BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
HOÀNG THỊ MINH THU
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁC ĐỒ
TRỊ LIỆU VÀ CÁC BIẾN CỐ BẤT LỢI
TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƢ VÚ ĐIỀU TRỊ
TẠI TRUNG TÂM UNG BƢỚU – BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƢỢC HỌC
HÀ NỘI 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
HOÀNG THỊ MINH THU
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁC ĐỒ
TRỊ LIỆU VÀ CÁC BIẾN CỐ BẤT LỢI
TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƢ VÚ ĐIỀU TRỊ
TẠI TRUNG TÂM UNG BƢỚU – BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƢỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH DƢỢC LÝ – DƢỢC LÂM SÀNG
MÃ SỐ 60720405
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Thành Hải
GS. TS. Hoàng Thị Kim Huyền
HÀ NỘI 2017
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới TS. Nguyễn
Thành Hải – giảng viên bộ môn dược lâm sàng, người thầy đã tận tình hướng dẫn và
động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới GS.TS. Hoàng Thị Kim Huyền, cô là
người đã chỉ bảo và cho tôi nhiều ý kiến quý giá để tôi có thể hoàn thành luận văn
này.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình và tạo mọi
điều kiện thuận lợi từ Ban giám đốc bệnh viện cùng Bs. Trần Xuân Vĩnh và các y bác
sĩ, điều dưỡng tại Trung tâm ung bướu, bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ. Tôi xin chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ của mọi người nơi đây.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới TS. Vũ Đình Hòa – giảng viên bộ môn dược
lâm sàng, người đã nhiệt tình hỗ trợ và giải đáp các vướng mắc của tôi để tôi có thể
hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng yêu thương và cảm ơn sâu sắc tới gia đình và
bạn bè, những người đã luôn động viên và hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Học viên
Hoàng Thị Minh Thu
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................................. 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN .............................................................................................. 3
1.1. TỔNG QUAN BỆNH UNG THƢ VÚ ................................................................ 3
1.1.1. Dịch tễ và các yếu tố nguy cơ ung thƣ vú ..................................................... 3
1.1.2. Phân loại giai đoạn bệnh ............................................................................... 5
1.1.3. Điều trị ung thƣ vú ........................................................................................ 6
1.2. PHẢN ỨNG CÓ HẠI VÀ BIẾN CỐ BẤT LỢI CỦA THUỐC ....................... 11
1.2.1. Khái niệm phản ứng có hại của thuốc (ADR) ............................................. 11
1.2.2. Khái niệm biến cố bất lợi của thuốc (ADE) ................................................ 11
1.2.3. Các ADE thƣờng gặp của hóa chất điều trị ung thƣ vú .............................. 13
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ADR VÀ ADE CỦA PHÁC ĐỒ TRỊ LIỆU ĐIỀU
TRỊ UNG THƢ VÚ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM...................................... 21
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới .............................................................. 21
1.3.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam............................................................. 23
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 25
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU............................................................................ 25
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn .................................................................................... 25
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ ...................................................................................... 25
2.1.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ............................................................... 25
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................................... 25
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ..................................................................................... 25
2.2.2. Công cụ và phƣơng pháp thu thập số liệu ................................................... 26
2.3. CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ..................................................................... 27
2.3.1. Khảo sát thực trạng sử dụng phác đồ trị liệu trong điều trị ung thƣ vú ...... 27
2.3.2. Phân tích các biến cố bất lợi của thuốc trên bệnh nhân ung thƣ vú điều trị
hóa chất ................................................................................................................. 28
2.4. TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CÁC TIÊU CHÍ .................................................... 28
2.4.1. Tiêu chuẩn đánh giá độc tính của hóa chất điều trị ung thƣ ....................... 28
2.4.2. Một số quy định trong nghiên cứu .............................................................. 28
2.5. PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU .................................................................. 29
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU....................................................................... 30
3.1. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ TRỊ LIỆU TRONG ĐIỀU TRỊ UTV . 30
3.1.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu .............................. 30
3.1.2. Hóa chất điều trị ung thƣ vú ........................................................................ 31
3.1.3. Phác đồ điều trị ung thƣ vú ......................................................................... 32
3.2. PHÂN TÍCH CÁC BIẾN CỐ BẤT LỢI CỦA THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN
UNG THƢ VÚ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT .................................................................. 34
3.2.1. Đặc điểm chung về các biến cố bất lợi do thuốc đƣợc ghi nhận................. 34
3.2.2. Phân tích ADE theo thời điểm ghi nhận, theo đợt điều trị và theo phác đồ38
3.2.3. Xử trí các biến cố bất lợi trong dùng thuốc................................................. 44
Chƣơng 4. BÀN LUẬN ............................................................................................... 47
4.1. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHÁC ĐỒ TRỊ LIỆU TRONG ĐIỀU TRỊ UTV . 47
4.1.1. Về đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu .................................... 47
