MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hoạt động chung của con người, tương hợp tâm lý được xem là
chỉ số đo tình đoàn kết, tính gắn kết, sự hỗ trợ lẫn nhau, là điều kiện quan
trọng để hình thành mối quan hệ qua lại và bầu không khí tâm lý tích cực,
lành mạnh trong tập thể. Tương hợp tâm lý chính là tiền đề, điều kiện tiên
quyết để dẫn đến sự phối hợp chặt chẽ giữa các cá nhân trong mọi hoạt động
chung, hoạt động cùng nhau; khiến mỗi cá nhân trong tập thể làm việc một
cách tự giác, chủ động, tích cực với tinh thần, thái độ và trách nhiệm cao.
Hiện nay, các trung đoàn tên lửa thuộc Sư đoàn 361, Quân chủng
Phòng không - Không quân được đầu tư trang bị vũ khí, khí tài tên lửa hiện
đại và tương đối hiện đại. Nhiệm vụ huấn luyện và đảm bảo cho đơn vị luôn
sẵn sàng chiến đấu trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tình huống yêu cầu ngày
càng cao; đòi hỏi phải có sự hiệp đồng, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống
nhất giữa nhiều người, nhiều thành phần, bộ phận trong kíp chiến đấu đài điều
khiển tên lửa. Trong kíp chiến đấu đó, đội ngũ sĩ quan và quân nhân chuyên
nghiệp có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Có thể khẳng định, đây là những
thành phần có ý nghĩa quyết định trực tiếp nhất đến quá trình tổ chức, thực
hiện, hoàn thành nhiệm vụ chính trị trung tâm của đơn vị là huấn luyện và sẵn
sàng chiến đấu. Đơn vị có sẵn sàng chiến đấu thì đơn vị mới hoàn thành
nhiệm vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Người trước, súng sau; vì vậy
điều kiện tiên quyết là phải phát huy trí tuệ, sức mạnh của con người trong sử
dụng vũ khí, khí tài. Và trí tuệ, sức mạnh thực sự chỉ được phát huy cao nhất
khi sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp có sự tương hợp tâm lý với nhau.
Trong giai đoạn hiện nay, do đặc điểm, tính chất hoạt động huấn luyện,
sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ở các trung đoàn tên lửa phòng không rất phức
tạp, căng thẳng, quyết liệt; yêu cầu cao về thời gian, cường độ huấn luyện,
nhiệm vụ trực ban và đảm bảo sẵn sàng chiến đấu; sự chênh lệch về tuổi quân,
3
tuổi đời; vấn đề trình độ, kinh nghiệm, vốn sống và thực tiễn hoạt động nghề
nghiệp quân sự trong mối quan hệ với chức trách, nhiệm vụ; đã ảnh hưởng
không nhỏ đến mối quan hệ qua lại giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp.
Từ đó, đã nảy sinh các va chạm, mâu thuẫn, xung đột tâm lý trong tập thể; làm
hạn chế đến chất lượng, hiệu quả hoạt động huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.
Thực tiễn đó do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân là
không tương hợp tâm lý trong mối quan hệ giữa họ. Vì thế có thể khẳng định,
sự tương hợp tâm lý giữa họ đã trở thành một trong những yếu tố cơ bản, là
nguyên nhân, kết quả sự trưởng thành, chiến thắng của bộ đội Phòng không Không quân nói chung và bộ đội Tên lửa Phòng không nói riêng với truyền
thống:“Chiến đấu hiệp đồng, lập công tập thể”.
Trong thời gian qua, các công trình tâm lý học nghiên cứu về tương
hợp tâm lý còn chưa nhiều; do mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận khác
nhau, nên còn có các quan điểm, quan niệm khác nhau. Chưa có những công
trình nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu về tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và
quân nhân chuyên nghiệp ở các đơn vị tên lửa phòng không. Trong khi đây là
một hướng nghiên cứu có tính chất cơ sở, rất cần thiết đối với sự hình thành
và phát triển mối quan hệ giữa các quân nhân trong hoạt động quân sự, nhưng
hiện nay vẫn còn thiếu và yếu.
Từ những vấn đề có tính cấp thiết như vậy, tác giả lựa chọn đề tài:
“Tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở các trung
đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không - Không quân” làm
nội dung nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Các nghiên cứu về tương hợp tâm lý ở nước ngoài
Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và theo
nguyên tắc hoạt động, một số nhà tâm lý học xã hội như A.V. Pêtrôvxki, A.G.
Côvaliôv, G.M. Anđrêeva đã cho rằng: Hoạt động chính là cơ sở cho sự hình
4
thành và phát triển tương hợp tâm lý và phải nghiên cứu tương hợp tâm lý trong
hoạt động. Trên cơ sở đó, G.M. Anđrêeva xây dựng: “Mô hình các quá trình
nhận thức trong hoạt động cùng nhau” và A.V. Pêtrôvxki đưa ra lý thuyết: “Xác
định các mối liên hệ liên nhân cách bằng hoạt động” [Dẫn theo 21].
F.F. Aunapu (1976) trong quá trình nghiên cứu, khi nói về vai trò của sự
hòa hợp trong tập thể đã cho rằng, sự hòa hợp chính là căn cứ, điều kiện, cơ sở
cho mọi thành tích của tập thể. Để có sự hòa hợp và người lãnh đạo có thể đạt
được những quan hệ bình thường với tập thể, với cấp dưới, chỉ khi cấp dưới
hoàn toàn tin tưởng rằng người lãnh đạo thực sự quan tâm đến công việc riêng
của họ, chân thành, cố gắng giúp đỡ họ; người lãnh đạo phải có đủ kiến thức,
kinh nghiệm, khả năng tạo ra những quan hệ tốt với cấp dưới của mình [4].
Bên cạnh đó, một số nhà tâm lý học khác đã nêu lên quan điểm của
mình khi nghiên cứu về tương hợp tâm lý, đó là: K.K. Platonop nghiên cứu
tương hợp là sự liên kết giữa các cá nhân để tạo ra sự toàn vẹn và quá trình cố
kết bên trong của nhóm; M. Mos xem tương hợp là sự thỏa mãn nhu cầu và
các hành vi của các cá nhân trong nhóm [Dẫn theo 14].
Trong mối quan hệ giữa người lãnh đạo, quản lý với cấp dưới, xuất
phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, xong trong các công trình nghiên
cứu của mình, E.E. Venđrop và V.G. Aphanaxep (1979) đều khẳng định, sự
tương hợp tâm lý giữa nhà lãnh đạo, quản lý và cấp dưới giữ vai trò to lớn
trong giải quyết nhiệm vụ, có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển, trưởng
thành của tập thể; quan hệ giữa họ càng có tính người bao nhiêu, càng nồng
hậu, gần gũi bao nhiêu, thì hiệu quả lãnh đạo càng cao bấy nhiêu [3, tr. 79].
A.L. Svenhisinxki lại xem tương hợp dưới góc độ thích ứng lẫn nhau
của các cá nhân trong quá trình hoạt động chung nhằm tạo ra sự phối hợp
trong hành động. N.N. Opozov khi nghiên cứu về tương hợp tâm lý đã cho
rằng, đó chính là kết quả của sự kết hợp và tác động lẫn nhau giữa các cá thể,
thể hiện sự hài lòng cao nhất giữa họ [Dẫn theo 21].
