VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN HỮU PHONG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DƯỢC LIỆU TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ THƯ
Hà Nội – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử
dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện bài luận văn này đã được cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Đoàn Hữu Phong
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Ý nghĩa
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
HDND
Hội đồng Nhân dân
QLNN
Quản lý nhà nước
UBND
Ủy ban Nhân dân
VBQPPL
Văn bản quy phạm pháp luật
YDCT
Y dược cổ truyền
YDHCT
Y dược học cổ truyền
YHCT
Y học cổ truyền
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
DƯỢC LIỆU ..............................................................................................................6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về dược liệu ...................6
1.2. Nội dung, nguyên tắc và phương pháp quản lý nhà nước về dược liệu ........21
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dược liệu ............................31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DƯỢC LIỆU TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...........................................................................................37
2.1. Tình hình dược liệu tại Hà Nội ......................................................................37
2.2. Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về dược liệu .........................................43
2.3. Thực tiễn quản lý nhà nước về dược liệu tại Hà Nội .....................................48
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ DƯỢC LIỆU Ở HÀ NỘI.....................................................................63
3.1. Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về dược liệu .................................63
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dược liệu ...................................65
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................75
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước có nền y dược cổ truyền lâu đời do cha ông ta từ ngàn đời
xưa để lại, được tích lũy, kế thừa và phát triển qua nhiều thế hệ, trong đó dược liệu
từ lâu vẫn đóng góp vai trò to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của
nhân dân.
Ngày nay con người đang có xu hướng quay trở về sử dụng những sản phẩm có
nguồn gốc từ thiên nhiên do niềm tin rằng các thuốc thiên nhiên thường an toàn
hơn, ít có tác dụng phụ, tương đối bình hòa so với sử dụng thuốc tổng hợp. Đồng
thời có thể sử dụng trong một thời gian dài mà không gây độc hại cho cơ thể và
không xuất hiện hiện tượng kháng thuốc.
Nước ta có nguồn tài nguyên dược liệu rất phong phú và đa dạng. Từ núi cao
cho đến đồng bằng và bờ biển, cả nước ước tính có khoảng 12.000 loài trong đó có
khoảng trên 5.000 loài cây được sử dụng làm thuốc. Nguồn tài nguyên dược liêu
phong phú đó có những đóng góp to lớn trong công cuộc chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe của người dân, bên cạnh đó cũng cần có những chính sách phát triển đúng đắn
và bền vững nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên xanh quý giá đó. Những
cây thuốc dược liệu là vốn quý của thiên nhiên, và những bài thuốc từ dược liệu là
tài sản quý báu được bồi đắp bởi kinh nghiệm và trí tuệ của ông cha ta, thế hệ con
cháu chúng ta ngày nay phải có nhiệm vụ nghiên cứu, bảo tồn và phát triển.
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới, cùng với đó là sự cạnh tranh khốc liệt của
nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, nhiều doanh nghiêp, hộ sản xuất tư nhân
chỉ vì hám lợi đã chạy đua theo lợi nhuận mà quên mất pháp luật làm trái lương
tâm, đạo đức. Trên các phương tiện thông tin đại chúng hay đề cập đến những vấn
đề nổi cộm, gây bức xúc liên quan đến dược liệu bẩn như: buôn lậu dược liệu, nhập
lậu nguồn dược liệu kém chất lượng, dược liệu tẩm hóa chất, dược liệu giả được
đưa về từ Trung Quốc vv..., nhiều nơi khai thác nguồn dược liệu một cách tận thu,
bừa bãi mà không đi đôi với trồng trọt và phát triển lâu dài.
1
Điều này đặt ra những vấn đề cấp bách mà các cơ quan nhà nước phải vào cuộc.
Quản lý nhà nước, với công cụ quyền lực của mình bằng pháp luật và những chính
sách có vai trò định hướng, chỉ đạo điều hành các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ
về lĩnh vực y dược cổ truyền với mục tiêu kế thừa, bảo tồn và phát triển y dược học
cổ truyền dân tộc, kết hợp với y dược học hiện đại trong việc chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ nhân dân; xây dựng nền y dược Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc và
đại chúng.
Thành phố Hà Nội là trung tâm Kinh tế - chính trị - văn hóa- khoa học của cả
nước, là đầu mối giao thông, buôn bán giữa các tỉnh thành. Hà Nội cũng có một
trong hai khu trung tâm sản xuất kinh doanh, sử dụng dược liệu lớn, là đầu mối
phân phối thuốc dược liệu cho các khu vực khác. Hà Nội cũng là nơi tập trung
những cơ quan đầu não quản lý nhà nước về y tế, dược liệu, ngoài ra Hà Nội còn có
đặc trưng riêng là hai khu vực truyền thống tập trung nhiều cơ sở kinh doanh, sản
xuất bào chế dược liệu như: Làng nghề Ninh Hiệp huyện Gia Lâm và khu vực Lãn
Ông quận Hoàn Kiếm. Các hoạt động về dược liệu ở Hà Nội cũng nằm trong tình
trạng chung của cả nước đã nêu ở trên và cũng cần có nhu cầu cao về quản lý.
