Giới thiệu Tao đàn Chiêu Anh Các
Tao đàn Chiêu Anh Các, gọi tắt là Chiêu Anh Các, do Trần Trí Khải tự
Hoài Thủy, một danh sĩ người Việt Đông (Trung Quốc) sáng lập, và Mạc
Thiên Tứ (1718 -1780) làm Tao đàn nguyên soái, ra đời vào năm 1736 ở Hà
Tiên, nay thuộc tỉnh Kiên Giang, Việt Nam.
Đây không chỉ là một tổ chức gần giống như hội Tao đàn Nhị thập bát Tú
của vua Lê Thánh Tông (1442-1497), mà còn là nơi thờ Khổng Tử, nơi
chiêu tập các bậc hiền tài và giúp đỡ (nhà Nghĩa học) cho những thiếu niên
ưu tú theo đuổi nghiệp văn, nghiệp võ.
Ra đời
Từ thời Đô đốc Mạc Cửu, sách ''Đại Nam liệt truyện Tiền biên'' đã ghi nhận:
“(Mạc) Cửu về Trấn (Hà Tiên) dựng thành quách, đặt liêu tá, làm nhiều nhà
khách để đón tiếp hiền tài”,
Kế thừa giềng mối của cha, Mạc Thiên Tứ cũng dựng gác Chiêu Anh để thờ
Tiên thánh và làm nơi đón tiếp hiền tài.
Sách “Hà Tiên trấn, Hiệp trấn Mạc thị gia phả” (gọi tắt là Mạc thị gia phả)
do Vũ Thế Dinh (1) biên soạn năm 1818, chép:
“Ông (Mạc Thiên Tứ) phú tánh trung lương, nhân từ nghĩa dõng, toàn vẹn tài
đức, lại tinh thông sách vở và văn thơ của Bách gia chư tử… Ông có dựng
Chiêu Anh Các để thờ Tiên Thánh, và dùng lễ vật hậu hĩ để đón mời người tài
giỏi. Từ bên nhà Thanh, cả các bậc tuấn tú các nước khác nghe tiếng ông đều
tụ hội đến ngày một đông.”
Trong số danh sĩ "nghe tiếng mà đến", Mạc Thiên Tứ kể, “có thầy Trần Hoài
Thủy từ Việt Đông vượt biển đến đây. Ta đãi làm thượng tân. Mỗi khi hoa
sớm trăng đêm, ngâm vịnh chẳng thôi. Nhân, đem "Hà Tiên thập cảnh" trình
cho tri kỷ. Thầy Trần dựng cơ Tao đàn, mở hội phong nhã...'” (2).
Đó là năm Bính Thìn (1736).
Nhân sự
Thi sĩ Đông Hồ, người có nhiều năm nghiên cứu và gắn bó với Hà Tiên đã
cho biết:
“Đời Hồng Đức có lập tao đàn là một tổ chức văn học rất hoàn bị. Cách tổ
chức Chiêu Anh Các cũng gần y như vậy. Nhân vật tao đàn Hồng Đức có
Nhị thập bát tú, Chiêu Anh các có số người nhiều hơn. Có sách chép 32,
nhưng có sách chép 36. Số 36 vị này gọi là tam thập lục kiệt, tức 36 vị kiệt
sĩ, mà trong số đó có thập bát anh là 18 vị anh hoa xuất chúng, nên có câu
thơ rằng:
Tài hoa lâm lập trú Phương thành
Nam Bắc hàm vân thập bát anh.
Dịch nghĩa:
Tài hoa ở Phương thành (Hà Tiên) đông như rừng
Việt Nam và Trung Quốc đều xưng tụng 18 vị anh tài.
Trong số đông đảo đó, có người ở tại Hà Tiên; có người từ Thuận Quảng
(tức Thuận Hóa và Quảng Nam), Gia Định; có những người ở tận Trung
Hoa, phần nhiều là người hai tỉnh Quảng Đông, Phước Kiến; vì hâm mộ
thanh danh Chiêu Anh Các, cảm mến phong lưu tài vận đất Hà Tiên mà tìm
đến.”