5
Mary Parker Follet (2007) đã xây dựng tư tưởng phối hợp và thống
nhất trong quản lý. Theo bà, người lãnh đạo cần có tính kiên trì, năng lực
thuyết phục, sự khéo léo trong cư xử và trình độ hiểu biết cao. Follet còn cho
rằng, người lãnh đạo không nên coi mình là một ông chủ, mà là người phối
hợp, giáo dục đào tạo và phải quan tâm đến thái độ phối hợp của cấp dưới,
chứ không phải thái độ phục tùng. Khi nghiên cứu mâu thuẫn của nhóm, bà
khẳng định mâu thuẫn ở đây không phải sự tranh chấp, mà biểu hiện sự khác
biệt, khác biệt về ý kiến. Theo Follet, có ba phương pháp chủ yếu để giải
quyết mâu thuẫn trong nhóm là áp chế, thỏa hiệp và thống nhất; trong đó
phương pháp thống nhất là phương pháp tốt nhất, làm vừa lòng nhất để thống
nhất mâu thuẫn. Thống nhất sẽ dẫn đến sáng tạo ra một cái gì đó mới mẻ, tốt
hơn là sự lựa chọn từ hai phía, là cách giải quyết mâu thuẫn triệt để nhất [14].
Những nghiên cứu của E.X. Cuzơnin, K.K. Platônôp, A.V. Pêtơrôpxki
(1978), B.V. Sôrôkhôva (1979), G.M. Anđrâyvêa (2002), tuy phạm vi nghiên
cứu có khác nhau, nhưng đều thống nhất nhận định: Mối quan hệ qua lại là sự
phản ánh đồng bộ các hiện tượng gắn liền với các quan hệ tương hỗ của các
thành viên trong nhóm. Đưa ra các đặc điểm của hoạt động chung và trên cơ
sở đó phân tích được các đặc điểm của tương hợp tâm lý như: Sự đồng cảm,
tin tưởng, quan tâm, yêu mến; sự nhất trí qua hiểu biết, trao đổi thông tin; sự
phối hợp, thống nhất về mục đích, động cơ, ăn ý hành động; sự ảnh hưởng,
nêu gương, đòi hỏi, học hỏi lẫn nhau [Dẫn theo 21].
Quá trình nghiên cứu, V.I. Mikheép (1979) và V.M. Sepen (1984) đã
chỉ ra các phẩm chất người lãnh đạo trong quá trình quan hệ với người khác,
như: Sự chu đáo, rộng rãi, luôn quý mến, tôn trọng, quan tâm đến người khác;
điềm đạm, tự chủ, lễ độ, dân chủ cởi mở, công bằng và luôn mong những điều
tốt đẹp cho mọi người. Các ông còn cho rằng, hiệu quả hoạt động tùy thuộc ở
mức độ đáng kể vào việc người lãnh đạo và cấp dưới tác động lẫn nhau như
thế nào, cũng như mức độ liên kết giữa họ về mặt xã hội và tâm lý [38].
6
J.M. Thibaut và G. Kelli (1991) trong quá trình nghiên cứu quan hệ
trong nhóm nhỏ đã cho rằng: Các hành vi ứng xử của con người trong quan hệ
được thực hiện theo nguyên tắc trao đổi cả vật chất và tình cảm. Thái độ ứng
xử của mỗi người, nhất là người lãnh đạo đóng vai trò rất quan trọng, phải
luôn công bằng, thiện chí, đúng mức và phải tôn trọng lẫn nhau. Quan hệ giữa
con người với con người khó có thể tồn tại nếu một bên nào đó chỉ cố giành
phần lợi cho mình [Dẫn theo 56].
James L. Gibson (2011) thì cho rằng, việc nghiên cứu những điểm khác
biệt cá nhân như nhận thức, thái độ và khả năng của cá nhân giúp nhà quản lý
giải thích được sự khác biệt trong công việc và trong quan hệ của nhân viên.
Ông cũng quan tâm nghiên cứu sự quan sát, phân tích của nhà quản lý đối với
hành vi của những người khác; thông qua hành vi đó để nhận ra sự khác biệt
cá nhân và tìm cách lý giải được sự khác biệt đó [30].
Tác giả G. Moreno trong các công trình nghiên cứu thực nghiệm về vai
trò của sự tương hợp tâm lý đối với tăng năng suất lao động trong các ê kíp
làm việc của công nhân, phát triển hướng nghiên cứu động thái nhóm, đã
nhận thấy, nếu các công nhân làm việc trong cùng ê kíp có sự tương hợp tâm
lý thì sẽ tạo ra trường ổn định, tích cực và sẽ góp phần tăng đáng kể năng suất
lao động của các thành viên trong ê kíp đó [Dẫn theo 21].
Khi đi sâu nghiên cứu nguyên nhân thất bại của các nhà quản lý trước
đây, McCall và LomBardo (1995) đã phát hiện ra một số yếu tố cơ bản đó là:
Thiếu nhạy cảm với người khác, phong cách chây ỳ, áp bức, dựa dẫm; lạnh
lùng, kiêu căng, tách biệt; bội tín. Trong đó nguyên nhân thường gặp nhất là
sự thiếu nhạy cảm đối với những người khác [45].
Nhiều công trình nghiên cứu tâm lý học đã chứng minh rằng, nếu
không có sự tương hợp tâm lý sẽ phát sinh các tình trạng xung đột khác nhau,
gây tổn hại cho hoạt động cũng như bầu không khí của tập thể. Nhà tâm lý
học B.Ph. Lomov và V.F. Rubakin trong công trình nghiên cứu bầu không khí
7
tâm lý lao động cũng đã chỉ ra rằng, nguyên nhân thứ ba của mọi xung đột là
vấn đề không tương hợp tâm lý. Điều đó đã bộc lộ hiệu quả của tương tác tâm
lý phụ thuộc mức độ phát triển của sự tương hợp tâm lý trong hoạt động.
Trong tương tác tâm lý, nếu giữa các cá nhân đạt được sự tương hợp cả về
khía cạnh tâm, sinh lý và tâm lý xã hội, nghĩa là trên cơ sở hiểu khí chất, tính
cách nhau, năng lực, khả năng, điều kiện của nhau để có thể hiểu đến mức
thấu hiểu nhau, thông cảm, đồng cảm... sẽ tạo nên sự tương hợp tâm lý với
nhau cao, dẫn đến hiệu quả tương tác tâm lý càng tốt. Sự tương hợp tâm lý
này là cơ sở giúp các cá nhân dễ dàng xây dựng, thiết lập được các quan hệ
tình cảm khăng khít, gắn bó giúp đỡ nhau, thông cảm và hiểu biết; kết quả
cuối cùng là hoạt động tương tác đó sẽ nhịp nhàng, có sự thống nhất, nhất trí
để đạt hiệu quả cao trong hoạt động [Dẫn theo 21].