Xuất phát từ những trình bày trên tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về dược
liệu từ thực tiễn tại Thành phố Hà nội” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về dược liệu còn
ít, chưa được quan tâm đầy đủ qua tham khảo các tài liệu hiện hành cho thấy, các
công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu lồng ghép trong một số đề
tài như:
- Luận án tiến sĩ dược học: “Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc y học cổ truyền
và tân dược ở khu vực Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thanh Bình năm 2003;
- Đề tài nghiên cứu của tác giả Trần Thúy và cộng sự “Kết quả nghiên cứu hiện
trạng nhân lực và hiện trạng sử dụng thuốc cổ truyền” năm 1998;
2
- Luận văn thạc sĩ y học: “Thực trạng sử dụng y học cổ truyền tại tỉnh Hưng
Yên” của tác giả Đặng Thị Phúc năm 2002;
- Luận văn chuyên khoa cấp II: “Nghiên cứu ứng dụng xã hội hóa YHCT CSSK
ban đầu tại cộng đồng trong nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN” của tác
giả Phạm Hưng Củng năm 1996;
- Luận án thạc sĩ khoa học y dược: “Nghiên cứu thực trạng và tác dụng các vườn
thuốc nam của Sư đoàn Bộ binh cơ giới 304, Quân đoàn Bộ binh 2” của tác giả
Nguyễn Tuấn Hoàn năm 1998;
- Tài liệu giảng dạy sau đại học, trường Đại học Dược Hà Nội: “Đa dạng sinh
học và tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam” của tác giả Trần Công Khánh năm 2000;
- Luận văn thạc sỹ y học: “Khảo sát thực trạng nguồn nhân lực và sử dụng
YHCT ở một số địa phương tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Hoàng Thị Hoa Lý năm
2006;
- Luận văn Thạc sĩ y học: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới việc sử
dụng YHCT của người dân huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình” cùa tác giả Ngô Huy
Minh năm 2002;
- Báo cáo “Hội nghị tăng cường công tác quản lý chất lượng dược liệu, thuốc từ
dược liệu sử dụng trong các cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền” Đà Lạt năm
2011;
Các công trình nêu trên đã nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về y học cổ
truyền mà dược liệu là một phần ở trong đó. Tuy nhiên, chưa có công trình nào
nghiên cứu chuyên sâu ở tầm luận văn thạc sĩ luật học đối với vấn đề quản lý nhà
nước về dược liệu gắn với địa bàn cụ thể là thành phố Hà Nội. Các công trình
nghiên cứu kể trên là những tài liệu tham khảo rất quan trọng để tác giả thực hiện
luận văn này.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với
dược liệu, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lĩnh
vực này.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là mang tới một cái nhìn tổng quan về mặt lý
luận và pháp lí về quản lý nhà nước đối với dược liệu. Đồng thời chỉ ra những điểm
đáng ghi nhận và những điểm còn thiếu sót trong thực trạng của vấn đề và những
ảnh hưởng của pháp luật trong vấn đề này. Từ đó đưa ra những kiến nghị giải pháp
nhằm nâng cao công tác quản lý hiện hành, đảm bảo vai trò của dược liệu trong việc
chăm sóc sức khỏe toàn dân.
Mục đích trên được cụ thể trong những nhiệm vụ chính của luận văn là:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về Quản lý nhà nước đối với Dược liệu.
- Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về Dược liệu trên địa bàn Thành phố Hà
nội.
Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp khả thi để hoàn thiện công tác quản lý nhà
nước hiện nay về dược liệu tại Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Quản lý nhà nước về dược liệu bao gồm rất nhiều các vấn đề như: xây dựng các
văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các
chương trình, dự án, đề án về dược liệu; quản lý về sản xuất, kinh doanh, buôn bán,
cung ứng, xuất nhập khẩu dược liệu; quản lý về giá dược liệu, giá thuốc y học cổ
truyền; quản lý chất lượng dược liệu; nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về dược
liệu...
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là những vấn đề lý luận về quản lý
nhà nước đối với dược liệu từ thực tiễn thành phố Hà Nội. Thông qua đó, luận văn
đúc kết một số kết quả đạt được, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế, bất
cập.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tác giả nghiên cứu quản lý nhà nước về
dược liệu trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4
- Phạm vi về thời gian: Luận văn khảo sát công tác quản lý nhà nước về dược
liệu từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.
Phương pháp luận:
Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng
thời có tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số thành tựu của khoa học quản lý,
khoa học chính trị, pháp luật, kinh tế ...
5.2.
Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài việc sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết
học Mác-Lênin, quá trình nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp phân tích đánh
giá, thống kê so sánh, điều tra...
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận, hoàn thiện pháp luật về quản
lý nhà nước đối với dược liệu.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở lý luận cho các cơ quan
nhà nước, các nhà làm luật trong việc hoạch định chính sách, sửa đổi, bổ sung, ban
hành mới pháp luật liên quan đến dược liệu. Luận văn cũng có thể là tài liệu tham
khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1- Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về dược liệu
Chương 2- Thực trạng quản lý nhà nước về dược liệu tại Thành phố Hà Nội
Chương 3- Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về dược liệu ở
Hà Nội
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
DƯỢC LIỆU
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về dược liệu
1.1.1. Các hoạt động về dược liệu - đối tượng của quản lý nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm dược liệu
Việt Nam là một quốc gia được biết đến bởi sự đa dạng của nguồn tài nguyên
thiên nhiên, đứng thứ 16 trong tổng số 25 quốc gia có sự đa dạng về sinh học. Có
tới 3.830 loài có khả năng sử dụng làm thuốc chữa bệnh trong tổng số 10.386 loài
thực vật. Trong tổng số 5.577 loại thuốc đang sản xuất kinh doanh ở Việt Nam thì
có 1340 loại thuốc y học cồ truyền (24%) trong đó có 1296 loại (96,56%) sản xuất
từ cây thuốc và 46 loại (3.44%) nguyên liệu từ động vật [21]. Dược liệu có vai trò to
lớn trong công cuộc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân của ngành y tế
nước nhà.
Khái niệm dược liệu được quy định giống nhau tại Khoản 6 Điều 2 Nghị định
102/2016/NĐ-CP của Chính phủ và Khoản 5 Điều 2 Luật Dược năm 2016. Theo đó,
dược liệu là nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc tự nhiên từ thực vật, động vật,
khoáng vật và đạt tiêu chuẩn làm thuốc. Trong luận văn tác giả đi sâu, tập trung chủ
yếu vào dược liệu có nguồn gốc từ thực vật.
Theo khái niệm trên có thể hiểu dược liệu được dùng có thể là tất cả các bộ
phận của cây, vật hoặc chỉ một vài bộ phận. Những chất chiết ra từ cây cỏ hoặc
động vật như tinh dầu, dầu mỡ, nhựa, sáp cũng thuộc phạm vi của dược liệu, một số
nguyên liệu như cà phê, trà, gừng, quế...được xếp vào dược liệu nhưng cũng đồng
thời là nguyên liệu dùng trong thực phẩm. Ngoài ra những thành phần hóa dược
được chiết xuất từ dược liệu được dùng trong sản xuất thuốc cũng là dược liệu.
