưa ra một loạt
những biện pháp vận dụng và hoàn thiện CMKT về BCTC tại Việt Nam.
Những biện pháp vận dụng CMKT về BCTC được nêu ra ở tầm vĩ mô và vi
mô khá chi tiết. Bên cạnh đó, những vấn đề cần hoàn thiện CMKT trình bày
BCTC, chẳng hạn đối với Chuẩn mực chung (VAS 01), tác giả đã đề nghị bổ
sung vào chuẩn mực chung định nghĩa BCTC và đối tượng sử dụng của
BCTC, định nghĩa lại một vài khái niệm quan trọng khác trong kế toán. Liên
quan đến Chuẩn mực trình bày BCTC (VAS 21), Yến (2004) đề xuất sửa đổi
bổ sung nhiều chỉ tiêu trên từng BCTC của DN và cuối cùng là đề xuất việc
bổ sung chuẩn mực “BCTC trong nền kinh tế siêu lạm phát” tại Việt Nam.
Do bối cảnh của nghiên cứu ra đời vào năm 2004 khi Bộ Tài chính mới
ban hành 16 CMKT nên một vài kết luận và đề xuất giải pháp của Yến (2004)
đã không còn tính cập nhật.
Đề tài “Nghiên cứu tình hình lập BCTC theo CMKT ở các công ty cổ
phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” sẽ tiếp tục triển khai nghiên cứu sự
vận dụng CMKT về BCTC tại Việt Nam trong tình hình hệ thống CMKT đã
được ban hành đầy đủ hơn.
b. Bài báo “Hệ thống CMKT Việt Nam: Những vấn đề cần tiếp tục hoàn
thiện” của Đoàn Xuân Tiên (2008)
Đúc kết kinh nghiệm nhiều năm công tác trong lĩnh vực kế toán, tác giả
Tiên (2008) đã cung cấp một cái nhìn khái quát về hệ thống CMKT Việt
5
Nam, đặc biệt là về khả năng thực thi của CMKT trong thực tiễn. Tiên (2008)
đã chỉ ra những điểm thuận lợi, những vướng mắc khó khăn trong thực tế vận
dụng CMKT như quá nhiều thuật ngữ trong chuẩn mực chưa thống nhất, và
thói quen chờ đợi sự hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính để vận dụng đã tồn
tại trong một bộ phận không nhỏ những người làm công tác kế toán. Tác giả
đã nêu ra 5 ý kiến nhằm hoàn thiện hệ thống CMKT tại Việt Nam. Một là,
chỉnh sửa bổ sung những điểm còn chưa thống nhất giữa các chuẩn mực và
cập nhật những thay đổi mới nhất trong nội dung của các chuẩn mực lập và
trình bày BCTC hiện nay. Hai là, tập trung vào việc tổng kết đánh giá hiệu
quả của quá trình soạn thảo các chuẩn mực đã ban hành nhằm rút ra những
kinh nghiệm bổ ích cho các lần ban hành sau. Ba là, phát triển đội ngũ những
người làm kế toán được trang bị đầy đủ cả về chuyên môn nghiệp vụ và đạo
đức nghề nghiệp nhằm đạt được sự công nhận của khu vực và quốc tế, đưa hệ
thống CMKT vào thực tiễn một cách nhanh chóng. Bốn là, tiếp tục nghiên
cứu một số CMKT quốc tế để ban hành một số chuẩn mực mà Việt Nam chưa
có. Năm là, nâng cao vai trò của hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán
Đề tài “Nghiên cứu tình hình lập BCTC theo CMKT ở các công ty cổ
phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” sẽ tiếp thu những nhìn nhận nêu trên
của tác giả nhưng ở khía cạnh hẹp là lập BCTC theo CMKT có những thuận
lợi và vướng mắc, khó khăn gì.
c. Bài báo khoa học “Bàn về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng
chế độ kế toán trong các DN vừa và nhỏ” của Trần Đình Khôi Nguyên
(2010), Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng, 5(40).