Tóm lại, qua nghiên cứu của các tác giả ở nước ngoài về tương hợp tâm
lý có thể thấy, họ đã xem xét, nghiên cứu tương hợp tâm lý thông qua hoạt
động của con người, hoạt động chính là chìa khóa để đánh giá, tìm hiểu, hình
thành, phát triển tâm lý, ý thức, sự tương hợp tâm lý giữa con người với con
người. Các nghiên cứu còn tập trung tìm hiểu các phẩm chất của người lãnh
đạo, nghệ thuật quản lý, vai trò của người lãnh đạo và mối quan hệ giữa họ với
cấp dưới của mình; nghiên cứu về vai trò của tương hợp tâm lý đối với tăng
năng suất lao động. Tư tưởng chung là: Mối quan hệ giữa người lãnh đạo và
cấp dưới được coi là điều kiện trong quá trình tổ chức hoạt động quản lý. Nhiều
nhà tâm lý đã cố gắng khám phá, tìm tòi, phân tích đặc điểm tâm lý - xã hội của
mối quan hệ giữa người lãnh đạo và cấp dưới trong điều kiện hoạt động chung.
* Các nghiên cứu về tương hợp tâm lý ở Việt Nam
Theo tác giả Nguyễn Bá Dương (2003) trong cuốn: “Tâm lý học quản
lý dành cho người lãnh đạo” đã chỉ ra các yếu tố chi phối đến sự tương hợp
tâm lý, đó là: Môi trường tự nhiên tạo nên chỗ ở, chỗ làm việc, sự kết hợp về
mặt tâm lý giữa các thành viên trong tập thể. Để tạo nên sự kết hợp về mặt
8
tâm lý giữa các thành viên, cần phải tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau, sự gần gũi
lâu dài giữa mọi người trong nhóm, hạn chế những xung khắc trong tập thể và
phải xây dựng ý thức tập thể, ý thức cộng đồng. Có một số yếu tố của sự thích
ứng, hòa nhập, đó là:
- Sự thích ứng về mặt thể chất, sinh lý, về những điều kiện của hoạt
động: trình độ chuyên môn, kỹ thuật; mức độ căng thẳng, thời gian làm việc...
- Sự thích ứng với nhau về mặt tâm lý: Khí chất, tính cách, xu hướng,
định hướng giá trị, hứng thú, quan niệm, thói quen… nhằm tạo ra không khí
tâm lý tốt trong tập thể.
- Sự thích nghi (thích ứng) về mặt xã hội - tâm lý: Sự thích ứng giữa cá
nhân và tập thể, đồng nghiệp với lãnh đạo… giúp mọi người có nhận thức và
chấp nhận tự giác các quy tắc, các giá trị, tiêu chuẩn hành vi đã được quy định
bởi tập thể và xã hội [16, tr. 27].
Trong chương 7, Giáo trình tâm lý học quản lý, tác giả Vũ Dũng đã
nghiên cứu về ê kíp lãnh đạo và cho rằng: Một trong hai thành tố cơ bản của ê
kíp lãnh đạo đó là tương hợp tâm lý. Nói đến tương hợp tâm lý của nhóm là nói
đến quá trình bên trong của nhóm - quá trình các cá nhân hòa hợp, thích ứng
lẫn nhau để chuyển từ những “cái tôi” của mỗi cá nhân thành “cái chúng tôi”
của cả nhóm. Tương hợp tâm lý của ê kíp lãnh đạo là sự hòa hợp, thích ứng
lẫn nhau và sự phối hợp tối ưu các đặc điểm tâm lý cá nhân để tạo ra sự thống
nhất cao của ê kíp lãnh đạo. Khi nói tới tương hợp tâm lý của ê kíp lãnh đạo là
nói tới sự tương hợp ở hai khía cạnh: Tương hợp tâm, sinh lý và tương hợp tâm
lý xã hội. Tương hợp tâm sinh lý trong ê kíp lãnh đạo là tương hợp về các đặc
điểm thần kinh, khí chất, tính cách... giữa các thành viên trong ê kíp. Sự tương
hợp tâm, sinh lý giữa các thành viên của ê kíp lãnh đạo là sự kết hợp một cách
hài hòa và có hiệu quả các đặc điểm của các khí chất và tính cách khác nhau
của các cá nhân, nhằm tạo ra hiệu quả cao hoạt động chung của ê kíp. Còn
tương hợp về tâm lý xã hội của các thành viên trong ê kíp lãnh đạo thể hiện ở
9
sự tương hợp về động cơ, mục đích, nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị, hứng
thú, phong cách làm việc, các đặc điểm tâm lý lứa tuổi... Sự tương hợp này là
điều kiện quyết định để tồn tại và phát triển của một ê kíp lãnh đạo. Nói cách
khác, sự tương hợp tâm lý này sẽ tạo ra mối liên hệ liên nhân cách, sự cố kết
giữa các thành viên trong ê kíp. Như vậy, sự tương hợp tâm lý giữa các thành
viên không chỉ là sự thống nhất, mà còn là sự thích ứng giữa các thành viên
trong ê kíp lãnh đạo để tạo nên sự cố kết, đồng cảm cao [14, tr. 58].
Khi nghiên cứu về bầu không khí tâm lý trong tập thể học viên, Trần
Đức Long (2004) đã đề cập đến sự tương hợp tâm lý chính là một nhân tố chi
phối đến quá trình hình thành bầu không khí tâm lý tích cực trong tập thể học
viên. Tương hợp tâm lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các học viên trong tập
thể có sự phối hợp với nhau trong học tập, rèn luyện và qua đó nâng cao được
kết quả học tập cũng như rèn luyện [Dẫn theo 21].
Tác giả Trần Đoàn Hạnh khẳng định: Trong sự tương hợp thì sự tương
hợp về xu hướng và tính cách là quan trọng nhất. Cùng chung thế giới quan,
lý tưởng, thái độ đối với lao động, với mọi người và với bản thân thì bao giờ
cũng dễ sống, dễ làm việc với nhau, tạo sự thoải mái, hiệu quả công việc cao
và có thể cộng tác lâu dài. Về vai trò của tương hợp tâm lý, tác giả cho rằng:
- Tạo ra bầu không khí thoải mái, lành mạnh trong tập thể, do đó nâng
cao được năng suất lao động, tính tập thể trong thi đấu thể thao, thần kinh
luôn thoải mái, lâu mệt mỏi…
- Tập thể gồm toàn những người tương hợp với nhau được gọi là tập thể
đồng tính - lúc đó hiệu quả công việc đạt cao nhất, lại tránh được xung đột
trong tập thể [24, tr. 114].
Tác giả Trần Trọng Thủy trong cuốn sách: “Tâm lý học quản lý” đã
phân tích làm rõ khái niệm và các biện pháp nhằm nâng cao sự tương hợp tâm
lý trong tập thể. Ông cho rằng, muốn có bầu không khí tâm lý tích cực, lành
mạnh, cần ngăn ngừa các xung đột tâm lý trong tập thể [51, tr. 37].
10
Đi sâu nghiên cứu về xung đột tâm lý, tác giả Nguyễn Văn Tuân trong
Luận án Tiến sĩ của mình (2002) cho rằng, xung đột tâm lý trong tập thể quân
nhân ở đơn vị cơ sở là một hiện tượng tâm lý - xã hội, là một phạm trù của
tâm lý học xã hội, hình thành, phát triển trong quá trình giao tiếp và hoạt động
chung giữa các quân nhân. Xung đột tâm lý là sự phá hủy mối quan hệ liên
nhân cách ở mức độ cảm xúc hay hành vi. Một trong những nguyên nhân gây
ra xung đột tâm lý là do giữa các quân nhân không có sự tương hợp về tâm lý.
Để góp phần phòng ngừa xung đột tâm lý, khi sắp xếp các quân nhân trong
tập thể cần phải tính tới sự tương hợp tâm lý giữa họ [53].