4.1.2. Về hóa chất điều trị ung thƣ vú ................................................................... 49
4.1.3. Về phác đồ điều trị ung thƣ vú .................................................................... 50
4.2. PHÂN TÍCH CÁC BIẾN CỐ BẤT LỢI CỦA THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN
UNG THƢ VÚ ĐIỀU TRỊ HÓA CHẤT .................................................................. 51
4.2.1. Về đặc điểm chung về các biến cố bất lợi do thuốc đƣợc ghi nhận ............ 51
4.2.2. Về phân tích các ADE theo thời điểm ghi nhận, theo đợt điều trị và theo
phác đồ .................................................................................................................. 53
4.2.3. Về xử trí các biến cố bất lợi trong dùng thuốc ............................................ 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADE
Adverse Drug Event
: Biến cố bất lợi của thuốc
ADN
Acid deoxyribonucleic
ADR
Adverse Drug Reaction
: Phản ứng có hại của thuốc
AJCC
American joint committee on cancer
: Hiệp hội ung thƣ Hoa kỳ
ALAT
Alanin amino transferase
ARN
Acid ribonucleic
ASAT
Aspartat amino transferase
ASR
Age-standardized incidence rate
: Tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi
BCTT
: Bạch cầu trung tính
BCLP
: Bạch cầu lympho
FDA
Food and Drug Administration
GSCF
: Cơ quan quản lý thuốc và thực
phẩm Hoa Kỳ
: Yếu tố kích thích bạch cầu hạt
Hb
Hemoglobin
IARC
International Agency for Research
on Cancer
: Tổ chức nghiên cứu Ung thƣ
quốc tế
MBA
: Mã bệnh án
MBN
: Mã bệnh nhân
MLT
: Mã lƣu trữ
ME
Medication Error
: Sai sót trong sử dụng thuốc
NCCN
National Comprehensive Cancer
Network
: Mạng lƣới ung thƣ quốc gia
Hoa Kỳ
TDKMM
: Tác dụng không mong muốn
UTV
: Ung thƣ vú
WHO
World Health Organization
: Tổ chức Y tế thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Phân chia giai đoạn ung thƣ vú của AJCC – 2010 [17]....................... 6
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của bệnh nhân tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu .... 30
Bảng 3.2: Danh mục các hóa chất điều trị ung thƣ vú ....................................... 31
Bảng 3.3: Đặc điểm thời gian truyền của các hóa chất ...................................... 32
Bảng 3.4: Danh mục các phác đồ điều trị ung thƣ vú ........................................ 33
Bảng 3.5: Mối liên quan giữa lựa chọn phác đồ và chỉ định điều trị bệnh ........ 34
Bảng 3.6: Tổng kết số bệnh nhân và số đợt điều trị gặp ADE ........................... 35
Bảng 3.7: Mức độ độc tính của ADE ghi nhận đƣợc ......................................... 37
Bảng 3.8: Các ADE theo thời điểm ghi nhận ..................................................... 38
Bảng 3.9: Các ADE theo đợt điều trị ................................................................. 39
Bảng 3.10: Tỷ lệ gặp ADE nói chung của các phác đồ điều trị ......................... 40
Bảng 3.11: Tỷ lệ ghi nhận các ADE cụ thể của một số phác đồ ........................ 42
Bảng 3.12: Các thuốc dùng phối hợp trƣớc và sau khi truyền hóa chất............. 44
Bảng 3.13: Xử trí các ADE thƣờng gặp trên lâm sàng ...................................... 45
Bảng 3.14: Xử trí các ADE cận lâm sàng .......................................................... 46
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa ME, ADE và ADR trên thực hành lâm sàng [69] . 12
Hình 3.1: ADE có tỷ lệ gặp nhiều nhất trên các đợt điều trị .............................. 35
Hình 3.2: ADE có tỷ lệ gặp nhiều nhất trên các bệnh nhân ............................... 36
Hình 3.3: Số ADE trung bình/đợt truyền của các phác đồ ................................. 41
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thƣ vú (UTV) là loại ung thƣ phổ biến nhất ở phụ nữ nhiều nƣớc trên thế
giới và cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các bệnh ung thƣ ở phụ nữ [93].
Theo thống kê của Tổ chức nghiên cứu Ung thƣ quốc tế IARC (Globocan), năm 2012
có 1,67 triệu phụ nữ đƣợc chẩn đoán mắc UTV trên thế giới, chiếm 25% tổng số ca
mới mắc của tất cả các loại ung thƣ; số ca tử vong lên tới 522.000 ngƣời [93]. Riêng
tại Việt Nam, năm 2012 ƣớc tính có 11.000 trƣờng hợp UTV mới mắc, tăng gấp đôi so
với con số 5.500 trƣờng hợp trong năm 2000 [93].
Trong điều trị UTV nói riêng và ung thƣ nói chung, bên cạnh đích đến kéo dài
tuổi thọ, nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho bệnh nhân đã và đang trở thành một mục
tiêu quan trọng của các bác sĩ. Hóa trị liệu là phƣơng pháp điều trị hiệu quả, đƣợc
nhiều nghiên cứu chứng minh về khả năng cải thiện tỷ lệ sống [46] tuy nhiên, hóa trị
liệu cũng đƣợc biết đến bởi rất nhiều biến cố bất lợi của thuốc (ADE) [34]. Vì vậy,
việc giám sát chặt chẽ các biến cố này sẽ giúp cho các bác sĩ có phƣơng án xử trí kịp
thời, qua đó góp phần nâng cao an toàn điều trị cũng nhƣ chất lƣợng cuộc sống cho các
bệnh nhân ung thƣ.
Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ là bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y tế. Với
định hƣớng phát triển mô hình đa trung tâm, bệnh viện đang tập trung phát triển
chuyên sâu về một số lĩnh vực hiện đang là vệ tinh của các bệnh viện tuyến Trung
ƣơng, trong đó có lĩnh vực ung bƣớu, hàng năm thu hút một số lƣợng lớn bệnh nhân
đến khám và điều trị tại Trung tâm Ung bƣớu của bệnh viện. Đặc biệt UTV luôn là
một trong những loại ung thƣ chiếm tỷ lệ cao. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay của
bệnh viện, việc theo dõi và giám sát các ADE trên bệnh nhân UTV chƣa đƣợc thực
hiện đầy đủ, dƣợc sĩ lâm sàng của bệnh viện hầu nhƣ chƣa có vai trò tham gia vào
công tác này.
Vì vậy, với mong muốn góp phần nhỏ cho công tác dƣợc lâm sàng nói chung và
cảnh giác dƣợc nói riêng tại khoa Dƣợc Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, đặc biệt nâng
cao công tác hoạt động dƣợc lâm sàng theo Thông tƣ 31/2012/TT-BYT (20/12/2012)
của Bộ Y tế cho các dƣợc sĩ tại Bệnh viện, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
1
“Phân tích thực trạng phác đồ trị liệu và các biến cố bất lợi trên bệnh nhân
ung thƣ vú điều trị tại Trung tâm Ung bƣớu – Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ”.
Với 2 mục tiêu sau:
1. Khảo sát thực trạng sử dụng phác đồ trị liệu trong điều trị ung thư vú tại
Trung tâm Ung bướu Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ.
2. Phân tích các biến cố bất lợi của thuốc trên bệnh nhân ung thư vú điều trị
hóa chất tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ.
Từ đó tạo cơ sở cho các dƣợc sĩ lâm sàng tại Bệnh viện phối hợp với các bác sĩ
có phƣơng án dự phòng thích hợp và xử trí kịp thời các biến cố bất lợi, đồng thời lựa
chọn biện pháp điều trị thay thế phù hợp cho từng bệnh nhân.
