MỤC LỤC
TT
Nội dung
Trang
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
2
2
1. Lí do chọn đề tài
2
3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2
4
3. Đối tượng nghiên cứu
2
5
4. Phương pháp nghiên cứu
3
6
II. PHẦN NỘI DUNG
3
7
1. Cơ sở lí luận
3
8
2. Thực trạng vấn đề
3
a. Thuận lợi và khó khăn
3
b. Thành cơng và hạn chế
4
c. Mặt mạnh - Mặt yếu
4
3. Giải pháp,biện pháp thực hiện và cách thức tiến hành
4
a. Giải pháp,biện pháp thực hiện
4
b. Cách thức tiến hành công việc
15
10
4. Kết quả khảo nghiệm
16
11
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
16
12
1. Kết luận
17
13
2. Kiến nghị
17
9
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Có một thực tế rất đáng buồn nhưng không thể phủ nhận được, đó là hiện
nay học sinh càng ngày càng thờ ơ với môn Ngữ văn. Điều này phần lớn thuộc
về xã hội. Khi sống trong thời kỳ CNH-HĐH, con người như bị cuốn hút vào
cơn cuồng phong của vật chất, hay xu hướng việc làm, văn chương bị đẩy xuống
hàng thứ yếu. Một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng học
sinh quay lưng lại với văn chương thuộc về chúng ta - những người đang trực
tiếp truyền đạt kiến thức cho học sinh. Trong đội ngũ chúng ta không phải ai
cũng đủ sức để truyền đến học sinh tình u, sự say mê đối với mơn học vốn
nặng về tư duy hình tượng này. Chúng ta cần nhận thức được giá trị của văn
chương để đưa ra những cách thức phát huy hiệu quả việc dạy – học mơn Ngữ
văn, có những điều chỉnh hợp lý và những phương pháp thích hợp để kéo học
sinh quay lại với môn học nghệ thuật ngôn từ vốn được yêu thích này này.
Những năm gần đây, những người làm cơng việc dạy học chúng ta đã rất
chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy - học Văn, nhằm khơi dậy trong
học sinh tình yêu đối với văn chương. Ngày trước, chúng ta cứ vô tư biến học
sinh thành những kẻ “ăn theo nói leo”, cứ vơ tư mà truyền thụ kiến thức theo lối
đổ nước vào bình. Cịn ngày nay, người giáo viên phải tìm đủ mọi cách nhằm
làm sao phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh, giúp học sinh phát
huy được tư duy, óc sáng tạo cũng như các kỹ năng của mình.
Để làm được như thế, đội ngũ giáo viên đã không ngừng tìm tịi những hình
thức, những phương pháp dạy học mới. Trong một tiết dạy, nếu học sinh cứ nghe
mãi những lời giảng của thầy mà khơng có gì mới mẻ để khuấy động tâm hồn các
em thì sẽ rất dễ nhàm chán. Chính vì thế, tơi muốn đề xuất một hướng mới bằng
con đường gợi hứng thú cho học sinh bằng hình thức sân khấu hóa một số
văn bản trong chương trình ngữ văn THPT. Tơi tin rằng, với cách thức này học
sinh sẽ tìm thấy hứng thú với mơn học mà bấy lâu nay các em đã khơng cịn
mấy mặn mà với nó.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm này tôi xác định mục tiêu cụ thể đó
là giúp học sinh đến gần hơn với bộ môn Văn một cách tự giác, tích cực, hứng
thú, say mê. Góp phần nâng cao hiệu quả công tác dạy - học Văn trong nhà
trường THPT.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này được đúc rút kinh nghiệm của bản thân qua nhiều năm giảng
dạy, Đặc biệt là trong năm học 2015-2016 tại các lớp 10A2.10B và lớp 11B của
trường THPT Ngọc Lặc .
4. Phương pháp nghiên cứu
2
Để nghiên cứu đề tài, tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau đây:
phương pháp miêu tả - phân tích, phương pháp khảo sát, thống kê, phương pháp
so sánh.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Khái niệm nghệ thuật diễn xuất sân khấu hay nghệ thuật trình diễn, nghệ
thuật biễu diễn … được dùng để chỉ một nghệ thuật vốn tồn tại bằng phương thức
“diễn” trên sàn diễn bởi con người (peromance). Trong nghiên cứu văn học nghệ
thuật, cách tiếp cận peromance nghĩa là nghiên cứu một hành động, một sự kiện,
một thể loại hay một hình thức từ mọi góc độ để thấy đối tượng thực thi ra sao?
Bằng cách thức nào? Trong bối cảnh nào? Ai là người thực hiện? Ai là người
tham gia?
Sân khấu là nghệ thuật mang tính tổng hợp cao. Trong một tác phẩm sân
khấu hội tụ giá trị văn học, diễn xuất, hội họa, âm nhạc, múa…Nói một cách
hình tượng thì sân khấu như một cái lò luyện hợp kim, nguyên liệu khác nhau
song liên kết với nhau bởi một số thuộc tính cần. Phương pháp sân khấu hóa là
những hoạt động đại chúng (chính trị, văn hóa, giáo dục…) được tiến hành theo
những đặc trưng của nghệ thuật sân khấu. Các nội dung sinh hoạt được chuyển
tải liên tục, chặt chẽ bằng nghệ thuật dàn cảnh và biểu diễn.
Nghiên cứu đề tài này, tôi đã tham khảo kỹ lưỡng các loại tài liệu có liên
quan đến vấn đề: sách báo, tạp chí, các cơng trình nghiên cứu của các tác giả
trong và ngồi nước…Trên thực tế đã có rất nhiều các tài liệu, các cơng trình
nghiên cứu, các bài viết về việc đổi mới dạy học môn Ngữ Văn trong nhà
trường. Tuy nhiên, với việc đưa hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học trong
nhà trường THPT nhằm tăng hiệu quả dạy học Văn thì chưa thực sự có một cơng
trình nào nghiên cứu một cách công phu, kỹ càng làm cơ sở pháp lý để các giáo
viên dạy Ngữ văn tham khảo, tiếp nhận và ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy của
mình dù trên thực tế cũng đã có khơng ít trường áp dụng hình thức này (với ý
thức tự phát).
Thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tôi dựa trên cơ sở nắm vững các
yêu cầu của việc dạy - học Ngữ văn trong nhà trường THPT; các mục tiêu cần
đạt của tác phẩm Văn học in trong chương trình sách giáo khoa hiện hành.
2. Thực trạng
a. Thuận lợi – khó khăn
Đề tài này được đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn dạy - học Văn của bản
thân và qua tham khảo các giáo viên khác trong nhà trường. Từ những tiết thực
dạy đến những tiết dự giờ các đồng nghiệp, tôi đã trăn trở, đã suy nghĩ mong
mỏi làm sao tìm ra được những con đường, những cách thức dạy học mới, hấp
3
dẫn, thú vị, phù hợp đủ để kéo các em học sinh của chúng ta quay trở lại với bộ
môn đang ngày càng bị “thất sủng” này.
Về thuận lợi, trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp chính
quyền cũng như Ban đại diện hội cha mẹ học sinh, cơ sở vật chất tại trường
THPT Ngọc Lặc không ngừng được nâng cao, góp phần tạo điều kiện để giáo
viên có thể áp dụng nhiều biện pháp dạy học. Việc trang bị máy vi tính, máy
chiếu cũng đã góp phần rất nhiều để chúng tôi thực hiện đề tài này.
Về khó khăn, trường THPT Ngọc Lặc nằm trên địa bàn cư trú của đồng bào
các dân tộc, trong đó tỉ lệ học sinh người đồng bào luôn chiếm hơn 60%. Tâm lí
của đối tượng học sinh này là rụt rè, nhút nhát ít thể hiện nơi đơng người nên
khó khăn trong việc động viên các em tham gia diễn xuất.
b. Thành công – hạn chế
Tôi đã thực nghiệm đề tài trên các lớp học: 10A2; 10B, 11B, ban đầu đã có
những thành cơng đáng ghi nhận. Đó là các biện pháp đưa ra đều đã thu hút sự
quan tâm, hào hứng của các em trong các tiết Ngữ văn. Sau các hoạt động đó, đa
số các em đã thấy bớt chán nản trước môn Ngữ văn. Tuy nhiên, do giáo viên
không được đào tạo một cách bài bản về chun ngành sân khấu, lại ít có điều
kiện tiếp xúc với chuyên ngành này nên kĩ năng còn nhiều hạn chế, chưa phát
huy hết sức hấp dẫn để dẫn dắt các em thâm nhập sâu hơn vào tác phẩm.
.c. Mặt mạnh – mặt yếu
Khi triển khai đề tài này, tôi cũng đã lường trước được những mặt mạnh
mặt yếu của chủ thể học sinh cũng như của giáo viên trong các hoạt động sân
khấu hóa này. Đây hồn tồn là hoạt động xuất phát từ niềm đam mê đối với
môn học nên giáo viên đã tự khắc phục những hạn chế của bản thân như khả
năng diễn xuất, khả năng dẫn chuyện… để buổi học được sinh động và hấp dẫn
nhất.
3. Giải pháp, biện pháp thực hiện và cách thức tiến hành.
a. Giải pháp,biện pháp thực hiện
Có thể khẳng định rằng: khơng phải bất cứ bộ mơn nào cũng có thể sử dụng
cách dạy - học như thế này. Văn học là một bộ mơn nghệ thuật, nó có mối liên
hệ chặt chẽ với sân khấu, điện ảnh. Từ tác phẩm văn học đến với sân khấu, điện
ảnh là rất gần. Thực tế đã chứng minh: nhiều tác phẩm sân khấu, điện ảnh rất
thành công vốn được chuyển thể từ tác phẩm văn học như: “ Vợ chồng A Phủ”,
“Làng Vũ Đại ngày ấy” v.v… Và điều này cũng giúp cho tác phẩm văn học ở lại
sâu sắc hơn trong lịng cơng chúng. Gần đây nhất là bộ phim “Cánh đồng bất
tận” của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình được chuyển thể từ tác phẩm văn
học cùng tên của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã gây nên một sự xúc động lớn lao
và những dấu ấn sâu sắc trong lòng công chúng.
4
Sau đây,tơi xin giới thiệu một số giải pháp, hình thức sân khấu hóa tác
phẩm văn chương trong nhà trường:
* Giải pháp thứ nhất: Đọc phân vai
Trong một tác phẩm văn học luôn luôn tồn tại các nhân vật cùng các mối quan
hệ với nhau. Đặc biệt ở thể loại kịch, nếu khâu đọc văn bản mà giáo viên tổ chức
đọc phân vai cho học sinh thì sẽ gây được hứng thú ngay từ đầu cho các em bởi các
em sẽ được “sống” với nhân vật ngay từ những phút đầu tiên tiếp nhận tác
phẩm.
Việc hóa thân vào nhân vật bằng giọng đọc của mình là cách thức nhanh nhất
để các em đến với nhân vật , hiểu nhân vật từ ngơn ngữ, từ những hành động cụ
thể…
Ví dụ 1: Đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng đài”- trích “Vũ Như Tơ” của tác
giả Nguyễn Huy Tưởng trong chương trình Ngữ Văn 11 (tập 1), ở khâu đọc văn
bản, giáo viên lần lượt phân vai cho học sinh như sau:Vai Vũ Như Tô,Vai Đan
Thiềm, Vai Nguyễn Vũ, Vai Lê Trung Mại, Vai nội giám, Vai Kim Phượng, Vai
quân khởi loạn, Vai người dẫn chuyện...
Ví dụ 2: Phân vai cho học sinh khi đọc đoạn trích “ Tình u và thù hận” trích “ Rơ-mê-ơ và Giu-li-ét” của U. Sếchxpia: Vai Rơ-mê-ơ, Vai Giu-li-ét, Vai
người dẫn chuyện...