Tác giả Ngô Minh Tuấn trong Luận án Tiến sĩ của mình (2000) cho rằng:
Mối quan hệ qua lại trong tập thể quân sự quân đội ta dựa trên cơ sở hệ tư
tưởng Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tính nhân văn, nhân đạo trong
các quan hệ người - người; những chuẩn mực đạo đức cách mạng, đạo đức
truyền thống của dân tộc ta. Mối quan hệ giữa các quân nhân nói lên bản chất
mối quan hệ qua lại trong tập thể quân đội; đó là quan hệ của những người
cùng chí hướng, thể hiện sự trưởng thành về chính trị, tư tưởng, đạo đức của
quân nhân và tập thể quân nhân; thể hiện bộ mặt văn hóa, tinh thần của tập thể;
nói lên bản chất mối quan hệ trong tập thể quân nhân, sự phụ thuộc có tính quy
luật của các hiện tượng tâm lý - xã hội đối với những điều kiện kinh tế, chính
trị nhất định. Ông còn cho rằng: Tính chất hoạt động của tập thể quy định nội
dung, hình thức biểu hiện và đặc điểm của từng mối quan hệ; từ trong các mối
quan hệ đó, mục đích của mọi thành viên trở nên thống nhất, tương đồng; sự
hiểu biết lẫn nhau và khả năng phối hợp hành động trở nên chặt chẽ, hiệu quả
hơn. Dựa trên cơ sở các nhân tố tạo thành mối quan hệ qua lại, tác giả đề xuất
những biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao hiệu quả hình thành, phát triển mối
quan hệ qua lại tích cực giữa cán bộ và chiến sĩ trên tàu Hải quân [55].
Tác giả Lê Minh Nguyệt trong công trình: “Tương tác giữa cha mẹ và
con với sự phát triển tâm lý trẻ em” (2012) cho rằng: Sự tương hợp tâm lý
11
trong quá trình tương tác giữa cha mẹ và các con ở tuổi thiếu niên gắn với đặc
thù của lứa tuổi thiếu niên. Tương hợp tâm lý là một thành tố quan trọng của
tương tác tâm lý, được biểu hiện qua sự thống nhất giữa các cá nhân về hiểu
biết, về thái độ và hành vi ứng xử; qua sự đồng cảm và qua sự chia sẻ, thông
cảm giữa các cá nhân [44].
Tóm lại, các công trình nghiên cứu ở trong nước đã luận giải phần lớn
những vấn đề có liên quan đến tương hợp tâm lý trong các lĩnh vực khác nhau
của đời sống xã hội. Nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu làm rõ nội hàm của
sự tương hợp tâm lý. Nêu lên được vị trí, vai trò của tương hợp tâm lý đối với
hoạt động và đối với cuộc sống của con người. Đây là những thành tựu lý luận
quan trọng để nghiên cứu sự tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân
chuyên nghiệp ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng
không - Không quân trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về tương hợp tâm lý giữa sĩ quan
và quân nhân chuyên nghiệp; trên cơ sở đó, đề xuất biện pháp tâm lý - xã hội
nâng cao mức độ tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp;
qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động huấn luyện, sẵn
sàng chiến đấu ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng
không - Không quân hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về sự tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân
nhân chuyên nghiệp ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân chủng
Phòng không - Không quân.
- Phân tích, đánh giá thực trạng mức độ tương hợp tâm lý giữa sĩ quan
và quân nhân chuyên nghiệp ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân
chủng Phòng không - Không quân hiện nay.
12
- Đề xuất biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao mức độ tương hợp tâm lý
giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn
361, Quân chủng Phòng không - Không quân trong giai đoạn hiện nay.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn
361, Quân chủng Phòng không - Không quân.
* Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên
nghiệp.
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Tương hợp tâm lý là lĩnh vực rất đa dạng,
phong phú, nhưng cũng rất phức tạp. Trong khuôn khổ đề tài luận văn, tác giả
chỉ tập trung nghiên cứu biểu hiện và mức độ tương hợp tâm lý giữa sĩ quan
và quân nhân chuyên nghiệp ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân
chủng Phòng không - Không quân hiện nay, được biểu hiện thông qua sự hiểu
biết lẫn nhau, sự đồng cảm lẫn nhau, sự phối hợp với nhau trong hoạt động
huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.
- Phạm vi về khách thể: Đề tài nghiên cứu 150 đồng chí sĩ quan và 200
đồng chí quân nhân chuyên nghiệp ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361,
Quân chủng Phòng không - Không quân.
- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu và các số liệu khảo sát,
tổng hợp được tính từ năm 2015 đến nay.
5. Giả thuyết khoa học
Tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở các trung
đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không - Không quân hiện nay
còn hạn chế và biểu hiện ở mức độ trung bình, có nhiều yếu tố khách quan,
chủ quan ảnh hưởng đến sự tương hợp tâm lý giữa họ. Nếu làm rõ được thực
13
trạng mức độ tương hợp tâm lý, nguyên nhân của thực trạng, các yếu tố ảnh
hưởng đến sự tương hợp tâm lý; đồng thời tiến hành đồng bộ những biện pháp
tâm lý - xã hội phù hợp, thì sẽ nâng cao được mức độ tương hợp tâm lý giữa
sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn
361, Quân chủng Phòng không - Không quân trong giai đoạn hiện nay.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về vị trí, vai trò, những yêu cầu về phẩm chất, năng lực của người
cán bộ sĩ quan, quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam; về mối quan hệ
giữa con người với con người, con người với vũ khí, trang bị kỹ thuật; về ảnh
hưởng của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội đến chuẩn mực các quan hệ xã
hội. Luận văn cũng dựa trên các quan điểm, nguyên tắc phương pháp luận của
Tâm lý học mácxít như: Nguyên tắc quyết định luận duy vật các hiện tượng
tâm lý; nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý - ý thức và hoạt động; nguyên tắc
phát triển tâm lý; nguyên tắc tiếp cận nhân cách.
* Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được tác giả sử dụng trong quá
trình xây dựng luận văn gồm:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa các nguồn tài liệu nhằm khai thác
hiệu quả các nguồn thông tin thu được. Các tài liệu được khai thác phục vụ
nghiên cứu gồm: Các tác phẩm kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, Luật của
Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các công trình nghiên
cứu về tâm lý học; luận văn; luận án; giáo trình; các tác phẩm về tâm lý học
14
có liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Dùng để đánh giá thực trạng tương
hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở các trung đoàn tên lửa,
Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không - Không quân hiện nay, bao gồm:
Phương pháp quan sát; phương pháp trao đổi, trò chuyện, phỏng vấn; phương
pháp phân tích kết quả hoạt động; phương pháp chuyên gia; phương pháp điều
tra xã hội học và phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
7. Ý nghĩa của luận văn
* Ý nghĩa về lý luận
Luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận về tương hợp tâm lý giữa
sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở các trung đoàn tên lửa phòng không trong
giai đoạn hiện nay.
Luận văn góp phần làm phong phú kiến thức tâm lý học xã hội, tâm lý
học lãnh đạo - quản lý và tâm lý học quân sự ở nước ta hiện nay.