Dược liệu thường được chia làm 3 nhóm chính:
- Thuốc có nguồn gốc thiên nhiên trong y học hiện đại, được bào chế dưới các
dạng thuốc tiêm, tiêm truyền, viên nén, viên nang, mỹ phẩm...
6
- Thuốc trong Y học cổ truyền: bào chế theo lý luận YHCT ( thuốc thang, thuốc
tễ, thuốc hoàn, thuốc bột , thuốc cốm, rượu thuốc, trà thuốc... )
- Thực phẩm trị liệu (thực phẩm chức năng).
1.1.1.2. Vai trò của dược liệu
Nền y học cổ truyền của nước ta từ xưa đến nay có vai trò quan trọng trong việc
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe đối với người dân. Để kế thừa, bảo tồn và phát triển
nền y dược cổ truyền, cần phát triển nền dược liệu đảm bảo về chất lượng và đa
dạng về chủng loại. Dược liệu sẽ là con đường đưa ngành Dược nước ta đón đầu
được trong thời kỳ hội nhập và sẽ vẫn là nền tảng của ngành Dược.
Hiện nay không chỉ Việt Nam mà trên thế giới, việc sử dụng các thuốc từ dược
liệu của người dân ngày càng gia tăng. Ở các nước có nền công nghiệp phát triển có
tới ¼ số thuốc có nguồn gốc từ thảo dược, dược liệu cũng là nguồn nguyên liệu cho
việc bán tổng hợp một số sản phẩm hóa dược. Khoảng 80% dân số trên thế giới vẫn
dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe. Xu hướng quay lại
sử dụng các sản phẩm thuốc và thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thiên nhiên
để phòng và điều trị bệnh đang thịnh hành trên thế giới, vai trò của đông dược trong
chăm sóc sức khỏe sẽ ngày càng khẳng định vị thế của mình trong thời đại hội nhập.
Mọi người dân trên thế giới luôn thích được sử dụng các chế phẩm từ dược liệu
nhiều hơn trong điều trị bệnh bởi tính an toàn và sẵn có của nó. Theo ước tính của
tổ chức Y tế thế giới, trong tổng số 50% số người trên toàn thế giới được CSSK thì
có tới 80% người được chăm sóc bằng các vị thuốc từ dược liệu. Loài người từ xưa
đến nay đều được hưởng lợi ích từ các chế phẩm từ dược liệu trong CSSK, ở mỗi
quốc gia dược liệu được coi như là một nhân tố quan trọng bảo đảm sự thành công
trong chiến lược CSSK của ngành y tế.
Công tác phát triển dược liệu là một trong những vấn đề mà Đảng, Chính phủ
và Bộ Y tế rất quan tâm. Dược liệu sẽ đóng góp những tiềm năng to lớn để sản xuất
thuốc phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chính sách quốc gia về
thuốc năm 1996 đã nêu rõ: “Phát huy phát triển thuốc cổ truyền, khai thác có chọn
lọc các bài thuốc gia truyền cũng như kinh nghiệm của tình hình nhân dân. Tăng
7
cường đầu tư, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thuốc cổ truyền, tiêu chuẩn hóa
kỹ thuật bào chế, chế biến và sử dụng thuốc cổ truyền; Kế hoạch hóa nhiệm vụ phát
triển nguồn dược liệu, xây dựng các vùng nuôi trồng cây, con làm thuốc, kết hợp
trồng rừng với trồng cây thuốc; Chọn lọc, bảo tồn phát triển nguồn giống và gen
cây thuốc, xây dụng vườn quốc gia về cây thuốc; Xây dựng bộ tiêu chuẩn chất
lượng nhà nước về dược liệu”.
Nghiên cứu sử dụng dược liệu có hiệu quả và sản xuất các loại thuốc từ dược
liệu đã và đang trở thành một lĩnh vực đặc biệt, đang dần được áp dụng những thành
tựu khoa học mới nhất nhằm mục đích giúp con người tìm ra các liệu pháp chống
lại sự phát triển của bệnh tật có xu hướng ngày càng phức tạp và nguy hiểm. Ngày
nay, vai trò của dược liệu trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân không
những đã được các nhà hoạch định chính sách y tế quan tâm, mà còn được đông đảo
người bệnh và cộng đồng nhân dân chú ý.
Việc thiếu hụt thuốc men có thể gây nên tâm lí lo lắng, ảnh hưởng tiêu cực đến
đời sống chính trị - xã hội, bởi vậy vấn đề đảm bảo nguồn thuốc là vấn đề xã hội
nhạy cảm mà lãnh đạo của bất kì quốc gia nào đều quan tâm. Bên cạnh đó, vấn đề
đảm bảo thuốc trong hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khoẻ còn là một trong những
tiêu chuẩn quan trọng trong hệ thống các tiêu chuẩn thế giới đánh giá về mức sống
của một quốc gia. Việc đảm bảo thuốc chữa bệnh trong nhiều trường hợp gắn liền
với việc cứu sống hoặc tử vong của nhiều người và dược liệu cũng sẽ góp phần
cung ứng thuốc men cho con người trong thời đại ngày nay.
1.1.1.3. Các hoạt động về dược liệu:
a. Hoạt động kinh doanh dược liệu
Dược liệu là một mặt hàng cũng như nhiều mặt hàng khác trong nền kinh tế thị
trường. Dược liệu còn có vai trò quan trọng gắn liền với an toàn sức khỏe của người
dân, vì vậy hoạt động kinh doanh dược liệu cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật,
cũng như của các cơ quan quản lý nhà nước. Hoạt động kinh doanh dược liệu bao
gồm: xuất khẩu, nhập khẩu, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ bảo quản dược liệu.