2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN BỆNH UNG THƢ VÚ
1.1.1. Dịch tễ và các yếu tố nguy cơ ung thƣ vú
1.1.1.1. Dịch tễ học
UTV là loại ung thƣ phổ biến thứ 2 thế giới chỉ sau ung thƣ phổi và là loại ung
thƣ hay gặp nhất ở phụ nữ (ASR = 43,1/100.000 ngƣời) [93]. Mặc dù bệnh đƣợc xem
là chủ yếu xảy ra ở các nƣớc phát triển do tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi cao (ASR =
73,4/100.000 cao gấp đôi so với các nƣớc đang phát triển là 31,3/100.000 [93]) nhƣng
nó đang có xu hƣớng tăng lên tại các nƣớc đang phát triển, khi 53% số ca mới mắc
năm 2012 thuộc về các nƣớc đang phát triển [93].
Việt Nam tuy nằm trong khu vực các nƣớc có tỷ lệ mắc theo tuổi thấp nhƣng
con số này vẫn đang tiếp tục tăng, từ 17,4/100.000 dân vào năm 2000 lên 23,0/100.000
dân vào năm 2012 [93]. Ghi nhận quần thể ung thƣ trong những năm gần đây cho thấy
UTV là loại có tần suất cao nhất trong các loại ung thƣ ở phụ nữ. Trong đó Hà Nội có
tỷ lệ mắc theo tuổi là 29,7/100.000 dân, cao hơn nhiều so với thành phố Hồ Chí Minh
là 19,4/100.000 dân [74]. Theo thống kê của Tổ chức nghiên cứu ung thƣ quốc tế
(IARC), ƣớc tính năm 2012 Việt Nam có 11.000 trƣờng hợp mới mắc UTV và 4.700
trƣờng hợp tử vong vì UTV [93].
UTV hiếm khi gặp ở lứa tuổi dƣới 30. Tỷ lệ mắc bắt đầu tăng nhanh sau tuổi
35, đạt tới đỉnh cao ở tuổi 62 và giảm dần ở sau tuổi 65. Nguy cơ mắc cao nhất rơi vào
nhóm phụ nữ ở độ tuổi 55 – 64 (25,7%) [94]. Ở Việt Nam, bệnh có xu hƣớng trẻ hóa
với độ tuổi mắc nhiều nhất là từ 45 đến 55 tuổi [74].
UTV đƣợc xem là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong đối với phụ nữ ở các
nƣớc đang phát triển (chiếm 14,3% tổng số các loại ung thƣ) và là nguyên nhân thứ hai
gây tử vong đối với phụ nữ ở các nƣớc phát triển (15,4%) chỉ sau ung thƣ phổi [93].
Mặc dù có tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi cao tuy nhiên ở các nƣớc phát triển tỷ lệ chết vẫn
đƣợc giữ ở mức ổn định nhờ các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện bệnh sớm và những
thành tựu đạt đƣợc trong điều trị, đặc biệt là điều trị hệ thống.
3
1.1.1.2. Các yếu tố nguy cơ
Hiện nay căn nguyên bệnh sinh chƣa đƣợc rõ, tuy nhiên các nhà nghiên cứu
cũng đã tìm ra các yếu tố nguy cơ gây UTV.
Tiền sử gia đình
Phụ nữ có tiền sử gia đình có ngƣời bị UTV đều tăng nguy cơ mắc căn bệnh
này. Sự tăng nguy cơ còn phụ thuộc vào mức độ gần gũi của ngƣời thân [7].
Yếu tố di truyền
Khoảng 15% phụ nữ mắc bệnh UTV mang những yếu tố di truyền về ung thƣ
gọi là BRCA1 hay BRCA2. Đây là các gen ức chế khối u, chúng mã hóa cho các
protein kiểm soát sự phát triển của tế bào. BRCA1 chỉ ra nguy cơ 51% UTV ở tuổi 50
và 85% UTV ở tuổi 70. Nguy cơ gây ung thƣ của BRCA2 thấp hơn, chiếm khoảng 60
– 65% ở tuổi 70 [7].
Tiền sử kinh nguyệt và sinh sản
Phụ nữ mãn kinh sau tuổi 55 có nguy cơ cao gấp 2 lần so với những phụ nữ
mãn kinh trƣớc tuổi 45. Phụ nữ không có con nguy cơ UTV tăng gấp đôi so với những
phụ nữ có từ 1 đến 2 con [2], [7].
Hormon tránh thai và hormon thay thế sau mãn kinh
Những phụ nữ sử dụng estrogen và progesteron kéo dài để điều trị sau mãn kinh
cũng là những đối tƣợng có nguy cơ cao [6], [7].
Tuổi
Nguy cơ mắc UTV tăng dần theo tuổi. Thống kê cho thấy tỷ lệ mắc bắt đầu
tăng nhanh sau tuổi 35, tuy nhiên dao động ít ở độ tuổi ngay trƣớc và sau mãn kinh.
Nguy cơ mắc cao nhất rơi vào nhóm phụ nữ ở độ tuổi 55 – 64 [7], [94].
Chế độ dinh dưỡng
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa chế độ ăn nhiều mỡ động vật với
việc tăng nguy cơ mắc UTV. Đi kèm với đó là béo phì, đặc biệt là béo nửa ngƣời trên
cũng đƣợc xem là yếu tố nguy cơ cao đối với UTV [7].
4
1.1.2. Phân loại giai đoạn bệnh
Để đánh giá giai đoạn bệnh của UTV, hiện nay thƣờng dựa trên hệ thống phân
giai đoạn TNM của Hội ung thƣ Hoa kỳ và Hiệp hội phòng chống Ung thƣ quốc tế
(AJCC). Hệ thống này phân chia giai đoạn ung thƣ dựa trên 3 yếu tố: khối u (Tumor),
hạch (Node) và di căn (Metastasis) [17].
Phân loại TNM [17]:
T: khối u nguyên phát
Tx: không xác định đƣợc u nguyên phát
To: không có dấu hiệu u nguyên phát
Tis: ung thƣ tại chỗ
T1: u có đƣờng kính lớn nhất không vƣợt quá 2cm
T2: 2cm < u ≤ 5cm
T3: u > 5cm
T4: u mọi kích thƣớc nhƣng có:
T4a: xâm lấn tới thành ngực
T4b: xâm lấn tới da bao gồm sần da cam hoặc loét da vú, hoặc nhiều khối
u dạng vệ tinh ở da.
T4c: bao gồm cả T4a và T4b nhƣng giới hạn một bên vú
T4d: UTV thể viêm
N: hạch vùng
Nx: không xác định đƣợc hạch vùng
No: không có di căn hạch vùng
N1: di căn hạch nách cùng bên di động
N2: di căn hạch nách cùng bên dính nhau hoặc dính vào tổ chức xung quanh
N3: di căn hạch vú trong cùng bên
M: di căn xa
Mx: không xác định đƣợc di căn xa
Mo: không có di căn xa
M1: di căn xa
5
Bảng 1.1: Phân chia giai đoạn ung thƣ vú của AJCC – 2010 [17]
Giai đoạn 0
Tis
No
Mo
Giai đoạn I
T1
No
Mo
Giai đoạn IIA
To
N1
Mo
T1
N1
M1
T2
No
Mo
T2
N1
Mo
T3
No
Mo
To
N2
Mo
T1
N2
M1
T2
N2
Mo
T3
N1
Mo
T3
N2
Mo
T4
Bất kỳ N
Mo
Bất kỳ T
N3
Mo
Bất kỳ T
Bất kỳ N
M1
Giai đoạn IIB
Giai đoạn IIIA
Giai đoạn IIIB
Giai đoạn IV
1.1.3. Điều trị ung thƣ vú
1.1.3.1. Phẫu thuật
Điều trị UTV là sự phối hợp điển hình giữa phƣơng pháp điều trị tại chỗ và toàn
thân bao gồm: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, nội tiết và sinh học. Tuy nhiên, phẫu thuật
đóng vai trò chủ đạo, đặc biệt ở giai đoạn bệnh chƣa di căn [7].
Phẫu thuật UTV đƣợc chia thành 2 loại chính: cắt bỏ vú và phẫu thuật bảo tồn
vú. Bệnh nhân sau phẫu thuật bảo tồn vú thƣờng đƣợc điều trị tia xạ nhằm tiêu diệt hết
các tế bào ung thƣ còn sót lại. Hầu hết các thử nghiệm lâm sàng đƣợc tiến hành đều
cho thấy đối với UTV giai đoạn sớm, phẫu thuật bảo tồn kết hợp với xạ trị cho tỷ lệ
sống thêm tƣơng đƣơng với phẫu thuật cắt bỏ vú và hiệu quả hơn so với phẫu thuật
bảo tồn vú đơn độc [39]. Tuy nhiên với một số bệnh nhân, phẫu thuật cắt bỏ vú lại là
lựa chọn tốt hơn do bản chất khối u, tiền sử điều trị hoặc kích thƣớc khối u lớn [7].
6
1.1.3.2. Xạ trị
Đối với UTV, xạ trị đƣợc áp dụng nhƣ một điều trị bổ trợ sau phẫu thuật cắt
tuyến vú hay phẫu thuật bảo tồn [7]. Nghiên cứu thực hiện trên 2 nhóm bệnh nhân
UTV điều trị hóa chất đơn độc và kết hợp với xạ trị cho thấy nhóm điều trị kết hợp có
tỷ lệ tái phát thấp hơn và tỷ lệ sống thêm cao hơn rõ rệt so với nhóm chỉ hóa trị đơn
độc [70]. Bên cạnh đó, một thử nghiệm lâm sàng khác của Recht A. còn chỉ ra việc
hóa trị trƣớc khi xạ trị sẽ cho kết quả tỷ lệ sống cao hơn khi sử dụng cả 2 phƣơng pháp
này sau phẫu thuật [78].
1.1.3.3. Điều trị nội tiết
Điều trị nội tiết (liệu pháp hormon) đƣợc biết đến nhƣ một phƣơng pháp điều trị
đích trong UTV. Liệu pháp này đƣợc chỉ định khi bệnh nhân UTV có thụ thể nội tiết tố
dƣơng tính với mục đích làm chậm hoặc ngừng sự phát triển của các tế bào ung thƣ
nhạy cảm hormon nhờ ức chế khả năng sản xuất hormon của cơ thể hoặc tác động vào
các hoạt động của hormon [14]. Hầu hết bệnh nhân UTV giai đoạn đầu đều có thụ thể
ER dƣơng tính. Các thử nghiệm cho thấy, điều trị nội tiết có thể làm giảm đƣợc 50% tỷ
lệ tái phát trên các bệnh nhân này [14]. Thời gian điều trị tối ƣu cho đến nay vẫn chƣa
đƣợc khẳng định tuy nhiên tất cả bệnh nhân nên sử dụng tối thiểu 5 năm [38]. Ngoài
điều trị bổ trợ, tamoxifen, toremifen và một số thuốc ức chế aromatase cũng đã đƣợc
chứng minh có hiệu quả rõ rệt trong điều trị UTV di căn tuy nhiên chƣa một liệu pháp
hormon nào đƣợc FDA chấp thuận trong điều trị tân bổ trợ [31].
1.1.3.4. Điều trị nhắm đích
Liệu pháp nhắm trúng đích ra đời khoảng một thập niên gần đây dựa trên sự
phát triển của công nghệ sinh học phân tử và đang đƣợc áp dụng rộng rãi trên lâm
sàng. Các thuốc thuộc nhóm này có tác dụng chọn lọc và gần nhƣ trực tiếp lên các tế
bào ung thƣ, ít gây độc cho các tế bào bình thƣờng, vì vậy thƣờng ít tác dụng phụ xảy
ra. Chúng đều là các thuốc kháng thụ thể Her-2/Neu, một thụ thể tyrosin kinase, xuất
hiện trong khoảng 20 – 25% bệnh nhân UTV. Các thuốc điển hình cho liệu pháp nhắm
trúng đích bao gồm trastuzumab, pertuzumab, lapatinid, bevacizumab…[14], [81].
7
1.1.3.5. Hóa trị liệu
Hóa trị liệu là một trong 3 liệu pháp điều trị toàn thân với mục tiêu chính là tiêu
diệt các tế bào ung thƣ, loại bỏ vi di căn phòng ngừa tái phát và di căn xa. Hóa trị liệu
có thể dùng kết hợp, hỗ trợ cho phẫu thuật hoặc đƣợc dùng nhƣ phƣơng pháp điều trị
chính khi phẫu thuật không thể thực hiện đƣợc [14]. Có nhiều loại hóa chất đƣợc dùng
trong hoá trị UTV, thông thƣờng nhất là các nhóm:
Nhóm kháng chuyển hoá
Cơ chế tác dụng: do có cấu trúc tƣơng tự các chất nội sinh nên khi vào cơ thể,
các chất này ức chế những enzym quan trọng trong quá trình tổng hợp acid nucleic, do
đó cản trở sinh tổng hợp ADN và ARN, làm cho sự phát triển của khối u bị ngừng lại.
Một số thuốc trong nhóm: methotrexat, 6–mercaptopurin, gemcitabin, 5-FU...
Nhóm alkyl hoá
Cơ chế tác dụng: khi vào cơ thể, bản thân các chất này hoặc sản phẩm chuyển
hóa của chúng tạo liên kết chéo bên trong và giữa các sợi ADN, làm thay đổi cấu trúc
ADN và ức chế sự tổng hợp ADN, làm cho tế bào ung thƣ không nhân lên đƣợc.
Một số thuốc trong nhóm: cisplatin, cyclophosphamid, melphalan, carmustin...
Nhóm kháng sinh trị ung thư
Cơ chế tác dụng: các chất này gắn vào ADN, làm ức chế các enzym cần thiết
cho quá trình sao chép và phiên mã hoặc làm đứt các đoạn ADN, do đó gây rối loạn
quá trình tổng hợp ADN, ức chế sự phân chia và phát triển của khối u.
Một số thuốc trong nhóm: doxorubicin, epirubicin, bleomycin,...
Alkaloid và các chất có nguồn gốc tự nhiên
Các taxan:
Cơ chế tác dụng: chúng làm tăng quá trình trùng hợp các dime tubulin tạo thành
các vi quản và làm ổn định các vi quản, ức chế quá trình phân bào đồng thời gây ra các
bất thƣờng về cấu trúc vi quản trong quá trình phân bào.
Một số thuốc trong nhóm: paclitaxel, docetaxel.
8
Các alkaloid dừa cạn:
Cơ chế tác dụng: chúng liên kết đặc hiệu với tubulin là protein ống vi thể,
phong bế sự tạo thành các thoi phân bào cần thiết cho sự phân chia tế bào, ức chế quá
trình tách đôi nhiễm sắc thể.
Một số thuốc trong nhóm: vinblastin, vincristin, vinorebin...[3].
1.1.3.6. Phác đồ hóa chất điều trị UTV
Cho đến thời điểm hiện tại, ngƣời ta khó có thể kết luận phác đồ trị liệu nào
đƣợc gọi là “chuẩn” cho bệnh nhân UTV. Xu hƣớng hiện nay, phác đồ có doxorubicin
hay đƣợc dùng trên thực tế lâm sàng do tính hiệu quả và thuận lợi của nó. Phác đồ AC
(doxorubicin, cyclophosphamid) là một ví dụ điển hình. Bệnh nhân dùng phác đồ này
chỉ phải truyền hóa chất trong một ngày với chu kỳ 3 tuần. Thực tế cho thấy, 4 đợt AC
có hiệu quả tƣơng đƣơng với 6 đợt CMF – vốn đƣợc coi là phác đồ kinh điển trong
điều trị UTV [14].
Hƣớng dẫn của NCCN (Mạng lƣới ung thƣ Quốc gia Hoa Kỳ) cũng đƣa ra rất
nhiều phác đồ khuyến cáo để điều trị UTV [67] trong đó, AC-T là phác đồ đƣợc lựa
chọn nhiều nhất trong điều trị UTV giai đoạn sớm do nhiều nghiên cứu đã chứng minh
đƣợc tính vƣợt trội của nó so với các phác đồ còn lại [35], [82]. Còn với các bệnh nhân
UTV giai đoạn muộn, xu hƣớng phổ biến là lựa chọn taxan phối hợp với anthracyclin.
Hội nghị chuyên đề về UTV San Antonio 2007 đã gợi ý thời gian sống không bệnh và
thời gian sống toàn bộ tăng có ý nghĩa thống kê ở nhóm điều trị với taxan so với nhóm
không có điều trị với taxan, kết quả này độc lập với tình trạng thụ thể và tuổi [14].
Dƣới đây là một số phác đồ thƣờng dùng trong điều trị UTV [4], [67].
9
Phác đồ AC (chu kỳ 21 ngày x 4 đợt)
Doxorubicin
60 mg/m2
TM
Ngày 1
2
Cyclophosphamid
600 mg/m
TM
Ngày 1
Phác đồ FAC (chu kỳ 21 ngày x 6 đợt)
5-FU
500 mg/m2
TM
Ngày 1, 8 (hoặc 4)
2
Doxorubicin
50 mg/m
TM
Ngày 1
2
Cyclophosphamid
500 mg/m
TM
Ngày 1
Phác đồ FEC (chu kỳ 28 ngày x 6 đợt)
Cyclophosphamid
400 mg/m2
TM
Ngày 1, 8
2
Epirubicin
50 mg/m
TM
Ngày 1, 8
2
5-FU
500 mg/m
TM
Ngày 1, 8
Phác đồ Carboplatin Paclitaxel (chu kỳ 3 tuần)
Carboplatin
AUC 6
TM
Ngày 1
2
Paclitaxel
175 mg/m
TM
Ngày 1
Phác đồ AC – P (chu kỳ 21 ngày x 4 đợt – chu kỳ 21 ngày x 4 đợt)
Doxorubicin
60 mg/m2
TM
Ngày 1
2
Cyclophosphamid
600 mg/m
TM
Ngày 1
2
Paclitael
100 mg/m
TM
Ngày 1
Phác đồ Gemcitabin Carboplatin (chu kỳ 21 ngày)
Gemcitabin
1000 mg/m2
TM
Ngày 1, 8
Carboplatin
AUC 2
TM
Ngày 1, 8
Phác đồ TC (chu kỳ 21 ngày x 4 đợt)
Docetaxel
75 mg/m2
TM
Ngày 1
2
Cyclophosphamid
600 mg/m
TM
Ngày 1
Phác đồ TA (chu kỳ 21 ngày x 6 đợt)
Doxorubicin
60 mg/m2
TM
Ngày 1
2
Paclitaxel
175 mg/m
TM
Ngày 1
Phác đồ TAC (chu kỳ 21 ngày x 6 đợt)
Docetaxel
75 mg/m2
TM
Ngày 1
2
Doxorubicin
50 mg/m
TM
Ngày 1
2
Cyclophosphamid
500 mg/m
TM
Ngày 1
Phác đồ CMF (chu kỳ 28 ngày x 6 đợt)
Cyclophosphamid
100 mg/m2
Uống
Ngày 1 – 14
2
Methotrexat
40 mg/m
TM
Ngày 1, 8
2
5-FU
600 mg/m
TM
Ngày 1, 8
10
1.2. PHẢN ỨNG CÓ HẠI VÀ BIẾN CỐ BẤT LỢI CỦA THUỐC
1.2.1. Khái niệm phản ứng có hại của thuốc (ADR)
Năm 1972, WHO đƣa ra định nghĩa chính thức về ADR: “Phản ứng có hại của
thuốc là một phản ứng độc hại, không đƣợc định trƣớc và xuất hiện ở liều thƣờng dùng
cho ngƣời để phòng bệnh, chẩn đoán hoặc điều trị bệnh hoặc làm thay đổi một chức
năng sinh lý” [91]. Định nghĩa này không bao gồm những thất bại điều trị, những phản
ứng độc tính có chủ định hoặc vô tình (ví dụ quá liều) hoặc lạm dụng thuốc cũng nhƣ
những sai sót về đƣờng dùng và việc không tuân thủ trong sử dụng thuốc [91].