Tuy nhiên, đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất được con số
thành viên tham gia Tao đàn Chiêu Anh Các.
Tác phẩm
Hiện chỉ mới biết được:
-Hà Tiên thập cảnh (hay Hà Tiên thập vịnh). Đây là tập thơ đầu tiên được
Tao đàn này cho khắc bản in tại Hà Tiên năm 1727, do chính chủ soái Tao
đàn là Mạc Thiên Tứ đề tựa, Trần Trí Khải & Dư Tích Thuần (3) viết lời bạt.
Tác phẩm gồm 2 quyển, có cả thảy 320 bài thơ chữ Hán của 32 tác giả, vịnh
mười cảnh đẹp của Hà Tiên. Năm 1755, danh sĩ Nguyễn Cư Trinh (1716-
1767) vào Nam giao thiệp với họ Mạc, có thêm 10 bài nữa, thành ra 330 bài.
-Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh, gồm 10 bài đoạn thơ chữ Nôm vịnh mười
cảnh đẹp của Hà Tiên do Mạc Thiên Tứ sáng tác. Tập thơ dài hơn 422 câu
liên ngâm vừa lục bát gián thất vừa Đường luật bát cú, liên hành. Chính tác
phẩm này đã gợi ý cho Nguyễn Cư Trinh sáng tác “Quảng Ngãi thập nhị
cảnh”.
-Thụ Đức Hiên tứ cảnh (hay Tứ cảnh hồi văn Thụ Đức Hiên) theo Lê Quí
Đôn thì có 88 bài thơ của 32 tác giả, họa 4 bài thơ hồi văn (là thể văn đọc
quanh co xuôi ngược đều thành câu cả) vịnh phong cảnh bốn mùa của Hà
Tiên do Mạc Thiên Tích sáng tác. Sách đã được khắc in, trong khoảng thời
gian với Hà Tiên thập vịnh, hiện đã thất lạc chỉ còn 9 bài in trong ''Kiến văn
tiểu lục'' của Lê Quí Đôn.
-Minh bột di ngư gồm bài phú “Lư Khê nhàn điếu” trăm câu và 32 bài thơ
luật Đường bằng chữ Hán. Tập thơ được Trịnh Hoài Đức phát hiện, rồi cho
khắc in. Đây là tập thi họa rất quý, chẳng những về phương diện sử liệu, văn
học, còn quý về mỹ thuật, về bút tích của các danh bút trong nhóm Chiêu
Anh Các (4).
Ngoài ra, theo Trịnh Hoài Đức, trong bài ''Tân tự'' được viết năm Minh
Mạng thứ hai (1921) in trong tập “Minh bột di ngư”, thì Chiêu Anh Các còn
có các bộ sách: Hà Tiên vịnh vật thi tuyển, Châu Thị Trinh liệt tặng ngôn,
Thi truyện tặng Lưu tiết phụ và Thi thảo cách ngôn vị tập.
Thụ Đức Hiên
Theo ''Mạc thị gia phả'', thì năm 1736, Mạc Thiên Tích “dựng gác Chiêu
Anh để thờ Tiên thánh (thờ Khổng Tử) và làm nơi đón tiếp hiền tài.
Cuối bài tựa đề cho tập ''Hà Tiên thập vịnh'', Mạc Thiên Tứ cho biết
“Thượng tuần của tháng cuối mùa hạ, năm Đinh Tỵ (1737)” ông đã “tự tay
viết bài tựa ở Thụ Đức Hiên” (thư phòng ở đền thờ Thánh Đức, tức Khổng
Tử).