8
Ngày 21 tháng 01 năm 2016, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 03/2016/TTBYT quy định về kinh doanh dược liệu; áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã,
hộ gia đình, cá nhân có hoạt động kinh doanh dược liệu và cơ quan quản lý hoạt
động kinh doanh dược liệu tại Việt Nam.
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh dược liệu cũng như khám và điều trị
bệnh đòi hỏi các cơ sở YDCT cần phải đảm bảo các tiêu chí như: xuất nhập phải
đầy đủ thủ tục về pháp lý, hàng phải rõ nguồn gốc, không nằm trong danh mục cấm
của Bộ Y tế như vẩy TT, sừng tê giác. Thuốc trước khi nhập phải có đầy đủ hóa đơn
chứng từ, bệnh nhân phải dùng thuốc đúng quy định của Bác sĩ kê đơn.
Nền kinh tế thị trường và chính sách mở của nước ta hiện nay đã có tác động rất
nhiều đến ngành dược nói chung và dược liệu nói riêng. Một ngành dược trước đây
có nhiều năm nhà nước nắm độc quyền kinh doanh sản xuất và hoạt động theo cơ
chế bao cấp, yếu tố đó đã gây khó khăn rất nhiều cho công tác quản lý nhà nước về
dược. Sự cạnh tranh gay gắt giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước, ngoài
nước; Sự tách biệt giữa nhiệm vụ quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh sản xuất
với rất nhiều bất cập. Trên báo chí thường xuyên đăng tin thu hồi các lô thuốc tân
dược, dược liệu không đảm bảo chất lượng làm nhiều người lo ngại về chất lượng
thuốc, vấn đề này đòi hỏi nhà nước phải tăng cường hơn nữa chức năng, công tác
quản lý đối với dược liệu. Điều này đòi hỏi từng bước phải điều chỉnh các văn bản
pháp luật sao cho phù hợp với tình hình hiện nay về công tác quản lý nhà nước về
dược liệu.
b. Hoạt động nghiên cứu, phát triển dược liệu
Đây là hoạt động hướng đến ứng dụng các kết quả nghiên cứu, tạo sản phẩm
phục vụ nhu cầu thị trường; xây dựng vùng trồng dược liệu nhằm phát triển kinh tế
xã hội; bảo tồn, lưu giữ nguồn gen dược liệu và tri thức bản địa của vùng đó. Quy
hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 tại
Quyết định 1976/QĐ-TTg là cơ sở triển khai các hoạt động của công tác phát triển
dược liệu, đặc biệt là hoạt động khoa học công nghệ nhằm thúc đẩy phát triển dược
liệu ở Việt Nam. Để phát triển dược liệu thành ngành sản xuất hàng hóa, tạo ra các
9
sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước, trong khu
vực và trên thế giới thì nhất thiết phải đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi
mới trang thiết bị trong nghiên cứu về dược liệu.
Trong những năm gần đây, dược liệu đã đóng góp vai trò quan trọng trong công
tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp
dược để sản xuất thuốc, nguyên liệu để sản xuất thực phẩm chức năng, chữa bệnh
bằng phương pháp YHCT... Hoạt động nghiên cứu khoa học về dược liệu với mục
đích ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học để tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu
thị trường như: Xây dựng các vùng trồng dược liệu nhằm phát triển kinh tế xã hội;
Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen dược liệu, nghiên cứu thành phần dược lý của các cây
thuốc dược liệu. Một số kết quả nghiên cứu khoa học đã mang lại nhiều ứng dụng
hữu ích, đóng góp những kết quả thiết thực cho công tác phát triển dược liệu trên cả
nước như: Khai thác, bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu tự nhiên hiệu quả và
hợp lý; Nhân giống, trồng và phát triển nhiều cây thuốc dược liệu; Ứng dụng các kỹ
thuật trồng và phát triển dược liệu nhằm đảm bảo nguồn chất lượng dược liệu; Chế
biến và chiết xuất các sản phẩm từ dược liệu phục vụ nhu cầu của người dân.
c. Hoạt động sản xuất dược liệu
Công việc sản xuất dược liệu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết
định đến chất lượng, độ an toàn và hiệu quả của thành phẩm thuốc đông dược được
làm ra, ban đầu chỉ là cỏ, cây, hoa lá nhưng để làm ra một thành phẩm thuốc từ
dược liệu đòi hỏi trong quá trình sản xuất phải đảm bảo rất nhiều khâu và quy trình.
Do đặc điểm của hầu hết các loại dược liệu đều được thu hái một cách tự nhiên nên
việc duy trì, bảo vệ, phát triển nguồn dược liệu phụ thuộc chủ yếu vào công tác
khoanh, nuôi rừng tự nhiên của lâm nghiệp. Mặt khác việc trồng trọt, phát triển
dược liệu lại có tính chất như một hoạt động nông nghiệp nên còn có sự chồng chéo
trong việc quản lý làm cho công tác quản lý dược liệu gặp nhiều khó khăn để phát
triển đúng tiềm năng của mình. Hiện nay ở nước ta đã có 5 vùng dược liệu tập trung
gồm vùng dược liệu Sapa, vùng dược liệu Đà Lạt, vùng dược liệu vùng núi phía
10
Bắc, vùng dược liệu đồng bằng sông Hồng và vùng dược liệu đồng bằng sông Cửu
Long. Đây là những nguồn cung cấp dược liệu chính của cả nước.
Dược liệu được khai thác, sử dụng chủ yếu làm nguyên liệu cho công nghiệp
đông dược, y học cổ truyền, công nghiệp tân dược hiện đại và công nghiệp dược mỹ phẩm, hương liệu. Ngoài việc tự túc một phần dược liệu cho tiêu dùng trong
nước, làm nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất thuốc, ngành dược đã xuất khẩu được
nhiều dược liệu và tinh dầu với số lượng đáng kể đem lại nhiều nguồn ngoại tệ cho
đất nước.
d. Hoạt động cung ứng dược liệu
Tại Hội nghị toàn quốc của Chính phủ về phát triển dược liệu Việt Nam diễn ra
sáng 12/4/2017 tại Lào Cai, theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim
Tiến, tại Việt Nam, nhu cầu dược liệu trong nước khoảng gần 60-80.000 tấn/năm.