Tuy nhiên, năm 2000, Edwards và Aronson đã chỉ ra những hạn chế của định
nghĩa này nhƣ là nó bao gồm cả những phản ứng có hại rất nhỏ hoặc những phản ứng
có hại gây ra bởi các tạp chất (ví dụ trong thuốc dƣợc liệu) và các thành phần khác
không phải thành phần hoạt tính có trong công thức. Do đó, các tác giả này đã đề xuất
một khái niệm mới: “Phản ứng có hại của thuốc là một phản ứng gây hại đáng kể hoặc
bất lợi xảy ra sau một can thiệp có liên quan đến việc sử dụng thuốc. Một phản ứng có
hại có thể là cơ sở để dự đoán đƣợc mức độ nguy hại của việc sử dụng thuốc này để
phòng, điều trị hoặc hiệu chỉnh liều, hoặc ngừng thuốc” [40]. Đồng thời họ cũng nhấn
mạnh, ADR là những tai biến trực tiếp do thuốc xuất hiện ở liều thông thƣờng [40].
1.2.2. Khái niệm biến cố bất lợi của thuốc (ADE)
Theo các định nghĩa của mình, ADR chỉ liên quan đến những tai biến do thuốc
gây ra trong khi trên thực tế, phần lớn các tai biến liên quan đến thuốc do bệnh nhân là
hậu quả của việc sai sót trong cách sử dụng thuốc của họ. Vì thế gần đây, nhiều tác giả
có xu hƣớng chuộng sử dụng thuật ngữ biến cố bất lợi của thuốc (Adverse Drug
Event/Adverse Drug Experience – ADE), đƣợc định nghĩa theo WHO: “những tai biến
có thể xảy ra trong quá trình điều trị bằng thuốc nhƣng không nhất thiết phải do quá
trình điều trị gây ra” [90]. Nhƣ vậy, ADR là một phần của ADE, thuật ngữ ADE có thể
bao hàm cả những tác hại do thuốc gây ra (ADR và quá liều) và những tác hại do việc
sử dụng thuốc (bao gồm cả giảm liều và ngừng trị liệu) [34].
Sai sót trong sử dụng thuốc (Medication error – ME) là một lỗi không cố ý xảy
ra trong quá trình điều trị bằng thuốc mà từ đó dẫn tới hoặc có nguy cơ dẫn tới tác hại
11
cho bệnh nhân [41]. Những sự cố này có thể liên quan đến các thao tác chuyên môn,
các sản phẩm y tế, hệ thống hoặc quá trình nhƣ: kê đơn, thông tin đơn thuốc, ghi nhãn,
đóng gói, cách gọi tên, pha chế, cấp phát, cách quản lý, hƣớng dẫn, theo dõi và sử
dụng thuốc [69]. ME gặp nhiều hơn ADE tuy nhiên không phải tất cả ME đều gây ra
tác hại. Trên thực tế chỉ dƣới 1% các sai sót trong sử dụng thuốc gây hậu quả không
mong muốn [69]. Những ME có thể ngăn chặn kịp thời trƣớc khi gây tác hại thƣờng
đƣợc gọi là các ADE tiềm tàng [87]. Ngƣời ta ƣớc tính hoảng 25% các ADE trong
bệnh viện là do sai sót trong sử dụng thuốc [69].
Mối quan hệ giữa ADR, ADE và ME có thể đƣợc minh họa nhƣ hình 1.1.
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa ME, ADE và ADR trên thực hành lâm sàng [69]
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ADE là một trong những yếu tố lớn nhất gây ra các
biến chứng trên bệnh nhân nội trú [37]. Nó ảnh hƣởng tới 2 triệu bệnh nhân mỗi năm
và kéo dài thời gian nằm viện trung bình 1,7 – 4,6 ngày [37]. Tổn phí do ADE gây ra
hàng năm ở Mỹ lên tới 3,5 tỷ USD [49]. Mặc dù xảy ra rất phổ biến tuy nhiên 1/3 các
ADE đó hoàn toàn có thể ngăn chặn đƣợc, đặc biệt là các ADE nghiêm trọng [34]. Vì
vậy, ADE đã và đang trở thành ƣu tiên số 1 trong lĩnh vực giám sát độ an toàn và chất
lƣợng điều trị. Trong khi ADR là quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản lý dƣợc
phẩm và giám sát hậu mãi, ADE – thuật ngữ toàn diện hơn và có ý nghĩa lâm sàng cao
hơn, bao gồm tất cả những gì có thể gây bất lợi khi điều trị bằng thuốc – là mục tiêu
của những nỗ lực lớn hơn hƣớng tới sự nâng cao độ an toàn cho ngƣời bệnh.
