Tải bản đầy đủ (.doc) (222 trang)

Phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội quân đội nhân dân việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (985.36 KB, 222 trang )

B QUC PHềNG

HC VIN CHNH TR

TRƯƠNG VĂN BảY

PHáT TRIểN NĂNG LựC GIáO DụC NHÂN CáCH
CủA Sĩ quan chỉ huy cấp phân đội
QUâN độI NHâN DâN VIệT NAM HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch s
Mó s:

92 29 002

LUậN áN TIếN Sĩ TRIếT HọC

NGƯời hớng dẫn khoa học:
1. gs, ts Nguyễn Văn Tài
2. ts Đỗ Văn Ngoan

H NI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình
nghiên cứu của riêng tơi. Các số liệu, trích
dẫn trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ
ràng và khơng trùng lặp với những cơng trình
đã được cơng bố.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN


Ths Trương Văn Bảy


MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN
Chương 1 THỰC CHẤT VÀ TÍNH QUY LUẬT PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CỦA SĨ QUAN
CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
VIỆT NAM
1.1. Thực chất phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan
chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam
1.2. Những vấn đề có tính quy luật phát triển năng lực giáo dục
nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân
dân Việt Nam
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CỦA SĨ
QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI QUÂN ĐỘI NHÂN
DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan
chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
2.2. Vấn đề đặt ra đối với phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ
quan chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Chương 3 GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIÁO DỤC

NHÂN CÁCH CỦA SĨ QUAN CHỈ HUY CẤP PHÂN ĐỘI
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Kết hợp đổi mới đào tạo với bồi dưỡng sĩ quan chỉ huy cấp
phân đội đáp ứng yêu cầu hoạt động giáo dục nhân cách ở
cấp phân đội hiện nay
3.2. Phát huy tính tích cực, sáng tạo của sĩ quan chỉ huy cấp phân
đội trong nhận thức và thực tiễn nhằm phát triển năng lực
giáo dục nhân cách
3.3. Xây dựng và phát huy vai trị của mơi trường ở đơn vị cơ sở
trong phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ
huy cấp phân đội hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CƠNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CƠNG BỐ
CĨ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

5
9

27
27
50

78
78
108
123
123
146
157

175
177
178


PHỤ LỤC

191


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
01
02
03
04
05
06
07
08

Chữ viết đầy đủ
Chính trị quốc gia
Chủ nghĩa xã hội
Cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
Cơng tác đảng, cơng tác chính trị
Hà Nội
Nhà xuất bản
Qn đội nhân dân
Xã hội chủ nghĩa


Chữ viết tắt
CTQG
CNXH
CNH, HĐH
CTĐ, CTCT
H
Nxb
QĐND
XHCN


5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài luận án: "Phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ
huy cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" được tiếp cận dưới góc
độ triết học. Đây là một cơng trình khoa học nghiên cứu độc lập của nghiên cứu
sinh, dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối, quan điểm của Đảng ta về vấn đề con người, về giáo dục và đào tạo, lý luận
dạy học và xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội trong thời kỳ mới; thực tiễn đào tạo,
bồi dưỡng phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân
đội QĐND Việt Nam những năm qua, những trải nghiệm của chính tác giả trên
cương vị cán bộ, giảng viên ở nhà trường đào tạo sĩ quan chỉ huy cấp phân đội. Đề
tài luận án tập trung luận giải, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển
năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội; đề xuất những giải
pháp cơ bản phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân
đội QĐND Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm cơ
sở khoa học cho các cấp lãnh đạo, quản lý ở các đơn vị trong quân đội, cụ thể hóa,
hồn thiện các nội dung, quyết sách giải quyết vấn đề phát triển năng lực giáo dục

nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam hiện nay.
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đã và đang đặt ra
những yêu cầu mới về xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu toàn diện của
Quân đội, trước hết là sức mạnh về chính trị. Là bộ phận quan trọng trong đội
ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước, lực lượng cốt cán trong quân đội, đội ngũ
cán bộ, sĩ quan các cấp trong quân đội vững mạnh là cơ sở, tiền đề trong xây
dựng QĐND Việt Nam “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại”. Trong đó, phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp
phân đội có ý nghĩa rất quan trọng.


6
Sĩ quan chỉ huy cấp phân đội - những người trực tiếp tổ chức, quản lý,
tiến hành công tác giáo dục, huấn luyện, chỉ huy sẵn sàng chiến đấu và chiến
đấu ở các đơn vị cơ sở trong toàn quân. Đặc điểm, tính chất hoạt động địi hỏi
q trình đào tạo, bồi dưỡng, một mặt phải hoàn thiện khả năng chỉ huy, quản
lý, huấn luyện bộ đội; mặt khác, phải phát triển ở họ những phẩm chất, năng
lực cần thiết của một cán bộ giáo dục. Trong đó, năng lực giáo dục nhân cách
được xem là một trong những yếu tố cơ bản, quyết định đến chất lượng, hiệu
quả giáo dục, huấn luyện bộ đội, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến
đấu và chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, các đơn vị nơi sĩ quan cấp phân
đội học tập, cơng tác đã và đang tích cực đổi mới tồn diện quá trình đào tạo, bồi
dưỡng sĩ quan chỉ huy cấp phân đội; quan tâm đến phát triển năng lực giáo dục
nhân cách, nhờ đó, chất lượng sĩ quan chỉ huy cấp phân đội ngày càng được
nâng lên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ theo chức trách, có năng
lực, trình độ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, huấn luyện, tiến hành CTĐ, CTCT ở đơn
vị cơ sở và có khả năng phát triển lên những cương vị cao hơn.

Tuy nhiên, trước sự phát triển của tình hình, nhiệm vụ trong giai đoạn
mới, yêu cầu về phẩm chất, năng lực sĩ quan chỉ huy cấp phân đội, xét ở từng
thời điểm, từng đối tượng cụ thể, sĩ quan chỉ huy cấp phân đội đã dần bộc lộ
những hạn chế, bất cập. Trong thực tế, nhận thức của một bộ phận cán bộ về
vị trí, vai trị của sĩ quan chỉ huy chưa đầy đủ, có sĩ quan chỉ huy cịn xem nhẹ
cơng tác giáo dục nhân cách, cho đó là trách nhiệm của cán bộ chính trị; chưa
kết hợp chặt chẽ, thường xuyên và hiệu quả giữa huấn luyện quân sự với giáo
dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện tác phong người quân nhân cách mạng cho
cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, dẫn đến chất lượng, hiệu quả giáo dục bộ đội ở
một số phân đội chưa cao. Vấn đề tất yếu, cấp bách đặt ra cần nghiên cứu cơ
bản, hệ thống “Phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy
cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, để luận giải cơ sở khoa