Cũng cần lưu ý rằng, ở hình thức này, khi phân vai cho học sinh giáo viên
cần có sự phân chia phù hợp. Chẳng hạn, khơng nên gọi một học sinh nữ vào vai
một nhân vật nam giới và ngược lại. Nếu giáo viên biết phân vai nhân vật phù
hợp với tính cách, với hình thức, với chất giọng …của từng học sinh thì màn đọc
tác phẩm sẽ hấp dẫn hơn nhiều. Giáo viên cũng cần hướng dẫn cho từng học
sinh từng giọng đọc phù hợp với từng nhân vật trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Chẳng hạn: giọng thiết tha, say đắm, sôi nổi của chàng Rô-mê-ô khi đứng dưới
ban công nhà Giu-li-ét. Giọng đau đớn, bi thảm của Vũ Như Tô khi Cửu Trùng
đài bốc cháy…
* Giải pháp thứ hai: Hát múa
Ở hình thức này văn bản văn học được đến với học sinh và thấm vào tâm
hồn các em qua các giai điệu cũng như qua nột hình thức ngơn ngữ khác: ngơn
ngữ của cơ thể.
Chúng ta vẫn thường quan niệm rằng âm nhạc là thứ có thể dễ dàng đánh
thức trái tim và tâm hồn con người một cách kỳ diệu nhất; rằng khi mọi thứ
ngơn ngữ đã trở nên bất lực chính là lúc âm nhạc lên tiếng…Chính vì thế việc
đưa các giai điệu âm nhạc vào giờ dạy học Văn là một việc rất nên làm để góp
phần đánh thức những rung động có thể cịn ngủ sâu trong tâm hồn các em.
Chẳng hạn, khi dạy về Ca dao, Dân ca giáo viên có thể tổ chức cho học sinh
hát một vài làn điệu dân ca:
5
Ví dụ: Bài Ca dao: “Con cị bay lả bay la
Bay từ Cửa Phủ bay ra cánh đồng”
Chuyển thành Dân ca:
“ Con cò (là cò) bay lả (lả lả) bay la
Bay từ (là từ) Cửa Phủ, bay ra (là ra) cánh đồng
Tình tính tang là tang tang tính tình…”
Hay: Bài Ca dao:
“ Trúc xinh trúc mọc đầu đình
Em xinh em đứng một mình cũng xinh”
Chuyển thành làn điệu dân ca Quan họ Bắc Ninh:
“ Cây trúc xinh tang tình là cây trúc mọc
Qua lối nhỏ bên bờ ao
Chị Hai xinh, tang tình là chị Hai đứng, đứng đứng một
mình mà xinh xinh càng xinh…”
Hay một vài câu hát ru quen thuộc:
“ Ầu ơ... Trưa hè bên chiếc võng đưa. Mẹ ru con ngủ ơ… ơ giữa trưa
bóng ơ… trịn... À a à ời…À a à ơi…”.
Cứ như thế, những câu Ca dao sẽ dễ dàng đi sâu vào tâm hồn các em, tưới
mát tâm hồn các em, đưa các em chìm đắm vào thế giới của cây đa, bến nước,
con đò… một cách tự nhiên nhất, ngọt ngào nhất, sâu lắng nhất. Đồng thời qua
đó học sinh sẽ hiểu về Ca dao, Dân ca một cách dễ dàng hơn rất nhiều so với
việc giáo viên chỉ truyền đạt những tri thức lý thuyết một cách khô khan, cứng
nhắc. Chỉ bằng việc diễn xướng một vài câu ca như vậy các em sẽ dễ dàng nhận
thức được rằng với phần lời là Ca dao kết hợp với giai điệu sẽ trở thành Dân ca.
Có khá nhiều tác phẩm văn học trong nhà trường (chủ yếu là thơ ca) rất
giàu tính nhạc. Các nhạc sĩ đã phổ nhạc cho các tác phẩm thơ ca đó và biến
chúng thành các nhạc phẩm làm xao xuyến lịng người. Chẳng hạn như bài thơ
Đây thơn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử .
Tương tự như vậy, những học sinh có năng khiếu về múa có thể chuyển tải
một tác phẩm văn học vốn được thực hiện bằng nghệ thuật ngơn từ sang một
hình thức ngơn ngữ mới: ngôn ngữ của cơ thể. Trong các buổi sinh hoat ngoại
khóa, chuyên đề, hay trong các cuộc thi văn nghệ… nên khuyến khích học sinh
đến với văn chương bằng loại hình nghệ thuật này. Các em sẽ được đến với câu
chuyện của nhân vật thông qua một thứ ngôn ngữ khác: ngơn ngữ khơng lời, rất
đặc biệt và có khả năng khơi gợi cảm xúc.
6
Ví dụ: Múa minh họa cảnh Chí Phèo gặp Thị Nở dưới đêm trăng; cái chết
bi tráng của người nghệ sỹ lãng du Lor-ca; cô Tấm đi trẩy hội…
* Giải pháp thứ ba: Ngâm thơ:
Người ta thường nói: “Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc”, nghĩa là:
trong thơ có họa, trong thơ có nhạc. Bản thân các bài thơ đã chứa đựng trong nó
phần nhạc điệu: lúc trầm, lúc bổng: lúc khoan, lúc nhặt; lúc bay bổng, du dương,
lúc gập ghềnh, trúc trắc…
Dạy một tác phẩm thơ, bên cạnh việc đọc diễn cảm giáo viên cũng nên tạo
cơ hội để học sinh được thể hiện giọng ngâm của mình. Giáo viên cũng hồn
tồn có thể tự mình ngâm thơ để học sinh thưởng thức hoặc sử dụng thiết bị máy
móc, băng đĩa cho học sinh nghe giọng ngâm bài thơ đó của các nghệ sỹ. Cách
làm này chắc chắn sẽ giúp các em thêm yêu những câu thơ, những bài thơ - vốn
là nhừng gì tinh túy nhất mà “con tằm” nhà thơ rút ruột nhả ra.