Tổng kết các nghiên cứu của các nước về các nhân tố ảnh hưởng đến
việc vận dụng CMKT quốc tế, và trao đổi với các chuyên gia kế toán, kiểm
toán có nhiều năm kinh nghiệm để lựa chọn các nhân tố phù hợp với Việt
Nam, đồng thời tiến hành điều tra thông qua bảng câu hỏi (với đối tượng là
6
các kế toán viên ở các DN và các cán bộ quản lý thuế) để xem xét có thêm
các chứng cớ chắc chắn, tác giả Nguyên (2010) đã xây dựng mô hình dự tính
về các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các DN vừa và
nhỏ gồm các nhân tố Tính phức tạp của VAS (kết quả thu thập nhiều ý kiến
cho rằng nội dung các chuẩn mực còn quá mới mẻ với quá nhiều khái niệm,
thuật ngữ), nhân tố thứ hai là Tính độc lập về nghề nghiệp (đặc trưng của hệ
thống pháp luật tại Việt Nam ảnh hưởng tới thực hành kế toán, nghiên cứu đã
cho thấy việc thực hành kế toán hầu như chỉ dựa trên hệ thống các thông tư
hướng dẫn), nhân tố thứ ba là Trình độ của kế toán viên (ảnh hưởng đến khả
năng lựa chọn các kỹ thuật, các chính sách kế toán phù hợp để tối đa hoá lợi
ích của DN khi vận dụng chuẩn mực), nhân tố thứ tư là Kiểm tra, kiểm toán
(nếu BCTC của một DN được kiểm toán thì mức độ tuân thủ và vận dụng các
CMKT sẽ cao hơn những DN không yêu cầu bắt buộc kiểm toán), nhân tố thứ
năm là Ảnh hưởng của thuế đối với công tác kế toán (đặc điểm liên kết chặt
chẽ giữa kế toán và thuế tại Việt Nam, đo lường và ghi nhận kế toán dựa trên
qui định của thuế), nhân tố thứ sáu là Nhận thức của chủ DN (nhiều chủ DN
chưa thật sự quan tâm đến vai trò quản lý của kế toán), nhân tố thứ bảy là Qui
mô của DN (các DN có qui mô lớn thường hoạt động trên nhiều lĩnh vực
khác nhau, mức độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế rất cao và có đủ nguồn
lực tài chính do vậy việc vận dụng các CMKT sẽ đầy đủ hơn các DN nhỏ),
nhân tố thứ tám là Khả năng sinh lời (thông qua nhân tố này để xem xét hành
vi của người kế toán), nhân tố cuối cùng được tác giả đưa ra là Lợi ích của
việc vận dụng chuẩn mực.
Nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đề xuất mô hình, Nguyên (2010) chỉ ra
rằng cần tiến hành đo lường các biến và sử dụng mô hình phù hợp để xem xét
mối quan hệ tác động đối với việc vận dụng VAS.
7
Kế thừa kết quả nghiên cứu của bài báo khoa học trên, đề tài “Nghiên
cứu tình hình lập BCTC theo CMKT ở các công ty cổ phần trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng” sẽ lập luận để chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự vận dụng
CMKT tại các công ty cổ phần với một vài đặc thù riêng khác với các DN vừa
và nhỏ trong công trình nghiên cứu của Nguyên (2010).
d. Luận văn “Công tác lập BCTC của các DN vừa và nhỏ: khảo sát trên địa
bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng”, Nguyễn Thị Lệ Hằng (2011), Đại
học Kinh tế Đà Nẵng
Tác giả Hằng (2011), dựa vào các nghiên cứu của Lavigne (2002), Sơn
và Neil Marriott, Pru Marriot (2005), tiến hành đánh giá các nhân tố ảnh
hưởng đến công tác lập BCTC của các DN vừa và nhỏ, đồng thời sử dụng
phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi để phân tích thực trạng. Nghiên
cứu không đi sâu vào chuyên môn nghiệp vụ kế toán mà tập trung vào công
tác tổ chức kế toán, việc cung cấp thông tin kế toán và quan điểm của nhà
quản trị trong việc lập BCTC. Kết quả nghiên cứu của Hằng (2011) đã cho
thấy công tác lập BCTC tại các DN vừa và nhỏ chưa được đảm bảo về chất
lượng. Đặc thù kế toán thuê ngoài đã dẫn đến thông tin cung cấp trên BCTC
không đầy đủ và trung thực. Yếu tố quản trị bởi các thành viên trong gia đình
cũng tác động đến mục tiêu lập BCTC (trong đó mục tiêu tối thiểu hoá chi phí
thuế luôn được đặt lên hàng đầu). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhận thức của
nhà quản trị trong công tác lập BCTC chỉ mang tính đối phó, bắt buộc theo
thủ tục chứ chưa thật sự sử dụng kế toán như một công cụ quản lý.