* Ý nghĩa về thực tiễn
Các đơn vị cấp cơ sở bộ đội tên lửa nói riêng, trong Quân chủng Phòng
không - Không quân nói chung có thể tham khảo, vận dụng linh hoạt, sáng tạo
một số biện pháp, kết quả nghiên cứu trong luận văn, nhằm góp phần nâng
cao hơn nữa mức độ tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên
nghiệp, qua đó nâng cao kết quả, chất lượng, hiệu quả hoạt động huấn luyện
và sẵn sàng chiến đấu ở các đơn vị cơ sở hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm: Phần mở đầu; 2 chương (5 tiết); kết luận và kiến
nghị; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục.
15
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TƯƠNG HỢP TÂM LÝ GIỮA SĨ QUAN
VÀ QUÂN NHÂN CHUYÊN NGHIỆP Ở CÁC TRUNG ĐOÀN TÊN LỬA,
SƯ ĐOÀN 361, QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Tương hợp
Quá trình nghiên cứu về khái niệm tương hợp có khá nhiều các quan
điểm khác nhau.
Từ điển tiếng Anh của đại học Oxford, tương hợp (Compatibility) có
nghĩa là sự hợp nhau về quan điểm, ý kiến, nguyên tắc sống giữa con người
với con người [Oxford Dictionary - 1998].
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: Tương hợp là sự phối hợp tối
ưu các đặc điểm tâm lý cá nhân của các thành viên trong nhóm để có lợi nhất
cho việc thực hiện mục đích chung [57, tr. 727].
Hoàng Phê chủ biên trong: “Từ điển tiếng Việt” (2005) định nghĩa
tương hợp là sự phù hợp với nhau [46].
Theo M. Mos thì tương hợp là sự thỏa mãn nhu cầu và các hành vi của
các cá nhân trong nhóm [Dẫn theo 14].
A.L. Svenhisinxki cho rằng tương hợp là sự thích ứng lẫn nhau của các
cá nhân trong quá trình hoạt động chung, nhằm tạo ra sự phối hợp hành động
[Dẫn theo 21].
Theo K.K. Platonop, tương hợp là sự liên kết giữa các cá nhân để tạo ra
sự toàn vẹn và quá trình cố kết bên trong của nhóm [Dẫn theo 14].
Tác giả Cao Thị Huyền Nga khi nghiên cứu về xung đột tâm lý trong các
mối quan hệ ở gia đình đã nhận thấy, sự tương hợp có nhiều mức độ và phương
diện. Quan hệ vợ chồng cũng là biểu hiện sự tương hợp; đó là sự tương hợp
giữa hai người thể hiện ở sự tương hợp về quan điểm, lối sống, tính cách, định
16
hướng giá trị và tương hợp cả về mặt sinh lý [Dẫn theo 21].
Qua nghiên cứu các quan điểm, quan niệm trên, tác giả có thể khái quát
và khẳng định rằng:
Tương hợp là sự hòa hợp và phối hợp với nhau giữa con người với con
người, nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong thực hiện mục đích hoạt động chung.
1.1.2. Tương hợp tâm lý
Nghiên cứu về vấn đề tương hợp tâm lý, các tác giả đã tập trung làm rõ
các nội dung, cụ thể như sau:
K.K. Platonop dựa trên nguyên tắc hoạt động cho rằng, tương hợp tâm lý
tạo ra không khí thoải mái, cảm xúc tích cực trong hoạt động và góp phần làm
cho hoạt động chung, hoạt động cùng nhau diễn ra hiệu quả hơn. Tương hợp
tâm lý phải được xem xét trong mối liên hệ với các hoạt động của nhóm: Hoạt
động công cụ và phương diện cảm xúc, giao tiếp nội nhóm [Dẫn theo 14].
Khi nghiên cứu về tương hợp tâm lý, hai tác giả N.N. Opozov và A.N.
Opozova đã chỉ ra ba cách tiếp cận đối với hiện tượng tương hợp tâm lý: Một là
cấu trúc, đó là xem xét sự giống nhau hay khác biệt của đặc điểm tâm lý cá nhân
của các thành viên; hai là chức năng, nghĩa là kết quả của sự thống nhất chức
năng nội nhóm và vai trò của các thành viên; và ba là thích nghi. N.N. Opozov
còn cho rằng, tương hợp tâm lý chính là kết quả của sự kết hợp và tác động lẫn
nhau giữa các cá thể, thể hiện sự hài lòng cao nhất giữa họ [Dẫn theo 21].
Lê Minh Nguyệt trong cuốn sách: “Tương tác giữa cha mẹ và con với
sự phát triển tâm lý của trẻ em” (2012) đã chỉ ra sự tương hợp tâm lý được
biểu hiện qua sự thống nhất giữa các thành viên trong gia đình về hiểu biết, thái
độ và hành vi ứng xử; là sự hòa hợp, sự hiểu nhau và phối hợp tối ưu các đặc
điểm tâm lý cá nhân để tạo sự thống nhất cao trong quan hệ tương tác [44].
Tác giả Trần Đức Long (2004) trong quá trình nghiên cứu về bầu không
khí tâm lý trong tập thể quân nhân đã nhận thấy: Tương hợp tâm lý là sự phối hợp
tối ưu những phẩm chất, nhân cách của các quân nhân, đảm bảo cho hoạt động
17
của tập thể quân nhân diễn ra một cách thống nhất, nhịp nhàng [Dẫn theo 21].
Khi nghiên cứu về ê kíp lãnh đạo trong Giáo trình Tâm lý học quản lý,
tác giả Vũ Dũng đã cho rằng: Nói đến tương hợp tâm lý của nhóm là nói đến
quá trình bên trong của nhóm - quá trình các cá nhân hòa hợp, thích ứng lẫn
nhau để chuyển từ những “cái tôi” của mỗi cá nhân thành “cái chúng tôi”
của cả nhóm. Tương hợp tâm lý của ê kíp lãnh đạo là sự hòa hợp, thích ứng
lẫn nhau và sự phối hợp tối ưu các đặc điểm tâm lý cá nhân để tạo ra sự thống
nhất cao của ê kíp lãnh đạo. Và tác giả Vũ Dũng còn cho rằng: Tương hợp
tâm lý là khả năng của con người tìm kiếm sự hiểu biết lẫn nhau, điều chỉnh
các liên hệ riêng, công việc và khả năng phối hợp [14, tr. 58].
Cao Thị Nga trong Luận án Tiến sĩ Tâm lý học: “Tương tác tâm lý trên
lớp học giữa giảng viên và sinh viên ở trường đại học” (2016), khi nghiên
cứu về sự tương hợp tâm lý trong tương tác, đã nhận định và cho rằng: Trong
hoạt động chung của con người, tương hợp tâm lý được xem là chỉ số đo tính
gắn kết, là điều kiện để hình thành bầu không khí tâm lý trong tương tác tính
cực. Tương hợp tâm lý là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để dẫn đến sự phối
hợp chặt chẽ giữa các cá nhân trong các hoạt động và trong tương tác; tương
hợp tâm lý khiến mỗi cá nhân trong tập thể làm việc một cách tự giác, tích
cực với tinh thần, trách nhiệm cao. Tinh thần tự giác của các thành viên thể
hiện ở chỗ mỗi người tự nỗ lực phấn đấu hết mình để hoàn thành nhiệm vụ
được phân công. Sự thống nhất về tính cách, khí chất, nhu cầu, động cơ, định
hướng giá trị, lợi ích... sẽ dẫn đến sự thống nhất, phối hợp hành động một
cách chặt chẽ giữa các thành viên về khía cạnh tâm lý trên [42, tr. 33].
Tác giả Trần Đoàn Hạnh cho rằng: Sự tương hợp tâm lý là sự kết hợp
thuận lợi nhất các đặc điểm tâm lý cá nhân của các thành viên trong nhóm,
đảm bảo cho công việc cũng như sự hài lòng của cá nhân đều đạt ở mức độ
cao. Nếu thiếu một trong hai vế này thì không phải là sự tương hợp. Sự kết
hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân có thể bù trừ cho nhau hoặc có sự tương
18
đương nhau. Về các mặt tương hợp, theo tác giả có ba mặt tương hợp, đó là
- Tương hợp về thể chất: Gồm sự tương hợp về sức khỏe, một số chỉ số
sinh lý như cân nặng, chiều cao,… mặt này cần sự tương đương.
- Tương hợp về tâm lý: Gồm sự tương hợp về tính khí, đặc biệt là khí
chất; mặt này có thể bù trừ, có thể tương đương.
- Tương hợp về năng lực như năng lực tư duy, quan sát, nhận thức…
tùy theo từng trường hợp mà cần tương đương với nhau hoặc bổ sung, hỗ trợ
cho nhau. Trong một “ê kíp” lãnh đạo toàn những người tài giỏi về chính trị
và chuyên môn là điều lý tưởng nhất. Hoặc phải bố trí một ê kíp mà trong đó
có người giỏi chuyên môn, người thông thạo công tác chính trị, tổ chức, ngoại
giao… để bổ sung, hỗ trợ nhau về năng lực công tác [24, tr. 114].
Như vậy, có thể thấy sự phong phú cũng như phức tạp của các quan
niệm về tương hợp tâm lý, xong tựu chung lại có thể cho rằng, tương hợp tâm
lý là một cấu trúc tâm lý phức hợp, được biểu hiện trên ba mặt cụ thể là:
Nhận thức, thái độ và hành vi. Cốt lõi của tương hợp tâm lý xoay quanh các
nội dung như: Sự hiểu biết, hòa hợp, phối hợp; sự thích ứng, thích nghi lẫn
nhau; sự kết hợp, tác động qua lại thống nhất với nhau, nhưng phải thể hiện
sự đồng cảm, sự hài lòng cao nhất giữa con người và con người trong các
công việc, hoạt động chung, hoạt động cùng nhau. Về mặt nhận thức, đó là sự
hiểu biết lẫn nhau một cách đầy đủ và sâu sắc. Về mặt thái độ là thể hiện sự
đồng cảm, tôn trọng lẫn nhau. Về mặt hành vi là thể hiện sự phối hợp thống
nhất, hiệp đồng chặt chẽ với nhau trong quá trình giao tiếp và hoạt động cùng
nhau.
Từ sự phân tích trên, tác giả cho rằng:
Tương hợp tâm lý là sự hòa hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân giữa con
người với con người, biểu hiện qua sự hiểu biết, đồng cảm, phối hợp thống
nhất với nhau trong hoạt động và giao tiếp, nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong
thực hiện mục đích, hoạt động chung.
19
Như vậy có thể nói, tương hợp tâm lý nảy sinh, hình thành, củng cố, phát
triển và được biểu hiện trong hoạt động và giao tiếp; là cơ sở, tiền đề, điều kiện
quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc chung, hoạt động
chung và giao tiếp giữa các cá nhân với nhau. Tương hợp tâm lý được biểu
hiện qua sự hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về nhau; sự đồng cảm, thông cảm, thậm
chí chấp nhận lẫn nhau và biểu hiện thông qua kết quả, chất lượng, hiệu quả sự
phối hợp hoạt động chung, hoạt động cùng nhau giữa người này với người
khác. Tương hợp tâm lý làm cho mỗi cá nhân trong tập thể làm việc một cách
tự giác, tích cực, chủ động và có trách nhiệm cao hơn, giảm bớt sự bất đồng,
mâu thuẫn, xung đột tâm lý, làm cho sự phối hợp hành động giữa các cá nhân
trở nên đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả hơn.
Tương hợp tâm lý chỉ có thể hình thành khi có cả sự hiểu biết, sự đồng
cảm và sự phối hợp giữa các cá nhân trong quá trình cùng hoạt động. Tương
hợp tâm lý là sự thấu hiểu, sự hòa hợp, thống nhất cao; thể hiện sự hài lòng,
nhất trí cao giữa các cá nhân, nhằm đạt hiệu quả cao nhất khi các cá nhân
cùng thực hiện một công việc chung hay một hoạt động chung. Tương hợp
tâm lý làm tăng khả năng khắc phục, vượt qua những trở ngại, khó khăn; làm
cho sự phối hợp hành động giữa các cá nhân trở nên chặt chẽ, đồng bộ, thống
nhất và hiệu quả hơn. Con người dễ thông cảm, bỏ qua những bất đồng chính
kiến, chấp nhận, dung hòa sự khác biệt cá nhân, cùng hướng tới vì mục đích
hoàn thành nhiệm vụ, công việc và hoạt động chung.
Mức độ tương hợp tâm lý càng cao, thì hiệu quả hoạt động cùng nhau
càng tốt. Trong hoạt động chung đó, tương hợp tâm lý được xem là chỉ số đo
tình đoàn kết; là tiền đề, điều kiện dẫn đến sự phối hợp chặt chẽ giữa các cá
nhân trong hoạt động; đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng một tập
thể đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, hình thành, phát triển bầu không
khí tâm lý tích cực trong tập thể, hướng hoạt động của các thành viên vào việc
thực hiện mục đích hoạt động chung. Kết quả cuối cùng là làm cho hoạt động
20
đó nhịp nhàng, ăn khớp, có sự thống nhất, nhất trí cao, nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động chung, hoạt động cùng nhau giữa các thành viên.
1.1.3. Tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở
các trung đoàn tên lửa phòng không
* Quan niệm về sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở các trung đoàn
tên lửa phòng không
- Sĩ quan: Tại Điều 1, Chương I, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam số: 72/2014/QH13, ngày
27/11/2014 đã nêu rõ: “Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (sau đây gọi
chung là sĩ quan) là cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực quân sự, được Nhà
nước phong quân hàm cấp Úy, cấp Tá, cấp Tướng. Quân phục, cấp hiệu, phù
hiệu, giấy chứng minh sĩ quan do Chính phủ quy định” [50, tr. 1].
Như vậy, ta thấy sĩ quan là lực lượng nòng cốt của quân đội
và là thành phần chủ yếu trong đội ngũ cán bộ quân đội, đảm
nhiệm các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý hoặc trực tiếp
thực hiện một số nhiệm vụ khác, bảo đảm cho quân đội sẵn
sàng chiến đấu và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Hoạt động của người sĩ quan ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361,
Quân chủng Phòng không - Không quân có một số đặc điểm đặc thù như:
Là một loại hoạt động đặc biệt, là hoạt động gắn liền với sức mạnh
chiến đấu của đơn vị, đảm bảo cho đơn vị luôn sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ
vững chắc vùng trời, không để Tổ quốc bị bất ngờ trước các đòn tiến công
đường không của kẻ thù. Chính vì vậy, nhiệm vụ đảm bảo cho con người và
vũ khí, khí tài tên lửa của đơn vị luôn sẵn sàng chiến đấu trở thành nhiệm vụ
chính trị trung tâm, trọng yếu, thường xuyên, có ý nghĩa quyết định đến hoàn
thành nhiệm vụ của đơn vị cũng như hoàn thành nhiệm vụ của mỗi sĩ quan
trong đơn vị. Hoạt động đó là một quá trình phức tạp bao gồm nhiều mặt: Tổ
21
chức thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, giáo
dục, xây dựng chính quy, quản lý, rèn luyện kỷ luật… Và động cơ, mục đích
hoạt động của người sĩ quan phải gắn liền với việc tổ chức thực hiện thắng lợi
mọi nhiệm vụ của đơn vị mà mình quản lý. Trong đó, động cơ, mục đích quan
trọng nhất, xuyên suốt nhất trong hoạt động của họ là phải đảm bảo cho đơn
vị thuộc quyền có đủ điều kiện để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ huấn luyện,
sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tình huống.