Xuất khẩu dược liệu theo thống kê đạt gần 5.000 tấn, đem lại giá trị trên 6 triệu
USD mỗi năm.
Thị trường tiêu thụ dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu của Việt Nam là rất
lớn. Hệ thống khám, chữa bệnh bằng YHCT hiện có 63 bệnh viện YHCT công lập;
92,7% bệnh viện đa khoa tỉnh có bộ phận YHCT; khoảng 80% trạm y tế xã có hoạt
động khám, chữa bệnh bằng YHCT và gần 7.000 cơ sở hành nghề YHCT tư nhân
sử dụng dược liệu trong khám chữa bệnh. Nhu cầu sử dụng dược liệu chiếm khoảng
10%/năm; trong đó, khối bệnh viện YHCT sử dụng khoảng 300 loại dược liệu khác
nhau ở mức khoảng 3.000 tấn mỗi năm. Theo số liệu của Cục Quản lý Dược, trong
năm 2010 thuốc sản xuất từ dược liệu đạt doanh thu khoảng 92 triệu USD, chiếm tỷ
trọng khoảng 10% tổng doanh thu thuốc sản xuất trong nước. Bộ Y tế đã và đang
triển khai tiêu chuẩn hóa điều kiện sản xuất thuốc theo lộ trình thực hiện GMP, với
mục tiêu đến năm 2014 tất cả các doanh nghiệp sản xuất thuốc từ dược liệu sẽ phải
đạt tiêu chuẩn GMP. Đây là chủ trương đúng đắn của Bộ Y tế để đảm bảo nâng cao
chất lượng thuốc sản xuất trong nước, và là giải pháp để khuyến khích người Việt
ưu tiên dùng thuốc Việt [23].
11
Nước ta là nước có nền kinh tế thị trường nên các cơ sở buôn bán, cung cấp
dược liệu cũng phải thích nghi để phù hợp. Một số cơ sở có truyền thống kinh
doanh dược liệu có hệ thống kho tàng và chế biến khá tốt đạt các tiêu chuẩn của Bộ
y tế yêu cầu và có đội ngũ cán bộ chuyên sâu nên đáp ứng được việc cung ứng dược
liệu, thuốc nam thuốc bắc với chất lượng dịch vụ khá đảm bảo, có độ tin cậy cao và
có phòng kiểm tra chất lượng GLP như Công ty CP dược TW Mediplantex,
Vimedimex, Công ty CP Dược liệu TW2. Ngoài các đơn vị cung ứng chủ yếu như
trên, còn có một số tư nhân mua bán trao đổi trực tiếp với các thương nhân Trung
quốc qua con đường biên mậu không chính thức, không thể thống kê được số lượng
và không kiểm tra được chất lượng của nguồn dược liệu vào nước ta. Vì vậy đôi khi
vẫn xảy ra các vụ việc như thuốc đông dược trôi nổi trên thị trường không xác định
được nguồn gốc và chất lượng không đảm bảo. Đây là tồn tại thực tế rất khó cho
công tác quản lý vì giữa nước ta và Trung quốc có đường biên giới từ Lạng Sơn qua
Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu với rất nhiều lối mòn đường biên có thể
vận chuyển được hàng hoá khá dễ dàng.
Dược liệu được đưa vào nước ta theo con đường biên mậu này có giá cả cạnh
tranh rất thấp vì chất lượng không được quản lý, kiểm duyệt và không rõ nguồn
gốc. Đây là một tồn tại nhức nhối rất lâu rồi mà không giải quyết được, chúng ta
đều biết được điều này, nhưng chưa có giải pháp nào để ngăn ngừa một cách hiệu
quả tình trạng buôn bán dược liệu theo đường biên mậu trôi nổi không hợp pháp
qua biên giới Việt - Trung.
e. Hoạt động xuất nhập khẩu dược liệu, thuốc từ dược liệu
Dược liệu ở Việt Nam đang sử dụng vào khoảng gần 400 loại thông dụng, trong
đó có 40 loại dược liệu đã được Bộ y tế chỉ đao tập trung đầu tư phát triển trong
nước, để cung cấp cho các nhu cầu của các công ty sản xuất thành phẩm đông dược,
các Bệnh viện TW, địa phương, các ngành, các hiệu thuốc YDCT. Nhiều loại dược
liệu trong nước đã cung cấp thoả mãn nhu cầu như Quế, Hồi, Hoa Hoè, Trinh nữ
hoàng cung, Đinh Lăng, Long nhãn, Sen, Thảo quả, Hà Thủ ô đỏ, Ngũ gia bì, Nghệ
vàng và một vài loại khác vv... Nếu có kế hoạch và biện pháp chỉ đạo chặt chẽ, có
12
các chế độ chính sách khuyến khích hợp lý thì với điều kiện đất đai, khí hậu của
Việt Nam, chúng ta còn có thể tự trồng trọt, đầu tư phát triển nhiều loại dược liệu
quý hiếm khác để cung cấp cho thị trường như: Tam thất, Ba kích, Bạch chỉ, Ngưu
tất, Sinh địa, Mạch môn, Kim ngân hoa, Thảo quyết minh, Tục đoạn, Đẳng sâm, ý
dĩ, Sa nhân, Huyền Sâm, Hoàng liên gai, Sâm ngọc linh [10].
Việc nhập khẩu dược liệu, thuốc đông y không rõ nguồn gốc đang là vấn nạn
trong những năm gần đây. Hiện tượng xuất khẩu lậu một số dược liệu quý hiếm và
xuất khẩu dược liệu khai thác tự nhiên qua biên giới Trung Quốc theo đường tiểu
ngạch trong thời gian qua có dấu hiệu gia tăng. Hoạt động này đã làm suy giảm
nghiêm trọng nguồn tài nguyên cây thuốc, suy giảm tính đa dạng sinh học và có thể
làm biến mất nhiều loài cây thuốc quý hiếm cùng với tri thức bản địa của địa
phương và quốc gia.