12
1.2.3. Các ADE thƣờng gặp của hóa chất điều trị ung thƣ vú
Hầu hết hóa chất điều trị ung thƣ hiện nay đều là những chất gây độc với tế bào.
Chúng can thiệp trực tiếp vào quá trình phân bào, tuy nhiên lại không có khả năng
phân biệt tế bào thƣờng với tế bào ung thƣ, vì thế chúng ức chế và tiêu diệt cả các tế
bào thƣờng, đặc biệt là những tế bào phân chia nhanh. Đây chính là nguyên nhân gây
ra rất nhiều TDKMM của các hóa chất điều trị ung thƣ. Do đó, việc nhận thức và phát
hiện sớm các độc tính này đang là một trong những nhiệm vụ hàng đầu cho các bác sĩ
và dƣợc sĩ lâm sàng.
Có rất nhiều loại hóa chất cũng nhƣ nhiều cách phối hợp chúng khác nhau đƣợc
sử dụng trong điều trị ung thƣ nói chung và UTV nói riêng. Điều này có nghĩa các
ADE xảy ra trong điều trị UTV sẽ khác nhau phụ thuộc vào loại hóa chất và liều sử
dụng của chúng. Trong đó, một số ADE xuất hiện phổ biến hơn các ADE khác. Chúng
bao gồm: nôn, buồn nôn, mệt mỏi, rụng tóc, suy tủy, viêm miệng, tiêu chảy và táo bón
[6], [83].
1.2.3.1. ADE trên hệ tạo máu
Ức chế tủy xƣơng là một TDKMM hay gặp trong hóa trị liệu UTV. Thông
thƣờng, tác dụng ức chế tủy xƣơng của một đợt hóa trị chỉ kéo dài tạm thời. Các thay
đổi xảy ra sau một vài ngày điều trị và đạt đỉnh trong vòng 10 đến 14 ngày rồi hồi
phục dần trong tuần sau đó hoặc lâu hơn.
Quá trình sản sinh bạch cầu rất nhạy cảm với sự ức chế tủy xƣơng trong khi sự
thay đổi ở hồng cầu và tiểu cầu diễn ra chậm hơn và thƣờng chỉ xuất hiện sau một vài
đợt điều trị [83].
Hạ bạch cầu
Bạch cầu bắt đầu hạ sau 5 – 7 ngày kể từ lúc truyền hóa chất và đạt giới hạn
dƣới trong vòng 2 tuần sau trị liệu. Vào tuần thứ 3, số lƣợng bạch cầu hồi phục trở lại
tuy nhiên sẽ nhiều hoặc ít hơn so với bình thƣờng. Điều này đồng nghĩa với nguy cơ
nhiễm trùng tăng lên. Biểu hiện của nhiễm trùng ở bệnh nhân giảm bạch cầu hạt bao
gồm nhiệt độ cơ thể >38°C và số lƣợng bạch cầu giảm dƣới 109 tế bào/L [15].
13
Mức độ nhiễm trùng nghiêm trọng nhất ở những bệnh nhân có bạch cầu giảm
sâu (<0,1x109/L) hoặc giảm bạch cầu kéo dài quá 14 ngày. Trong khi đó, những bệnh
nhân điều trị hóa trị liều cao là đối tƣợng thƣờng xuyên có cả hai điều kiện này. Những
bệnh nhân điều trị hóa trị thông thƣờng có nguy cơ thấp hơn, thời gian hạ bạch cầu của
họ chỉ kéo dài từ 7 đến 10 ngày. Ngoài ra, một số nghiên cứu trên bệnh nhân UTV cho
thấy phác đồ điều trị nhƣ AT, TAC, docetaxel đơn thuần có tỷ lệ sốt giảm bạch cầu
cao hơn 20% so với các phác đồ khác [83].
Tình trạng nhiễm trùng trên những bệnh nhân giảm bạch cầu hạt đƣợc coi là
một trƣờng hợp cấp cứu cần sự can thiệp của y tế, do đó mỗi bệnh nhân cần đƣợc đánh
giá và cảnh báo nguy cơ mắc phải. Nếu sốt cao kéo dài trên 38°C hoặc có bất kì triệu
chứng nhiễm trùng nào nhƣ rét run, đau họng, ho kèm khó thở, bệnh nhân cần nhập
viện ngay để đánh giá và điều trị. Thông thƣờng ở các bệnh viện hiện nay, sốt kèm
giảm bạch cầu hạt đƣợc điều trị bằng cách truyền kháng sinh hoặc sử dụng yếu tố kích
thích bạch cầu hạt (GSCF). NCCN khuyến cáo lựa chọn GSCF nhƣ dự phòng đầu tiên
cho các bệnh nhân có nguy cơ 20% hoặc cao hơn và cân nhắc dự phòng chúng cho
những bệnh nhân có nguy cơ thấp hơn. Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng đều cho thấy
tính an toàn và hiệu quả rõ rệt tuy nhiên chi phí của các thuốc này không hề rẻ [65].
Thiếu máu
Thiếu máu do hạ hồng cầu, đƣợc định nghĩa là khi nồng độ Hb <10g/dl, ƣớc
tính xảy ra ở khoảng 20% đến 60% bệnh nhân điều trị hóa chất. Thiếu máu có thể dẫn
đến nhiều triệu chứng nhƣ mệt mỏi, da xanh, chóng mặt, nhức đầu, khó thở đặc biệt
những lúc gắng sức, hạ huyết áp, tăng nhịp tim và có thể làm nặng thêm bệnh tim, phổi
mắc kèm [43]. Thiếu máu cũng có thể gây ảnh hƣởng xấu đến kết quả xạ trị và hóa trị
do sự oxy hóa thấp ở tế bào làm giảm sự nhạy cảm của các khối u với xạ trị và một số
phác đồ hóa trị [16].
Tỷ lệ và mức độ thiếu máu phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại phác đồ, liều dùng
của hóa chất và việc bệnh nhân đã điều trị hóa chất gây suy tủy trƣớc đây hay chƣa.
Các phác đồ có cisplatin, carboplatin cùng với các hóa trị liệu thế hệ mới nhƣ các
taxan, vinorelbin có mức độ gây suy tủy đáng chú ý. Ngoài ra, tuổi tác và các bệnh
14
mắc kèm cũng có thể làm tăng nguy cơ thiếu máu và giảm khả năng chịu đựng các
triệu chứng thiếu máu ở bệnh nhân [45].
