®¹i häc quèc gia hµ néi
TRêng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
− − − − − − − − − − − −
PHẠM THỊ PHƯƠNG
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hµ Néi - 2014
®¹i häc quèc gia hµ néi
TRêng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
− − − − − − − − − − − −
PHẠM THỊ PHƯƠNG
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 60.22.56
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN TRỌNG THƠ
Hµ Néi - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Trần Trọng Thơ.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong
bất kì công trình nào, các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác,
đảm bảo tính khách quan, khoa học và dựa vào nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà nội, ngày 12 tháng 12 năm 2013
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phương
MỤC LỤC
1
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH:
Ban chấp hành
BTTN:
Bảo tồn thiên nhiên
BVHTT & DL:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
CNH:
Công nghiệp hóa
HĐH:
Hiện đại hóa
KHXH & NV:
Khoa học xã hội và nhân văn
Nxb:
Nhà xuất bản
TNDL:
Tài nguyên du lịch
THCN:
Trung học chuyên nghiệp
UN - WTO:
Tổ chức Du lịch Thế giới
(World Tourist Organization)
UBND:
Uỷ ban nhân dân
2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày này, du lịch được xem là một trong những
ngành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc
gia vì những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội, trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn và chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia.
Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) năm 2000, Mỹ là
nước dẫn đầu với doanh thu du lịch quốc tế là 85,2 tỷ USD; ba điểm đến
quan trọng vùng Địa Trung Hải là Tây Ban Nha, Pháp, Italia, mỗi nước đạt
khoảng 30 tỷ; Anh đạt 30 tỷ và Đức, Trung Quốc, Áo, Canada mỗi nước
đạt trên 10 tỷ USD.
Đối với Việt Nam, ngành du lịch được coi là “ngòi nổ để phát triển
kinh tế”, mang lại nguồn thu nhập GDP cho nền kinh tế, giải quyết công ăn
việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh đất nước ra
toàn thế giới. Ngay khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
(1986), Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách đổi mới, mở
cửa và hội nhập tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế đối
ngoại nói chung và kinh tế du lịch nói riêng. Trong nội dung các văn kiện
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X và các văn kiện của Trung ương
Đảng qua các nhiệm kì Đại hội đều thể hiện quan điểm, chủ trương, chiến
lược phát triển du lịch Việt Nam và xác định du lịch là ngành kinh tế tổng
hợp quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội, đưa du lịch thực sự là ngành
kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Thanh Hóa từ lâu đã được biết đến và nổi tiếng là vùng địa linh
nhân kiệt, sinh ra “ba dòng vua, hai dòng chúa”; là vùng hậu phương vững
chắc của Tổ quốc trong những năm kháng chiến ác liệt. Với bề dày lịch sử
lâu đời, Thanh Hóa đang gìn giữ một kho tàng quý giá các nguồn tài
4
nguyên nhân văn nổi trội, đặc sắc của đất nước, như di sản văn hóa thế giới
Thành nhà Hồ, Khu di tích văn hóa, lịch sử Lam Kinh... Cùng với những
giá trị lịch sử, nhân văn, Thanh Hóa còn là vùng đất có nguồn tài nguyên
du lịch tự nhiên, sinh thái phong phú, đa dạng, bao gồm cả rừng, núi và
biển, với những địa chỉ nổi tiếng như Sầm Sơn, vườn quốc gia Bến En...
Những nguồn tài nguyên này tạo điều kiện thuận lợi cho Thanh Hóa phát
triển “một nền kinh tế tổng hợp đa ngành, trong đó du lịch được coi là một
trong những ngành có vai trò đặc biệt quan trọng”. Chính vì vậy, Đảng bộ
tỉnh Thanh Hóa đã sớm có nhiều chủ trương phát triển kinh tế du lịch, đặc
biệt trong thời gian 2001 - 2010 góp phần vào sự phát triển kinh tế địa
phương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Phát triển kinh tế du lịch trở thành nhiệm vụ lớn, được các cấp ủy
Đảng trong tỉnh hết sức quan tâm. Tìm hiểu quá trình lãnh đạo phát triển
kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong những năm 2001 - 2010
sẽ giúp đánh giá đúng thực trạng phát triển, thành tựu, hạn chế và những
nguyên nhân, từ đó rút ra những kinh nghiệm góp phần đưa du lịch Thanh
Hóa phát triển đi lên, xứng đáng là ngành kinh tế quan trọng của địa
phương. Với những ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010” làm luận
văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Du lịch đã và đang mang lại nhiều lợi ích to lớn về kinh tế, văn hóa
- xã hội, nên phát triển du lịch Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học trong
và ngoài nước nghiên cứu dưới các khía cạnh, cấp độ khác nhau.