Hàng năm, ngành dược sử dụng khoảng 60.000 - 80.000 tấn dược liệu các loại,
trong đó dược liệu sử dụng có nguồn gốc nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quôc chiếm
khoảng 80-85 %. Do trong nước không có một số các loại dược liệu trồng trong
nước hoặc chất lượng loại dược liệu đấy không bằng các nước có điều kiện tự nhiên
thuận lợi cho sự phát triển loại đó, do tính chất mùa vụ, do giá thành dược liệu....
nên nhiều loại dược liệu cần phải nhập khẩu với số lượng lớn. Mặc dù nước ta có
tiềm năng thế mạnh rất lớn về tài nguyên dược liệu nhưng có một nghịch lý là hiện
nay Việt Nam mới chủ động được 25% nhu cầu, 75% còn lại phải phụ thuộc nguồn
nhập khẩu. Điều này đặt ra cho chúng ta thấy rõ việc quản lý dược liệu hiện nay là
vô cùng cấp thiết.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của quản lý nhà nước về dược liệu
a. Khái niệm của quản lý nhà nước về dược liệu:
Trên thực tế, chưa có một khái niệm nào chuẩn xác liên quan đến quản lý nhà
nước đối với dược liệu. Vì vậy, để dễ hình dung được nội hàm của cụm từ này,
chúng ta đi từ khái niệm quản lý.
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, nhiều lĩnh vực khác
nhau. Theo quan điểm của điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ
13
thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được
những mục đích đã định trước.
Khái niềm này có thể tóm lược lại như sau:
- Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản
lý.
- Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu nó có hoạt động chung của con
người.
- Mục đích, nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của
con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hành
động thống nhất của tập thể để hướng đến mục tiêu đã định trước.
- Quản lý được thực hiện bằng quyền lực và tổ chức nhằm đảm bảo sự phục tùng
và tạo sự thống nhất trong quản lý.
Quản lý nhà nước về dược liệu là nói đến những hoạt động của bộ máy Nhà
nước nhằm đảm bảo cho những hoạt động liên quan đến dược liệu phù hợp với xu
thế phát triển chung của xã hội cũng như đem lại sự thiết thực đối với việc bảo vệ
và chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ
thống chính trị, nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho mọi người được thực
hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền được chăm sóc sức khỏe.
Quyền được chăm sóc sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con người,
được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia. Hiến chương
của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1946 đã ghi: “Bảo vệ sức khỏe là quyền cơ
bản của mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị, điều
kiện kinh tế hay xã hội”. Trong giai đoạn hiện nay, nhà nước đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc quản lý đối với dược liệu với nhiều khía cạnh, vấn đề liên
quan đến dược liệu.
Qua những vấn đề nêu trên, chúng ta có thể hiểu quản lý Nhà nước đối với dược
liệu là tổng thể những hoạt động của bộ máy nhà nước trên cơ sở những quy định
của pháp luật đảm bảo cho các hoạt động về dược liệu thực hiện được nhiệm vụ
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, đồng thời chịu sự điều chỉnh thống nhất
14
của pháp luật. Nhìn tổng quát, khái niệm quản lý nhà nước về dược liệu có thể hiểu
như sau:
Quản lý Nhà nước về dược liệu là tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng
pháp luật trên cơ sở quyền lực nhà nước đối với các hoạt động về dược liệu do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhằm chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của
nhân dân.
Cách hiểu trên tuy chỉ mang tính tương đối về quản lý nhà nước đối với dược
liệu, nhưng xét trên phương diện điều khiển học có thể được coi là khá hoàn chỉnh
khi đã xác định được chủ thể quản lý, khách thể của hoạt động quản lý, đối tượng
của hoạt động quản lý. Khái niệm trên có một số đặc điểm đáng chú ý như sau:
- Thứ nhất, chủ thể của hoạt động quản lý: Chủ thể của quản lý là các cơ quan
nhà nước trong bộ máy nhà nước quản lý chuyên ngành liên quan đến dược liêu –
một bộ phận của bộ máy nhà nước được trao quyền về quản lý những hoạt động liên
quan đến dược liệu.
- Thứ hai, khách thể của hoạt động quản lý: là các quan hệ xã hội chịu sự tác
động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý liên quan đến hành vi của con người và
các quá trình xã hội có mối liên quan đến các hoạt động về dược liệu
- Thứ ba, đối tượng của hoạt động quản lý: Tất cả những tổ chức, cá nhân... thực
hiện những hoạt động liên quan đến dược liệu.
- Thứ tư, mục đích của hoạt động quản lý: Phát huy mọi nguồn lực, tạo ra một
cơ chế hợp lý cho các hoạt động về dược liệu, đảm bảo quyền bảo vệ và chăm sóc
sức khỏe của người dân.
b. Đặc điểm của quản lý nhà nước về dược liệu:
Một là, Nhà nước là người tổ chức và quản lý các hoạt động liên quan đến dược
liệu trong điều kiện nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường có những đặc trưng mang tính phức tạp, năng động và
nhạy cảm. Vì vậy, hoạt động quản lý về dược liệu đòi hỏi phải có một chủ thể có
tiềm lực về mọi mặt để đứng ra tổ chức và điều hành, chủ thể ấy không ai khác
chính là Nhà nước, vừa là người quản lý, vừa là người tổ chức các hoạt động liên
15
quan đến dược liệu. Để hoàn thành sứ mệnh của mình, Nhà nước phải đề ra pháp
luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,... và sử dụng các công cụ này để
tổ chức và quản lý các hoạt động về dược liệu.
Hai là, hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch... phát triển dược liệu là cơ sở, là những công cụ để nhà nước tổ chức và
quản lý các hoạt động liên quan đến dược liệu.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường các hoạt động liên quan đến dược liệu
diễn ra hết sức phức tạp với sự đa dạng về chủ thể, về hình thức tổ chức và quy mô
hoạt động. Bởi vậy sự quản lý của nhà nước cũng phải bảo đảm cho những hoạt
động về dược liệu có tính tổ chức cao, ổn đinh, công bằng và có tính định hướng rõ
rệt. Nhà nước phải ban hành pháp luật, đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch nhằm phát triển ngành y tế nói chung và dược liệu nói riêng và bằng
những công cụ này tác động vào các hoạt động của dược liệu.