7
học vấn đề phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp
phân đội, góp phần nâng cao chất lượng chỉ huy, quản lý, giáo dục bộ đội của
đội ngũ sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong giai đoạn mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất một số giải pháp phát
triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt
Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ những vấn đề lý luận phát triển năng lực giáo dục nhân cách
của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với phát
triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND
Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất giải pháp cơ bản phát triển năng lực giáo dục nhân cách của

sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu bản chất, tính quy luật phát triển
năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu:
Năng lực giáo dục nhân cách trong năng lực của sĩ quan chỉ huy cấp phân
đội ở các đơn vị đủ quân của một số quân khu, quân đoàn QĐND Việt Nam.
Số liệu thống kê và điều tra khảo sát từ 2011 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng ta về vấn đề con người,
giáo dục và đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội trong thời kỳ mới.
* Cơ sở thực tiễn: Đề tài dựa trên cơ sở thực tiễn giáo dục - đào tạo, bồi
dưỡng phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân
đội QĐND Việt Nam những năm qua; tổng kết, đánh giá, điều tra của tác giả


8
về thực tiễn phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp
phân đội QĐND Việt Nam.
* Phương pháp nghiên cứu của luận án:
Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách, luận án sử
dụng phương pháp chủ yếu là hệ thống và cấu trúc, lôgic và lịch sử; đồng thời
sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phân tích và tổng hợp;
trừu tượng hoá và khái quát hoá; nghiên cứu các tài liệu; tổng kết thực tiễn;
điều tra xã hội học và tham khảo ý kiến chuyên gia.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Góp phần làm rõ quan niệm về năng lực giáo dục nhân cách của sĩ
quan chỉ huy cấp phân đội và phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ

quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam.
- Làm rõ vấn đề có tính quy luật phát triển năng lực giáo dục nhân cách
của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản, phù hợp có tính khả thi để phát
triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND
Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Luận án góp phần làm cơ sở khoa học cho các cấp lãnh đạo, quản lý ở
các đơn vị trong quân đội, đặc biệt là những trung đoàn đủ quân, các nhà
trường qn đội cụ thể hóa vào hồn thiện các nội dung, quyết sách giải quyết
vấn đề phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân
đội QĐND Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, luận án có thể dùng làm tài liệu
tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập các vấn đề liên quan ở các
học viện, nhà trường quân đội hiện nay.
8. Kết cấu của luận án
Kết cấu luận án gồm: Mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, ba chương (7
tiết), kết luận, danh mục các cơng trình liên quan đề tài của tác giả đã được công
bố, danh mục tài liệu tham khảo được trích dẫn, sử dụng trong luận án và phụ lục.


9
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN

1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.1. Những cơng trình khoa học nghiên cứu liên quan đến năng lực
của sĩ quan chỉ huy trong qn đội
Tác giả A.A.Grêscơ, với cơng trình“Các lực lượng vũ trang của Nhà
nước Xơ Viết” [39], một cơng trình khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn cao
về xây dựng quân đội, đã chỉ ra vấn đề cần thiết phải nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ quân đội để đáp ứng yêu cầu của cuộc chiến tranh cũng như tái
thiết đất nước. Theo tác giả, “Năng lực tổ chức cao, sự trưởng thành về chính
trị và lịng trung thành vơ hạn với Tổ quốc XHCN, sự thông thạo nghề nghiệp
nhiều mặt của đội ngũ sĩ quan xô - viết là một trong những nhân tố quyết định
đưa nhân dân ta đến thắng lợi lịch sử đối với nước Đức phát-xít và nước Nhật
đế quốc” [39, tr. 301-302]. Tác giả đã đưa ra những yêu cầu rất cụ thể với cán
bộ sĩ quan và việc đào tạo họ: Một là, tính kiên định cộng sản chủ nghĩa. Hai
là, kỷ luật và ý thức chấp hành cao. Ba là, sáng kiến và tính chủ động. Bốn là,
ý chí chỉ huy và năng lực tổ chức. Năm là, trình độ nghiệp vụ cao, trình độ
văn hóa chung và trình độ kỹ thuật - quân sự cao của cán bộ sĩ quan. Sáu là,
biết huấn luyện và giáo dục những người dưới quyền của mình: Tổ quốc tin,
giao cho người sĩ quan cái thân thiết nhất và quý giá nhất trong nước ta - tức
là những con người, những thanh niên xô - viết tuyệt vời, mà người sĩ quan có
trách nhiệm phải huấn luyện và giáo dục.
Tác giả Herry J Hewson, trong cơng trình “Người chỉ huy hải qn đánh
bộ thế kỷ 21 - sau ý tưởng giúp cho sự thành cơng trong q trình thay đổi triệt
để” [48], đã phân tích sự phát triển mới của tình hình, nhất là sự bùng nổ của
cách mạng khoa học công nghệ đã tạo nên “sự chuyển hướng tới một kiểu chiến
tranh hồn tồn mới dựa trên tri thức”. Để có được đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy
năng động kịp thời cho sự thay đổi đó, tác giả nêu lên những vấn đề đáng lưu ý
và cần phải thực hiện như: tự giáo dục rèn luyện bản thân; nắm bắt kịp tiến độ;


10
học cách chấp nhận sự mơ hồ; tự chủ trong mọi cơng việc; tự điều tiết thái độ
của mình: “nếu tinh thần của người lính bị giảm sút, thì người chỉ huy phải có
trách nhiệm tạo ra những động lực cần thiết để khôi phục lại tinh thần cho họ”
[48, tr.6]; hãy giữ một tư duy mở: “bạn không thể ngăn cản được sự thay đổi mà
chỉ có thể phải thay đổi theo nó” và “hãy tự giáo dục bản thân, trau dồi kĩ năng,
luôn linh hoạt, sẵn sàng tiếp thu mọi ý kiến, nắm bắt nhanh sự thay đổi, đặt lịng