Về các công trình đã xuất bản, có thể kể đến một số ấn phẩm sau
đây: Cuốn sách Du lịch và kinh doanh du lịch của Trần Nhạn, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội, năm 1996. Tác phẩm trình bày khái niệm về du lịch;
5
nguồn lực để phát triển và các thể loại du lịch; kinh doanh du lịch và chân
dung một số chủ doanh nghiệp du lịch. Tác phẩm Tài nguyên và môi
trường du lịch Việt Nam do Phạm Trung Lương (chủ biên), Nxb Giáo dục,
Hà Nội, năm 2001. Cuốn sách trình bày một số kiến thức về tài nguyên và
môi trường du lịch; tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi
trường; ứng dụng cộng nghệ hệ thông tin địa lý trong quản lý tài nguyên và
môi trường du lịch; phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài
nguyên và môi trường. Cuốn sách Du lịch và du lịch sinh thái của Thế Đạt,
Nxb Lao Động, Hà Nội, năm 2003, nêu một số vấn đề về du lịch và du lịch
sinh thái. Cuốn Một số vấn đề về du lịch Việt Nam của Đinh Trung Kiên,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004. Tác phẩm tìm hiểu những chặng
đường du lịch; nguồn tài nguyên du lịch vật thể ở Hà Nam Ninh và việc
khai thác cho hoạt động du lịch; đào tạo du lịch cho dân tộc Việt Nam.
Cuốn Tuyến điểm du lịch Việt Nam của Bùi Hải Yến, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, năm 2009. Tác phẩm khái quát về điều kiện tự nhiên, tài nguyên du
lịch và kết cấu hạ tầng Việt Nam cùng một số tuyến, điểm du lịch các vùng
Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Ngoài ra còn có các tác
phẩm, như Du lịch ba miền của tác giả Bửu Ngôn Nxb Thanh Niên, Hà
Nội, năm 2009. Địa danh du lịch Việt Nam của Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu
Hiền, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, năm 2009.
Về những bài viết đề cập đến phát triển kinh tế du lịch đăng tải trên
các báo và tạp chí, có thể kể đến: Sự phát triển du lịch dưới đường lối đổi
mới của Đảng cộng sản Việt Nam” của tác giả Trần Đức Thanh, Tạp chí Du
lịch Việt Nam, số 2- 2005, tr.20-21. Bài viết nêu lên đường lối phát triển du
lịch của Đảng trong thời kỳ đổi mới và những thành tựu du lịch Việt Nam
đạt được dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ. Du lịch Việt Nam trước
cơ hội mới của Thúy Mơ, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số
6
02- 2007, tr.15-16. Bài viết khái quát những thành tựu của du lịch Việt Nam
năm 2006 và những mục tiêu, khó khăn, thách thức của ngành năm 2007.
Để du lịch Việt Nam không mãi là tiềm ẩn (2008) của Phạm Hạnh, Tạp chí
Tài chính doanh nghiệp, số 3- 2008, tr.36-37. Bài viết nêu lên những đóng
góp của ngành du lịch Việt Nam trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Ngành
du lịch Việt Nam so với các quốc gia Đông Nam Á. Bước tiến của ngành
khi Việt Nam gia nhập thị trường du lịch quốc tế và Việt Nam là thành viên
của WTO; một số yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp du lịch. Du lịch
Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Hoàng Tuấn Anh,
Tạp chí Quản lý nhà nước, số 144- 2008, tr.22-26. Bài viết trình bày những
bước tăng trưởng của ngành du lịch Việt Nam cả về quy mô và chất lượng
trong hơn 1 thập kỷ qua và những nhiệm vụ trọng tâm của ngành thời gian
tới: nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch và tính chuyên nghiệp của công
tác xúc tiến du lịch; nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên; mở
rộng hợp tác quốc tế.
Về các Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế liên quan đến
du lịch, có thể kể đến: Kỷ yếu hội thảo khoa học “70 năm thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam (3-2-1930-3-2-2000)”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội,
2000. Trong đó đăng các bài viết đề cập đến đường lối phát triển kinh tế du
lịch của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tối ưu
hóa các dịch vụ du lịch: Triển vọng tương lai cho Việt Nam”, tổ chức bởi
Chương trình Hỗ trợ Phát triển vùng tại Việt Nam (DIREG), tháng 6-2005
tại Hà Nội, bao gồm các bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển du
lịch và dịch vụ du lịch ở Việt Nam thời gian trước năm 2005 cũng như
những giải pháp tối ưu hóa các dịch vụ du lịch trong tương lai. Kỷ yếu hội
thảo khoa học “Nghiên cứu và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình
hội nhập quốc tế” do Trường Đại học KHXH & NV tổ chức ngày 8-5-
7
2007; bao gồm các báo cáo tham luận với 2 mảng nội dung chính là nghiên
cứu du lịch và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập. Kỷ yếu
hội thảo “Nhu cầu xã hội về đào tạo nhân lực du lịch và sự cần thiết mở
mã ngành du lịch” Trường Đại học KHXH & NV tổ chức ngày 28-122009...
Ngoài ra còn có nhiều luận văn, luận án đã nghiên cứu về phát triển
kinh tế du lịch Việt Nam cũng như chủ trương của Đảng đối với vấn đề này
như: Luận án tiến sĩ kinh tế “Những điều kiện và giải pháp chủ trương để
phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn” của tác giả Vũ
Đình Thụy, bảo vệ năm 1996, tại Đại học Kinh tế quốc dân. Đề tài nêu lên
cơ sở lý luận và thực tiễn đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
trong nền kinh tế quốc dân; tiềm năng và thực trạng của ngành du lịch Việt
Nam; định hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch Việt Nam
thành ngành kinh tế mũi nhọn. Luận án tiến sĩ kinh tế: “Hoàn thiện quản lý
nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch Việt Nam” của Hoàng Văn
Hoan, bảo vệ năm 2002, tại Đại học Kinh tế quốc dân. Luận án trình bày cơ
sở lý luận của nội dung quản lý nhà nước đối với kinh doanh du lịch. Thực
trạng quản lý nhà nước đối với lao động trong kinh doanh du lịch Việt Nam
và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lao động
trong ngành này. Luận án tiến sĩ kinh tế: “Các giải pháp tài chính nhằm
phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010” của Chu Văn Yêm, bảo vệ năm
2004, tại Học viện Tài chính. Đề tài nghiên cứu thực trạng du lịch Việt
Nam, thực trạng sử dụng các giải pháp tài chính đối với hoạt động du lịch
nhằm chỉ ra những tác động tích cực và những hạn chế của chúng, qua đó
đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các giải pháp tài chính nhằm
đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam đến 2010. Luận văn thạc sỹ lịch sử:
“ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch thời kỳ đổi
mới (1986 - 2001)” của Nguyễn Văn Tài, bảo vệ năm 2007 tại Trung tâm
8
đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị. Luận văn đã khái quát tình
hình kinh tế du lịch qua các giai đoạn khác nhau của thời kỳ đổi mới, thời
kỳ đầu (1986 - 1996) và giai đoạn phát triển quan trọng của du lịch (1996 2001); đề cập các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng trong lãnh
đạo và phát triển kinh tế du lịch thời kỳ này; phân tích đánh giá các kết quả
đạt được và những thành tựu bước đầu của kinh tế du lịch, rút ra những bài
học kinh nghiệm về lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong 15 năm đổi
mới của Đảng; nêu lên một số giải pháp cơ bản đối với sự phát triển của
ngành...
Đối với vấn đề phát triển du lịch Thanh Hóa, đến nay, đã có một số
công trình nghiên cứu đề cập như: sách Du lịch Bắc Miền Trung - Nxb
Thuận Hóa - Nghệ An - Thanh Hóa. Cuốn sách giới thiệu các điểm du lịch
và cụm du lịch nổi tiếng ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng
Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An đến Thanh Hóa thuộc khu vực Bắc Trung Bộ.
Phần địa danh tỉnh Thanh Hóa do tác giả Trần Quốc Chấn biên soạn, giới
thiệu những địa danh du lịch nổi tiếng của tỉnh Thanh Hóa như núi Đọ,
động Từ Thức và cụm thắng cảnh ở Nga Sơn, đền Bà Triệu, khu du lịch và
thắng cảnh Hàm Rồng, biển Sầm Sơn, bia mộ các vua Lê ở Lam Kinh,
Vườn quốc gia Bến En, động Kim Sơn, Thành nhà Hồ, động Hồ Công, suối
cá Cẩm Lương. Sách Địa chí Thanh Hóa (2010) gồm tập I, tập II, tập III,
Nxb Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2010. Cuốn Việt Nam 63 tỉnh thành
và các địa danh du lịch của Thanh Bình - Hồng Yến, Nxb Lao động, năm
2009, giới thiệu về các lĩnh vực vị trí địa lí, diện tích và dân số, danh thắng
du lịch và các sản vật của 63 tỉnh thành trong cả nước trong đó có tỉnh
Thanh Hóa.
Những công trình nghiên cứu trên đây cung cấp nhiều thông tin,
những nhận xét, đánh giá về tiềm năng và tình hình phát triển kinh tế du
lịch Thanh Hóa, song, chưa có công trình nào xem xét nội dung Đảng bộ
9
tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm
2010 như một đề tài nghiên cứu độc lập, dưới góc độ nghiên cứu chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, ngoài việc chứa đựng
thông tin bổ ích về du lịch, các công trình trên cũng gợi mở nhiều vấn đề
thuộc về nội dung, về phương pháp tiếp cận để tác giả sử dụng thực hiện
luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ một cách toàn diện và khách
quan quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đối với phát triển
kinh tế du lịch từ năm 2001 đến 2010, đúc kết một số kinh nghiệm về sự
lãnh đạo của Đảng bộ trong việc đưa du lịch thành ngành kinh tế quan
trọng, góp phần cung cấp những cơ sở khoa học cho việc định hướng phát
triển du lịch của tỉnh trong thời gian tới.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu “Qúa trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển
kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010” đề tài hướng đến giải quyết
những nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ những tiềm năng để phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Thanh Hóa.
- Xuất phát từ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà Nước,
luận văn tập trung đi sâu vào phân tích phương hướng, biện pháp của Đảng
bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển du lịch từ năm 2001 đến năm 2010.
- Tái hiện và luận giải quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo
phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010.
- Nhận định khoa học về những thành tựu và những hạn chế trong
quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa.
- Đúc kết những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa về phát triển kinh tế du lịch của tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010.
10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng
- Đề tài tập trung nghiên cứu những chủ trương, chính sách, chỉ thị
của Trung ương Đảng; phương hướng, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Thanh
Hóa về lãnh đạo kinh tế du lịch.
- Qúa trình thực hiện chỉ đạo của các cấp, các ngành về phát triển
kinh tế du lịch ở Thanh Hóa từ năm 2001 đến năm 2010.
- Kết quả đạt được trong lĩnh vực du lịch dưới sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa từ năm 2001 đến năm 2010.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Du lịch là một lĩnh vực rộng, có thể được
nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, trong luận văn này chỉ nghiên cứu về lĩnh vực
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch tại địa bàn tỉnh
Thanh Hóa.
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010
- Phạm vi về không gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hóa
5. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của
luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những chủ trương, đường lối về
phát triển kinh tế du lịch của Đảng cộng sản Việt Nam.
- Nguồn tài liệu: Thực hiện luận văn, tác giả chủ yếu dựa vào các
nguồn tài liệu sau:
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam
lần thứ IX, X.
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa.
- Các Nghị quyết, chỉ thị, báo cáo hàng năm của Tỉnh ủy, UBND
tỉnh Thanh Hóa.
11
- Các báo cáo hàng năm của Sở VHTT & DL Thanh Hóa và một số
bài nghiên cứu, bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về du
lịch và kinh tế du lịch Thanh Hóa trên sách báo và tạp chí.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic, kết hợp phương pháp điều tra,
phân tích, so sánh, đối chứng tài liệu, xử lí số liệu, tiếp cận lý thuyết du
lịch và tiếp cận thực tiễn của Thanh Hóa để làm sáng tỏ vấn đề cần
nghiên cứu.
6. Những đóng góp khoa học của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa nguồn sử liệu thuộc lĩnh vực Đảng lãnh
đạo phát triển kinh tế du lịch tại một địa phương cụ thể là Thanh Hóa.
- Luận văn phân tích sâu những nguồn lực phát triển du lịch tỉnh
Thanh Hóa, những phương hướng, biện pháp mang tính chủ động, sáng tạo
của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển du lịch, những kết quả mà du
lịch Thanh Hóa đạt được trong 10 năm.
- Luận văn phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của
những thành công và hạn chế trong lĩnh vực du lịch ở Thanh Hóa; đồng
thời, rút ra những kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn cung cấp những luận cứ khoa học có thể tham khảo, sử
dụng vào việc hoạch định phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo giảng dạy trong
Trường chính trị, các trường trung cấp dạy nghề, cao đẳng, đại học của tỉnh
về văn hóa, du lịch; trong biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa thời
kỳ đổi mới và là tài liệu giúp ích cho các doanh nghiệp kinh doanh trong
lĩnh vực du lịch xác định phương hướng phát triển.
12
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương.
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế
du lịch trong những năm 2001 - 2005.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đẩy mạnh phát triển kinh
tế du lịch trong những năm 2006 - 2010.
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
13
Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2005
1.1. Nguồn lực phát triển kinh tế du lịch Thanh Hóa và tình
hình phát triển kinh tế du lịch Thanh Hóa trước năm 2001
1.1.1. Những nguồn lực phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Thanh
Hóa
1.1.1.1. Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên
Thanh Hóa nằm ở vị trí cầu nối giữa miền Bắc và miền Trung, ở
phía Nam vùng Du lịch Bắc Bộ; phía Bắc giáp với các tỉnh Hòa Bình, Sơn
La và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa
Phăn của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và phía Đông giáp biển Đông
với đường bờ biển dài 102 km; là một trong 6 tỉnh rộng hàng đầu cả nước
với diện tích 11.168km2. Thành phố tỉnh lỵ Thanh Hóa cách Thủ đô Hà
Nội trên 150Km về phía Bắc.
Thành Hóa có địa hình khá phong phú: miền núi và trung du, miền
đồng bằng, miền biển, chứa đựng những tiềm năng về phát triển kinh tế du lịch.
Bờ biển Thanh Hóa tương đối bằng phẳng, thuận lợi phát triển kinh
tế nói chung và du lịch nói riêng của tỉnh với những vũng Gầm, vũng Thủy,
vũng Biện; các cửa lạch như Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Hới, Lạch
Bạng và Lạch Ghép; các điểm nghỉ mát nổi tiếng như Sầm Sơn, Hải tiến
(Hoằng Hóa), Hải Hòa (Tĩnh Gia). Ngoài khơi vùng biển Thanh Hóa có
một số đảo nhỏ như Hòn Mê, Hòn Nẹ, đảo Nghi Sơn là những điểm đến du
lịch hấp dẫn.
14
Ngoài ra, vùng ven biển có nhiều bãi sú, vẹt, các bãi bồi rộng lớn
thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản, tạo nguồn thức ăn đặc sản cho
cư dân và du khách; thuận lợi cho việc trồng cói phát triển các làng nghề
truyền thống, đồng thời cho phát triển du lịch.
Với lãnh hải rộng 1,7 vạn km2, có nhiều bãi cá lớn có giá trị dinh
dưỡng cao như cá Hồng, cá Mối, cá Phèn..., rất nhiều đàn tôm thuộc hệ tôm
He ở Việt Nam và trữ lượng lớn về Mực, Sứa, Cua, Ghẹ, đặc biệt là ốc
Hương hiện đang ưa chuộng trên thị trường trong nước và quốc tế, Thanh
Hóa ngày càng trở thành nơi hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế.
Tài nguyên rừng ở Thanh Hóa chủ yếu là rừng nhiệt đới lá rộng
thường xanh quanh năm, có hệ thống thực vật phong phú về loài và họ như
Lát hoa, Giổi, Táu... Trong rừng có nhiều song, mây, tre, nứa... và các dược
liệu như quế, cánh kiến đỏ. Bên cạnh đó, hệ thống rừng trồng khá phát triển
với các loại cây luồng, bạch đàn, phi lao, thông nhựa và nhiều loại cây ăn
quả khác. Động vật rừng hiện còn xuất hiện các loại voi, bò, nai, hoẵng,
vượn, khỉ, lợn rừng... các loại bò sát như trăn, rắn, kỳ đà,...các loại chim và
ong rừng.
Khu BTTN Pù Luông thuộc huyện Bá Thước với các vùng rừng tự
nhiên quý, hiếm, có hệ sinh thái điển hình với tính năng đa dạng sinh học
cao, tồn tại những loại sinh vật đặc hữu có giá trị lớn cho khoa học, tham
quan và nghiên cứu. Cùng với Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Khu Thác
Muốn thuộc xã Điền Quang hàng năm có hằng trăm lượt khách trong và
ngoài tỉnh đến thăm và nghỉ dưỡng.
Vườn quốc gia Bến En (huyện Như Thanh) được xếp vào một
trong mười vườn quốc gia bảo tồn thiên nhiên quý hiếm của Việt Nam.
Thanh Hóa có vùng núi đá vôi với nhiều danh thắng hang động gắn
với các truyền thuyết, di tích lịch sử văn hóa hấp dẫn du khách như động
Từ Thức (Nga Sơn), động Long Quang trên núi Hàm Rồng (thành phố
15
Thanh Hóa), động Hồ Công ở Vĩnh Lộc, quần thể hang động ở Tĩnh Gia,
động Tiên Sơn (Vĩnh Lộc) - một hang động có quy mô lớn và đẹp, động
Bàn Bù hay còn gọi là Hang Ngán (Ngọc Lặc). Ngoài ra một số hang, động
khác như hang Con Moong (Thạch Thành), động Cây Đăng (Cẩm Thủy),
Lò Cao kháng chiến ở khu vực Bến En, hang Phi (động Ma) thuộc huyện
Quan Hóa..., là những điểm du lịch ngày càng hấp dẫn.
Thanh Hóa còn có một số nguồn nước khoáng xã Xuân Cẩm
(Thường Xuân), Thạch Thành, Quan Hóa, Bá Thước, Quảng Yên (Quảng
Xương) đây là nguồn tài nguyên hấp dẫn khách du lịch đến nghỉ ngơi, chữa
bệnh.
Có thể thấy, cảnh quan Thanh Hóa có những lợi thế để phát triển
đầy đủ các loại hình du lịch: tắm biển, thể thao nước, leo núi mạo hiểm,
đặc biệt là du lịch thăm quan, nghỉ dưỡng ở miền biển, miền núi, góp
phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế du lịch nói riêng và kinh tế toàn
tỉnh nói chung.
1.1.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Thanh Hóa vốn là một miền đất cổ của Việt Nam, có nền văn hóa
lâu đời, phát triển rực rỡ qua nhiều thời đại cho đến ngày nay, nhiều vị anh
hùng dân tộc, danh nhân văn hóa nổi tiếng. Trên địa bàn hiện có hàng nghìn
di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có những di tích có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng như Di tích Thành nhà Hồ, được xây dựng năm 1397 dưới triều Hồ
Qúy Ly, nay thuộc địa phận xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc;
Khu Di tích Lam Kinh thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, là nơi có đền
thờ, mộ chí Lê Lợi và điện Lam Kinh được xây dựng từ năm 1433; Di tích
Đông Sơn thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa, là nơi phát hiện
nhiều hiện vật quan trọng thuộc thời đại đồng thau và khu mộ cách đây
khoảng 3.000 năm, dấu tích về nền văn hóa đầu tiên ở Việt Nam, địa danh
Đông Sơn đã được đặt tên cho nền văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam
16
thời kỳ dựng nước... Theo số liệu thống kê đến tháng 9 năm 2008, Thanh
Hóa có 1.535 di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh được phân bố đều trên
phạm vi toàn tỉnh. Trong đó có 135 di tích được xếp hạng cấp quốc gia,
chiếm 5,25% tổng số di tích xếp hạng quốc gia của cả nước (hiện cả nước có
2.569 di tích được xếp hạng quốc gia) và 412 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Phần
lớn các di tích này tập trung ở vùng đồng bằng và trung du. So với một số
tỉnh lân cận, Thanh Hóa nổi lên như một quần thể di tích lịch sử - văn hóa
không những có giá trị đặc trưng mà còn khá đa dạng về thể loại. Các di tích
lịch sử - văn hóa là một nguồn tài nguyên du lịch quan trọng giữ vai trò thu
hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế.
Thanh Hóa còn là vùng đất của các lễ hội truyền thống, nhiều lễ hội
có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử, văn hóa, có tác dụng tích cực trong việc giáo
dục truyền thống yêu nước và khôi phục phát triển những nét đẹp trong
sinh hoạt văn hóa cổ truyền. Hằng năm, ở khắp các địa phương trên toàn
tỉnh đều tổ chức long trọng các lễ hội đặc trưng của từng địa phương để đáp
ứng một phần đời sống tinh thần, tâm linh của người dân, đồng thời còn để
phục vụ mục đích phát triển du lịch.
Lễ hội Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng, mang nhiều màu sắc
đặc trưng của từng tập tục, lề thói riêng biệt, hình thành và phát triển theo 3
loại hình nổi trội.
Lễ hội tín ngưỡng: Thường là tín ngưỡng dân gian, thờ các thần
thánh như thờ thần thành hoàng, thờ mẫu, thờ các thần liên quan đến các
hoạt động kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp… Những lễ hội của nhóm này
phải kể đến lễ hội xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa tưởng niệm ông tổ
nghề đúc đồng Khổng Minh Không; lễ hội xã Quảng Cư ở Sầm Sơn tưởng
niệm bà Triều - tổ sư nghề dệt săm xúc; lễ hội đình Phú Khê xã Hoằng Phú,
huyện Hoằng Hóa - tổ nghề hát… Các lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ mẫu
như lễ hội phố Cát ở Thạch Thành; lễ hội Đền Sòng ở thị xã Bỉm Sơn.
17
Lễ hội văn hóa - lịch sử: Thường gắn với việc tưởng niệm các nhân
vật lịch sử của dân tộc đã có công trong việc đấu tranh, giữ gìn và bảo vệ
Tổ quốc như lễ hội Bà Triệu ở Hậu Lộc; lễ hội Lam Kinh ở Thọ Xuân; lễ
hội Lê Hoàn ở Thọ Xuân… Đây là các lễ hội thường được tổ chức công
phu, quy mô vượt ra khỏi phạm vi của tỉnh, có tác dụng thu hút khách du
lịch trên phạm vi toàn quốc.
Lễ hội dân gian gắn với truyền thuyết: Lễ hội Từ Thức gắn với
truyền thuyết Từ Thức gặp Giáng Hương; Lễ hội Mai An Tiêm gắn với
truyền thuyết Mai An Tiêm và quả Dưa đỏ; Lễ hội Thần Độc Cước gắn với
truyền thuyết Thần Độc Cước, Hòn Trống Mái ở núi Trường Lệ; Lễ hội gắn
với truyền thuyết cửa Thần Phù ở Nga Sơn; Lễ hội gắn với truyền thuyết
ông Vồm ở Thiệu Hóa; truyền thuyết Trạng Quỳnh ở Hoằng Hóa.
Thanh Hóa cũng là xứ sở của những làn điệu dân ca tha thiết trữ
tình như hò sông Mã, hát xẩm xoan, múa đèn Đông Anh (Đông Sơn), trò
diễn Xuân Phả (Thọ Xuân), múa sạp, múa xòe (các dân tộc thiểu số)..., có
sức hấp dẫn đối với khách du lịch.