Ba là, quản lý nhà nước đối với hoạt động dược liệu đòi hỏi phải có một bộ máy
nhà nước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước có
trình độ, năng lực thật sự.
Quản lý nhà nước đối với những hoạt động liên quan đến dược liệu phải tạo
được những cân đối chung, điều tiết được thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột
biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động về dược liệu phát
triển. Và để thực hiện tốt điều này thì tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý nhà
nước không thể khác hơn là phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ
trung ương đến địa phương.
Bốn là, quản lý nhà nước đối những hoạt động liên quan đến dược liệu còn xuất
phát từ chính nhu cầu khách quan và sự gia tăng vai trò của chính sách, pháp luật
trong nền kinh tế thị trường với tư cách là công cụ quản lý.
Những hoạt động về dược liệu là hoạt động đa dạng liên quan đến nhiều lĩnh
vực, đồng thời cũng chịu sự chi phối và tác động của nền kinh tế thị trường. Nhất là
khi nó gắn liền với sức khỏe và tính mạng của mỗi người dân nên đòi hỏi phải có
16
một hệ thống chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp không chỉ với điều kiện ở
trong nước mà còn với thông lệ và luật pháp quốc tế.
1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về dược liệu
Quản lý Nhà nước đối với dược liệu là một yêu cầu tất yếu, việc nâng cao năng
lực quản lý nhà nước là điều kiện rất quan trọng để đạt được những mục tiêu mong
muốn trên cơ sở phát huy tối đa những mặt tích cực của dược liệu trong việc chăm
sóc và bảo vệc sức khỏe của nhân dân, đồng thời hạn chế tối thiểu những tiêu cực
do nền kinh tế thị trường, ngăn chặn những hành vi vì hám lợi mà bất chấp lương
tâm, đạo đức gây hại cho an toàn, sức khỏe của người dân. Điều này thể hiện ở các
vai trò:
a. Vai trò định hướng
- Nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, chiến lược, đề án
phát triển về dược liệu cổ truyền của đất nước trong từng giai đoạn nhất định,
khuyến khích người dân chữa bệnh bằng y học cổ truyền nói chung và dược liệu nói
riêng. Xây dựng nền y học cổ truyền Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc là mục
tiêu hướng đến của Đảng và Nhà nước ta. Năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 2166/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch hành động của Chính
phủ về phát triển y, dược cổ truyền Việt nam đến năm 2020 mà một trong các nội
dung nhiệm vụ chủ yếu đó là: Bảo đảm, nâng cao chất lượng dược liệu, thuốc đông
y, thuốc từ dược liệu.
Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 65/2017/NĐ-CP ngày 19 tháng 5
năm 2017 về chính sách đặc thù về giống, vốn và công nghệ trong phát triển nuôi
trồng, khai thác dược liệu...
Những cây thuốc dược liệu với đặc tính an toàn, cũng như gần gũi với con
người của nền văn hóa á đông, ngày nay sử dụng dược liệu trong chăm sóc sức khỏe
đang dần trở thành xu thế. Để đáp ứng nhu cầu đó của xã hội đòi hỏi ngành y tế có
sự quan tâm đúng mực về sự phát triển của ngành y dược học cổ truyền. Ngành y tế
cũng rất quan tâm, đầu tư nghiên cứu đối với những tri thức y học cổ truyền của dân
tộc như: các bài thuốc nam dược, bài thuốc gia truyền, bài thuốc dân gian. Việc
17
công nhận những bài thuốc có giá trị đó để người dân ý thức hơn về những cây
thuốc xung quanh, chính vì thế mà những năm gần đây nhu cầu điều trị bệnh bằng
dược liệu ngày càng tăng.
- Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định để định hướng những hoạt động về
dược liệu, bao gồm các nội dung cơ bản là hoạch định chiến lược, kế hoạch phát
triển ngành dược liệu, phân tích và xây dựng các chính sách về dược liệu, y dược cổ
truyền, quy hoạch và định hướng chiến lược phát triển thị trường, xây dựng hệ
thống luật pháp có liên quan tới dược liệu, xác lập các chương trình, dự án; cụ thể
hóa chiến lược.
- Thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các
văn bản quy phạm pháp luật về các hoạt động liên quan đến dược liệu nhằm tạo ra
môi trường pháp lý cho các hoạt động này.
- Chức năng hoạch định giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất và buôn
bán dược liệu có phương hướng hình thành phương án chiến lược, kế hoạch kinh
doanh. Nó vừa giúp tạo lập môi trường kinh doanh, vừa cho phép nhà nước có thể
kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh trên thị trường.
b. Vai trò tổ chức và phối hợp
Vai trò này có những nội dung cụ thể là:
- Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý về dược
liệu, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các
văn bản quy phạm pháp luật,... đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để
thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý nhà nước nhằm đưa chính sách quản lý
phù hợp với thực tiễn các hoạt động liên quan đến dược liệu.
- Hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan quản lý nhà nước về dược
liệu với các cấp trong hệ thống tổ chức quản lý về y tế của trung ương, tỉnh (thành
phố), và quận (huyện, thị xã).
- Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực
về quản lý cũng như về chuyên môn cho ngành dược liệu, nghiên cứu ứng dụng
18
khoa học, công nghệ nhằm phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu của
nước ta.
- Tạo điều kiện, chính sách nhằm khuyến khích nghiên cứu, phát triển tri thức
khoa học về dược liệu cũng như công nghệ trồng, chế biến và sản xuất dược liệu.