tin của mình vào tương lai, vào chính mình, vào đơn vị mình” [48, tr.7].
Tác giả Lê Quang Hịa, trong cơng trình “Kỷ luật qn đội và trách nhiệm
của người chỉ huy” [50], đã phân tích làm rõ vai trò của kỷ luật - một yếu tố quan
trọng tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội ta, đồng thời tác giả cũng nhấn
mạnh: “trách nhiệm hàng đầu của người chỉ huy là làm cho đơn vị luôn luôn ở tư
thế sẵn sàng chiến đấu, bất kỳ ở đâu, lúc nào cũng không bao giờ để bị bất ngờ”
[50, tr.28]; Theo tác giả, vấn đề quan trọng đối với người chỉ huy là tổ chức duy
trì nghiêm kỷ luật qn đội, đó khơng chỉ là trách nhiệm và cịn là vấn đề có tính
ngun tắc trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. “Người chỉ huy
phải tìm mọi cách giáo dục đơn vị mình hiểu thật đúng, thật cặn kẽ kẻ thù, cả về
tinh thần, ý chí, năng lực hành động đến thủ đoạn và hành động cụ thể” [50, tr.2829]; “người chỉ huy có năng lực, bản lĩnh, biết chỉ huy đơn vị là người luôn luôn
lấy yêu cầu của chiến đấu để quản lý, chỉ huy bộ đội” [50, tr.31].
Tác giả Phạm Xuân Nguyên, với cơng trình “Năng lực ra quyết định
của Sư đồn trưởng trong chỉ huy chiến đấu” [94], đã làm rõ những đặc trưng
cơ bản của hoạt động chỉ huy sẵn sàng chiến đấu, các yêu cầu đối với việc ra
các quyết định chiến đấu dưới góc độ khoa học tâm lý. Theo tác giả, những
phẩm chất cơ bản giúp người chỉ huy quân sự đưa ra quyết định chính xác,
tức thời, tối ưu như: bản lĩnh chỉ huy, trí thơng minh, kiến thức khoa học quân
sự, nghệ thuật quân sự và nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy, tư duy, ý chí, tình cảm,
tính sáng tạo, chủ động quyết đốn, trực giác, kinh nghiệm chiến đấu. Trên cơ


11
sở luận giải tác giả đã đề xuất các biện pháp tâm lý phát triển năng lực ra
quyết định của Sư đồn trưởng trong chỉ huy chiến đấu.
Tác giả Ngơ Minh Tuấn, trong cơng trình “Năng lực người cán bộ, sĩ quan
quân đội theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [137], đã khái quát, hệ
thống và phân tích những tư tưởng của Hồ Chí Minh về năng lực người cán bộ
quân đội; vai trò của yếu tố xã hội trong sự hình thành năng lực, đồng thời tác giả
đã chỉ rõ con đường bồi dưỡng phát triển năng lực của người sĩ quan quân đội đáp

ứng với yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng quân đội [137, tr. 162- 170].
Tác giả Hồng Văn Thanh, trong cơng trình “Nhân cách người chỉ huy
đơn vị cơ sở” [114], đã đề cập tới yêu cầu cơ bản về năng lực của người chỉ
huy ở đơn vị cơ sở, và nhấn mạnh năng lực của người chỉ huy được đánh giá
qua chất lượng, hiệu quả tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên cương vị chức trách
được phân công; ở tư duy tổ chức chỉ huy, sự thành thạo điều hành công tác
chỉ huy trong mọi tình huống, mọi hồn cảnh; ở bản lĩnh riêng độc đáo, sáng
tạo quyết đoán, vững vàng khi ra quyết định chỉ huy.
Tác giả Phạm Thanh Ngân, trong cơng trình “Bản lĩnh chính trị Bộ đội Cụ
Hồ trong thời kỳ mới” [92], đã khẳng định trước tình hình, u cầu nhiệm vụ hiện
nay, “địi hỏi QĐND phải tiếp tục nâng cao sức mạnh tổng hợp, trước hết là bản
lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ để xử lý đúng đắn những vấn đề thực tiễn đang đặt
ra trong việc thực hiện đường lối cách mạng của Đảng thời kỳ mới” [92, tr. 10].
Mọi quân nhân trong quân đội cần có lập trường chính trị kiên định, có ý thức
cảnh giác cao, chịu đựng gian khổ, vượt qua khó khăn bảo vệ Tổ quốc, giữ vững
an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. “Xây dựng đội ngũ cán bộ qn đội có
bản lĩnh chính trị vững vàng; có phẩm chất đạo đức và năng lực toàn diện đáp ứng
yêu cầu xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại;
ln có đủ số lượng và cơ cấu đồng bộ, hợp lý; đảm bảo được sự chuyển tiếp liên
tục, vững chắc giữa các thế hệ cán bộ” [92, tr. 121]. “Về năng lực trình độ của đội
ngũ cán bộ qn đội phải tồn diện, phát triển lên một tầm cao mới. Phải nắm
vững và chắt lọc được những kinh nghiệm truyền thống chiến đấu của dân tộc và


12
những tinh hoa của nghệ thuật quân sự Việt Nam và thế giới. Giỏi trong tổ chức
chỉ huy, quản lý bộ đội ở điều kiện mới” [92, tr. 122].
Tác giả Vũ Quang Tạo, với cơng trình“Nâng cao năng lực thực tiễn cho
đội ngũ cán bộ một đòi hỏi cấp bách hiện nay” [112], đã tiếp cận, nghiên cứu
năng lực thực tiễn của người cán bộ với cấu trúc bao gồm: khả năng xác định

mục đích của hoạt động; khả năng sử dụng có hiệu quả các lực lượng, phương
tiện; khả năng phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn; khả năng kiểm tra đánh giá
kết quả… Tác giả khẳng định, để nâng cao năng lực thực tiễn của người cán bộ,
cần tập trung vào giải quyết ba vấn đề cơ bản đó là: cơ chế chính sách; giáo dục đào tạo và phát huy vai trò nhân tố chủ quan của người cán bộ.
Tác giả Bùi Mạnh Hùng, trong công trình “Chú trọng bồi dưỡng, rèn
luyện để nâng cao khả năng trực giác cho cán bộ chỉ huy các cấp” [57], từ những
nhận định về lĩnh vực hoạt động quân sự với tính chất khẩn trương, mau lẹ, đầy
các tình huống và các yếu tố bất ngờ đan xen, luôn đặt con người vào trạng thái
căng thẳng về tâm lý để tác giả khẳng định: “người chỉ huy cần thiết phải có trực
giác tốt để phân tích một cách nhanh chóng tìm ra phương hướng trong tất cả tính
phức tạp của các hiện tượng xung quanh, dừng lại ở cái chủ yếu nhất và trên cơ sở
đó có được những nhận định, phán đốn chính xác, đưa ra những kết luận, chủ
trương, quyết tâm chiến đấu đúng đắn, nhanh chóng, thậm chí có những quyết
định làm thay đổi tồn bộ cục diện chiến trường” [57, tr.23]. “Trực giác giúp cho
người chỉ huy nắm được thời cơ, chớp thời cơ giải quyết được nhiều tình huống
bất ngờ có tính chất ngẫu nhiên trong các hoạt động quân sự, nâng cao hiệu năng
chiến đấu… giảm đáng kể sự hy sinh xương máu của cán bộ, chiến sĩ trong chiến
đấu; giảm hao tổn của cải trong chiến tranh” [57, tr.24]. Từ đó, tác giả kết luận:
“có thể nói, khó có lĩnh vực nào mà vai trò trực giác lại được đề cao như trong
lĩnh vực quân sự và khó có hoạt động nào mà vai trò của trực giác được phát huy
rộng rãi như trong hoạt động của đội ngũ cán bộ chỉ huy qn sự” [57, tr. 24].
1.2. Những cơng trình khoa học nghiên cứu liên quan đến năng lực
giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy trong quân đội