Các biện pháp điều trị thiếu máu hiện nay bao gồm truyền máu, bổ sung sắt
trong trƣờng hợp thiếu hụt sắt hoặc dùng các ESA nhƣ EPO và darbepoetin-α để kích
thích sản sinh hồng cầu [47].
Hạ tiểu cầu
Hạ tiểu cầu cũng là một tác dụng phụ thƣờng gặp của hóa trị liệu UTV. Nghiên
cứu cho thấy cylophosphamid, 5-FU, vincristin gây giảm tiểu cầu mức độ nhẹ,
cisplatin gây giảm mức độ trung bình, paclitaxel gây giảm mức độ cao [36].
Các biểu hiện của giảm tiểu cầu bao gồm dễ bị thâm tím, chảy máu kéo dài hơn
bình thƣờng sau khi bị một vết cắt nhỏ, xuất hiện các chấm xuất huyết đốm đỏ hoặc
tím trên da, chảy máu chân răng, chảy máu cam và có thể xuất huyết nội tạng nếu số
lƣợng tiểu cầu xuống quá thấp (dƣới 1010/L), khi đó, cần truyền tiểu cầu cho bệnh nhân
[36]. Các bệnh nhân bị giảm tiểu cầu nặng có thể đƣợc chỉ định tiêm yếu tố tăng
trƣởng tiểu cầu mỗi ngày giúp giảm nhu cầu truyền tiểu cầu và giảm nguy cơ chảy
máu. Một vài yếu tố tăng trƣởng tiểu cầu đã đƣợc nghiên cứu tuy nhiên đến giờ chỉ có
oprelvekin (rIL-11) là đƣợc FDA chấp nhận [61].
1.2.3.2. ADE trên hệ tiêu hóa
Viêm miệng
Viêm miệng là một biến cố quan trọng và thƣờng xuyên trên lâm sàng khi điều
trị hóa chất UTV. Tỷ lệ và mức độ ảnh hƣởng của viêm miệng rất khác nhau giữa các
hóa chất cũng nhƣ giữa các bệnh nhân. Một số thuốc nhƣ 5-FU, các anthracyclin và
các taxan đƣợc xếp vào các chất có nguy cơ cao gây viêm miệng [55]. Trên phƣơng
diện bệnh nhân, tuổi và các bệnh mắc kèm nhƣ suy dinh dƣỡng, sức khỏe răng miệng
kém là các yếu tố liên quan đến nguy cơ viêm miệng [73]. Triệu chứng khởi phát của
viêm là niêm mạc miệng tấy đỏ trong tuần điều trị đầu tiên, sau đó xuất hiện các vết
loét với kích thƣớc có thể tăng dần đi kèm với cơn đau dữ dội gây ảnh hƣởng đến việc
ăn uống và vệ sinh răng miệng của bệnh nhân. Nó cũng tác động đến cả vị giác, làm
thay đổi vị giác của bệnh nhân hoặc khiến cho họ mất vị giác trong suốt quá trình trị
15
liệu. Quá trình khỏi bệnh diễn ra trong vòng 2 – 4 tuần sau trị liệu và không để lại di
chứng [57]. Với một thuốc có nguy cơ gây viêm miệng, thông thƣờng tiến hành
chƣờm đá 15 – 30 phút trƣớc khi truyền thuốc và tiếp tục chƣờm 30 phút sau khi
truyền thuốc. Riêng methotrexat liều cao, có thể tiêm tĩnh mạch acid folinic đồng thời
với methotrexat kết hợp với uống acid folinic thêm 1 – 2 ngày sau trị liệu [83].
Nôn và buồn nôn
Phần lớn bệnh nhân UTV điều trị hóa bổ trợ đều gặp phải TDKMM này nhƣng
ở mức độ nhẹ hoặc trung bình và chỉ dƣới 5% bệnh nhân có những triệu chứng nặng
[32]. Buồn nôn có thể xảy ra vài giờ sau khi dùng thuốc, nặng nhất trong vòng 2 ngày
đầu và thƣờng hết nhanh chóng sau 1 hoặc 2 ngày. Mức độ nghiêm trọng rất khác nhau
do độc tính của các thuốc. Trong khi methotrexat, docetaxel, paclitaxel, 5-FU là những
thuốc ít gây buồn nôn thì cisplatin, cyclophosphamid với liều cao hơn 1500mg/m2
đƣợc xếp vào thuốc có nguy cơ buồn nôn cao. Ngoài ra, nhiều bằng chứng cũng cho
thấy một số ngƣời có nguy cơ nôn và buồn nôn do hóa trị cao hơn những ngƣời khác,
đặc biệt là những phụ nữ từng bị nghén nặng khi mang thai. Những ngƣời trẻ cũng dễ
gặp phải biến cố này cao hơn ngƣời già. Để hạn chế độc tính nôn và buồn nôn của các
hóa chất, biện pháp dự phòng bằng các thuốc chống nôn thƣờng đƣợc ƣu tiên sử dụng
hơn là đợi đến khi các triệu chứng phát triển [77], [83].
Trƣớc đây, metoclopramid và domperidon là 2 thuốc hay đƣợc sử dụng. Từ
những năm 1990, sự xuất hiện của các thuốc ức chế receptor 5HT3 nhƣ ondansetron
hay granisetron đã làm giảm đáng kể độc tính này [77]. Tác dụng của chúng còn đƣợc
tăng cƣờng bởi dexamethason, cũng là một thuốc chống nôn hiệu quả, thƣờng đƣợc dự
phòng cho những trƣờng hợp có nguy cơ thấp [48]. Ngoài ra gần đây, một số thuốc
chống nôn mới dựa trên cơ chế ức chế receptor NK1 đã đƣợc FDA phê duyệt, bao gồm
aprepitant (2006) và fosaprepitant (2008) [88].
Tiêu chảy và táo bón
Tiêu chảy và táo bón đều là những biểu hiện của viêm đƣờng tiêu hóa. Trong
khi cơ chế của táo bón chƣa rõ ràng thì tiêu chảy có liên quan đến sự thay đổi diện tích
bề mặt biểu mô hấp thu và tiêu hóa. Ngoài ra sự phát triển quá mức của các vi khuẩn
16