Ví dụ: Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử được thể hiện bằng một
giọng ngâm “rất Huế” sẽ đưa các em đến với khu vườn Vĩ Dạ, đến với con
người Vĩ Dạ dễ dàng hơn, và bài thơ cũng sẽ ở lại lâu hơn trong tâm hồn các em.
Bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh với giọng ngâm lúc tha thiết, lúc dìu dặt,
lúc sơi nổi, lúc nhẹ nhàng… sẽ giúp các em dễ dàng hơn trong việc cảm nhận
những cung bậc khác nhau của “sóng”, cũng là của “em” - người con gái đang
yêu.
* Giải pháp thứ tư: Diễn kịch
Có thể khẳng định rằng, việc chuyển hóa một tác phẩm văn học thành một
tiểu phẩm, một vở kịch là một sân chơi bổ ích, đầy thú vị đối với học sinh. Công
việc này sẽ gây được hiệu ứng mạnh mẽ đối với các em. Vì sao?
Vì khi chúng ta thực hiện sân khấu hóa các tác phẩm văn học trong nhà
trường nghĩa là chúng ta đang dựng lên một sân khấu biểu diễn mà người diễn
viên tham gia diễn xuất chính là các em học sinh - những đối tượng tiếp nhận tác
phẩm văn học đó. Các em khơng phải chỉ đến với tác phẩm bằng hệ thống ngôn
từ chết trong sách giáo khoa nữa mà các em được trực tiếp hóa thân vào các
nhân vật với những tính cách, diện mạo, những số phận… khác nhau; được trực
tiếp tham gia vào câu chuyện đó; được thực hiện những hành động đó v.v. Nói
cách khác, các em được trải nghiệm, được “sống” thực sự với tác phẩm. Các em
sẽ khóc, sẽ cười, sẽ đau khổ, sẽ hạnh phúc, sẽ thất vọng, sẽ hân hoan… với
chính những nhân vật của mình. Nghĩa là các em có cơ hội trải nghiệm với
những cảm xúc mà có thể các em chưa từng trải qua , các em được trở thành
những “con người khác”…
Và, một khi thực hiện được như thế học sinh sẽ hiểu hơn, nắm vững chắc
hơn về tác phẩm bởi một điều đơn giản rằng: các em đã được trải nghiệm câu
7
chuyện với chính cảm xúc của mình. Trên hết, các em sẽ thấy môn học này là rất
thú vị, đầy lơi cuốn.
Một điều mà chúng ta có thể tin rằng: có nhiều khi hàng ngàn, hàng vạn lời
giảng của thầy cô trên bục giảng chưa chắc đã đánh thức được tâm hồn các em,
khuấy động được cảm xúc của các em bằng những giây phút (đôi khi là ngắn
ngủi) khi các em được trải nghiệm với câu chuyện văn học đó. Muốn nhập vai
thành cơng các em sẽ phải tìm hiểu rất kỹ về nhân vật đó. Và khi đã hóa thân
vào nhân vật của mình thành cơng, các “diễn viên khơng chun” đó sẽ đem lại
những cảm xúc và sự hưng phấn cho các “khán giả” của mình. Các em sẽ đồng
cảm hơn với bi kịch của kẻ cùng đường Chí Phèo, sẽ trân trọng hơn một Thị Nở
xấu xí nhưng tâm hồn đẹp tựa pha lê… Sẽ thấu hiểu hơn những đau khổ, giằng
xé trong tâm can nàng Kiều khi phải cậy nhờ em thay mình nối duyên cùng Kim
Trọng v.v…
Ví dụ: “Tình u và thù hận” (Trích: “Rô-mê-ô và Ju-li-et” của U.Sếchxpia) hay “Vĩnh biệt Cửu Trùng đài” (trích: “Vũ Như Tơ” của Nguyễn Huy
Tưởng) là những vở bi kịch.
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du sẽ được xây dựng thành một vở kịch thơ.
“Chí Phèo” của Nam Cao sẽ được xây dựng thành mơt vở kịch nói.
“Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng sẽ xây dựng thành một vở hài kịch.
Và sau đây là một ví dụ minh họa điển hình phần kịch bản sân khấu
hóa cho 2 truyện cười "Tam đại con gà" và "Nhưng nó phải bằng hai
mày":
Tiểu phẩm:
THẦY ĐỒ
Nhân vật: 1. Thầy đồ; 2. Vợ thầy đồ; 3. Học trò ; 4. Người cha học trò; 5. Thầy
lý
(Nhân tiện vợ vắng nhà, thầy đồ nấu chè đậu đen ăn vụng. Thầy đồ ngồi
trên chiếu, quay mặt vào vách để húp. Bất ngờ vợ về...)
Vợ:
Thầy đồ:
- Này, làm gì đấy hử?
(Giật mình, nhưng cố húp hết bát chè để “phi tang” kẻo vợ phát hiện)
- Đâu, có làm gì đâu... Tơi đang mài mực đấy chứ!
(Tay vớ vội nghiên và thỏi mực mài mài)
Vợ:
(Lại gần)- Thế cái gì đen sì trên mép kia? Khơng phải ơng ăn
mực tàu đấy chứ?
Thầy đồ:
- Không... không... không phải mực tàu, mà là tơi mài mực lâu
ngày, nó nhiễm. Nóng q, tôi ra mồ hôi mực ấy mà!
Vợ:
- Bịa đặt giỏi lắm. Cái ngữ ơng viết lách gì mà đến nỗi phải mài
8
mực lâu ngày. Thế cả buổi làm cái nỗi gì mà không đem váy bà vào
nhà, để cho mưa ướt hết rồi kia kìa...
Thầy đồ:
(Giật mình sợ hãi)- Thơi chết! (bình tâm lại) Tơi mải ơn Tam
thiên tự để dạy trẻ nên quên mất... Thiên trời, địa đất, cử cất, tồn cịn,
tử con, tơn cháu, lục sáu, tam ba...
Vợ:
- Ơn với luyện! Tam thiên tự cũng chả bằng cái váy ướt của bà!
(Túm đầu thầy đồ nhận xuống)
Thầy đồ:
Vợ:
Thầy đồ:
- Phỉ phui cái mồm, sao nhà nó dám xúc phạm chữ thánh hiền...
- Xúc phạm này, thánh hiền này. (Mỗi lần này là một cái xách tai) –
(Vợ đi vào)
- Được lắm, lần sau sẽ biết tay ông... (Xoa tai)
Vợ:
(Quay trở lại. Túm tai thầy đồ ) Lần sau thì sao?
Thầy đồ:
- Thì, thì... Ơng sẽ mang váy vào khi trời chưa mưa. Được
chưa nào?
Vợ:
- Ôi giờ ơi, chồng với chả con, Chồng con là cái nợ nần, các cụ
nói cấm có sai câu nào! (Thở dài, đi vào hẳn)
Thầy đồ:
- Được, rồi sẽ có ngày... (nói với theo vợ)
- Quái lạ, sáng nay ông đã xin quẻ, thổ công báo sẽ có người đến
xin học mà sao giờ này chưa thấy mò mặt tới nhỉ? (đi đi lại lại)
(Tiếng vọng: Thầy đồ có nhà khơng? Có phải nhà thầy đồ
đây không)
Thầy đồ:
- Phải ... phải! Đấy, đã bảo rồi mà! Thầy đồ đây, mời vào!
(Người cha dẫn con vào xin học)
Thầy đồ:
Người
cha:
Thầy đồ:
- Mời vào, mời vào...
- Thưa thầy, hôm nay chọn được ngày lành tháng tốt, con mạn
phép đưa các cháu đến cậy nhờ chữ nghĩa của thầy!
- Vậy hả, việc này khó đây...
Người
cha:
- Mong thầy thương cho cái cảnh thất học của con. Con xin cho
cháu nó được lưu lại nhặt ít chữ rơi chữ vãi của thầy về làm vốn,
mong có ngày mở mày mở mặt.
Thầy đồ:
- Thơi được, tơi cảm phục tấm lịng của cha con nhà anh, tôi vốn
kén chọn lắm, từ trước đến nay chưa nhận ai làm học trò, nay sẽ nhận
9
nó làm đứa học trị đầu tiên.
Người
cha:
- Xin đa tạ thầy! Vậy ra lâu nay thầy khơng nhận học trị. Sao
mấy người xóm ngồi lại nói với con thầy đơng học trò lắm ạ?
Thầy đồ:
(Bối rối)- À... à... Miệng lưỡi thiên hạ ấy mà. Người ta ghen ăn tức ở...
(Quay vào trong, gọi)- Mẹ nó đâu, xem nhà ai có hương án mượn tạm về
đây để ta lễ thánh
Học trò:
- Thưa thầy, đi mượn phải trả lôi thôi. Để con xin khom lưng làm
cái án thư, thầy đặt cau trầu lên đấy lễ thánh cũng được.
Thầy đồ:
(Chắp tay vái học trò)- Con khá hơn thầy nhiều rồi! Còn phải học
thầy làm gì nữa!
(Trị gập lưng cho thầy để cau trầu lên làm lễ)
Thầy đồ:
(Khấn)- Kính lạy thành hồng, thổ cơng, thổ địa. Con cũng xin kính
lạy lia lịa bốn hướng tám phương đã chỉ đường cho bố con nhà nó đến
xin học để con khỏi phải mang tiếng là thầy đồ mà khơng có học trị.
Con xin một đài âm dương xem cái sự nghiệp của con có được hanh
thơng rộng mở...
Thầy đồ:
(Tung âm dương)- Ôi, tốt quá tốt quá! Thánh đồng ý cho nhận nó làm
học trị rồi! (Quay sang nói với người cha)
Người
cha:
Thầy đồ:
- Phúc đức cho nhà con quá!
- Anh sang bên kia ngồi nghỉ, để tôi cịn phải thử trí thơng minh của
nó cái đã.
(Nói với học trò)- Ta phải thử tài ứng xử của con trước. Giả dụ con là
một anh thầy thuốc, một hôm người nhà đến thắc mắc: Thầy bảo
thằng cháu nhà tôi uống thuốc thầy một năm thì khỏi, sao nó mới
uống ba tháng đã chết. Con sẽ xử lý như thế nào?
Học trò:
(Đăm chiêu suy nghĩ, bồng nhiên)- A, con sẽ bảo: Chỉ tại cháu nhà
ông không nghe lời tôi, tôi bảo uống thuốc một năm, sao mới uống ba
tháng đã vội chết? Cứ uống thuốc đủ năm xem có khỏi khơng nào?
Thầy đồ:
(Chắp tay vái học trị)- Con khá hơn thầy nhiều rồi! Cịn phải học
thầy làm gì nữa!
(Quay sang nói với người cha)- Anh ngồi nghỉ rồi chuẩn bị mà về.
Thằng này khá lắm, khá lắm. Tôi phải dạy nó ngay từ bây giờ mới
được
(Thầy và trị cùng ngồi xuống chiếu. Bắt đầu học. Người cha
10
ngồi xem con học)
Thầy đồ:
- Ta bắt đầu học từ sách Tam thiên tự
Học trị:
- Tam thiên tự là gì hả thầy?
Thầy đồ:
- Là sách vỡ lòng con ạ. Muốn học được nhiều điều cao sang
hơn thì phải học nó trước đã. Con đọc theo thầy nhá...
- Đăng là đèn, Thăng là lên, Giáng là xuống
Học trò:
(Ngân nga theo)- Đăng là đèn..., Thăng là lên..., Giáng là xuống...