Trong nghiên cứu của Hằng (2011) đã đề xuất một số giải pháp về việc
xây dựng CMKT cho DN vừa và nhỏ, đồng thời tác giả đã nêu nhiều đề nghị
đối với bản thân các DN cũng như các cơ quan liên quan.
Đề tài “Nghiên cứu tình hình lập BCTC theo CMKT ở các công ty cổ
phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” sẽ đi theo một hướng khác hẳn với
Hằng (2011) ở khía cạnh lập BCTC theo CMKT chứ không nghiên cứu công
tác kế toán lập BCTC.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1.1. Báo cáo tài chính
Để định nghĩa về BCTC, có nhiều giác độ tiếp cận. Từ giác độ của người
lập, BCTC (một trong những sản phẩm của báo cáo kế toán) là hình thức biểu
hiện cụ thể của phương pháp tổng hợp - cân đối trong ghi chép, phản ánh các
mặt thuộc hoạt động tài chính của đơn vị (nên được gọi là BCTC [17, tr. 86])
và là đầu ra của qui trình kế toán tài chính. Từ giác độ người sử dụng, BCTC
là phương tiện cung cấp thông tin tài chính hữu ích để ra quyết định kinh tế.
Từ đó có thể định nghĩa BCTC là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán tài
chính, biểu hiện khái quát dưới hình thức hệ thống các bộ phận báo cáo có
mối liên hệ mật thiết với nhau nhằm cung cấp những thông tin phù hợp, đáng
tin cậy, giúp người sử dụng làm cơ sở để nhận xét, đánh giá và ra quyết định.
Theo Viện kế toán công chứng Hoa kỳ (AICPA) [20, tr. 5] [25] thì: “Hệ thống
BCTC phản ánh sự kết hợp của những sự kiện được ghi nhận, những nguyên
tắc kế toán và những đánh giá của cá nhân, mà trong đó những đánh giá và
nguyên tắc kế toán được áp dụng có ảnh hưởng chủ yếu đến việc ghi nhận các
sự kiện. Những đánh giá đúng đắn tuỳ thuộc vào khả năng và sự trung thực
của người lập báo cáo, đồng thời phụ thuộc vào sự tuân thủ đối với những
nguyên tắc kế toán đã được chấp nhận rộng rãi”. Theo CMKT số 01- Chuẩn
mực chung [2, tr. 8] thì BCTC được định nghĩa là “BCTC phản ảnh tình hình
tài chính của DN bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng
tính chất kinh tế thành các yếu tố của BCTC”.
BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả
kinh doanh của một DN, là những bảng tổng hợp được lập cho các đối tượng
9
bên ngoài và các nhà quản lý ở đơn vị phản ánh tổng quát về các đối tượng
của kế toán, như: báo cáo cân đối giữa tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ
sở hữu tại thời điểm cuối kỳ kế toán (Bảng cân đối kế toán1), báo cáo cân đối
giữa doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ của một kỳ kế toán (Bảng báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh), cân đối giữa các dòng tiền vào và dòng
tiền ra (Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ). Các thông tin được cung cấp trên
BCĐKT, BCKQHĐKD, BCLCTT cùng với các thông tin trình bày trong Bản
thuyết minh BCTC giúp người sử dụng dự đoán được các luồng tiền trong
tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra các
luồng tiền và các khoản tương đương tiền [2, tr. 485- 486].