Dù vẫn còn có người tỏ ý nghi ngờ, có hay không ngôi nhà riêng dành cho
Chiêu Anh Các (ông Nguyễn Quảng Tuân cho rằng “Chiêu Anh Các chỉ là
một Tao đàn, chứ không thể coi là một ngôi nhà”…Dẫn lại theo Nghiên cứu
Hà Tiên, tr. 230), nhưng theo nghiên cứu của Trần Minh Đạt (người Hà
Tiên), nhờ 9 bài thơ trong tập Thụ Đức Hiên tứ cảnh còn sót lại (chép trong
''Kiến văn tiểu lục'' của Lê Quí Đôn, nhất là bài thơ của ông Trần Diệu Liên,
người Trung Quốc, đã mô tả khá rõ vị trí của tòa nhà); nhờ những phế tích
(5) vẫn còn ở chùa Phù Dung, ông Đạt đã khẳng định vị trí “Thụ Đức Hiên
tại Đền Khổng Tử xưa, trải qua bao biến cố, nay chính là nơi tọa lạc của
chùa Phù Dung”.
Và theo ông Trương Minh Đạt thì Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn(1795-1850)
vẫn còn trông thấy Thụ Đức Hiên. Trích bút ký của Doãn Uẩn:
Mùa thu năm ngoái (1845), ta vâng kiếm lệnh của vua đi dẹp giặc cỏ...có dịp
đến Hà Tiên. Bấy giờ là nửa đêm…ta đương trầm ngâm đọc bài ''Giang
Thành dạ cổ'' của Mạc Tướng công, trong thư phòng của người xưa…”.
Và rồi ngay năm sau (1846, thời Thiệu Trị), cũng chính vị Tổng đốc này đã
cho phép tạo dựng ngôi chùa mới vào để thay thế Thụ Đức Hiên, chắc khi ấy
đã lắm đổ nát. (Xem chi tiết trong ''Nghiên cứu Hà Tiên'', tr. 211-226)
Nhận xét
Như ý nghĩa của tên gọi, đây là một tổ chức có mục đích ''chiêu tập và mời
gọi anh tài''. Những việc làm của tổ chức này đã được sử thần nhà Thanh
chép trong sách ''Thanh văn hiến thông khảo'' như sau:
Cảng khẩu quốc (ý nói Hà Tiên), ở về biển phía Tây Nam...Vua (nước đó)
họ Mạc (Sử thần chép sai, chức vụ cao nhất của Mạc Thiên Tứ chỉ là Tổng
binh, tước hầu), vua hiện thời là Thiên Tích duyên cách thế thứ chưa khảo
biết được. Phong tục ở đó, trọng văn học, hiếu thi thư. Trong nước có dựng
miếu Khổng Tử, vua và người trong nước đều kính thờ. Có nhà nghĩa học,
tuyển chọn con em tuấn tú, cùng là học trò nghèo khó, đều đem về truyền
dạy. Những người Hán đến ở trong nước mà thông hiểu kinh sử thì đón vào
làm thầy dạy. Cho nên con em đều hay giỏi cả...''
Bàn về mục đích này, GS. Lê Đình Kỵ đã viết:
“Hà Tiên là vùng đất mới tạo lập, do những người giàu nghị lực, có chí tiến
thủ, không bằng lòng với thói ỷ lại, ngồi không ăm bám, tin tưởng ở khả
năng và sức sáng tạo của quần chúng. Bản thân công việc khai khẩn và bảo
vệ lãnh thổ đòi hỏi những người lãnh đạo phải biết dựa vào dân. Họ Mạc đã
chăm lo chiêu hiền đãi sĩ, đào tạo nhân tài ngay từ hàng ngũ của những
người không thuộc giai cấp thống trị, có chính sách và biện pháp dân chủ
nhất định nhằm khuyến khích việc khai khẩn làm ăn, ổn định đời sống cho
cư dân của mình và lôi kéo nhân dân các nơi khác về mình” (trích lại theo
Văn học Hà Tiên, tr. 11-15).
Trích thêm nhận xét của:
Nhà bác học Lê Quí Đôn (1726-1784):
“Năm Vĩnh Hựu, Bính Thìn (1736) Mạc Thiên Tích (tức Mạc Thiên Tứ) kế
tập tước cha (Mạc Cửu) chiêu mộ văn sĩ, yêu chuộng từ chương, phong lưu
tài vận, nổi tiếng một cõi...Không thể bảo rằng ở hải ngoại xa xôi không có
văn chương vậy” (Phủ biên tạp lục, soạn 1776).