13
Tác giả V. Utskin, trong cơng trình “Đặc điểm cơng tác giáo dục trong các
lực lượng vũ trang Mỹ, Anh, Pháp” [147], đã chỉ ra: “Các nhà quân sự Mỹ thường
hiểu “giáo dục” nghĩa là “giáo dục chính trị”, “xây dựng tinh thần phẩm chất”, v.v...
Họ coi việc giáo dục trong qn đội là một cơng việc có mục đích rõ ràng, khơng

phải như “một q trình tác động”, mà là hoạt động có định hướng mục đích, được
định trước của các tổ chức nhà nước và xã hội, của các quy chế lực lượng vũ trang,
của cán bộ chỉ huy (thủ trưởng), các trợ lý về công tác với bộ đội nhằm xây dựng và
phát triển nhân cách cho quân nhân” [147, tr. 2]. Từ những phân tích khoa học,
V.Utskin rút ra xu hướng cơ bản của phát triển hệ thống giáo dục binh sĩ trong lực
lượng vũ trang Mỹ đó là: Thứ nhất, tăng cường định hướng thực tiễn của công tác
giáo dục quân nhân. Thứ hai, tăng cường xu hướng phịng ngừa của cơng tác giáo
dục nhằm loại trừ các hiện tượng tiêu cực trong lực lượng vũ trang. Thứ ba, củng cố
cơ sở vật chất, kỹ thuật của công tác giáo dục. Thứ tư, tăng cường tính định hướng
xã hội của cơng tác giáo dục đối với quân nhân. Thứ năm, xu hướng đẩy mạnh
công tác giáo dục bộ đội nhằm bảo đảm các hành động quân sự. Xu hướng cơ bản
của phát triển hệ thống giáo dục binh sĩ tất yếu đặt ra những yêu cầu về phất chất và
năng lực chủ thể giáo dục. QĐND Việt Nam, nắm vững những xu hướng này
không chỉ có giá trị trong đổi mới, điều chỉnh nội dung giáo dục binh sĩ mà cịn có ý
nghĩa thiết thực trong phát triển năng lực chủ thể giáo dục [147, tr. 2].
Tác giả Hồng Quang Đạt, với cơng trình “Nâng cao chất lượng nhân tố
con người trong sức mạnh chiến đấu của QĐND Việt Nam hiện nay” [33], trên cơ
sở khẳng định, nhân tố con người là trung tâm, là chủ thể quyết định vai trò ngày
càng tăng lên trước sự phát triển mới của sức mạnh chiến đấu, tác giả khẳng định
việc nâng cao chất lượng nhân tố con người, phát huy vai trò nhân tố con người là
vấn đề cơ bản lâu dài, đặc biệt hiện nay đang trở thành vấn đề cấp thiết; chất
lượng nhân tố con người đang đứng trước yêu cầu phát triển của vũ khí - kỹ thuật,
yêu cầu xây dựng sức mạnh chiến đấu mới đấu tranh trên mặt trận chính trị - tư
tưởng và yêu cầu phát triển của bản thân con người trong quân đội còn những hạn


14
chế, bất cập so với yêu cầu của nhiệm vụ mới… đặt ra địi hỏi cho cơng tác bồi
dưỡng phẩm chất chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt phẩm chất chính trị đạo đức; kết hợp với xây dựng tổ chức quân đội vững mạnh; chú trọng xây dựng
sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội để nâng cao chất lượng nhân tố con người.

Tác giả Lê Quý Trịnh với cơng trình: “Phát triển năng lực trí tuệ của
sĩ quan trẻ trong QĐND Việt Nam hiện nay” [129], đã quan niệm năng lực trí
tuệ của con người là những khả năng bên trong được thể hiện trong hoạt động
thực tiễn hàng ngày của họ như: khả năng hoạt động của trí tuệ trong việc tìm
kiếm, khám phá, tích luỹ tri thức và vận dụng tri thức vào giải quyết những
nhiệm vụ cuộc sống đặt ra, bảo đảm cho hoạt động của con người đạt chất lượng
và hiệu quả cao. Tác giả cũng đã chỉ ra cấu trúc cơ bản của năng lực trí tuệ gồm
các yếu tố tri thức, phương pháp tư duy và khả năng sáng tạo của con người.
Cơng trình luận giải làm rõ bản chất của năng lực trí tuệ, phân tích đặc điểm,
những vấn đề có tính quy luật phát triển năng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ. Trên cơ
sở đánh giá thực trạng, những yêu cầu khách quan, tác giả đã đề xuất một số giải
pháp cơ bản phát triển năng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ hiện nay.
Tác giả Nguyễn Văn Tài, trong cơng trình “Tích cực hóa nhân tố con
người của đội ngũ sĩ quan trong xây dựng QĐND Việt Nam hiện nay” [109], đã
vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống hoạt động - giá trị - nhân cách để góp
phần xác định rõ khái niệm nhân tố con người, tích cực hóa nhân tố con người của
đội ngũ sĩ quan. Từ cơ sở lý luận, nội dung và phương pháp tiếp cận của mình, tác
giả quan niệm: “Tích cực hóa nhân tố con người của đội ngũ sĩ quan là một q
trình phát hiện, bồi dưỡng, kích thích phát triển, đồng thời phát huy và sử dụng
đúng đắn, có hiệu quả tính tích cực, tự giác, sáng tạo của đội ngũ sĩ quan, tạo động
lực phát triển của sự nghiệp xây dựng QĐND Việt Nam theo phương hướng cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại” [109, tr. 147].
Tác giả Nguyễn Hữu Công, với công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
phát triển con người toàn diện” [10], đã khẳng định: “Với quan niệm và cách