1.1.2. Vai trò của báo cáo tài chính
Vai trò của BCTC sẽ được thể hiện khác nhau tuỳ theo đặc trưng của
từng quốc gia, có thể thay đổi theo từng điều kiện lịch sử cụ thể, bởi lẽ môi
trường kế toán luôn chịu sự tác động của môi trường kinh tế- chính trị- xã hội
với các yếu tố như đặc điểm hệ thống luật pháp và thuế, đặc điểm nền văn hoá
giáo dục và xu hướng hoà hợp trong tiến trình toàn cầu hoá. Tuy nhiên,
BCTC phải có nhiệm vụ hướng đến mục tiêu đáp ứng nhu cầu thông tin của
các đối tượng sử dụng, những người có quan hệ lợi ích với DN, kể cả bên
trong hay bên ngoài. Trong thực tế, lợi ích mang lại từ BCTC đối với các
nhóm đối tượng sử dụng có thể khác nhau. Ở nước ta, Nhà nước thực hiện
chức năng quản lý kinh tế vĩ mô thông qua hệ thống các chính sách kinh tế tài chính và pháp luật, do đó việc soạn thảo và trình bày BCTC bị chi phối bởi
các chính sách, chế độ tài chính - kế toán và yêu cầu của các luật kinh tế nói
chung và thuế nói riêng. Các thông tin trên BCTC được yêu cầu trình bày khá
chi tiết nhằm cung cấp những thông tin hữu ích đáp ứng được yêu cầu quản lý
của các cơ quan tài chính, thống kê, thuế, bộ kế hoạch và đầu tư. Như vậy,
1
Được gọi là “Báo cáo về vị trí tài chính” trong Chuẩn mực kế toán quốc tế
10
yêu cầu của Nhà nước về thông tin kế toán đã chiếm quyền ưu tiên hơn so với
các đối tượng sử dụng khác. Tuy nhiên, BCTC được xây dựng cũng phải đảm
bảo thoả mãn các tính chất: dễ hiểu, thích hợp, đáng tin cậy và so sánh được,
nhằm cung cấp thông tin một cách trung thực và hợp lý cho các đối tượng sử
dụng khác như ngân hàng, nhà đầu tư, nhà quản trị DN, khách hàng, nhà cung
cấp… Đối với ngân hàng, đối tượng cho vay vốn chủ yếu của DN, BCTC
đóng vai trò cung cấp thông tin quan trọng để bộ phận cung cấp tín dụng tiến
hành phân tích tài chính DN. Dựa trên BCTC, nhà cung cấp tín dụng sẽ phân
tích khả năng thanh toán, dự đoán các dòng tiền, đánh giá khả năng sinh lời
trong dài hạn cũng như các nguồn lực đảm bảo khả năng đáp ứng các khoản
thanh toán cố định (tiền lãi, trả nợ gốc..) của DN, trên cơ sở đó sẽ ảnh hưởng
quan trọng đến việc ra quyết định nên cho vay hay không đối với DN. Đối với
khách hàng hay nhà cung cấp, thông tin từ BCTC là cơ sở để đánh giá khả
năng tiếp tục hoạt động, tính ổn định của DN để ra quyết định quan hệ thương
mại với DN. Đối với các công ty cổ phần, do đặc thù của công ty đối vốn, các
cổ đông của công ty rất cần được thông tin một cách kịp thời về thực trạng tài
chính của công ty, đặc biệt là các thông tin tài chính về khả năng sinh lợi và
rủi ro tiềm tàng liên quan đến vốn đầu tư. Họ cần những thông tin để xác định
xem khi nào thì nên mua, giữ lại hay nên bán các khoản đầu tư cũng như các
thông tin về khả năng thanh toán các khoản cổ tức của công ty. Các BCTC là
phần cuối cùng của Báo cáo thường niên cung cấp cho các cổ đông công ty,
nhưng lại được xem là quan trọng hàng đầu, là phần cốt lõi của một báo cáo
thường niên, vì hầu hết thông tin mà nhà đầu tư quan tâm hay muốn có đều
nằm ở đây.
Như vậy, vai trò quan trọng của thông tin trình bày trên BCTC ảnh
hưởng rất lớn đến tiến trình ra quyết định của nhiều đối tượng sử dụng BCTC
khác nhau. Nếu thông tin trên BCTC sai lệch, bị “bóp méo” theo mục tiêu chủ
11
quan của người lập BCTC, sẽ có nhiều quyết định kinh tế sai lầm được thực
hiện gây tổn thất to lớn trong kinh tế, làm mất niềm tin của nhà đầu tư.
Nhìn nhận vai trò của BCTC ảnh hưởng đến sự trình bày BCTC từ hai
giác độ, nếu để đáp ứng yêu cầu pháp lý về cung cấp thông tin của DN: thông
tin trình bày trên BCTC thường theo hướng tối thiểu hoá theo quy định, dưới
giác độ đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin: thông tin trên BCTC trình bày
theo hướng mở, đa dạng theo nhu cầu [16, tr. 9].
1.1.3. Các quan điểm soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính
Với vai trò cung cấp thông tin quan trọng cho nhiều đối tượng sử dụng
khác nhau, BCTC cần phải được soạn thảo và trình bày dựa trên một cơ sở lý
thuyết như thế nào? Hiện nay trên thế giới có hai quan điểm như sau [14]:
Quan điểm tuân thủ luật pháp:
Theo quan điểm này, các BCTC được soạn thảo theo một luật quy định,
bất chấp việc tuân thủ những luật lệ đó có đi ngược lại thực tế kinh doanh
hay không. Quan điểm này chú trọng nhiều hơn đến việc bảo vệ quyền lợi
của các chủ nợ và những người cho vay cao hơn quyền lợi của các nhà đầu
tư, việc xác định các khoản tiền thuế mà DN phải đóng, từ đó dẫn đến những
qui định rất chi tiết về đo lường thu nhập, đánh giá tài sản và cách ghi chép các
khoản mục trong BCTC. Điều này có nghĩa là các BCTC phải được soạn thảo,
sử dụng vì lợi ích của các cơ quan quản lý tài chính hơn là cho những người sử
dụng khác. Theo đó, kiểm toán viên phải soát xét BCTC có được lập đúng
theo luật pháp hay không (hơn theo quan điểm trung thực và hợp lý).
Quan điểm thương mại hợp lý
Theo quan điểm này, chỉ có một quy định không thể vi phạm đó là các
BCTC phải đưa ra một bức tranh rõ ràng, hiện thực về kết quả hoạt động và
tình hình tài chính của DN báo cáo. Với quan điểm này, việc quan trọng là
cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, những người này được xem là đối
12
tượng sử dụng chủ yếu BCTC. Các BCTC đưa ra một quan điểm thương mại
hợp lý về các vấn đề hoạt động kinh doanh của một công ty. Vì thế, khuôn
mẫu luật pháp ít cứng nhắc hơn và các yêu cầu về thuế không quyết định hình
thức của BCTC. Nhìn chung, việc thiết lập các chuẩn mực là trách nhiệm của
các cơ quan chuyên môn và điều đó làm cho hệ thống này linh hoạt hơn để
thích ứng với những tình huống khác nhau. Sự linh động này cũng chỉ cho
thấy ở mức độ từng đơn vị và kiểm toán viên có thể sử dụng sự phán đoán
nhiều hơn để đưa ra ý kiến của mình, vốn được hướng đến "sự trình bày hợp
lý". Trong một số trường hợp, khi nguyên tắc trung thực và hợp lý được coi
là yêu cầu về luật pháp (như ở Anh chẳng hạn), thì nó sẽ bác bỏ những yêu
cầu pháp lý khác nếu bức tranh thương mại hợp lý bị sai lệch do tuân thủ các
yêu cầu pháp lý khác đó.
Tuy nhiên, sự khác nhau giữa hai quan điểm trên đang ngày càng mờ
dần, do khuynh hướng của sự hoà hợp quốc tế mà khuynh hướng đó được
thúc đẩy bởi các nhân tố của nền kinh tế vĩ mô, như là sự xuất hiện của thị
trường chung Châu Âu, sự toàn cầu hoá của việc mua bán chứng khoán và sự
gia tăng về quy mô của thị trường chứng khoán trên toàn thế giới. Sự ra đời
của Uỷ ban CMKT quốc tế (IASC) là một minh chứng cho sự hoà hợp của hai
quan điểm nói trên. IASC đã đưa ra quan điểm về tính trung thực và hợp lý của
các thông tin trình bày trên BCTC, bên cạnh đó ban lãnh đạo IASC cũng thừa
nhận là, chính phủ của các nước có thể có những qui định bổ sung hoặc qui
định riêng phục vụ cho yêu cầu của mình, miễn là những qui định đó sẽ không
ảnh hưởng tới BCTC được phát hành phục vụ cho lợi ích của người sử dụng.
Tại Việt nam, trải qua một quá trình phát triển từ quan điểm thông tin kế
toán chỉ đơn thuần phục vụ cho sự quản lý tập trung của Nhà nước, đến khi
Luật Kế toán ra đời cùng với 26 CMKT đã hình thành khuôn khổ pháp lý
quan trọng làm căn cứ cho các DN tổ chức thực hiện công tác kế toán, lập và
13
trình bày BCTC [20, tr. 22]. Các BCTC của các DN được lập, trình bày và
công khai theo các CMKT sẽ hữu dụng, thích hợp cho những người sử dụng,
đảm bảo độ tin cậy, tính trung thực, hợp lý, dễ hiểu và có khả năng so sánh
cao, đáp ứng yêu cầu đề ra các quyết định kinh tế của người sử dụng. Một đặc
thù cần chú ý của hệ thống BCTC ở nước ta là, BCTC được qui định sẵn với
một khuôn mẫu áp dụng thống nhất cho các DN trong Chế độ kế toán được cơ
quan chủ quản là Bộ Tài chính ban hành [1].
1.2. NỘI DUNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Hệ thống BCTC của DN ở nước ta theo qui định của CMKT bao gồm 4
báo cáo:
1.2.1. Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá
trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của DN tại một thời điểm
nhất định [18, tr. 7]. Theo VAS 21- Trình bày BCTC thì BCĐKT phải bao
gồm các khoản mục chủ yếu [2, tr. 496-497]:
1. Tiền và các khoản tương đương tiền;
2. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn;
3. Các khoản phải thu thương mại và phải thu khác;
4. Hàng tồn kho;
5. Tài sản ngắn hạn khác;
6. Tài sản cố định hữu hình;
7. Tài sản cố định vô hình;
8. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn;
9. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang;
10. Tài sản dài hạn khác;
11. Vay ngắn hạn;
12. Các khoản phải trả thương mại và phải trả ngắn hạn khác;
13. Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước;
14. Các khoản vay dài hạn và nợ phải trả dài hạn khác;
15. Các khoản dự phòng;
16. Phần sở hữu của cổ đông thiểu số;
17. Vốn góp;
18. Các khoản dự trữ;
14
19. Lợi nhuận chưa phân phối.
Về bản chất, BCĐKT là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với
nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả của DN. Số liệu trên BCĐKT cho
biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của DN theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn
và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ vào BCĐKT có thể
nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của DN.
1.2.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là BCTC tổng hợp, phản ánh tổng
quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của DN, chi tiết
theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động khác [18, tr. 10]. Theo
VAS 21- Trình bày BCTC thì BCKQHĐKD phải bao gồm các khoản mục
chủ yếu [2, tr. 498-499]:
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
2. Các khoản giảm trừ
3. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
4. Giá vốn hàng bán
5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
6. Doanh thu hoạt động tài chính
7. Chi phí tài chính
8. Chi phí bán hàng
9. Chi phí quản lý doanh nghiệp
10. Thu nhập khác
11. Chi phí khác
12. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
13. Thuế thu nhập doanh nghiệp
14. Lợi nhuận sau thuế
1.2.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của BCTC, nó cung
cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ
cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán
và khả năng của DN trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt
động. BCLCTT làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động
15
kinh doanh của DN và khả năng so sánh giữa các DN vì nó loại trừ được các
ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng
giao dịch và hiện tượng. BCLCTT dùng để xem xét và dự đoán khả năng về
số lượng, thời gian và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai; dùng để
kiểm tra lại các đánh giá, dự đoán trước đây về các luồng tiền; kiểm tra mối
quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác
động của thay đổi giá cả. Thông tin từ BCLCTT đã bổ sung thêm một cách
nhìn về tình hình tài chính của đơn vị - đó là sự vận động của dòng tiền, một
yếu tố rất quan trọng trong hoạt động thanh toán của đơn vị. Qua đó cung cấp
một bức tranh toàn cảnh: tiền của đơn vị có từ đâu, sử dụng cho mục đích nào
và khả năng sinh ra các dòng tiền trong tương lai. Đây là những thông tin tài
chính tổng hợp mà hai báo cáo kế toán tổng thể trên chưa thể hiện được.
BCLCTT bao gồm những phần chính:
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
- Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
- Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ
- Tiền đầu kỳ
- Tiền cuối kỳ
1.2.4. Bản thuyết minh báo cáo tài chính
Ngoài ba bản báo cáo trên, Bản thuyết minh BCTC được lập để giải thích
và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình
tài chính cũng như kết quả kinh doanh của DN trong kỳ báo cáo mà các bảng
báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết. Qua đó, nhà đầu tư hiểu
rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của DN.
Bản thuyết minh BCTC bao gồm các phần mô tả mang tính tường thuật
hoặc những phân tích chi tiết hơn các số liệu đã được thể hiện trong BCĐKT,
16
BCKQHĐKD và BCLCTT cũng như các thông tin bổ sung cần thiết khác.
Khi đọc bất cứ BCTC nào người đọc cũng tìm thấy dẫn chiếu thông tin tới
thuyết minh BCTC (thường được đánh số thứ tự để tiện theo dõi). Các thuyết
minh này cho biết phương pháp kế toán công ty áp dụng và bổ sung các thông
tin không được nêu trong BCTC. Nói cách khác, Bản thuyết minh BCTC đưa
ra thông tin chi tiết và mở rộng các thông tin tóm tắt trong BCTC, giúp nhà
đầu tư hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động thực tế của công ty trong khoảng
thời gian báo cáo. Chúng bao gồm những thông tin được các CMKT yêu cầu
trình bày và những thông tin khác cần thiết cho việc trình bày trung thực và
hợp lý. Theo VAS 21- Trình bày BCTC [2, tr. 501], Bản thuyết minh BCTC
trình bày theo thứ tự sau:
- Tuyên bố về việc tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam;
- Giải trình về cơ sở đánh giá và chính sách kế toán được áp dụng;
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục được trình bày trong mỗi
BCTC theo thứ tự trình bày mỗi khoản mục hàng dọc và mỗi BCTC;
- Trình bày những biến động trong nguồn vốn chủ sở hữu;
- Những thông tin khác, gồm: những khoản nợ tiềm tàng, những khoản
cam kết và những thông tin tài chính khác; và những thông tin phi tài chính.
Đặc điểm Báo cáo tài chính trong công ty cổ phần
Ngoài những yêu cầu lập và trình bày BCTC như những loại hình DN
khác, đối với công ty cổ phần, BCTC còn có những đặc điểm riêng để đáp
ứng thông tin về đặc thù huy động vốn. Cụ thể:
•
Trên BCĐKT: Trong phần Vốn chủ sở hữu phải trình bày phần vốn
góp và cổ phiếu quỹ, trong đó vốn góp cổ phần của các cổ đông phản ánh chi
tiết theo hai chỉ tiêu riêng: Vốn đầu tư của chủ sở hữu (mệnh giá của cổ
phiếu) và thặng dư vốn cổ phần (khoản chênh lệch giá phát hành so với mệnh
17
giá và chênh lệch tăng, giảm giữa số tiền thực tế thu được so với giá mua lại
cổ phiếu khi tái phát hành cổ phiếu quỹ).
•
Trên BCKQHĐKD: Trình bày lãi cơ bản trên cổ phiếu và lãi suy
giảm trên cổ phiếu từ lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu
phổ thông của công ty mẹ trong kỳ đối với mỗi loại cổ phiếu phổ thông có
quyền nhận lợi nhuận khác nhau cho kỳ báo cáo.
•
Trên Bản thuyết minh BCTC: Thông tin chi tiết đối với mỗi loại cổ
phiếu về số cổ phiếu được phép phát hành; số cổ phiếu đã được phát hành và
được góp vốn đầy đủ và số cổ phiếu đã được phát hành nhưng chưa được góp
vốn đầy đủ; mệnh giá của cổ phiếu hoặc các cổ phiếu không có mệnh giá;
phần đối chiếu số cổ phiếu đang lưu hành tại thời điểm đầu và cuối niên độ;
các quyền lợi, ưu đãi và hạn chế gắn liền với cổ phiếu, kể cả những hạn chế
trong việc phân phối cổ tức và việc trả lại vốn góp; các cổ phiếu do chính DN
nắm giữ hoặc do các công ty con, công ty liên kết của công ty nắm giữ. Ngoài
ra cần trình bày thông tin thuyết minh về chỉ tiêu lãi cơ bản trên cổ phiếu và
lãi suy giảm trên cổ phiếu.
1.3. YÊU CẦU LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO
CHUẨN MỰC KẾ TOÁN
1.3.1. Chuẩn mực kế toán và sự cần thiết phải lập báo cáo tài chính
theo chuẩn mực kế toán
CMKT gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ
kế toán và lập BCTC. Hệ thống CMKT Việt nam được xây dựng dựa trên cơ
sở CMKT quốc tế phù hợp với đặc điểm và điều kiện phát triển kinh tế Việt
nam trong giai đoạn hiện tại và tương lai gần. Trong bối cảnh đặc thù của Việt
Nam, ngoài CMKT thì Nhà nước còn ban hành Chế độ kế toán là những quy
định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ
thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản
18
lý nhà nước về kế toán uỷ quyền ban hành. Chế độ kế toán là quy định cách
hạch toán, các biểu mẫu, các công việc cụ thể để lên BCTC còn CMKT đề ra
các phương pháp, nguyên tắc định hướng cho các công việc kế toán.
Theo thông lệ của thế giới thì CMKT là những quy định do tổ chức có
trách nhiệm nghiên cứu và ban hành để làm cơ sở cho việc lập và giải thích
các thông tin trình bày trên BCTC. CMKT bao gồm những nguyên tắc chung
(là những giả thiết, khái niệm, và những hướng dẫn dùng để lập BCTC) và
những nguyên tắc cụ thể (là những quy định chi tiết dùng để ghi chép các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh). Nguyên tắc chung được hình thành do quá trình
thực hành kế toán, còn nguyên tắc cụ thể được xây dựng từ các quy định của
tổ chức quản lý.
Trước khi mở cửa và hội nhập, Việt Nam không có CMKT, chỉ có chế độ
kế toán. Cuối năm 2001 Bộ tài chính ban hành lần đầu tiên 4 CMKT Việt
Nam. Đến tháng 12 năm 2005, đã ban hành được tất cả 26 CMKT. Các
CMKT Việt Nam, gọi tắt theo tiếng Anh là VAS (Vietnam Accounting
Standard), được soạn thảo dựa theo các CMKT quốc tế, gọi tắt theo tiếng Anh
là IAS. Theo Quyết định số 47 năm 2005, Bộ tài chính đã có lộ trình bàn giao
dần chức năng ban hành các CMKT và kiểm toán cho Hội Kế toán và Kiểm
toán Việt Nam, có tên gọi tắt theo tiếng Anh là VAA (Vietnamese
Association of Accountants and Auditors).
Vấn đề được đặt ra là tại sao phải tuân thủ CMKT để lập BCTC? Hay
vấn đề đơn giản hơn là lập BCTC theo CMKT có những ích lợi gì? Lợi ích
này có thể được nhìn nhận từ góc độ đáp ứng các tiêu chí khi ngân hàng thẩm
định tín dụng, đáp ứng nhu cầu thông tin của cổ đông, đồng thời tính minh
bạch của thông tin trên BCTC được lập với sự tuân thủ chặt chẽ CMKT sẽ
giúp tăng hình ảnh của DN trong cộng đồng kinh doanh và từ đó sẽ tạo điều
kiện mở mang hoạt động kinh doanh.