Danh sĩ Trịnh Hoài Đức (1765 -1825):
“...Các vị nối bước nhau mà đến, mở Chiêu Anh Các gom góp thư tịch,
thường ngày cùng các chư Nho thảo luận, có đề Hà Tiên thập cảnh, người
thù họa rất đông, văn chương bắt đầu rực rỡ ở chỗ góc biển chân trời...”
(Gia Định thành thông chí)
Thi sĩ Đông Hồ:
Lạ lùng thay, cách nay hơn hai thế kỷ, ở góc Hà Tiên diệu viễn, đã có một
tướng quân thi sĩ con cháu Minh Hương, làm được những câu thơ tiếng Việt
lọc lõi trau chuốt đến vậy.(Văn học Hà Tiên, tr. 159)
GS. Nguyễn Huệ Chi:
Thơ văn Chiêu Anh Các hầu hết là thơ đề vịnh thiên nhiên. Tính chất ước lệ,
phong cách khoa trương, sự thị vị hóa cảnh vật và thông qua cảnh vật mà
phơi bày tâm trạng thỏa mãn với hiện thực, của những người may mắn cai
quản một vùng đất nước...
Tuy vẫn còn những sáng tác mang tính chất sách vở, khuôn sáo, nhưng
chúng vẫn thể hiện được những tình cảm lạc quan yêu đời của những tâm
hồn gắn bó với cuộc sống, niềm tự hào về đời sống hòa bình, no đủ và tinh
thần trách cùng ý chí muốn gìn giữ nơi biên cương sao cho yên ổn, giàu
mạnh. Sắc thái tích cực đó đã làm cho nhiều bài thơ mang được vẻ đẹp chân
thực, giản dị, đạt đến cái nhã đạm của văn chương cổ điển. (Từ điển văn học,
bộ mới, tr. 257).
GS. Lê Đình Kỵ, trong một bài viết, đã nêu lên hai ý:
- “Những bài thơ có mặt (trong những tác phẩm của nhóm Chiêu Anh Các)
không có giọng thở than, u hoài hay tiêu diêu thoát tục, thây kệ sự đời như
thường thấy trong thơ văn của xã hội phong kiến xuống dốc.
- Hà Tiên là miền đất khai phá cuối cùng thể hiện ý chí đấu tranh khắc phục
thiên nhiên, bảo vệ giang sơn bờ cõi. Đất nước và con người ở trong thế đi
lên, tràn đầy sức sống, nên thơ văn ít bị hạn chế bởi hệ tư tưởng thống
trị...mà thấm đượm tình quê hương đất nước, ý chí độc lập tự cường của
những người lãnh đạo đầy chí tiến thủ và nhân dân Hà Tiên cần cù khoát
đạt.'' (Văn học hà Tiên, tr. 11 và 15)
Nhà thơ Ngô Minh ghi nhận công lao:
Mạc Thiên Tích vịnh bằng thơ chữ Hán rồi, lại làm thêm ''Hà Tiên Quốc âm
thập cảnh vịnh'' bằng chữ quốc ngữ song thất lục bát. Chứng tỏ thi sĩ này rất
thạo tiếng Việt của mẹ mình. Đọc thơ thấy Mạc Thiên Tích là một ngòi bút
lão luyện, tung tẩy chữ nghĩa ngang dọc. Sau đó, tập thơ ''Hà Tiên thập vịnh''
gửi đi khắp nơi và được 66 thi sĩ khắp nước và cả Trung Quốc họa vần gửi
về Hà Tiên được in khắc.''
Tao đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích chủ xướng đã xuất bản tới 7 tập
sách chữ Hán và một tập thơ chữ Nôm 10 bài họa 10 cảnh Hà Tiên xen
những khúc ngâm song thất lục bát dài 422 câu rất điêu luyện. Hoạt động
văn chương như thế ngang tầm với một đô thị lớn hiện nay.'' (theo địa chỉ
website ghi bên dưới)
Kết
Nhà văn Nguyễn Hiến Lê viết: