Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Thực trạng của công tác thực hiện BHXH dài hạn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (164.69 KB, 15 trang )

Giới thiệu chung về BHXH
1. Khái niệm chung về BHXH.
Bảo hiểm xã hội là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn
thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người
lao động làm công ăn lương trong xã hội. Trong các cơ chế chủ yếu của hệ thống
an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội là trụ cột quan trọng nhất.
BHXH là tổng thể các mối quan hệ KT-XH giữa nhà nước với người lao
động và người sử dụng trên cơ sở hình thành quỹ tiền tệ tập trung để trợ cấp cho
người lao động và gia đình họ khi người lao động tham gia BHXH…BHXH là bộ
phận quan trọng nhất của hệ thống ASXH. Có thể nói, không có bảo hiểm xã hội
thì không thể có một nền an sinh xã hội vững mạnh. BHXH ra đời và phát triển từ
khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở châu Âu. BHXH nhằm đảm bảo cuộc
sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình họ trước những rủi ro xã
hội như ốm đau, tai nạn, mất việc làm…làm giảm hoặc mất thu nhập.
BHXH phát huy tiềm năng của số đông và ưu điểm của nhiều phương thức
hoạt động trong kinh tế thị trường để đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động
cũng như cho xã hội. Đồng thời, BHXH cũng tạo ra sự gắn bó chặt chẽ về lợi ích,
cả lợi ích trước mắt lẫn lợi ích lâu dài của các bent ham gia BHXH cũng như các
bên đó đối với nhà nước.
2. Các chế độ của BHXH:
Các chế độ của bảo hiểm xã hội đã hình thành khá lâu truớc khi xuất hiện thuật
ngữ an sinh xã hội. Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ
(nay là Cộng hòa Liên bang Đức) dưới thời của Thủ tướng Bismarck (1850) và sau
đó được hoàn thiện (1883-1889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề
nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội:
người lao động; người sử dụng lao động và Nhà nước. Kinh nghiệm về bảo hiểm
xã hội ở Đức, sau đó, được lan dần sang nhiều nước trên thế giới, đầu tiên là các
1
nước châu Âu (Anh: 1991, Ý: 1919, Pháp: từ 1918 ...), tiếp đến là các nước châu
Mỹ Latinh, Hoa Kỳ, Canada (từ sau 1930) và cuối cùng là các nước châu Phi, châu
Á (giành độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2).


Theo tổng kết của ILO (công ước 102 năm 1952), bảo hiểm xã hội bao gồm
chín chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp
tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai
sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất. Công ước cũng nói rõ là những nước phê chuẩn
công ước này có quyền chỉ áp dụng một số chế độ, nhưng ít nhất phải áp dụng một
trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động –
bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật hoặc trợ cấp tử tuất. Việc áp dụng bảo hiểm xã
hội trên của quốc gia khác nhau thường cũng rất khác nhau về nội dung thực hiện
tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống
của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng
quản lí có thể đáp ứng. Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế -
xã hội, bảo hiểm xã hội sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng
chế độ.
Theo thống kê của ILO, đến năm 1981, có 139 nước có thực hiện hệ thống an
sinh xã hội nói chung, bảo hiểm xã hội nói riêng, trong đó có 127 nước có chế độ
trợ cấp tuổi già, tàn tật và tử tuất; 79 nước có chế độ trợ cấp ốm đau và thai sản,
136 nước có chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 37 nước có chế
độ trợ cấp thất nghiệp.
Để hình thành những chế độ này phải dựa trên những định: cơ sở sinh học,
cơ sở môi trường và điều kiện lao động, cơ sở kinh tế xã hội, luật pháp và thể chế
chính trị. Trong đó điều kiện kinh tế xã hội là điều kiện tiên quyết để bổ sung hoàn
thiện cả hệ thống cũng như từng chế độ của bảo hiểm xã hội bởi vì điều kiện kinh
tế xã hội trong mỗi thời kì khác nhau là khác nhau, những điều kiện này có tác
2
động trực tiếp đến mỗi quốc gia trong việc xác định mức đóng góp thụ hưởng, khả
năng hỗ trợ của ngân sách nhà nước và cơ sở quản lý bảo hiểm xã hội nói chung.
Ở Vịệt Nam mới chỉ thực hiện được 5 chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất. Trong 5 chế độ BHXH trên lại được
phân làm 2 nhóm: 3 chế độ:ốm đau,thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
có sự chia sẻ rủi ro nhiều và được hạch tóan cân đối quỹ hàng năm, được gọi là chế

độ ngắn hạn; 3 chế độ: hưu trí , tử tuấ và bệnh ngề nghiệp nặng được thực hiện
chủ yếu dựa trên nguyên tắc đóng-hưởng ( đóng ít hưởng ít; đóng nhiều huởng
nhiều ), việc cân đối quỹ được dự tính từ 20 năm đến 30 năm sau, goi là chế độ dài
hạn.
Sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu về các chế độ của BHXH dài hạn
và thực trạng của việc thực hiện các chế độ đó ở Việt Nam hiện nay.
I. Các chế độ của BHXH dài hạn.
1.Chế độ trợ cấp hưu trí.
- Mục đích:
+ đảm bảo thực hiện quyền lợi hợp pháp của người lao động sau khi đã hoàn
thành nghĩa vụ lao động đối với xã hội.
+ thể hiện sự quan tâm của chính phủ, của người sử dụng lao động đối với
người lao động không chỉ khi họ còn trẻ khỏe mà cả khi họ đã già yếu không thể
lao động được nữa.
+ giúp người lao động tiết kiệm cho bản thân ngay từ trong quá trình lao động
để đảm bảo cuộc sống khi về già.
+ trong xu thế dân số già hóa trên thế giới hiện nay, chế độ hưu trí trực tiếp góp
phần đảm bảo an sinh xã hội cho mỗi nước mỗi dân tộc.
- Đối tượng hưởng:
Đối tưởng hưởng trợ cấp hưu trí ở mỗi nước hiện naycó những sự khác nhau
khá nhiều ở các nước. Nếu tổng kết lại 1 số nước kinh tế phát triển thực hiện chế
3
độ hưu trí phổ thong cho tât cả mọi người lao động để đảm bảo cuộc song cho họ
khi về già. Có một số nước chỉ giới hạn đối tượng hưởng là những người tham gia
BHXH có đóng góp theo quy định của pháp luật.
- Điều kiện hưởng:
1. Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có thời gian đóng BHXH đủ 20 năm trở
lên.
2. Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên mà
trong 20 năm đó có thời gian làm việc thuộc một trong các truờng hợp sau:

3. Đủ 15 năm làm nghề haợc công việc nặng nhọc. độc hại.
4. Đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên
5. Đủ 10 năm công tác ở miền Nam, ở Lào trước ngày 30/4/1975 hoặc ở
Campuchia truớc ngày 31/8/1989 (hợc ở 1 chiến truờng hoặc ở 2 chiến trường;
hoặc ở cả 3 chiến trường. thời gian cộng lại đủ 10 năm )
6. Người lao động nghỉ việc có đủ 3 điều kiện dưới đây thì cũng dược hưởng
lương hưu hàng tháng:
+ Nam đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi, Nữ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi không phải
qua giám định lao động.
+ Có thời gian đóng BHXH đủ 30 năm trở lên.
+ Có đơn tự nguyên nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí (có mẫu kèm theo).
7. Trong trường hợp không đủ các điều kiện trên, nếu có một trong các điều
kiện sau đây vẫn được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng với mức thấp hơn:
+ Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có thời gian đóng BHXH đủ 15 năm dến dưới
20 năm.
+ Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi có thòi gian đóng BHXH đủ 20 năm trở lên bị
suy giảm lao động từ 61% trở lên.
4
+ Nguời lao động có ít nhất 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, đặc biệt
nặng nhọc độc hại đã đóng BHXH đủ 20 nam trở lên mà bị suy giảm khả năng lao
động từ 61% trở lên ( không phụ thuộc vào tuổi đời ).
*Người lao động khi chưa có đủ các điều kiện về tuổi đời và thời gian đóng
BHXH vẫn được hưởng lương hưu với mức thấp hơn chế độ hưu trí của nhà nước
quy định khi có 1 trong các điều kiện sau:
-Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có thời gian đóng BHXH từ 15 năm đến dưới
20 năm
Cách tính tỷ lệ lương hưu cho những người hưởng chế độ hưu trí hang tháng
với mức lương thấp hơn quy định như sau:
+Đủ 15 năm tính bằng 45% mức tiền lương bình quân đóng BHXH.
+Từ năm 16 đến năm thứ 19 mỗi năm tính them 2%