Các làng nghề truyền thống: Khai thác các sản phẩm thủ công
truyền thống và khôi phục phát triển các làng nghề truyền thống có vai trò
quan trọng trong việc phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế du
lịch nói riêng. Thanh Hóa vốn có nhiều làng nghề thủ công truyền thống
độc đáo như: Làng Nhồi (Đông Hưng - Đông Sơn), nổi tiếng với nghề
chạm khắc đá, nhất là các sản phẩm đá phục vụ xây dựng, trang trí đền
chùa, cung điện, lăng tẩm; làng nghề chiếu cói ở Nga Sơn; nghề làm nước
mắm ở Khúc Phụ (Hoằng Phụ - Hoằng Hóa), nghề dệt vải tơ lụa ở Nghĩa
Hưng (Hoằng Hóa); nghề ép dầu ở Đại An và Tào Xuyên (Hoằng Hóa);
Ngoài ra, còn có nghề đúc đồng ở làng Chè xã Thiệu Trung, huyện Thiệu
Hóa; nghề gốm gia dụng ở làng Vồm, xã Thiệu Khánh; nghề tiện gỗ ở
18
Quảng Minh (Quảng Xương); nghề đúc lưỡi cày ở Đồng Lạc (Hoằng
Trạch), nghề thợ mộc ở Đạt Tài, Hạ Vũ, Hà Thái (Hoằng Hà), nghề nhuộm
ở Trinh Hà (Hoằng Trung), nghề đan ở Đoan Vĩ, Thái Hòa; nghề dệt thổ
cẩm của các dân tộc Mường, Thái ở Bá Thước, Lang Chánh… Nhìn chung,
các làng nghề này đều nằm gần các tuyến điểm du lịch cho nên thuận lợi
cho việc tổ chức các tour thăm quan, làm phong phú thêm lịch trình đi, hấp
dẫn du khách.
Thanh Hóa còn là địa phượng có nhiều món ăn đặc sản, mang đậm
hồn quê, đem lại cho du khách những cảm nhận khó quên như Chè Lam
Phủ Quảng - thứ đặc sản của phố Giáng; Bảo Sâm - loại sâm trên núi Báo
(Vĩnh Lộc); bánh gai Tứ Trụ, cốm Tiến Vua, bánh lá Răng Bừa (Thọ
Xuân); nem chua (thành phố Thanh Hóa); dừa (Hoằng Hóa); cá Mè sông
Mực; nước mắm Du Xuyên...
Ngoài ra, các chợ nông thôn tại Thanh Hóa không chỉ là nơi trao đổi
hàng hóa đơn thuần mà tại đây người ta có thể trao đổi các giá trị nhân văn,
trao đổi tình cảm cộng đồng, là đối tượng văn hóa đối với khách du lịch hay
những người muốn tìm hiểu giá trị văn hóa đích thực của một vùng. Các chợ
tiêu biểu như chợ Phủ (Hậu Lộc), chợ Môi (Quảng Xương), chợ Hôm Giún
(Nga Sơn), chợ Kim Tân (xã Thành Kim, huyện Thạch Thành) …
1.1.1.3. Điều kiện cơ sở hạ tầng
Tỉnh Thanh Hóa có hệ thống giao thông khá thuận lợi. Về giao
thông đường bộ, Thanh Hóa có hầu hết những tuyến giao thông huyết mạch
của đất nước chạy qua như: Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và đường sắt
xuyên Việt; quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng ven biển, đường chiến
lược 15A xuyên suốt vùng trung du và miền núi, đường 217 nối với nước
bạn Lào, quốc lộ 45 (từ Thạch Thành đến Như Xuân), quốc lộ 47 (từ Sầm
Sơn đến Lam Sơn)... Ngoài những tuyến đường quốc lộ có không gian lưu
19
thông, liên kết rộng, tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
trước mắt cũng như lâu dài, Thanh Hóa còn có hệ thống giao thông tỉnh lộ,
huyện lộ, hệ thống đường liên xã… rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn
hóa, du lịch. Về giao thông đường thủy, Thanh Hóa có hệ thống sông ngòi
với 4 hệ thống sông chính, gồm hệ thống sông Mã, hệ thống sông Hoạt, hệ
thống sông Yên, hệ thống sông Lạch với 30 sông lớn, nhỏ, tổng cộng chiều
dài là 1.899km và có 5 cửa lạch chính thông ra biển. Cảng biển Nghi Sơn
đang được xây dựng thành cảng nước sâu cửa ngõ của khu vực Nam Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ. Về giao thông đường không, với việc sân bay Sao
Vàng được khai thác với mục đích dân sự, Thanh Hóa trở thành một đầu
mối của giao thông đường không trong nước và quốc tế. Có thể thấy, hầu
hết các đầu mối giao thông, đặc biệt là giao thông đường bộ đã kết nối
được với các điểm du lịch quan trọng của tỉnh, tạo điều kiện rất cơ bản để
phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển kinh tế du lịch nói riêng.
Cơ sở hạ tầng của tỉnh Thanh Hóa ngày càng được cải thiện đáp ứng
nhu cầu của địa phương về phát triển kinh tế - xã hội và du lịch. Mạng lưới
điện trong tỉnh đã được xây dựng và tương đối hoàn chỉnh. Tình hình nguồn
và khả năng phân phối điện của Thanh Hóa nhìn chung phát triển mạnh và cơ
bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt. Hệ thống cung cấp nước
sạch đã lắp đặt đến các khu du lịch quan trọng như Sầm Sơn, Bỉm Sơn… Hệ
thống thoát nước tại các khu du lịch trên địa bàn Thanh Hóa tương đối tốt, ít
bị úng lụt trong mùa mưa lũ, đảm bảo cho hoạt động của nhân dân và du
khách bình thường. Bưu chính viễn thông của tỉnh có bước phát triển đạt trình
độ hiện đại, bước đầu hội nhập được với khu vực và quốc tế, đáp ứng được
các nhu cầu của du khách.
Đến 2010, trên địa bàn Thanh Hóa có khoảng 1800 khách sạn, nhà
nghỉ các loại, trong đó có những khách sạn 3 sao với tiện nghi hiện đại, đáp
ứng yêu cầu ăn ở của du khách trong nước và quốc tế.
20
1.1.1.4. Điều kiện kinh tế và nguồn nhân lực
Thanh Hóa là tỉnh nằm trong vùng giao thoa chịu ảnh hưởng của
khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và các vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung. Cùng với công cuộc đổi mới của cả nước, nền kinh tế của tỉnh đã đi
vào ổn định và phát triển tốc độ khá nhanh. Giai đoạn 2000 - 2006, tốc độ
tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đạt khá cao 9,3% cao hơn 1,82 lần
so với bình quân cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực,
tăng dần tỷ trọng dịch vụ. Vị trí thuận lợi, nguồn tài nguyên đa dạng và
phong phú là những tiền đề quan trọng để Thanh Hóa phát triển ngành kinh
tế tổng hợp “công nghiệp - dịch vụ - du lịch”.
Về nguồn nhân lực, Thanh Hóa là một tỉnh đông dân (năm 2006
dân số toàn tỉnh Thanh Hóa là 3.680.418 người, mật độ dân số bình quân
331 người/km2), có nguồn lao động trong độ tuổi rất dồi dào, có trình độ
học vấn tương đối cao so với cả nước. Thanh Hóa có hệ thống các trường
đại học đến dạy nghề phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
du lịch nói riêng như Trường đại học Hồng Đức, Trường trung cấp Thương
Mại Trung ương V, Trường dạy nghề thương mại và du lịch, công nghiệp,
giao thông vận tải, nông nghiệp, thủy sản… Hằng năm các cơ sở này đào
tạo hàng trăm kỹ sư, cử nhân, lao động có tay nghề đáp ứng một phần quan
trọng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trên địa bàn Thanh Hóa có 8 dân tộc anh em cùng chung sống,
trong đó đông nhất là người Kinh (chiếm đến 83,46%), người Mường
(9,49%), người Thái (6,15%), còn lại là dân tộc khác như dân tộc Mông,
Dao, Hoa… Các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở các huyện miền núi
phía Tây Thanh Hóa như Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh…, tuy với số
lượng không nhiều, nhưng lại có một nền văn hóa đặc sắc, thể hiện trong
tập tục, trong sinh hoạt văn hóa dân gian, trong lễ hội và ngay cả trong các
hoạt động canh tác. Thanh Hóa được mệnh danh là thủ phủ của dân tộc
21
Mường. Dưới góc độ du lịch thì đây là một vốn quý, là nguồn tài nguyên
đặc sắc được khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế quan tâm.
Nguồn nhân lực cũng chính là một dạng tài nguyên du lịch đặc biệt
góp phần cùng với các tài nguyên tự nhiên và nhân văn để phát triển du lịch
Thanh Hóa.
Như vậy, Thanh Hóa là tỉnh có tiềm năng du lịch rất lớn. Vị trí địa
lý thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi về cảnh quan thiên nhiên với bờ biển trải
dài và nhiều danh lam thắng cảnh, các khu rừng nguyên sinh. Bên cạnh đó,
Thanh Hóa là một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ, nơi có nền
văn hóa Đông Sơn rực rỡ với trống đồng Đông Sơn, là mảnh đất có truyền
thống văn hóa lâu đời được mệnh danh là “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh
cho đất nước nhiều danh nhân văn hóa và anh hùng dân tộc, nơi phát tích
của các triều Tiền Lê, Hậu Lê, nhà Hồ, chúa Trịnh, chúa Nguyễn mà dấu ấn
còn lưu lại cho đến nay. Tiềm năng du lịch Thanh Hóa là nguồn lực quan
trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần giải quyết
công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo cho nhân dân.
Bên cạnh những thuận lợi, phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Thanh
Hóa vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài những khó khăn khách quan như
thời tiết không thuận lợi, thường có giông, bão,... những khó khăn về cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho phát triển du lịch (cấp điện, cấp
thoát nước, bưu chính viễn thông…) tuy đã được cải thiện song vẫn còn
nhiều bất cập; hệ thống dịch vụ y tế, bảo hiểm, ngân hàng… chưa đáp ứng
được yêu cầu của khách du lịch; số lượng và chất lượng lao động trong
ngành du lịch còn nhiều hạn chế; tình trạng khai thác các nguồn tài nguyên
du lịch thiếu hợp lý đã dẫn đến sự ô nhiễm môi trường sinh thái, ô nhiễm
các nguồn nước diễn ra ngày càng bất lợi cho khả năng phát triển bền vững
của du lịch.
1.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế du lịch Thanh Hóa trước năm
22