Con người và vũ khí, khí tài tên lửa của đơn vị luôn đảm bảo sẵn sàng chiến
đấu, thì người sĩ quan mới hoàn thành được nhiệm vụ, chức trách của mình.
Và ngược lại, nếu con người và vũ khí, khí tài của đơn vị không sẵn sàng
chiến đấu, thì người sĩ quan đó không hoàn thành nhiệm vụ.
Thực tiễn cho thấy, hiện nay số cán bộ sĩ quan là cấp úy chiếm đa số
trong các đơn vị cơ sở, nhất là ở các phân đội tên lửa phòng không làm nhiệm
vụ trực tiếp huấn luyện, trực ban sẵn sàng chiến đấu. Đây là lực lượng trẻ cả về
tuổi quân và tuổi đời. Nhiều sĩ quan trưởng thành, phát triển lên cán bộ tiểu
đoàn với quân hàm cấp úy. Trong khi đó, đa số quân nhân chuyên nghiệp ở các
phân đội và trung đoàn tên lửa phòng không là các đồng chí có tuổi quân, tuổi
đời khá cao. Vì vậy, để hoàn thành nhiệm vụ đó, đòi hỏi đội ngũ sĩ quan phải
có phẩm chất trí tuệ tốt, trình độ nhận thức cao, trình độ chuyên môn nghiệp vụ
tốt, nắm vững tính năng kỹ, chiến thuật, sử dụng thành thạo vũ khí, khí tài,
trang bị kỹ thuật của đơn vị; nắm vững và thành thạo các hoạt động huấn
luyện, giáo dục, quản lý bộ đội; biết tác động hợp lý để hình thành, phát triển,
hoàn thiện nhân cách cho quân nhân thuộc quyền; biết quản lý, duy trì kỷ luật,
xây dựng nền nếp chính quy. Đồng thời, người sĩ quan phải nêu cao tinh thần
trách nhiệm, gương mẫu, khả năng chỉ huy quyết đoán, chủ động, sáng tạo,
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, thực hiện lời nói đi đôi với việc
làm; phải tích cực rèn luyện về phong cách, tác phong, lối sống, chuẩn mực đạo
đức, sâu sát, cụ thể, tỷ mỷ, đúng mực, luôn đoàn kết, gần gũi, hòa đồng trên cơ
22
sở tôn trọng cá tính cá nhân, nhân cách của từng quân nhân thuộc quyền; phải
hiểu rõ từng quân nhân trong đơn vị. Quá trình tổ chức phân công nhiệm vụ
phải phù hợp với khả năng, trình độ, sở trưởng, sở đoản của mỗi quân nhân.
Mặt khác, phải có phương pháp thích hợp để phát huy vai trò tự giác,
tích cực, kích thích sự nỗ lực, cố gắng của quân nhân thuộc quyền hướng vào
thực hiện tốt nhất các mệnh lệnh, chỉ thị, yêu cầu, kế hoạch, nền nếp, chế độ,
quy định của đơn vị. Và đặc biệt, đội ngũ sĩ quan phải luôn quan tâm, sâu sát,
động viên, phối hợp nhịp nhàng, nâng cao mức độ tương hợp tâm lý trong quá
trình hoạt động cùng nhau với các quân nhân thuộc quyền, nhất là đội ngũ
quân nhân chuyên nghiệp trong đảm bảo con người, vũ khí, khí tài cho nhiệm
vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tình huống.
- Quân nhân chuyên nghiệp: Tại Điều 2, Chương I, Luật quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng số: 98/2015/QH13, được
Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ
10 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2016, đã nêu rõ: “Quân nhân chuyên nghiệp là công dân Việt
Nam có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ phục vụ trong Quân đội
nhân dân, được tuyển chọn, tuyển dụng theo chức danh và được phong quân
hàm quân nhân chuyên nghiệp” [49, tr. 1].
Như vậy, quân nhân chuyên nghiệp là những quân nhân tình nguyện
phục vụ lâu dài trong quân đội theo ngành nghề được đào tạo trước hoặc trong
thời gian phục vụ. Đây là những quân nhân có trình độ chuyên môn, kỹ thuật
cần thiết, là lực lượng nòng cốt của đội ngũ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ,
bảo đảm cho công tác lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng
chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng quân đội và các nhiệm vụ
khác của quân đội.
Ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không - Không
quân, hoạt động của các quân nhân chuyên nghiệp có một số đặc điểm nổi bật là:
23
Do đặc điểm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ở
các trung đoàn tên lửa phòng không hiện nay là hoạt động căng thẳng, phức
tạp và nguy hiểm, ngày càng đặt ra yêu cầu cao về thời gian và cường độ; với
chức trách, nhiệm vụ của mình là những người bảo đảm công tác kỹ thuật cho
vũ khí, khí tài tên lửa, đòi hỏi các quân nhân chuyên nghiệp phải luôn cẩn
thận, tỷ mỷ, thận trọng, an toàn, độ chính xác cao, chấp hành nghiêm kỷ luật
chiến đấu, quy định, mệnh lệnh của người chỉ huy, của sĩ quan trong đơn vị.
Xác định rõ chức trách, nhiệm vụ của mình trên cơ sở tôn trọng mệnh lệnh,
chỉ thị, yêu cầu của người sĩ quan. Tham mưu, đề xuất về công tác đảm bảo
kỹ thuật với đội ngũ sĩ quan và chịu trách nhiệm chính về sự sẵn sàng chiến
đấu của bộ phận kỹ thuật mà mình phụ trách.
Thực tiễn hiện nay ở các trung đoàn tên lửa phòng không, đội ngũ quân
nhân chuyên nghiệp phần đông có tuổi quân, tuổi đời cao hơn đội ngũ sĩ quan
trong đơn vị. Đây là những người có trình độ, kinh nghiệm, vốn sống và thực
tiễn hoạt động nghề nghiệp quân sự phong phú, đã nhiều năm gắn bó với đơn
vị và vũ khí, khí tài tên lửa phòng không. Song, với chức trách, nhiệm vụ được
giao, trong công việc, các quân nhân chuyên nghiệp thuộc quyền phải phục
tùng nghiêm ngặt mọi mệnh lệnh, chỉ thị của người sĩ quan; chấp hành nghiêm
kỷ luật, quy định, trực tiếp thực hiện và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
trên cơ sở tôn trọng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định của người sĩ quan. Các quân
nhân chuyên nghiệp phải đề cao ý thức, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ
theo chức trách được phân công, tích cực tự học tập, nghiên cứu, trau dồi trình
độ nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật của mình, làm chủ vũ khí, khí tài, trang bị
được phân công. Làm tốt công tác tham mưu, đề xuất; mạnh dạn, thẳng thắn
đóng góp ý kiến với sĩ quan về mọi mặt công tác, nhất là công tác đảm bảo kỹ
thuật của đơn vị, của bộ phận mình phụ trách. Có tinh thần cầu thị, ham học
hỏi, cầu tiến bộ; kiên trì, nhẫn nại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo
tốt công tác kỹ thuật cho huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của đơn vị.