15
nhìn nhận con người tồn diện như là một thể thống nhất, sự kết hợp chặt chẽ
giữa các yếu tố, các mặt: thể lực, trí tuệ, trình độ thẩm mỹ, đạo đức cách
mạng..., Hồ Chí Minh cho rằng phát triển con người toàn diện trước hết phải

tập trung phát triển tất cả các bộ phận cấu thành nên chỉnh thể đó” [10, tr.79],
bao gồm phát triển về thể lực, sức khỏe; phát triển về trí tuệ; phát triển, nâng
cao năng lực thẩm mĩ; phát triển về mặt đạo đức.
Tập thể tác giả Mạnh Dũng - Huy Tuấn, trong cơng trình “Từ đặc điểm
của cuộc chiến tranh công nghệ cao, suy nghĩ về công tác huấn luyện hiện nay”
[16], từ các quan điểm của Đảng về nhiệm vụ quốc phòng, quân sự và thực tiễn
những cuộc chiến tranh diễn ra trên thế giới gần đây, các tác giả đã nêu lên một
số đặc điểm cơ bản của cuộc chiến tranh công nghệ cao: tác chiến phi đối xứng,
vũ khí cơng nghệ cao được sử dụng với tỷ lệ ngày càng lớn; tác chiến đường
khơng ngày càng khẳng định vị trí quan trọng, tính huỷ diệt ngày càng cao;
khơng gian tác chiến ngày càng mở rộng, thời gian ngắn, thời điểm bất ngờ; kết
hợp nhiều hình thức thủ đoạn chiến tranh. Do đó, ảnh hưởng rất lớn đến các
nhân tố trong chiến tranh, đặc biệt là nhân tố chính trị - tinh thần, dẫn đến có sự
thay đổi cơ bản về nghệ thuật quân sự, phương thức và phương pháp tác chiến so
với những cuộc chiến tranh trước đây. Vì vậy, cơng tác giáo dục, huấn luyện
chiến đấu hiện nay của quân đội ta cần tập trung: giáo dục nâng cao bản lĩnh
chính trị, tinh thần cho bộ đội; đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp
huấn luyện; huấn luyện sát với đặc điểm địa hình, địa bàn và tổ chức biên chế,
trang bị hiện có; huấn luyện nâng cao trình độ, khả năng hiệp đồng quân binh
chủng; huấn luyện thực hiện tốt các biện pháp nguỵ trang, nghi binh. Tuy nhiên,
vấn đề cốt lõi là phải nâng cao nhận thức, xây dựng, bản lĩnh, ý chí, niềm tin cho
cán bộ, chiến sĩ trong quá trình huấn luyện.
Tác giả Lê Quang Phi, trong cơng trình “Xây dựng ý chí quyết tâm chiến
đấu cho cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng đánh thắng chiến tranh kiểu mới” [97], đã
khẳng định vai trò to lớn của quân đội trong chiến tranh và sự cần thiết phải


16
xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng đánh thắng
chiến tranh kiểu mới. Theo tác giả, “cùng với tăng cường vũ khí, trang bị ngày

càng hiện đại cho quân đội, phải đặc biệt chú ý xây dựng yếu tố chính trị - tinh
thần cho cán bộ, chiến sĩ, trong đó xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và
quyết thắng phải được nâng lên một trình độ cao hơn, góp phần tạo ra sức
mạnh tổng hợp của quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới” [97, tr. 29]; “ý chí quyết tâm chiến đấu và quyết thắng của cán
bộ, chiến sĩ quân đội thể hiện ở tư tưởng cốt lõi: “dám đánh, biết đánh và quyết
đánh thắng” thông qua hành động chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí,
sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn gian khổ để giành thắng lợi” [97, tr. 30];
“cùng với đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục chính trị - tư tưởng, cần
phải đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện quân sự” [97, tr. 31].
Tác giả Nguyễn Văn Việt (chủ biên), cơng trình “Nghiên cứu giải pháp
nâng cao năng lực CTĐ, CTCT cho cán bộ chỉ huy tham mưu cấp phân đội trong
tình hình mới” [149], đã phân tích, làm rõ những vấn đề cơ bản về năng lực và
nâng cao năng lực CTĐ, CTCT của cán bộ chỉ huy tham mưu cấp phân đội trong
tình hình mới; đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, xác định yêu cầu và đề
xuất những giải pháp cơ bản nâng cao năng lực CTĐ, CTCT của cán bộ chỉ huy
tham mưu cấp phân đội trong tình hình mới. Các tác giả quan niệm: “cán bộ chỉ
huy tham mưu cấp phân đội là một bộ phận cán bộ trong quân đội, được đào tạo
theo chuyên ngành chỉ huy tham mưu, có quân hàm từ thiếu úy đến trung tá, giữ
chức vụ từ trung đội trưởng đến tiểu đoàn trưởng hoặc các chức vụ tương đương,
trực tiếp chỉ huy, quản lý, huấn luyện, giáo dục bộ đội theo chức trách, nhiệm vụ
được quy định trong điều lệnh, điều lệ QĐND Việt Nam” [149, tr.7].
Tóm lại, dù có những cách luận giải khác nhau, nhưng các tác giả đều
thống nhất cho rằng, năng lực là thuộc tính bản chất của con người, năng lực
khơng tách rời hoạt động và đó là tồn bộ khả năng của con người, giúp cho
con người đạt hiệu quả cao trong nhận thức và hành động ở từng lĩnh vực cụ


17
thể của đời sống xã hội. Các cơng trình trên cũng cho thấy, cấu thành năng lực

là tổng thể những yếu tố tự nhiên, xã hội như tư chất, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,
tạo thành khả năng nhận thức và hoạt động của con người trên những lĩnh vực
hoạt động nhất định. Những phân tích, khẳng định vai trị các nhân tố cấu
thành năng lực nói chung và nhiều năng lực chuyên biệt, tạo tiền đề to lớn cho
luận án đi vào nghiên cứu năng lực và phát triển năng lực giáo dục nhân cách
của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam.
1.3. Những cơng trình khoa học nghiên cứu liên
quan đến phát triển năng lực giáo dục nhân cách của
sĩ quan chỉ huy cấp phân đội Quân đội nhân dân
Việt Nam
Tác giả Hoàng Văn Thái, trong cơng trình “Mấy vấn đề về chỉ huy và
tham mưu” [115], đã phân tích, làm rõ những mâu thuẫn của quá trình xây dựng
quân đội và khẳng định: “mâu thuẫn chủ yếu cần nhấn mạnh là trình độ cán bộ
của chúng ta còn thấp so với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng” [115, tr.189].
“Cán bộ quyết định hết thảy”, “nếu có cán bộ giỏi thì sẽ thúc mọi mặt công tác
trong quân đội và của Đảng tiến nhanh, ngược lại, nếu cán bộ kém sẽ làm cản trở
bước tiến lên của quân đội và công tác cách mạng của Đảng” [115, tr.190].
“Công tác huấn luyện cán bộ không những là cơng tác quan trọng bậc nhất và có
ý nghĩa quyết định trong vấn đề xây dựng quân đội, nó lại là một cơng tác khó
khăn, phức tạp. Muốn làm cho những cán bộ của chúng ta hiện nay trở nên
những cán bộ giỏi của một quân đội hiện đại thì việc đó cịn khó gấp mấy lần
việc giải quyết trang bị, tổ chức, biên chế...” [115, tr.192]. Tác giả phân tích, chỉ
rõ: “Mỗi cán bộ chúng ta cần nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác huấn
luyện cán bộ, nhận thức rõ việc học tập tại chức là một chức trách và nhiệm
vụ rất quan trọng của mình, coi sự tiến bộ của các cán bộ và của mình là một
cống hiến cho sự nghiệp xây dựng quân đội, sự nghiệp cách mạng. Mỗi đồng
chí phải có quyết tâm cao, có tinh thần say sưa học tập, say sưa nghiên cứu và


18

thường xuyên giáo dục cho cán bộ dưới quyền mình” [115, tr.192]. “Cần có
kế hoạch huấn luyện cán bộ hàng năm, quy định nội dung tỷ lệ thời gian, bố
trí xen kẽ với các kế hoạch công tác khác” [115, tr.192].
Tác giả Đào Văn Tiến, với cơng trình: “Nâng cao năng lực tư duy sáng
tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội QĐND Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
[121], đã nghiên cứu luận giải bản chất, vai trò và chỉ ra những đặc điểm tư duy
sáng tạo; những vấn đề có tính quy luật trong việc nâng cao năng lực tư duy sáng
tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội. Theo tác giả, năng lực tư duy sáng tạo của
con người có được khơng chỉ nhờ có sự nhanh nhạy của bộ óc, của cơ quan cảm
giác mà cịn là kết quả của q trình khổ luyện học tập và rèn luyện trong thực
tiễn. Trên cơ sở đã luận chứng, tác giả đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu
nâng cao tư duy sáng tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội để đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới.
Tác giả Hồng Ngọc Tú, với cơng trình: “Nâng cao năng lực chính trị
của người sĩ quan chỉ huy cấp phân đội Binh chủng Tăng - thiết giáp QĐND
Việt Nam hiện nay” [135], đã nghiên cứu và xây dựng khái niệm năng lực
chính trị của người sĩ quan cấp phân đội ở Binh chủng Tăng - thiết giáp; khái
quát một số đặc điểm hình thành phát triển của năng lực chính trị người sĩ quan
phân đội Tăng - thiết giáp. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, cơng trình đã khái
qt được một số mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết để nâng cao năng lực chính
trị cho người sĩ quan phân đội Tăng - thiết giáp trong tình hình hiện nay.
Tác giả Nguyễn Xn Trường, trong cơng trình“Phát triển giá trị văn hoá
trong nhân cách sĩ quan trẻ hiện nay” [133], đã chỉ rõ, đội ngũ sĩ quan trẻ hiện nay
có khả năng tư duy chính trị khá tinh tế và nhạy cảm. Việc xử lý thông tin, tri thức mà
sĩ quan trẻ tiếp nhận được trong cuộc sống để biến đổi, tự sắp xếp chúng thành hệ
thống quan điểm, thái độ của cá nhân về cơ bản phù hợp với quan điểm đổi mới của
Đảng. Điều đó vừa phản ánh trình độ nhận thức chính trị vừa phản ánh trình độ tư
duy chính trị của sĩ quan trẻ đã có bước phát triển, trưởng thành. Tuy nhiên, trình độ



19
tư duy lý luận của sĩ quan trẻ còn bất cập so với yêu cầu xây dựng quân đội vững
mạnh về chính trị... chưa năng động nhạy bén xử lý các tình huống phức tạp. Ở đội
ngũ sĩ quan trẻ, nhìn chung việc tiếp cận, phân tích luận giải những thơng tin mới cịn
gặp khó khăn. Trước những vấn đề chính trị - xã hội đầy biến động hiện nay, khơng ít
sĩ quan trẻ đã tỏ ra lúng túng, xuất hiện những biểu hiện giảm sút niềm tin vào
CNXH, vào sự lãnh đạo của Đảng, có thái độ thờ ơ chính trị. Khơng ít sĩ quan trẻ
thiếu lịng nhiệt tình trách nhiệm, ngại khó, sợ khổ trong thực hiện nhiệm vụ. Những
tư tưởng cá nhân ích kỷ, tính tốn thiệt hơn giữa cống hiến và hưởng thụ, tư tưởng
công thần địa vị... dần dần nảy sinh và phát triển ở một số sĩ quan trẻ. Một bộ phận
cán bộ có hiện tượng cơ hội thực dụng, thoái hoá biến chất về đạo đức, lối sống, mơ
hồ, mê tín dị đoan; một số sống bng thả, rượu chè nảy sinh tính quân phiệt, thô bạo
với chiến sĩ... Nguyên nhân là do chưa thấm nhuần sâu sắc bản chất cách mạng và
khoa học của hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, chưa nắm vững phương pháp tư duy
biện chứng; do những hạn chế về tư duy chính trị, thiếu kinh nghiệm thực tiễn...
Tác giả Nguyễn Hữu Khảm, trong cơng trình “Phấn đấu nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác huấn luyện đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc” [61], đã
tập trung phân tích làm rõ những mặt mạnh, chỉ ra nhưng điểm hạn chế, yếu kém
và đưa ra các biện pháp nhằm khắc phục nâng cao chất lượng công tác huấn luyện
đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tác giả khẳng định, “nhìn chung, chất lượng
huấn luyện được nâng lên tương đối tồn diện và đồng đều. Trình độ tổ chức chỉ
huy, quản lý và năng lực thực hành huấn luyện của cán bộ; trình độ kỹ thuật, chiến
thuật của chiến sĩ và khả năng hiệp đồng của cơ quan, đơn vị được nâng lên bước
mới” [61, tr.1]; tuy nhiên “chất lượng, kết quả huấn luyện có mặt chưa ngang tầm
yêu cầu của quân đội trong thực hiện nhiệm vụ thường xuyên cũng như khả năng
chống chiến tranh khi địch sử dụng vũ khí cơng nghệ cao” [61, tr.2].
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng, trong cơng trình “Bồi dưỡng năng lực CTĐ,
CTCT cho sĩ quan chỉ huy cấp phân đội” [56], đã khẳng định, tiến hành CTĐ,
CTCT là vấn đề có tính ngun tắc trong xây dựng QĐND cách mạng và có vai trị



20
quan trọng trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của QĐND Việt Nam hiện nay. Đây
là hoạt động đòi hỏi phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, đặc
biệt là sĩ quan chỉ huy cấp phân đội. Tác giả đã khẳng định: Bồi dưỡng của tổ chức
và tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội là những yếu tố cơ
bản chi phối đến năng lực CTĐ, CTCT của họ; năng lực CTĐ, CTCT ln gắn bó
chặt chẽ với phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chỉ huy, quản lý chun mơn;
phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực chỉ huy, quản lý chuyên môn là những yếu
tố cơ bản tạo nên sức mạnh bên trong, là điều kiện không thể thiếu đối với các chủ
thể tiến hành CTĐ, CTCT. Tác giả đưa ra bốn giải pháp chủ yếu trong bồi dưỡng
năng lực CTĐ, CTCT cho sĩ quan chỉ huy cấp phân đội: Nâng cao nhận thức của
lãnh đạo, chỉ huy các cấp; tiếp tục đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt, sáng tạo
các hình thức, phương pháp bồi dưỡng; thực hiện tốt nền nếp tự học tập, tự rèn
luyện của đội ngũ sĩ quan chỉ huy cấp phân đội; xây dựng đơn vị vững mạnh toàn
diện tạo... Tác giả cho rằng, “Nâng cao nhận thức của lãnh đạo, chỉ huy các cấp về
bồi dưỡng năng lực CTĐ, CTCT cho sĩ quan chỉ huy cấp phân đội là vấn đề có tầm
quan trọng đặc biệt nhằm tạo ra sự thống nhất về tư tưởng làm cơ sở cho sự thống
nhất hành động, phát huy mạnh mẽ động lực tinh thần, khắc phục khó khăn, bảo
đảm cho hoạt động bồi dưỡng đi đúng hướng, đem lại hiệu quả cao” [56, tr.145].
Tác giả Phạm Xuân Hảo (chủ biên), trong cơng trình “Bồi dưỡng lối
sống XHCN cho sĩ quan trẻ hiện nay” [44], đã nhận định: “Bồi dưỡng cho đội
ngũ sĩ quan quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan trẻ nói riêng về phẩm chất và
năng lực...giữ vai trị cực kỳ quan trọng và cấp thiết. Lối sống là một yếu tố
cấu thành phẩm chất chính trị, đạo đức, giữ vai trị quan trọng trong hành vi
chính trị, đạo đức của sĩ quan trẻ” [44, tr.168].
Bộ Quốc phòng, trong “Đề án đổi mới cơng tác giáo dục chính trị tại đơn vị
trong giai đoạn mới” [7], đã chỉ ra thực trạng cơng tác giáo dục chính trị tại đơn vị.
Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được của cơng tác giáo dục chính trị tại đơn
vị trong những năm qua, đề án còn chỉ ra một số hạn chế, bất cập, trong đó nhấn mạnh



21
thực trạng: “Cán bộ giảng dạy chính trị tại các đơn vị chưa đều; trình độ kiến thức,
năng lực thực hiện chức trách, nhất là năng lực sự phạm của đội ngũ cán bộ chính trị
đại đội, cán bộ trung đội trưởng còn hạn chế. Cán bộ giảng bài chủ yếu vẫn dùng lối
truyền thụ một chiều, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong nhà trường vào quản lý,
giáo dục bộ đội ở đơn vị còn lúng túng. Công tác đào tạo tại nhà trường, tập huấn, bồi
dưỡng thường xuyên tại đơn vị chưa toàn diện; nhiều đơn vị xác định nội dung bồi
dưỡng chưa sát với thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy chính trị” [7, tr.5].
“Đội ngũ cán bộ giảng dạy chính trị tại đơn vị chủ yếu do chính trị viên tiểu đồn, đại
đội đảm nhiệm; ...trình độ, năng lực và kinh nghiệm trong giảng dạy chính trị khơng
đồng đều; một số đồng chí năng lực yếu” [7, tr.7]. Mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết, đó
là mâu thuẫn giữa yêu cầu cao nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tại đơn vị với
thực trạng chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện và chất lượng
đội ngũ cán bộ giảng dạy chính trị [7, tr.9]. Đề án đã chỉ rõ: “Đổi mới công tác đào tạo
tại các học viện, nhà trường quân đội gắn với bồi dưỡng thường xuyên tại đơn vị, nâng
cao trình độ, phương pháp sư phạm và kĩ năng khai thác, quản lý thông tin mạng cho
đội ngũ cán bộ chính trị - lực lượng nịng cốt trong cơng tác giáo dục chính trị tại đơn
vị đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới” [7, tr.11].
Tác giả Đỗ Văn Lừng, trong cơng trình “Phát triển bản lĩnh chỉ huy của
người chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam hiện nay” [70], cho rằng, phát triển
bản lĩnh chỉ huy là quá trình kết hợp biện chứng giữa những điều kiện khách quan
và nhân tố chủ quan, giữa nhận thức và hành động của các chủ thể nhằm tác động
tự giác, sáng tạo đến q trình hồn thiện nhân cách chỉ huy ở người sĩ quan chỉ huy
cấp phân đội. Thực chất phát triển bản lĩnh chỉ huy của người chỉ huy cấp phân đội
là q trình tích hợp và chuyển hóa liên tục các yếu tố, các thuộc tính, các tiêu chí
trong bản lĩnh chỉ huy do sự tác động hợp quy luật của các chủ thể, làm biến đổi
bản lĩnh chỉ huy của họ về cả trình độ, cấp độ, phạm vi, quy mơ theo hướng tiến lên,
hoàn thiện, vững chắc hơn, đảm bảo cho hoạt động chỉ huy đạt hiệu quả cao hơn

trong những giai đoạn phát triển nhất định của quân đội. Trên cơ sở lý luận phát
triển bản lĩnh chỉ huy của người chỉ huy cấp phân đội, tác giả đã đánh giá thực trạng