Như vậy tỷ lệ lương hưu của những người trong trường hựop này thấp nhất
bằng 45% và cao nhất bằng 53% mức bình quân của tiền lương tháng đóng BHXH
-Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và có thời gian đóng BHXH đủ 20 năm trở
lên mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
Tỷ lệ lương hưu được tính như sau: 15 năm đóng BHXH tính bằng 45%; từ
năm thú 16 trở đi mỗi năm tính bằng 2%, nhúng cứ mỗi năm nghỉ việc hưởng
lương hưu trước tuổi 60 đói với nam, 55 tuổi đối vứi nữ tính giảm 1% mức bình
quan tiền lương tang làm căn cứ đóng BHXH
-Đối với những người nghỉ hưu sớm trong những trường hợp dưới đây:
Đối với những người lao động có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng
nhọc độc hại, nguy hiểm; 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực từ 0,7 trở lên
hoặc 10 năm công tác thực tế ở chiến trường B, C, K.
Nam đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi; nữ đủ 45 tuôdi đến dưới 50 tuồi và có đủ
20 năm đóng BHXH trở lên mà bị suy giam khả năng lao động từ 61% trở lên thì
cách tính tỷ lệ lương hưu bình thường theo số năm đóng BHXH ( !5 năm đóng
5
BHXH tính bằng 45%, sau đó mỗi năm tính them 2% ). Nhưng cứ mỗi nghỉ việc
hưởng lương hưu trước tuôi 55 đối với nam, to tuổi đối với nữ tính giảm bằng 1%
mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH
Người lao động có ít nhất 15 năm làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng
nhọc, độc hại, nguy hiểm, đã đóng BHXH đủ 20 năm trở lên mà bị suy giảm khả
năng lao động từ 61% ( không phụ thụoc vào tuổi đời) thì cách tính hưởng lương
thực hiện như quy định ở điều lệ BHXH, nhưng ciứ mỗi năm nghỉ việc hưởng
lương hưu trước tuổi 55 đối với nam, 50 tuổi đối với nữ tính giảm 1% mức bình
quan tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH.
Danh mục nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nghuy hiểm do Bộ Lao
động – Thuơng binh và Xã hội ban hành.
Tất cả những trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu hang tháng, sau khi
tính cụ thể mức lương hưu hang tháng nếu thấp hơn mức tiền lương tối thiểu thì
được điều chỉnh bằng mức tiền lương tối thiểu.

- Mức trợ cấp và thời gian trợ cấp:
Vì là chế độ dài hạn cho nên việc xác định ức trợ cấp có vai trò rất quan
trọng và là một trong những nội dung khó nhất và phức tạp nhất lien quan đến việc
xác định mức đóng thời gian đóng và thời gian bảo trợ của ngân sách nhà nước.
Mức trợ cấp hưu trí phải được xác định theo từng tháng và thời gian bắt đầu người
lao động được hưởng tính từ lúc họ về hưu.
Xét về mặt lý thuyết mức trợ cấp chủ yếu phụ thuộc vào 5 yếu tố:
+ tình trạng mất khả năng lao động của người lao động.
+ tiền lương trước khi người lao động nghỉ hưu.
+ thời gian đóng góp BHXH, thời gian công tác, mức đóng góp.
+ tuổi thọ bình quân của quốc gia hoặc tuổi thọ bình quân của những người
lao động tham gia BHXH.
+ điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kì.
6

×