24
Trong cuộc sống đời thường, ngoài giờ hành chính, là mối quan hệ anh
em, bạn bè, đồng chí, đồng đội, yêu cầu và đòi hỏi người quân nhân chuyên
nghiệp phải giải quyết tốt các mối quan hệ, nêu cầu tinh thần đoàn kết, gần
gũi, gương mẫu trong lời nói và việc làm, làm tốt công tác tham mưu, đề xuất,
tương trợ, giúp đỡ sĩ quan trong thực hiện mọi nhiệm vụ trên cơ sở tôn trọng
nhân cách, cá tính người sĩ quan.
* Khái niệm tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp
ở các trung đoàn tên lửa phòng không
Từ sự phân tích ở trên về tương hợp, tương hợp tâm lý nói chung, được
biểu hiện cụ thể trên ba mặt: Nhận thức, thái độ và hành vi; từ quan niệm và
phân tích đặc điểm hoạt động đặc thù của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp ở
các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không - Không quân
hiện nay, tác giả cho rằng:
Tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở các
trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không - Không quân là
sự hòa hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân giữa sĩ quan và quân nhân chuyên
nghiệp, biểu hiện qua sự hiểu biết, đồng cảm, phối hợp thống nhất với nhau
trong hoạt động và giao tiếp quân sự, nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong thực
hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc vùng trời
của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp là quá trình
cả hai cùng điều hòa được mối quan hệ trên cơ sở của sự hiểu biết (Nhận thức)
sâu sắc về mọi mặt, nhất là sự hiểu biết, hiểu thấu về đặc điểm thể chất, tâm lý,
tính cách, khí chất, năng lực, sở trường, sở đoản của nhau; thể hiện sự tôn
trọng, chia sẻ, đồng cảm (Thái độ), giúp đỡ lẫn nhau; trên cơ sở đó mà tác
động ảnh hưởng tích cực, sâu sắc đến thế giới tinh thần, đến tâm tư, tình cảm
của nhau; thể hiện sự hợp tác, phối hợp với nhau (Hành vi) trong hoạt động
huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu cùng nhau.
25
Tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở các trung
đoàn tên lửa phòng không lấy sự hiểu biết, sự đồng cảm, sự phối hợp giữa họ
với nhau dựa trên Điều lệnh, Điều lệ, kỷ luật Quân đội, quy định của đơn vị,
mệnh lệnh, chỉ thị của người chỉ huy, chức trách, nhiệm vụ của sĩ quan và quân
nhân chuyên nghiệp làm cơ sở. Vì thế, tương hợp tâm lý giữa họ không giống
như tương hợp giữa các thành viên trong một gia đình với bản chất là dựa trên
sự xúc cảm, tình cảm làm cơ sở chính. Tương hợp tâm lý sẽ tạo điều kiện thuận
lợi để quan hệ giữa họ trở nên gắn bó hơn, có sự phối hợp với nhau tối ưu
trong mọi sinh hoạt, hoạt động, nhất là hoạt động huấn luyện và sẵn sàng chiến
đấu. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng tập thể đoàn kết, thương yêu,
giúp đỡ lẫn nhau, hướng hoạt động của các sĩ quan và quân nhân chuyên
nghiệp vào việc thực hiện mục đích, hoạt động chung của tập thể đơn vị.
Trong hoạt động huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu cùng nhau giữa sĩ
quan và quân nhân chuyên nghiệp, tương hợp tâm lý được xem như một cơ
sở, điều kiện cần thiết để góp phần xây dựng bầu không khí tâm lý tích cực,
lành mạnh ở các đơn vị cơ sở bộ đội tên lửa phòng không. Hiệu quả hoạt động
huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu sẽ cao hơn nếu hai chủ thể sĩ quan và quân
nhân chuyên nghiệp đạt được sự tương hợp tâm lý với nhau. Thực tế cho thấy,
trong hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, người sĩ quan và quân nhân
chuyên nghiệp ngoài sự vững chắc về chuyên môn, sự tận tụy, trách nhiệm
với chức trách, nhiệm vụ, nghề nghiệp quân sự của mình; nếu tạo được sự
tương hợp tâm lý với nhau thì mọi hoạt động huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu
nói riêng, các hoạt động cùng nhau giữa họ nói chung sẽ luôn nhịp nhàng,
thống nhất và đạt đến hiệu quả, chất lượng hoạt động cao nhất có thể.
Tương hợp tâm lý còn góp phần tạo nên tinh thần, ý thức tự giác, tích
cực, sự chủ động, hăng say trong công tác chuyên môn và trong mọi hoạt
động chung của sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp. Mọi người đều có sự nỗ
lực, quyết tâm cao, khắc phục mọi khó khăn, trở ngại, phát huy sáng kiến,
26
kinh nghiệm, nỗ lực phấn đấu hết mình để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm
vụ được giao, cùng hướng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trung
tâm của đơn vị; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động huấn
luyện, sẵn sàng chiến đấu cùng nhau giữa họ. Và ngược lại, nếu giữa họ
không có sự tương hợp tâm lý với nhau sẽ là trở ngại, sự cản trở rất lớn đến
chất lượng, hiệu quả các hoạt động chung giữa họ; thậm chí có thể dẫn đến
những bất đồng, xung đột tâm lý với nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến hoàn
thành nhiệm vụ chính trị trung tâm của đơn vị.
* Đặc điểm của tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên
nghiệp ở các trung đoàn tên lửa phòng không
Là sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp trong Quân đội nhân dân Việt
Nam, do vậy sự tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp ở
các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không - Không quân
cũng mang đầy đủ các đặc điểm của sự tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân
nhân chuyên nghiệp nói chung; song bên cạnh đó, còn mang những đặc điểm
tương hợp tâm lý riêng do tính chất đặc thù trong hoạt động của bộ đội tên lửa
phòng không, cụ thể như sau:
Một là: Tính thống nhất về mục tiêu, lý tưởng, yêu cầu, nhiệm vụ huấn
luyện, sẵn sàng chiến đấu giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp
Tính thống nhất trong tương hợp tâm lý giữa sĩ quan và quân nhân
chuyên nghiệp ở các trung đoàn tên lửa, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng
không - Không quân lấy mục tiêu, lý tưởng, yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trung
tâm là hoạt động huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu làm nền tảng, xuất phát
điểm. Đây là sự thống nhất về các đặc trưng tâm lý nhân cách, các giá trị xã
hội như: Chính trị, tư tưởng, đạo đức, nhu cầu, động cơ, mục đích, tính cách,
lợi ích… dẫn đến sự phối hợp trong hành động huấn luyện, sẵn sàng chiến
đấu giữa sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp với nhau trở nên chặt chẽ; sự
phối hợp này phụ thuộc rất lớn vào tính thống nhất về chính trị - tư tưởng, đạo
27