- Việc nghiên cứu, kế thừa các bài thuốc và kinh nghiệm của đông y, kết hợp
hài hòa đông y với y dược học hiện đại; tìm kiếm, khai thác, sử dụng dược liệu mới,
xuất khẩu dược liệu; thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ nuôi trồng dược liệu, khai
thác dược liệu hợp lý, bảo đảm lưu giữ và phát triển nguồn gen dược liệu; hiện đại
hóa sản xuất thuốc từ dược liệu.
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài nghiên cứu khoa học về công nghệ bào chế, công nghệ
sinh học để sản xuất các thuốc mới; đầu tư sản xuất nguyên liệu làm thuốc, thuốc
thành phẩm phù hợp với cơ cấu bệnh tật và nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân.
c. Vai trò điều tiết các hoạt động về dược liệu và can thiệp thị trường
Điều tiết các hoạt động về dược liệu và can thiệp về thị trường bao gồm các mặt:
- Nhà nước là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể sản xuất, kinh
doanh nói chung và sản xuất, kinh doanh liên quan đến dược liệu nói riêng, khuyến
khích và đảm bảo bằng pháp luật cạnh tranh bình đẳng, chống các hành vi vi phạm,
nhất là khi các hoạt động về dược liệu có liên quan đến an toàn sức khỏe của mọi
người. Để thực hiện chức năng này, một mặt, Nhà nước hướng dẫn, kích thích các
doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất dược liệu hoạt động theo định hướng đã vạch ra;
mặt khác, nhà nước phải can thiệp, điều tiết thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn
định kinh tế vĩ mô.
- Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ, biện pháp khác nhau để điều tiết các
hoạt động kinh doanh, sản xuất, xuất nhập khẩu dược liệu, xử lý đúng đắn mâu
thuẫn của các quan hệ nếu phát sinh.
- Nhà nước có thể ưu tiên phát triển dược liệu thành một ngành kinh tế góp
phần nâng cao đời sống người dân, đồng thời ưu tiên phát triển công nghiệp sản
19
xuất dược liệu. Nhằm nâng cao vai trò chăm sóc sức khỏe của dược liệu thì thuốc từ
dược liệu, thuốc đông y cần được hưởng các ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật;
Ngoài ra nhà nước cũng cần hỗ trợ bằng những hình thức thích hợp cho các đối
tượng thuộc diện chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng chuyên canh nuôi trồng và phát triển dược
liệu. Điều này đảm bảo thiết thực cho an sinh xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Trong mấy thập niên qua, hàng chục ngàn tấn dược liệu đã được khai thác tự nhiên
và trồng trọt hàng năm, đem lại lợi nhuận lớn.
d. Vai trò giám sát
Vai trò giám sát của hoạt động quản lý nhà nước có thể xem xét trên các mặt sau:
- Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể liên quan đến dược liệu cũng
như chế độ quản lý của các chủ thể đó như: Các phương thức sản phẩm dược liệu,
chất lượng và tiêu chuẩn các sản phẩm dược liệu, vấn đề môi trường trong hoạt
động sản xuất dược liệu, cơ chế quản lý kinh doanh các sản phẩm dược liệu, nghĩa
vụ nộp thuế..., cấp và thu hồi giấy phép, giấy hoạt động trong hoạt động khám chữa
bệnh Y, Dược cổ truyền.
- Phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định của nhà nước về
dược liệu, từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu
quả của quản lý nhà nước.
- Nhà nước cũng phải kiểm tra, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý về dược liệu
cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước về các hoạt
động liên quan đến dược liệu.
e. Vai trò thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
Thanh tra, kiểm tra là hoạt động thiết yếu của quản lý nhà nước, không có nó thì
xem như không có quản lý.
Nhà nước thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải
quyết các vấn đề của các đơn vị kinh doanh, sản xuất, khám chữa bệnh bằng dược
liệu. Chất lượng của dược liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và cuộc sống
của người dân (những người sử dụng trực tiếp các sản phẩm từ dược liệu). Do đó,
20
việc đảm bảo chất lượng dược liệu là rất quan trọng, các cơ quan QLNN có thẩm
quyền cần tăng cường thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra việc chấp hành
các quy định của pháp luật, đặc biệt là các quy định về tiêu chuẩn chất lượng dược
liệu của các cơ sở cung ứng và sản xuất. Xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp
luật đối với những cơ sở vi phạm để tạo ra tính răn đe, đồng thời, các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền còn tiến hành việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo về
các vấn đề liên quan đến dược liệu.
1.2. Nội dung, nguyên tắc và phương pháp quản lý nhà nước về dược liệu
1.2.1. Nội dung của quản lý nhà nước về dược liệu
Nội dung của QLNN bằng pháp luật về dược liệu bao gồm nhiều vấn đề, nhưng
tựu chung lại có những vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, ban hành các quy phạm pháp luật về quản lý dược liệu.
Đây là một nội dung cơ bản của QLNN bằng pháp luật về dược liệu vì các văn
bản pháp luật về dược liệu là cơ sở đầu tiên và quan trọng để QLNN bằng pháp luật
về dược liệu có hiệu quả.
Trong hoạt động ban hành các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, trước hết phải nói đến hoạt động ban hành các Luật, các nghị quyết về
tổ chức và hoạt động của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội, như Luật Dược
năm 2016. Tiếp theo là việc ban hành các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ;
các Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ nhằm cụ thể hóa các quy định
trong các luật. Sau đó các bộ, các cơ quan ngang bộ ban hành các thông tư, bộ
trưởng ban hành các quyết định, chỉ thị để điều chỉnh các quan hệ cụ thể đối với
quản lý nhà nước về dược liệu.
Cần phải nói rằng, QLNN bằng pháp luật về dược liệu thì hoạt động ban hành và
xây dựng pháp luật là hết sức cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên, điều quan trọng
hơn là nó phải được thực thi trong thực tế đời sống xã hội đạt hiệu quả cao. LeNin
từng khẳng định: “Sự quan trọng của pháp luật không phải ở chỗ chúng được ghi
trên giấy, mà là ở chỗ được đem ra thi hành”. Pháp luật được thi hành là một trong
những yêu cầu cơ bản của việc xây dựng một nền pháp chế, vì một trong những nội
21