Thầy đồ:
- Tốt lắm. Đọc to lên. Tiếp nhé! Điền là ruộng, Trạch là nhà, Lão
là già, Đồng là trẻ, ... Nào, đọc to lên...
Học trò:
- Điền là ruộng, Trạch là nhà, Lão là già, Đồng là trẻ, ...
Thầy đồ:Học trò:
Thằng này sáng dạ lắm, thơng minh lắm! (Nói với người cha)
(Dạy tiếp)- Đồng là trẻ, Tước là con chim sẻ,...
- Đồng là trẻ, Tước là con chim sẻ,...
Thầy đồ:
- Tước là con chim sẻ. Chữ tiếp theo rối rắm quá. Chữ quái gì
đây nhỉ? Tước là con chim sẻ, Dủ dỉ là con dù dì... Đọc tiếp đi con.
Đọc be bé thơi kẻo mệt, con ạ!
Học trò:
(Đọc nhỏ) - Dủ dỉ là con dù dì... Dủ dỉ là con dù dì...
(Người cha thiu thiu ngủ)
Thầy đồ:
- Con ôn lại đi nhé, đợi thầy một chút
(Thầy đồ quay vào trong góc xin âm dương. Xong, hí hửng nói
một mình)
- Biết ngay mà. Lắm nét như thế nhưng đích thị là chữ Dủ dỉ. Dủ dỉ là
con dù dì...
- Nào, đọc to lên con: Dủ dỉ là con dù dì...
Học trị:
Người
cha:
Thầy đồ:
(Gào to)- Dủ dỉ là con dù dì... Dủ dỉ là con dù dì...
(Người cha giật mình chạy lại)
- Chết chửa, chữ Kê là gà, sao thầy lại dạy ra dủ dỉ là con dù dì?
(Nói một mình)- Mình đã dốt, thổ cơng lại cũng dốt nốt. Báo hại nhau
quá!
(Nói với người cha)- Tôi vẫn biết chữ ấy là chữ Kê, mà Kê là có nghĩa
là gà, nhưng tơi dạy cháu thế là dạy cho nó biết đến tường tận đến tam đại
11
con gà kia.
Người
cha:
- Nghĩa là sao?
Thầy đồ:
- Thế này nhé! Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà.
Thế chả phải tơi đã dạy nó biết đến ba đời con gà đấy là gì?
Người
cha:
- Tơi chưa thấy ai dạy như thế bao giờ. Tôi sẽ kiện ông lên thầy
lý. Ơng có dám đi khơng?
Thầy đồ:
- Đi thì đi. Sợ gì...!
(Hai người đi đến thầy lý. Tranh nhau vào trước)
Người
cha:
- Chào thầy lý ạ! Con nghe tiếng thầy xử kiện giỏi đã lâu, nay xin
đến thưa với thầy một việc
Thầy lý:
(Vênh mặt lên. Ngón tay cái và ngón trỏ xoa xoa vào nhau)
- Ờ, thế nhà anh có việc gì?
Người
cha:
- Bẩm thầy, nhờ thầy phán xử hộ con chữ Kê là gà mà thầy đồ cứ
dạy cho con của con là Dủ dỉ là con dù dì rồi bảo là dạy đến tam đại
con gà
Thầy lý:
- Thế hả? Việc này khó đây! (Vênh mặt lên. Ngón tay cái và ngón trỏ
xoa xoa vào nhau)
Người
cha:
- Dạ, dạ... Con cịn chút lộ phí, xin gửi thầy, mong thầy phân xử
giúp con...
Thầy lý:
- Tốt rồi, tốt rồi...! Anh ra ngoài trước đi!
(Thầy đồ vào. Thầy lý và thầy đồ nhận ra nhau)
Thầy đồ:
- Ôi, anh lý, lâu lắm rồi chẳng được gặp nhau.
Thầy lý:
- Dễ phải từ khi tôi với anh thi trượt ấy nhỉ?
Thầy đồ:
- Anh nhớ đúng lắm. Văn kỳ thanh, nay lại được kỳ hình. Mừng
quá, mừng quá...! Nghe tiếng thơ của anh đã lâu. Nay mới gặp, chẳng
hay có được anh cho thưởng thức...?
Thầy lý:
- Thơ tơi được cái tự nhiên, hễ có thi hứng là tơi làm được ngay.
Để tơi tìm thi hứng cái đã nhé!
(Thầy lý ngửa mặt lên trời hít hít...)
Thầy đồ:
- Có chưa, có chưa...?
Thầy lý;
- Sắp rồi, sắp rồi...
12
(Bỗng có tiếng chó sủa)
Thầy lý:
- Có rồi, có rồi! Tơi sẽ vịnh con chó cho anh thưởng thức nhé
(Đọc thơ)Chẳng phải voi, chẳng phải trâu
Ấy là con chó cắn gâu gâu
Khi ngồi thì lại cao hơn đứng
Cả đời khơng ăn một miếng trầu
Thầy đồ:
- Hay, chí lý lắm. Cả đời không ăn một miếng trầu... Tôi cũng
phải ứng khẩu một bài với anh cho vui mới được.
Thầy lý:
- Thế thì cịn gì bằng! Nhân tiện tơi mới được tặng cái chng,
đang treo ngồi hiên, anh vịnh cái chng đi.
Thầy đồ:
- Được! Anh nghe nhé
Vừa bằng cái chõ đen thò lõ
Đánh một tiếng boong kêu như mõ
Treo lên rõ ràng một cái nơm
Tháo xuống có thể úp con chó
Thầy lý:
- Tuyệt vời! Thơ tôi và anh phải sánh như Siêu như Qt
Thầy đồ;
- Vậy mà nó cịn chê tơi mới tức chứ. Tơi dạy cho nó đến tam đại
con gà mà nó cịn khơng ưa! Anh lý phán xử giúp tơi nhé!
