Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

skkn tích hợp môn tin học và toán học trong dạy bài kiểu mảng cho học sinh lớp 11 ở trường thpt yên định 3

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (307.8 KB, 18 trang )

së gi¸o dôc vµ ®µo t¹o thanh hãa
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÍCH HỢP MÔN TIN HỌC VÀ TOÁN HỌC
TRONG DẠY BÀI KIỂU MẢNG CHO
HỌC SINH LỚP 11 Ở TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3

Người thực hiện:
Lê Tiến Lực
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN môn: Tin học

THANH HOÁ NĂM 2016


MỤC LỤC
1- MỞ ĐẦU
2- NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận:
2.1.1. Dạy học tích hợp la gì
2.1.2 Dạy học tích hợp ở các vùng như thế nào:
2.1.3. Thế nào là dạy học "tích hợp, liên môn"?
2.1.4. Sự khác nhau giữa chủ đề đơn môn và chủ đề liên môn
2.1.5. Ưu điểm của dạy học tích hợp
2.2. Thực trạng của dạy học Tin học ở trường THPT yên định 3
2.3. Giải pháp thực hiện nhiệm vụ của đề tài:
2.4 . Hiệu quả của thực hiện sáng kiến:
3. Kết luận



3
4
4
4
4
7
7
8
9
10
17
18

2


1- MỞ ĐẦU
Qua nhiều năm thực hiện dạy và học chương trình tin học ở bậc THPT, là
môn học thu hút được sự quan tâm đặc biệt của học sinh và các nhà trường cũng
như các bậc phụ huynh. Chương trình tin học phổ thông nói chung không những
giúp học sinh rèn luyện tư duy, kỹ năng lập trình; từ đó học sinh có thái độ ham
thích môn học, có tính kỹ luật cao và tinh thần làm việc theo nhóm. Ngoài ra
đây còn là một môn học bổ trợ rất hiệu quả cho các môn học khác như Toán, Lý,
Tiếng Anh, Văn học,…. Để đạt được những mục tiêu chung nói trên với việc
lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học, việc tổ chức dạy và học của
giáo viên là yếu tố rất quan trọng. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay của các
trường THPT vùng nông thôn, miền núi thì còn nhiều hạn chế về các mặt sau:
- Đại đa số các em học sinh còn xem đây là một môn học phụ, chưa quan
trong như các môn học khác cần để thi THPT quốc gia để xét tốt nghiệp và xét

tuyển vào các trường Đại học, nên gây khó khăn cho việc dạy học bộ môn.
- Khối lượng kiến thức của bộ môn là tương đối nhiều và thiên về truyền đạt
tri thức tin học độc lập cho học sinh, nên các em học sinh đôi khi cảm thấy chưa
hứng thú với giờ học, thậm chí có những học sinh không thực sự quan tâm đến
môn học này và dẫn đến kết quả học tập không cao.
- Môn tin học được tích hợp vào các môn học khác một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp khá nhiều nhưng ngược lại môn tin học lại chưa chủ
động tích hợp vào các môn học khác một cách hiệu quả nên đây là vấn đề mới
và cần được quan tâm hơn nữa để thể hiện vai trò bộ môn cũng như nâng cao
hiệu quả dạy học bôn môn.
- Trước những khó khăn chung đó với tư cách là giáo viên Tin học trường
THPT Yên Định 3 qua nhiều năm công tác tôi xin trình bầy lại kinh nghiệm của
mình qua đề tài này.
- Đề tài được nghiên cứu chủ yếu trên học sinh lớp 11 THPT ở đơn vị và đã
thu được thành công bước đầu cùng với phương pháp dạy học tích cực được thể
hiện trong bài tích hợp môn tin học và toán học lớp 11.
- Sau một năm thực hiện, mặc dù kết quả bước đầu là chưa thực sự như mong
đợi, nhưng chúng tôi nhận thấy đây là cách làm có hiệu quả, góp khắc phục
những tình trạng khó khăn trên của nhà trường và nâng cao hơn nữa hiệu quả
học tập môn tin học tại trường THPT Yên Định 3. Tôi rất mong được sự quan
tâm đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các em học sinh để ngày càng có nhiều
hình thức hay hơn nữa trong việc nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn.
Xin chân thành cảm ơn !

3


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận:
2.1.1. Dạy học tích hợp là gì :

Tích hợp là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lí luận dạy
học. Tích hợp (Tiếng Anh, tiếng Đức: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh:
Integration với nghĩa là xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở
những bộ phận riêng lẻ.
Theo từ điển Tiếng Anh -Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary), từ
Intergrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một
tổng thể. Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp với
nhau.
Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh
vực khoa học giáo dục (GD), khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khai sáng,
dùng để chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm
cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối. Tích hợp còn có nghĩa là thành
lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình
nhà trường vốn có.
Trong dạy học (DH) các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp
các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền
thống từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung
cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung
GD dân số, GD môi trường, GD an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức,
Tiếng Việt hay Tự nhiên và xã hội… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học
truyền thống.
Tích hợp là một trong những quan điểm GD đã trở thành xu thế trong việc
xác định nội dung DH trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương
trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm tích hợp được xây dựng
trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình DH.
2.1.2. Dạy học tích hợp ở các vùng như thế nào:
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích
hợp trong GD và DH sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề
phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với việc các
môn học, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ. Tích hợp là một trong những

quan điểm GD nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những
người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống
hiện đại. Nhiều nước trong khu vực Châu Á và trên thế giới đã thực hiện quan
điểm tích hợp trong DH và cho rằng quan điểm này đã đem lại hiệu quả nhất
định.

4


Ở Việt Nam, Thời Pháp thuộc, quan điểm tích hợp được thể hiện trong
một số môn ở trường tiểu học như môn «Cách trí », sau đổi thành môn « Khoa
học thường thức ». Môn học này còn được dạy một số năm ở trường cấp I của
miền Bắc nước ta.
Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn “Tìm hiểu Tự nhiên
và xã hội” theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và môn học này được thiết
kế để đưa vào DH ở trường cấp I từ lớp 1 đến lớp 5. Chương trình năm 2000 đã
được hoàn chỉnh thêm một bước, quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong CT
& SGK và các hoạt động DH ở tiểu học. Tuy nhiên khái niệm tích hợp vẫn còn
mới lạ với nhiều GV. Một số đã có nhận thức ban đầu nhưng còn hạn chế về kĩ
năng vận dụng.
Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm hiện đại trong GD. Hiểu
đúng và làm đúng quá trình tích hợp có thể đem lại những hiệu quả cụ thể đối
với từng phân môn trong một thể thống nhất của các môn học ở tiểu học
Tư tưởng tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống. Trước hết
phải thấy rằng cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thư, là một tập đại thành
của tri thức, kinh nghiệm và phương pháp. Mọi tình huống xảy ra trong cuộc
sống bao giờ cũng là những tình huống tích hợp. Không thể giải quyết một vấn
đề và nhiệm vụ nào của lí luận và thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp và
phối hợp kinh nghiệm kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau. Tích hợp
trong nhà trường sẽ giúp HS học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức,

kĩ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lí
trong giải quyết các tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại.
Hiện nay, trên toàn thế giới mỗi ngày có khoảng 2000 cuốn sách được
xuất bản, điều ấy đủ thấy không thể học tập như cũ và giảng dạy như cũ theo
chương trình và sách giáo khoa (CT & SGK) gồm quá nhiều môn học riêng rẽ,
biệt lập với nhau. Mặt khác, sự phát triển của khoa học trên thế giới ngày càng
nhanh, nhiều vấn đề mới DH cần phải đưa vào nhà trường như: Bảo vệ môi
trường, GD dân số, GD pháp luật, phòng chống ma túy, GD sức khỏe, an toàn
giao thông…, nhưng quỹ thời gian có hạn, không thể tăng số môn học lên được.
Việc tích hợp nội dung một số môn học là giải pháp có thể thực hiện được nhiệm
vụ GD nhiều mặt cho HS mà không quá tải.
Tích hợp là quan điểm hòa nhập, được hình thành từ sự nhất thể hóa
những khả năng, một sự quy tụ tối đa tất cả những đặc trưng chung vào một
chỉnh thể duy nhất. Khoa học hiện nay coi trọng tính tương thích, bổ sung lẫn
nhau để tìm kiếm những quan điểm tiếp xúc có thể chấp nhận đựợc để tạo nên
tính bền vững của quá trình DH các môn học.

5


Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, quan điểm tiếp cận tích hợp đã ảnh
hưởng tới giáo dục Việt Nam và bước đầu thể hiện một phần trong chương trình
và SGK các môn học ở tiểu học và được hiểu là “phương hướng nhằm phối hợp
một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học, phân môn khác nhau
theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng mục tiêu, mục
đích và yêu cầu khác nhau” (Nguyễn Cảnh Toàn).
Trong một số môn học, tư tưởng tích hợp được tiếp nhận với các mức độ
thấp và khác nhau như: Lồng ghép - là đưa thêm nội dung cần học tương tự với
môn học chính; tích hợp - là sự kết hợp tri thức của nhiều môn học tạo nên môn
học mới

Quan điểm tích hợp và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đã được
GV tiếp nhận nhưng ở mức độ thấp. Phần lớn GV lựa chọn mức độ tích hợp
“liên môn hoặc tích hợp “nội môn. Các bài dạy theo hướng tích hợp sẽ làm cho
nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, với sự phát triển của cộng đồng.
Những nội dung dạy HS nhỏ tuổi theo các chủ đề “Gia đình”, “Nhà trường”,
“Cuộc sống quanh ta”, “Trái đất và hành tinh”…làm cho HS có nhu cầu học tập
để giải đáp được những thắc mắc, phục vụ cho cuộc sống của mình và cộng
đồng. Học theo hướng tích hợp sẽ giúp cho các em quan tâm hơn đến con người
và xã hội ở xung quanh mình, việc học gắn liền với cuộc sống đời thường là yếu
tố để các em học tập. Những thắc mắc nảy sinh từ thực tế làm nảy sinh nhu cầu
giải quyết vấn đề của các em. Chẳng hạn “vì sao có sấm chớp?’, “vì sao không
được chặt cây phá rừng?”, “vì sao….?.”
Thực tế ở một số trường tiểu học cho thấy, các bài sọan để DH theo
hướng tích hợp đã giúp cho GV tiếp cận tốt nhất với CT & SGK mới. Bài dạy
linh hoạt, HS học được nhiều, được chủ động tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức và
rèn luyện kĩ năng. Muốn tiến hành có hiệu quả, cần phải chú trọng đến việc bồi
dưỡng GV. GV phải hiểu được thế nào là tích hợp, phải nghiên cứu chương
trình, tài liệu xem nó dựa trên môn khoa học xác định nào, có thể mở rộng quan
hệ tương tác với các khoa học khác như thế nào, mức độ tích hợp thể hiện ra
sao?...
Từ thực tiễn GD tiểu học ở nhiều nước và Việt Nam cho thấy, DH theo
hướng tích hợp là xu thế mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng, đặc biệt là các
nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. GV tiểu học khi đã quen với
cách dạy tích hợp thì việc xử lí các tình huống GD trở nên mềm dẻo hơn. DH
theo hướng tích hợp phát huy được tính tích cực của HS, góp phần đổi mới nội
dung và phương pháp DH ở trường tiểu học.

6



Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra,
đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học
sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, sau khi Quốc hội thông quaĐề án đổi mới chương trình, SGK
giáo dục phổ thông, Bộ GD-ĐT tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường
bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu
đổi mới, trong đó tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp, liên môn”
là một trong những vấn đề cần ưu tiên.
2.1.3. Thế nào là dạy học "tích hợp, liên môn"?
Dạy học tích hợp, liên môn xuất phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học
phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng
kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn.
Khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, đòi
hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều môn học. Vì
vậy, dạy học cần phải tăng cường theo hướng tích hợp, liên môn như bạn hỏi.
Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan
vào quá trình dạy học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống;
giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo
dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao
thông...
Còn dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan
đến hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần
cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau. Đối với những kiến thức
liên môn nhưng có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương
trình của môn đó và không dạy lại ở các môn khác.
Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các
chủ đề liên môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song
với quá trình dạy học các bộ môn liên quan.
2.1.4. Sự khác nhau giữa chủ đề "đơn môn" và chủ đề "liên môn"?
Chủ đề đơn môn đề cập đến kiến thức thuộc về một môn học nào đó còn

chủ đề liên môn đề cập đến kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học.
Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thì không có gì khác biệt. Đối với
một chủ đề, dù đơn môn hay liên môn, thì vẫn phải chú trọng việc ứng dụng
kiến thức của chủ đề ấy, bao gồm ứng dụng vào thực tiễn cũng như ứng dụng
trong các môn học khác.
Do vậy, về mặt phương pháp dạy học thì không có phân biệt giữa dạy học
một chủ đề đơn môn hay dạy học một chủ đề liên môn, tích hợp.

7


Điều quan trọng là dạy học nhằm phát triển năng lực học sinh đòi hỏi phải
tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực và sáng tạo cho học sinh, mà các hoạt
động ấy phải được tổ chức ở trong lớp, ngoài lớp, trong trường, ngoài trường, ở
nhà và cộng đồng, đặc biệt quan tâm đến hoạt động thực hành và ứng dụng kiến
thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn.

2.1.5. Ưu điểm của dạy học tích hợp.
Ưu điểm với học sinh
Trước hết, các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động,
hấp dẫn đối với học sinh, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập
cho học sinh. Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận
dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ
kiến thức một cách máy móc.
Điều quan trọng hơn là các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh
không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác
nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát
cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn.
Ưu điểm với giáo viên
Đối với giáo viên thì ban đầu có thể có chút khó khăn do việc phải tìm hiểu sâu

hơn những kiến thức thuộc các môn học khác. Tuy nhiên khó khăn này chỉ là
bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng bởi hai lý do:
Một là, trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường
xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã
có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó;
Hai là, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo
viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định
hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học;
Vì vậy, giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn
trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học.
Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho
giáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn
có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên,
góp phần phát triển đội ngũ giáo viên bộ môn hiện nay thành đội ngũ giáo viên
có đủ năng lực dạy học kiến thức liên môn, tích hợp. Thế hệ giáo viên tương lai
sẽ được đào tạo về dạy học tích hợp, liên môn ngay trong quá trình đào tạo giáo
viên ở các trường sư phạm.

8


Giáo viên có gặp khó khăn?
Khó khăn của giáo viên hiện nay nếu có chỉ là vấn đề tâm lí. Về thực chất
thì không có nhiều khó khăn cả về kiến thức lẫn phương pháp dạy học.
Hơn nữa, từ nhiều năm nay, Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo tích hợp nhiều nội
dung giáo dục vào quá trình dạy học các môn học trong trường phổ thông như:
giáo dục đạo đức, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo
dục pháp luật; giáo dục phòng chống tham nhũng; giáo dục chủ quyền quốc gia,
tài nguyên và môi trường về biên giới, biển, đảo; sử dụng năng lượng tiết kiệm
và hiệu quả; bảo vệ môi trường; đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; ứng

phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; giáo dục an toàn
giao thông...
Về dạy học kiến thức liên môn, Bộ cũng đã tổ chức tập huấn giáo viên về
rà soát chương trình, SGK, xây dựng các chủ đề liên môn.
Giáo viên cần trang bị những gì?
Giáo viên cũng không phải trang bị thêm nhiều về mặt kiến thức vì bản chất vẫn
là dạy học môn học mà mình đang dạy. Mặt khác, trong những năm qua giáo
viên cũng đã được trang bị thêm nhiều kiến thức mới về phương pháp và kĩ
thuật dạy học tích cực.
Vấn đề bây giờ là phải vận dụng những kiến thức đó để: xây dựng các chủ
đề dạy học; xác định những năng lực có thể phát triển cho học sinh trong mỗi
chủ đề; biên soạn các câu hỏi, bài tập để đánh giá năng lực của học sinh trong
dạy học; thiết kế tiến trình dạy học thành các hoạt động học của học sinh; tổ
chức dạy học để dự giờ, phân tích, rút kinh nghiệm. Đó chính là nội dung trọng
tâm sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn được nêu trong hướng dẫn nói trên.
Bộ GD-ĐT dự kiến yêu cầu các đơn vị đặt ra định mức cho mỗi tổ/nhóm
chuyên môn là xây dựng và thực hiện được tối thiểu 2 chủ đề/học kì. Việc thực
hiện những chủ đề ấy chính là môi trường huấn luyện tốt nhất cho giáo viên ở
trong tổ bộ môn, trong nhà trường.
Tất nhiên giáo viên còn phải tăng cường giao lưu với các tỉnh khác, đơn vị
khác thông qua diễn đàn trên mạng mà Bộ GD-ĐT mới xây dựng.
2.2. Thực trạng của dạy học môn Tin học ở trường THPT Yên Định 3,
Thanh Hóa:
- Môn Tin học đã trở thành môn học bắt buộc trong nhà trường THPT và
có tăng thêm thời lượng. Qua những năm giảng dạy ở trường THPT Yên Định 3,
tôi được nhận thức về thực trạng dạy học thực hành Tin học của lớp 11 THPT và
rút ra nhận xét như sau:
9



- Đại đa số các em học sinh còn xem đây là một môn học phụ, chưa quan
trong như các môn học khác cần để thi THPT quốc gia để xét tốt nghiệp và xét
tuyển vào các trường Đại học, nên gây khó khăn cho việc dạy học bộ môn.
- Khối lượng kiến thức của bộ môn là tương đối nhiều và thiên về truyền đạt
tri thức tin học độc lập cho học sinh, nên các em học sinh đôi khi cảm thấy chưa
hứng thú với giờ học, thậm chí có những học sinh không thực sự quan tâm đến
môn học này và dẫn đến kết quả học tập không cao.
- Môn tin học được tích hợp vào các môn học khác một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp khá nhiều nhưng ngược lại môn tin học lại chưa chủ động tích hợp vào
các môn học khác một cách hiệu quả nên đây là vấn đề mới và cần được quan
tâm hơn nữa để thể hiện vai trò bộ môn cũng như nâng cao hiệu quả dạy học bôn
môn.
2.3. Giải pháp thực hiện nhiệm vụ của đề tài:
- Mỗi giáo viên phải tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học tích
hợp liên môn, nghiên cứu kỹ nội dung chương trình môn Tin học ở từng khối
lớp để xác định được các nội dung cần dạy học liên môn trên cơ sở:
- Xây dựng được các chủ đề, các nội dungdạy học tích hợp liên môn, các
chủ đề định hướng phát triển năng lực học sinh
- Tăng cường trao đổi chuyên môn ở trong tổ nhóm và các bộ môn “liên
quan” để xác định: mục tiêu dạy học, mục đích và mức độ tích hợp, liên môn,
phương tiện dạy học, cách thức tổ chức các hoạt động dạy học.
- Xây dựng quy trình và tổ chức các hoạt động dạy học cho phù hợp với
đối tượng học sinh, nội dung và mức độ dạy học tích hợp liên môn đảm bảo thực
hiện được mục tiêu dạy học, được thể hiện cụ thể ở các hoạt động của học sinh,
hoạt động của giáo viên và thời gian tổ chức cho từng hoạt động (Thiết kế giáo
án)
- Tổ chức dạy học tích hợp liên môn và rút kinh nghiệm.
- Do giới hạn về thời gian, nội dung báo cáo chỉ nêu một số VD:
Bước 1: Tri giác vấn đề:
- Tạo tình huống gợi vấn đề

- Giải thích và chính xác hóa để hiểu đúng tình huống
- Phát biểu vấn đề và đặt mục đích giải quyết vấn đề đó
Bước 2:Giải quyết vấn đề
- Phân tích vấn đề, làm rõ những mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải
tìm

10


- Đề xuất và thực hiện hướng giải quyết, có thể điều chỉnh, thậm chí bác bỏ
và chuyển hướng khi cần thiết. Trong khâu này thường hay sử dụng những qui
tắc tìm đoán và chiến lược nhận thức như sau: Qui lạ về quen; Đặc biệt hóa và
chuyển qua những trường hợp giới hạn; Xem tương tự; Khái quát hóa; Xét
những mối liên hệ và phụ thuộc; Suy ngược (tiến ngược, lùi ngược) và suy xuôi
(khâu này có thể được làm nhiều lần cho đến khi tìm ra hướng đi đúng)
- Trình bày cách giải quyết vấn đề
Bước 3: Kiểm tra và nghiên cứu lời giải
- Kiểm tra sự đúng đắn và phù hợp thực tế của lời giải
- Kiểm tra tính hợp lý hoặc tối ưu của lời giải
- Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả
- Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa,
lật ngược vấn đề và giải quyết nếu có thể.
Sau đây tôi xin trình bầy giáo án một tiết dạy( xin phép được trình bầy khác
quy cách quy định):
Tiết 21

BÀI TẬP
I. Mục tiêu
1. Về kiến thức
- Củng cố cho học sinh những hiểu biết về kiểu dữ liệu mảng một chiều.

+ Khai báo mảng một chiều phù hợp yêu cầu bài toán.
+ Nhập dữ liệu cho mảng, đưa ra màn hình chỉ số và giá trị các phần tử của mảng thỏa
mãn điều kiện nào đó.
+ Duyệt qua tất cả các phần tử của mảng để xử lý từng phần tử.
- Cung cấp cho học sinh hai thuật toán cơ bản và đơn giản thường gặp với dữ liệu kiểu mảng.
+ Kiểm tra dãy có phải là cấp số cộng hay không
+ Đếm số lượng các phần tử thỏa mãn điều kiện nào đó: Chẵn, lẻ, nguyên tố,…
2. Về kỹ năng:
- Thực hiện được khai báo mảng, truy cập, tính toán các phần tử của mảng.
- Cài đặt được thuật toán đơn giản để giải một số bài toán đơn giải với kiểu dữ liệu mảng
một chiều.
3. Về thái độ
- Rèn luyện thái độ học tập nghiêm túc, suy luận khoa học và sáng tạo, yêu khoa học
bộ môn.
- Bước đầu hình thành tác phong của người lập trình. Rèn luyện tư duy của người lập
trình,

II. Phương pháp và phương tiện dạy học:
-

Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, hoạt động nhóm, thuyết trình kết hợp
với sử dụng phương tiện dạy học trực quan.
Phương tiện: Máy chiếu, máy tính, phấn, bảng.

III- Chuẩn bị của thầy và trò:
-

Chuẩn bị của thầy: Giáo án, chương trình mẫu, phương tiện dạy học;

11



-

Chuẩn bị của trò: Ôn lại kiến thức cũ có liên quan, nghiên cứu trước bài học
này như : Các thuật toán của các bài toán ở lớp 10, khai báo, truy cập các phần
tử của mảng một chiều, các ví dụ về mảng một chiều đã học.

IV. Tiến trình dạy học:
Ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, nêu nhiệm vụ của bài học: (10 phút)
Câu 1: Trong ví dụ 2 ở tiết trước các em đã được học bài toán : Sắp xếp một dãy số nguyên
thành dãy không giảm, bằng thuật toán tráo đổi. Các em quan sát chương trình và cùng
nhau ôn lại kiến thức cũ qua các câu hỏi sau đây:
- Những dòng lệnh nào thể hiện việc khai báo mảng một chiều, tên biến mảng một chiều là gì.
- Mảng một chiều được khai báo theo cách gián tiếp hay trực tiếp ? Vì sao ?
- Mảng có bao nhiêu phần tử
- Kiểu dữ liệu của phần tử là gì ?
- Đoạn chương trình nào thể hiện việc nhập giá trị các phần tử cho mảng.
- Đoạn chương trình nào thể hiện việc Sắp xếp một dãy số nguyên thành dãy không giảm,
bằng thuật toán tráo đổi.
- Đoạn chương trình nào thể hiện việc in các phần tử của mảng sau khi được sắp xếp.
- Muốn cho chương trình thực hiện việc Sắp xếp một dã số nguên thành dãy không tăng,
bằng thuật toán tráo đổi ta sửa chương trình này chỗ nào, sửa như thế nào.
HS: Lần lượt ôn lại kiến thức cũ và tiếp nhận kiến thức mới.
GV: Trình chiếu chương trình, kết luận vấn đề và chạy thử chương trình cho HS quan sát kết
quả và ghi nhớ nội dung.
Câu 2: Trong Ví dụ 1 ở tiết trước các em đã được học bài toán: Tìm phần tử lớn nhất (Max)
của dãy. Các em quan sát chương trình và khắc sâu kiến thức các câu hỏi sau đây:
- Đoạn chương trình nào thể hiện việc Tìm phần tử lớn nhất của dãy.
- Muốn cho chương trình thực hiện việc Tìm phần tử nhỏ nhất (Min) của dãy,

ta sửa chương trình này chỗ nào, sửa như thế nào.
HS: Thảo luận, trả lời câu hỏi, nhớ lại kiến tức cũ, tiếp nhận kiến thức mới.
GV: Trình chiếu chương trình, kết luận vấn đề, trình chiếu chương trình sau khi sửa và chạy
thử chương trình cho HS quan sát kết quả và ghi nhớ nội dung.
GV: Tổng kết hai câu hỏi bài cũ và giới thiệu bài học mới.
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung
Hoạt động 1: Viết chương trình Giải bài toán cấp số cộng-Bài 5-Tr79-SGK (15 phút)
GV: Nêu yêu cầu của đầu bài
Bài tập 5: Viết chương trình nhập từ bàn phím
HS: Nghiên cứu bài toán, xác định Input, số nguyên dương N ( N ≤ 100) và dãy A gồm N
Output.
số nguyên A1, A2, …, An có giá trị tuyệt đối
GV: Nhắc lại cách tổ chức dữ liệu thể hiện không lớn hơn 1000. Hãy cho biết dãy A có
Input là mảng một chiều để lưu trữ các giá phải là cấp số cộng hay không và thông báo kết
trị của dãy A.
quả ra màn hình.
HS: Liên hệ với các bài toán trước và khai Input: Số nguyên dương N ( N ≤ 100) và N số
báo mảng một chiều.
nguyên A1, A2, …, An có giá trị tuyệt đối không
GV: Trình chiếu khai báo mảng một chiều lớn hơn 1000.
cho bài toán.
Output: Kết luận dãy là cấp số cộng hoặc
GV: Nhắc lại tính chất của cấp số cộng ?
không phải là cấp số cộng.
Cấp số cộng là một dãy số hữu hạn (hoặc Ý tưởng: Lấy d=A[2]-A[1] khi đó dãy là cấp số
vô hạn), trong đó kể từ số hạng thứ hai, mỗi

12



số hạng đều bằng số hạng đứng ngay trước
nó cộng với một số không đổi là d (công
sai).
Ta có các công thức sau, với n ∈ N *,
u n+1 = u n + d
u n = u1 + (n − 1)d ,

(n ≥ 2)

HS: Tiếp nhận biết và dần dần hình thành ý
tưởng cho thuật toán.
GV: Hãy thể hiện ý tưởng này thành các câu
lệnh trong Pascal để thực hiện ?
HS: Dùng câu lệnh for do hoặc while do để
thể hiện ý tưởng.
GV: Chia lớp thành 2 nhóm thực hiện hai
công việc trên.
HS: Thực hiện theo nhóm
GV: Theo dõi, hộ trợ các nhóm.
GV: Tổng kết hoạt động của hai nhóm và
đưa ra nội dung kết luận.

cộng nếu thõa mãn điều kiện:
A[i]=A[1]+(i-1)d
Hoặc A[i]-A[i-1]=d với 1 < i ≤ N
Dùng một vòng lặp theo biến i (i=3, 4,…,N) để
kiểm tra xem mỗi A[i] có thõa mãn điều kiện
nói trên hay không, chỉ cần phát hiện được một
phần tử của A không thỏa mãn điều kiện là kết

luận được dãy A không phải là cấp số cộng.
d:=A[2]-A[1];
KT:=True;
{------Dung for do ket hop voi Break-----}
For i:=3 to N do
IF A[i]-A[i-1] <> d then
begin
KT:=False;
break;
end;
{------ Dung While do ---------}
i:=3;
while (i<=N) and (KT) do
begin
IF A[i]-A[i-1] <> d then KT:=False ;
i:=i+1;
end;

Chú ý: Lệnh Break dùng để thoát khỏi vòng
lặp.

GV: Yêu cầu học sinh viết thành chương
trình hoàn chỉnh.
HS: Viết chương trình theo các phần sau:
Chương trình hoàn chỉnh.
- Viết phần khai báo: Tên chương trình, program Capsocong;
uses crt;
mảng một chiều, các biến cần thiết.
- GV: Trình chiếu các phần tương ứng của VarA:array[1..100] of integer;
chương trình.

i,n,d: integer; KT: boolean;
- Viết đoạn nhập N và dữ liệu cho mảng,
chú ý dùng while do để kiểm tra tính hợp lệ
của dữ liệu.

- Khởi trị ban đầu cho biến d và biến KT.
- Ghép vòng lặp kiểm tra và đưa ra kết luận
của bài toán từ hai nhóm.
- Viết hoàn chỉnh chương trình.
GV: Hướng dẫn, trợ giúp học sinh và trình
chiếu các phần tương ứng.

BEGIN
clrscr;
{---------------------------------------------------------------}
Write(' Nhap vao so nguyen duong (N <=100), N= ');
readln(N);
While (N<0) or (N>100) do
begin
Write(' Nhap lai (N <=100), N= ');
readln(N);
end;
{--------------------------------------------------------------}
For i:=1 to N do
begin
Write('A[',i,'] = ');
readln(A[i]);
while abs(A[i])>1000 do
Begin
Write('Nhap lai A[',i,']=');

readln(A[i]);
end;
end;
d:= A[2]-A[1] ;

13


GV: Dịch và chạy thử chương trình.
HS: Quan sát, ghi chép, và so sánh với kết
quả của mình, sửa sai và hình thành kỹ năng
viết chương trình.
GV: Giới thiệu cho học sinh bài tập kiểm
tra dãy có phải là cấp số nhân hay không
để học sinh liên hệ và làm thêm.

KT:=True;
{------------Dung for do ket hop voi Break------------- }
For i:=2 to N do
IF A[i]-A[i-1] <>d then
begin
KT:=False;
break;
end;
{-------------------- Dung While do ----------------------}
{ i:=2 ;
while (i<=N) and (KT) do
begin
IF A[i]-A[i-1] <> d then KT:=False ;
i:=i+1;

end; }
{ ------------------------------------------------------------}
IF KT then writeln( ' Day la cap so cong ')
else writeln(' Day khong phai la cap so cong ');
writeln( 'An Enter de tiep tuc ');
readln;
END.

Hoạt động 2: Viết chương trình cho Bài 6-Tr79-SGK (15 phút)
GV: Nêu yêu cầu cần thực hiện. Xác Bài tập 6: Viết chương trình nhập từ bàn phím số
định Input, Output của bài toán.
nguyên dương N ( N ≤ 100) và dãy A gồm N số
HS: Tiếp nhận yêu cầu, liên hệ với nguyên A1, A2, …, An có giá trị tuyệt đối không lớn
kiến thức đã học ở bài tập số 5 để so hơn 1000. Hãy đưa ra những thông tin sau:
sánh phần khai báo và phần nhập
a) Số lượng số chẵn và số lượng số lẻ trong
tương tự nhau.
dãy;
GV: Nêu sự giống nhau ở phần khai
b) Số lượng số nguyên tố trong dãy.
báo và phần nhập của hai bài tập và
Bài làm
hướng học sinh vào quan tâm đến phần
xử lý đếm số lượng số chẵn, số lẻ và Việc đếm số lượng số chẵn được thực hiện qua câu
lệnh for do và if then sau đây:
số nguyên tố.
so_chan:=0;
GV: Chúng ta cần khai báo thêm
For i:=1 to N do
những biến nào để thể hiện các đại

if A[i] mod 2 = 0 then so_chan:=so_chan+1;
lượng trong chương trình ?
Số lượng các số lẻ = N-so_chan;
GV: Gợi động cơ, nêu vấn đề để học
sinh tìm ra lời giải cho việc đếm số Việc đếm số lượng số nguyên tố được thực hiện
lượng các số chẵn, số lẻ.
qua đoạn chương trình sau đây:
- Số chẵn là số chia hết cho 2
- Số lẻ là số không chia hết cho 2, Số
so_nt:=0;
lượng các số lẻ = N-số lượng số chẵn.
For i:=1 to N do
GV yêu cầu học sinh thể hiện việc đếm
if A[i] > 1 then
số lượng số chẵn qua câu lệnh for do và
begin
u:=2;
câu lệnh if then bằng cách duyệt qua tất
while (u<=sqrt(a[i])) and ((A[i] mod u) <> 0) do
cả các phần tử của mảng.
u:=u+1;
HS; Thảo luận và đưa ra kết luận
if u>sqrt(A[i]) then so_nt:=so_nt+1;
GV: Giới thiệu ý tưởng của thuật toán
end;
kiểm tra tính nguyên tố của một số
Chương trình hoàn chỉnh.
nguyên dương.
program Bai_tap_6_chuong4;
uses crt;

- Trình chiếu ý tưởng, gợi động cơ.
Var
HS: Tiếp thu kiến thức mới.
A:array[1..100] of integer;
GV: HD học sinh dùng câu lệnh while do
14


để viết đoạn CT kiểm tra tính nguyên tố
của một số nguyên dương A[i];
HS: Thảo luận và đi đến đoạn chương
trình:
GV: Nêu vấn đề để học sinh ghép cả hai
công việc ở câu a) và câu b) vào một
vòng lặp để tiết kiệm thời gian thực hiện
chương trình.

GV: Đưa ra văn bản chương trình để học
sinh theo dõi, so sánh với chương trình
của mình, sửa chữa sai sót, thảo luận và
đưa ra ý kiến.
HS: Quan sát toàn bộ chương trình, rút
ra một số nhận xét quan trọng khi viết
chương trình:
- Cách khai báo các biến
- Cách xử lý trong một vòng for do cho
hai công việc của câu a và câu b, giúp
chương trình chạy nhanh hơn.
- Cách tổ chức dữ liệu mảng một chiều
và dãy số

- Cách dùng hai vòng lặp lồng nhau.
GV: Chạy thử chương trình cho học sinh
quan sát.
- HS quan sát cách viết và chạy chương
trình của giáo viên. Hình thành thói quen
viết chương trình theo cấu trúc, rõ ràng,
cẩn thận, đẹp….
GV: Tổng kết bài tập 2, đưa ra một số
dạng bài tập tương tự và phát triển vấn
đề: Như bài toán tính tổng các số ở vị trí
chẵn, tổng các số ở vị trí lẻ, bài toán
đếm số âm, số dương, bài toán kiểm tra
và đếm các phần tử chia hết cho một số
nguyên dương k nào đó….

i,N,u: integer;
so_nt, so_chan: integer;
BEGIN
clrscr;
Write(' Nhap vao so nguyen duong (N <=100), N= ');
readln(N);
While (N<0) or (N>100) do
begin
Write(' Nhap lai (N <=100), N= ');
readln(N);
end;
{--------------Nhap cac phan tu cua mang --------------}
For i:=1 to N do
begin
Write('A[',i,'] = ');

readln(A[i]);
while abs(A[i])>1000 do
Begin
Write('Nhap lai A[',i,']=');
readln(A[i]);
end;
end;
so_chan:=0; so_nt:=0;
{-----------Xu ly dem so chan va so nguyen to -----------}
For i:=1 to N do
begin
if A[i] mod 2 = 0 then so_chan:=so_chan+1;
if A[i] > 1 then
begin
u:=2;
while (u<=sqrt(a[i])) and ((A[i] mod u) <> 0) do
u:=u+1;
if u>sqrt(A[i]) then so_nt:=so_nt+1;
end;
end;
{------------In ket qua ra man hinh -------------------------}
writeln('So luong so chan: ', so_chan) ;
writeln('So luong so le : ', N-so_chan);
writeln('So luong so nguyen to:', so_nt);
Writeln;
writeln( 'An Enter de tiep tuc ');
readln;
END.

15



IV. Củng cố và hướng dẫn công việc ở nhà: ( 5 phút)
1. Tóm tắt nội dung chính, những điểm cần chú ý qua tiết bài tập:
- Cách sử dụng vòng lặp tham chiếu đến các phần tử của mảng.
- Cách thao tác với các phần tử của mảng nhằm thực hiện xử lý yêu cầu của bài
toán.
- Cách sử dụng vòng lặp để kiểm tra tính đúng đắn khi nhập dữ liệu
- Sử dụng lệnh BREAK để kết thúc vòng lặp khi cần thiết….
- Cách viết một chương trình đảm bảo tính cấu trúc.
2. Hướng dẫn bài tập ở nhà:
- HD học sinh làm thêm các bài tập trong sách bài tập tin học 11.
- Các bài tập có liên quan.
Bài tập 1: Viết chương trình nhập từ bàn phím số nguyên dương N ( N ≤ 100) và dãy A gồm
N số nguyên A1, A2, …, An có giá trị tuyệt đối không lớn hơn 1000. Hãy đưa ra những thông
tin sau:
c) Số lượng số âm và số lượng dương trong dãy;
d) Số lượng số hoàn hảo trong dãy.
Biết số hoàn hảo là số tự nhiên mà có tổng các ước của nó (trừ nó) = chính nó.
VD: 6 có các ước là 1 2 3 và 1+2+3=6.
Bài tập 2: Viết chương trình nhập từ bàn phím số nguyên dương N ( N ≤ 100) và dãy A gồm
N số nguyên A1, A2, …, An có giá trị tuyệt đối không lớn hơn 1000. Hãy cho biết dãy A có
phải là cấp số nhân hay không và thông báo kết quả ra màn hình.
Chuẩn bị bài thực hành số 3.
- HD học sinh chuẩn bị bài thực hành số 3
- Một số công việc khác.

16



2.4 hiệu quả thiết thực từ việc thực hiện sáng kiến đối với dạy học bộ môn
tại đơn vị trường THPT Yên Định 3.
Sau khi thực hiện giáo án và giải pháp của đề tài hiệu quả học tập của các
em đã được cải thiện đáng kể ở các mặt:
* Kết quả học tập của học sinh đạt được là cao:
- Bằng những quan sát định tính chúng tôi thấy ở các tiết dạy tích hợp liên
môn các em học sinh tích cực, chủ động, hứng thú trong việc tìm ra các tri thức
mới với những biểu hiện như: các em sôi nổi, tích cực trao đổi, chủ động bày tỏ
quan điểm.
- Các kiến thức mới hình thành trong bài học được thực hiện theo đúng quy
trình logic của sự nhận thức: Các em được quan sát, trải nghiệm thực tế rồi tự rút
ra kiến thức => Hiểu bản chất, dễ nhớ và nhớ lâu.
- Các kiến mới hình thành đều được gắn với những tình huống cụ thể =>
Tăng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống.
- Được phát huy kiến thức ở nhiều môn học => Tạo động lực cho học sinh
học toàn diện các môn, tránh xu hướng học lệch ở các em.
- Các em được phát triển các năng lực quan sát, năng lực sử dụng ngôn ngữ,
năng lực phán đoán, năng lực thu nhận thông tin, năng lực giao tiếp, năng lực tư
duy sáng tạo…
- Bài kiểm tra 15’ sau mỗi tiết học ở cả bốn mức độ nhận biết, thông hiểu,
vận dụng thấp và vận dụng cao các em đều đạt kết quả cao
* Năng lực dạy học tích hợp liên môn của giáo viên được nâng cao:
- Giáo viên được tự tìm hiểu, tự trang bị cho mình cơ sở lí luận của dạy học
tích hợp liên môn.
- Giáo viên các môn “liên quan” được tăng cường trao đổi thảo luận về các
kiến thức liên quan, về việc lựa chọn phương pháp, lựa chọn cách thức tổ chức
các hoạt động dạy học… => Mỗi giáo viên được chủ động về kiến thức, tự tin
khi tổ chức các hoạt động dạy học và lựa chọn được phương pháp tối ưu.
- Biết “tích hợp” vừa đủ kiến thức các môn “liên quan”, tránh trùng lặp, nặng
nề; cũng không xem nhẹ, bỏ qua; nhưng cũng không biến giờ học môn Tin học

thành môn Toán, Lý, Hóa hay ngược lại.
- Tận dụng được sức mạnh của công nghệ thông tin vào quá trình dạy học.

17


3 . KẾT LUẬN
Sau nhiều năm thực hiện, kết quả bước đầu là rất đáng khích lệ, bản thân
nhận thấy đây là cách làm có hiệu quả, góp khắc phục những tình trạng khó
khăn trên của nhà trường và nâng cao hơn nữa hiệu quả học tập môn tin học tại
trường THPT Yên Định 3. Qua những năm thực hiện, tôi đã nhận được sự quan
tâm, động viên và đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu, quý thầy cô, đồng nghiệp
và các em học sinh để ngày càng có nhiều cách làm hay hơn nữa trong việc nâng
cao hiệu quả dạy học bộ môn.
Với tránh nhiệm là một giáo viên bộ môn, bản thân rất mong được sự quan
tâm hơn nữa của các cấp lãnh đạo ngành đến việc dạy học bộ môn, đến trang bị
cơ sở vật chất cho phòng thực hành. Đặc biệt rất mong Sở Giáo dục và Đào tạo
quan tâm tổ chức nhiều hơn nữa các chuyên đề, các văn bản chỉ đạo để nâng cao
chất lượng dạy học Tin học ở trường THPT nói chung và ở đơn vị nói riêng
Xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 15 tháng 4 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.

18




×