22
và đề xuất ba nhóm giải pháp cơ bản phát triển bản lĩnh chỉ huy của người chỉ huy
cấp phân đội QĐND Việt Nam hiện nay: đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo tại nhà trường và tập huấn, bồi dưỡng ở đơn vị; tăng cường rèn luyện bản
lĩnh chỉ huy của người chỉ huy cấp phân đội trong thực tiễn hoạt động; tích cực hố
nhân tố chủ quan người chỉ huy cấp phân đội trong hoạt động chỉ huy hiện nay. Tác
giả cũng khẳng định, phát triển bản lĩnh chỉ huy của người chỉ huy cấp phân đội
hiện nay là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, Quân đội, của các tổ chức, lực lượng,
mà trực tiếp, quyết định nhất là cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các
đơn vị và bản thân người chỉ huy cấp phân đội.
2. Khái quát kết quả chủ yếu của các cơng
trình đã cơng bố và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải
quyết
2.1. Khái quát kết quả chủ yếu của các cơng trình đã cơng bố
Các cơng trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, với nhiều góc độ
tiếp cận khác nhau, đã nghiên cứu làm rõ nhiều vấn đề cơ bản có giá trị về lý
luận và thực tiễn liên quan đến đề tài luận án, cụ thể là:
Thứ nhất, các công trình đã làm rõ nhiều nội dung liên
quan đến lý luận phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ
quan chỉ huy cấp phân đội.
Các cơng trình đã nghiên cứu, chỉ ra những đặc trưng, bản chất của năng lực,
phát triển năng lực nói chung, năng lực của một số đối tượng sĩ quan cấp phân đội
nói riêng. Từ những góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả cho thấy tính phong
phú, mn vẻ của năng lực. Một số cơng trình khoa học chun ngành chính trị
học, triết học đã luận chứng làm rõ cấu trúc một số loại năng lực cụ thể như: Năng
lực tư duy, năng lực thực tiễn, năng lực chỉ huy, năng lực CTĐ, CTCT.
Các cơng trình đã trực tiếp hoặc gián tiếp khẳng định vai trò to lớn của

năng lực và khẳng định phát triển năng lực nói chung, các năng lực của người
cán bộ QĐND Việt Nam nói riêng là một quá trình phát hiện, bồi dưỡng, kích
thích phát triển, đồng thời phát huy và sử dụng đúng đắn, có hiệu quả tính tích


23
cực, tự giác, sáng tạo đội ngũ cán bộ. Đó là tổng thể các hoạt động có tổ chức,
có kế hoạch của chủ thể và đối tượng, thông qua các chủ trương, hình thức,
biện pháp tiến hành nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bồi dưỡng tri thức, kĩ
năng hoạt động nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, chiến
đấu của QĐND Việt Nam hiện nay.
Các cơng trình đã làm rõ một số nhân tố quy định, tính quy luật phát
triển năng lực của người cán bộ QĐND Việt Nam. Mặc dù nghiên cứu năng
lực từ những góc độ tiếp cận không giống nhau và của những chủ thể hoạt
động khác nhau, nhưng khi tìm hiểu những nhân tố quy định, tính quy luật
phát triển, các tác giả đều cho rằng tư chất; giáo dục, đào tạo bồi dưỡng; môi
trường sống, hoạt động; nỗ lực chủ quan trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện và
trải nghiệm trong thực tiễn hoạt động là những nhân tố, tính quy luật phát
triển năng lực của những chủ thể hoạt động nhất định.
Mỗi cơng trình nghiên cứu, với cách tiếp cận riêng ở lĩnh vực hoạt động cụ
thể là cơ sở lý luận khoa học để tác giả luận án kế thừa, có chọn lọc trong tiếp cận,
nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận của đề tài luận án.
Thứ hai, các cơng trình đã cho thấy nhiều khía cạnh liên quan đến
tình hình phát triển năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp
phân đội QĐND Việt Nam hiện nay.
Các cơng trình đã chỉ ra, phát triển năng lực của người cán bộ QĐND
Việt Nam hiện nay đang đứng trước yêu cầu của công tác chỉ huy, quản lý, huấn
luyện chủ thể hoạt động quân sự trong tác chiến hiện đại, với sự phát triển của
vũ khí - kỹ thuật, yêu cầu xây dựng sức mạnh chiến đấu mới, đặc biệt là đấu
tranh trên mặt trận chính trị - tư tưởng… Trong khi phát triển năng lực của người

cán bộ quân đội nói chung, năng lực giáo dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp
phân đội nói riêng hiện nay, bên cạnh những ưu điểm, thành tựu đạt được, còn
những hạn chế, bất cập so với yêu cầu của nhiệm vụ mới, từ việc nhận thức vai
trò của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong giáo dục nhân cách cán bộ, chiến sĩ
thuộc quyền đến giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện và phát huy vai trò trách nhiệm


24
của họ trong công tác giáo dục… Trên cơ sở đó, các cơng trình đã chỉ ra một số
u cầu phát triển năng lực của người cán bộ QĐND Việt Nam hiện nay, yêu
cầu về phẩm chất chính trị - tư tưởng, đạo đức lối sống; yêu cầu phẩm chất
nghề nghiệp, chun mơn nghiệp vụ; u cầu về sự thích ứng với những bước
tiến bộ của kinh tế tri thức, thành tựu của cuộc cách mạng và khoa học hiện
đại hiện nay và môi trường sống, hoạt động… Kết quả khảo sát và những
nhận định, đánh giá của các công trình là nguồn tài liệu quan trọng, có độ tin
cậy cao để tiến hành đánh giá thực trạng phát triển năng lực giáo dục nhân
cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, các cơng trình đã nêu lên nhiều giải pháp lên quan đến phát
triển năng lực của người cán bộ QĐND Việt Nam nói chung, năng lực giáo
dục nhân cách của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội nói riêng hiện nay.
Các cơng trình khoa học có liên quan đã đề xuất các giải pháp, với mục
đích và tính sáng tạo riêng của từng cơng trình. Nhưng tựu chung, các cơng
trình đều tập trung giải quyết ba giải pháp cơ bản phát triển năng lực của người
cán bộ QĐND Việt Nam nói chung. Đó là: đổi mới nâng cao chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng sĩ quan cấp phân đội; phát huy nỗ lực chủ quan chủ quan của
cán bộ quân đội; tạo dựng mơi trường sống, hoạt động và cơ chế chính sách đối
với cán bộ qn đội. Các cơng trình cũng cho thấy, mọi biện pháp phát triển
năng lực của người cán bộ QĐND Việt Nam muốn phát huy tác dụng đều phải
thơng qua tích tích cực, tự giác, sáng tạo của chính chủ thể - cán bộ quân đội
trong hoạt động của chính họ.

Những cơng trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án đã nghiên cứu
rất công phu, nghiêm túc về năng lực con người nói chung và trong hoạt động
quân sự nói riêng nên đã gián tiếp đề cập đến năng lực giáo dục nhân cách của sĩ
quan chỉ huy cấp phân đội QĐND Việt Nam. Kết quả của các cơng trình khoa
học đã cơng bố là cơ sở lý luận cho luận án kế thừa, tiếp thu và giải quyết những
vấn đề mới theo mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án đã xác định.
2.2. Những vấn đề đặt ra để luận án tiếp tục giải quyết


×