Thầy lý:
- Thế hả? Việc này khó đây! (Vênh mặt lên. Ngón tay cái và
ngón trỏ xoa xoa vào nhau)
Thầy lý:
(Thầy đồ dí vào tay thầy lý. Thầy lý so sánh tay trái và tay phải)
- Khá đây: bên 5 đồng, bên 10 đồng. Anh kia vào đây!
(Người cha vào)
Thầy lý:
- Này anh, anh đồ dạy cho con anh sâu sắc vậy mà anh cịn chê cái
nỗi gì. Bay đâu, nọc nó ra đánh 10 roi vì tội khơng tin tưởng thầy...
Người
cha:
(Giơ 5 ngón tay ra hiệu)- Xin thầy lý xét lại. Lẽ phải về con mà!
Thầy lý:
(Xoè 5 ngón tay trái úp lên 5 ngón tay phải)
- Tao biết mày phải, nhưng nó phải bằng hai mày kia! Đúng
không anh đồ nhỉ?
13
Thầy đồ:
Người
cha:
Thầy lý:
- Vâng ạ! Thầy lý xử minh lắm ạ!
- Hết nửa đời người, hôm nay học hai thầy mới được biết con
cơng và con gà có họ với nhau, công là ông mà gà là cháu!
- A, thằng này láo. Bay đâu, đánh nó cho tau!
(Vừa lúc đó, vợ thầy đồ chạy vào)
Vợ:
- Đồ đâu, đồ đâu! Về nhà mà xem người ta đang đến chửi ầm lên
kia kìa!
Thầy đồ:
- Sao? Ai chửi? Chửi ai?
Vợ:
- Chửi ơng chứ cịn chửi ai! Nhà người ta nhờ ơng viết văn tế vợ,
người chết tên Nguyễn Thị Xồi sao ơng lại chép thành ơng Nguyễn
Văn Mít nào hả?
Thầy đồ:
- Văn tế sao có thể lầm được. Họa chăng người nhà nó chết nhầm
thì có. Về bảo với chúng nó như vậy!
Vợ:
(Rút guốc, lùa thầy đồ)
- Chết nhầm này, chết nhầm này... Lần này thì biết tay bà... Có về
khơng thì bảo...
(Tất cả cùng chạy. Náo loạn)
* Giải pháp thứ năm: Chiếu phim
Như chúng ta đã biết, giữa văn học và nghệ thuật sân khấu, điện ảnh có một
mối liên hệ mật thiết. Rất nhiều nhà làm phim đã xây dựng thành công những bộ
phim được chuyển thể từ các tác phẩm văn học. Trong đó có nhiều tác phẩm
được đưa vào trong chương trình THPT.
Những bộ phim đó có thể kể ra như:
“Làng Vũ Đại ngày ấy” của điện ảnh Việt Nam được chuyển thể từ ba tác
phẩm nổi tiếng của nhà văn Nam Cao là: “Chí Phèo”, “Lão Hạc” và tiểu thuyết
“Sống mòn”.
“Vợ chồng A Phủ” của điện ảnh Việt Nam được chuyển thể từ tác phẩm
cùng tên của nhà văn Tơ Hồi.
Vở kịch nói “Tấm Cám” của sân khấu Việt Nam chuyển thể từ truyện cổ tích
cùng tên.
“Mê Thảo thời vang bóng” chuyển thể từ tập “Vang bóng một thời” của nhà
văn Nguyễn Tuân.
“Số đỏ” chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Vũ Trọng Phụng.
14
“Cuộc chiến thành Troy” của điện ảnh Mỹ chuyển thể từ bộ sử thi “Ô-đixê” nổi tiếng của Hy Lạp.
Việc tiếp nhận tác phẩm văn học sẽ trở nên dễ dàng hơn, học sinh dễ hình
dung về câu chuyện hơn nếu giáo viên có thể tổ chức cho các em xem những bộ
phim đó trước hoặc sau khi học xong tác phẩm.
Giáo viên cũng hồn tồn có thể cài những trích đoạn của các bộ phim có
liên quan đến bài học vào giáo án điện tử để chiếu minh họa cho học sinh. Làm
được như thế tiết học sẽ trở nên lơi cuốn hơn rất nhiều.
Ví dụ: Chiếu trích đoạn phim “làng vũ Đại ngày ấy” khi dạy tác phẩm Chí
Phèo của Nam Cao
b. Cách thức tiến hành cơng việc
* Cách thứ nhất: Lồng vào từng tiết dạy, bài dạy cụ thể.
Với cách thức này giáo viên cần lựa chọn những hình thức sân khấu hóa phù
hợp, khơng mất nhiều thời gian rồi lồng vào những thời điểm thích hợp trong tiết
dạy.
Ví dụ 1: Sau khi dạy xong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử giáo
viên tổ chức cho học sinh ngâm lại bài thơ để một lần nữa thấy được tính nhạc
cũng như chất Huế hay hồn thơ Hàn Mặc Tử.
Ví dụ 2: Sau khi học xong một tác phẩm nào đó có thể dành thời gian tổ
chức cho học sinh vào vai nhà văn, nhân vật hoặc độc giả… để phỏng vấn lẫn
nhau về những vấn đề xung quanh tác phẩm.
* Cách thứ hai: Đưa vào các hoạt động chuyên đề, ngoại khóa.
Việc sân khấu hóa tác phẩm văn học thường mất nhiều thời gian và sự
chuẩn bị khá công phu, đặc biệt là đối với hình thức diễn kịch, tiểu phẩm. Vì
thế, để đảm bảo hiệu quả, chúng ta sẽ tổ chức những buổi chun đề hay
ngoại khóa. Và để kích thích học sinh hơn, chúng ta có thể đưa ra hình thức
thi đua giữa các lớp, các đội…
Ví dụ 1: Tổ chức chuyên đề về “Truyện Kiều” cho học sinh khối 10 chúng
ta có thể đưa hoạt động sân khấu hóa vào như sau:
Chia học sinh ra thành các đội, mỗi đội sẽ xây dựng một tiết mục kịch thơ
dựa theo các trích đoạn trong Truyện Kiều.
Đội 1: Diễn trích đoạn “Trao duyên”
Đội 2: Diễn trích đoạn “Mã Giám Sinh mua Kiều”
Đội 3: Diễn trích đoạn “Kiều gặp Thúc Sinh”
Đội 4: Diễn trích đoạn : “Hoạn Thư đánh ghen Kiều”
Đội 5: Diễn trích đoạn: “Đoàn viên”
15
Bằng việc diễn các trích đoạn như thế, học sinh sẽ hứng thú hơn trong việc
tiếp nhận tác phẩm bất hủ này.
Ví dụ 2: Tổ chức chuyên đề về văn học Việt Nam 1930-1945 cho học sinh
khối 11, ta cũng tiến hành như trên.
Đội 1: sân khấu hóa tác phẩm “Hai đứa trẻ ” của Thạch Lam.
Đội 2: sân khấu hóa tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao.
Đội 3: sân khấu hóa tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tn.
Đội 4: sân khấu hóa đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích: “Số
đỏ”) của Vũ Trọng Phụng.
Ví dụ 3: Tổ chức cuộc thi sân khấu hóa các tác phẩm văn học trong nhà
trường. Học sinh được tự do lựa chọn tác phẩm, hình thức biểu diễn.
4. Kết quả khảo nghiệm
Với những nhận thức như trên và trên tinh thần trả phẩm lại cho người học,
chúng tôi đã đưa hoạt động này vào thực tiễn giảng dạy tại trường học nơi mình
cơng tác và đã thu được những kết quả khả quan.
Qua thực tiễn hoạt động và qua khảo sát hơn 200 học sinh của năm trước
,hơn 100 học sinh lớp 10A2,10B và Lớp11B năm học 2015-2016 tại trường
THPT Ngọc Lặc, tôi thu được kết quả như sau:
Đa số học sinh cho thấy sự hào hứng, thích thú với hoạt động dạy- học
Ngữ văn theo phương pháp này.
Trên 73% học sinh nắm vững chắc cốt truyện, nhân vật, tư tưởng… của các
tác phẩm văn học dân gian trên.
20 % số học sinh nắm được ở mức cơ bản về các tác phẩm trên.
Số học sinh còn lại dù chưa thực sự nắm vững được kiến thức song vẫn tỏ
ra hứng thú với các hoạt động này.
Trên đây là kết quả thu được từ thực tiễn giảng dạy tại trường THPT Ngọc
Lặc năm học 2015-2016, nay tôi xin đúc rút lại đơi điều.
Rất mong nhận được sự góp ý, phản hồi từ các đồng nghiệp, đồng chí!
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong bức tranh chung ảm đạm của bộ mơn Ngữ Văn trong nhà trường hiện
nay thì bất kỳ một cách thức hay phương pháp nào nhằm đổi mới việc dạy - học
Văn thiết nghĩ cũng nên được cổ xúy một cách tích cực. Phương pháp dạy học
này có tính khả thi rất cao khi hiện nay các trường học đã được trang bị khá đầy
đủ về mặt cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học. Bên cạnh đó, số lượng giáo
16
viên Ngữ văn hiện tại cũng rất dồi dào, có năng lực, giàu nhiệt huyết nên gánh
nặng cơng việc có thể dễ dàng chia sẻ một cách hợp lí.
Việc dạy - học Ngữ văn bằng hoạt động sân khấu hóa bên cạnh những ưu
điểm dễ dàng nhìn thấy tuy nhiên cũng có những hạn chế nhất định. Việc ứng
dụng hoạt động này vào dạy - học Ngữ văn cần xem xét, lựa chọn để làm sao
phù hợp với từng điều kiện của nơi mình cơng tác.
2. Kiến nghị
Ban lãnh đạo nhà trường cần quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện tốt cho
giáo viên dạy Ngữ Văn có thể ứng dụng thành cơng hoạt động dạy học này nói
riêng, các hoạt động đổi mới phương pháp dạy - học khác nói chung để làm cho
bức tranh Văn học trong nhà trường ngày càng có thêm nhiều gam màu sáng.
Đề nghị nhà trường, tổ chuyên môn tạo điều kiện tô chức các hoạt động
ngoại khóa nhiều hơn nữa để các em có một sân chơi văn học bổ ích.
Trong các kỳ bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, đề nghị Sở Giáo Dục và
Đào tạo khuyến khích, mở rộng việc bồi dưỡng các kĩ năng sư phạm liên quan
đến phương pháp sân khấu hóa hoạt động dạy học song song với việc bồi dưỡng
các kĩ năng và phương pháp dạy học khác trong nhà trường .
Xét cho cùng thì trên đây cũng đang mới là những vỡ vạc ban đầu về một
cách thức đổi mới việc dạy - học Văn trong nhà trường THPT. Tơi hy vọng sẽ có
những bước tìm hiểu sâu hơn cho vấn đề này. Để làm được điều đó, tôi rất mong
nhận được sự bổ cứu từ những người quan tâm.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Trịnh Bá Phòng
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 5 năm 2016
Tơi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
khơng sao chép nội dung của người khác.
Trịnh Ngọc Đông
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Trọng Luận (chủ biên ), Trương Dĩnh (2004), Phương pháp
dạy học văn (tập 1), NXB ĐHSP Hà nội.
2. Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Dương Diệu Hoa, Nguyễn Thị Mùi
(2001), Tâm lý học hoạt động và khả năng ứng dụng vào lĩnh vực dạy học, NXB
ĐHQGHN.
3. Nhiều tác giả (2007), Kỷ yếu hội thảo khoa học dạy học Ngữ Văn ở
trường phổ thơng theo chương trình và sách giáo khoa mới, NXB Nghệ An.
4. Z. Ia. REZ (chủ biên), Phan Thiều dịch (1983), Phương pháp luận
dạy văn học, NXBGD.
5.
Heghen, Phan Ngọc (dịch), Mỹ học, NXB Văn học (1999)
18