Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

Xây dựng một số bài hóa học thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng học tập và phát triển năng lực thực tiễn cho học sinh lớp 8, 9 ở trường THCS xuân bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (953.96 KB, 24 trang )

MỤC LỤC

TT

Nội dung

Trang

1

MỞ ĐẦU

2

2

Lí do chọn đề tài

2

3

Mục đích nghiên cứu

2

4

Đối tượng nghiên cứu

3



5

Phương pháp nghiên cứu

3

6

NỘI DUNG

3

7

Cơ sở lí luận

3

8

Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN

3

9

Giải pháp giải quyết thực trạng

4


10

Kết quả đạt được

18

11

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

18

12

Kết luận

18

13

Kiến nghị

19

1


A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.

Hoá học là môn khoa học nghiên cứu các chất, sự biến đổi
và ứng dụng của chúng, đó là môn khoa học thực nghiệm. Hoá
học có vai trò quan trọng trong cuộc sống chúng ta, giúp chúng
ta giải thích các hiện tượng thực tế. Tuy nhiên hiện nay các bài
tập hóa học thực tiễn đang còn ít mà manh mún, chưa có một
hệ thống bài tập giúp học sinh dễ dàng tiếp cận kiến thức đồng
thời cũng gắn việc học tập lý thuyết với thực tiễn được thuận lợi
hơn.
Hơn nữa, để thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW với nội
dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế,
Nhà nước đã ban hành các văn bản nhằm cụ thế hóa Nghị quyết
29-NQ/TW, gắn việc học tập theo định hướng phát triển năng
lực thực tiễn của người học, một trong các định hướng của việc
đổi mới phương pháp dạy học hóa học hiện nay là tăng cường
gắn lí thuyết với thực tiễn, học đi đôi với hành.
Các bài tập hóa học là nhằm rèn luyện khả năng vận dụng
kiến thức, đào sâu mở rộng kiến thức một cách sinh động,
phong phú, ôn tập, củng cố kiến thức một cách có hệ thống; rèn
luyện kỹ năng suy luận lôgíc, thí nghiệm, tính toán… Tất cả các
tác dụng đó đều được đáp ứng trong bài tập hoá học thực tiễn,
đặc biệt là rèn luyện khả năng suy luận, tư duy lôgíc và vận
dụng những kiến thức được học vào việc giải quyết các vấn đề
do thực tiễn đặt ra.
Vì vậy, việc xây dựng các bài tập hoá học thực tiễn trong
dạy học hoá học là rất quan trọng, làm cho bài học trở nên sinh
động, gây hứng thú và sức thu hút đối với học sinh hơn. Có như
thế chất lượng dạy học mới được nâng lên và đạt hiệu quả cao,
phù hợp với xu hướng đổi mới trong giáo dục hiện nay.

Là một giáo viên dạy môn hoá học, tôi đã áp dụng một số
bài tập liên quan đến thực tiễn vào lớp tôi trực tiếp giảng dạy và
đã gây được nhiều hứng thú học tập cho học sinh
Trong phạm vi đề tài này, tôi xin trình bày một số kinh
nghiệm trong việc xây dựng hệ thống bài tập hóa học thực tiễn
ở trường THCS Xuân Bình. Mong các đồng nghiệp tham khảo và
bổ sung để lần sau tôi hoàn thiện tốt hơn.
II. Mục đích nghiên cứu
2


- Giúp cho bài học sinh động hơn, gây hứng thú và sức thu
hút đối với học sinh.
- Giúp học sinh vận dụng tốt các kiến thức lí thuyết vào
giải thích các hiện tượng thức tế.
- Kích thích trí tò mò và lòng ham mê môn hoá học đối với
học sinh.
- Giúp gắn kết các hiện tượng trên lí thuyết với thực tế
thông qua các bài tập hoá học mang tính thực tiễn.
III. Đối tượng nghiên cứu
- Chương trình hoá học 8, 9 (khối lớp 8, 9 tôi trực tiếp
giảng dạy) ở trường THCS Xuân Bình, huyện Như Xuân, tỉnh
Thanh Hóa
IV. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu và quan sát các hiện
tượng thực tiễn.
- Phương pháp thực nghiệm qua giảng dạy, bồi dưỡng học
sinh giỏi.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp.
B. NỘI DUNG

I. Cơ sở lí luận
Cơ sở lí luận quan trọng của vấn đề này là các kiến thức lý
thuyết và thực nghiệm hóa học bậc THCS cơ bản và nâng cao.
Có thể nói, hoá học là môn khoa học lý thuyết gắn liền với
thực nghiệm. Thực nghiệm củng cố những tiên đoán của lý
thuyết và ngược lại lý thuyết lại dẫn đường cho thực nghiệm. Vì
vậy để xây dựng và giải thích các vấn đề của các bài tập đặt ra,
trong quá trình thực hiện tôi phải vận dụng linh hoạt các kiến
thức lí thuyết và thực nghiệm một cách có hiệu quả thông qua
nghiên cứu các tài liệu liên quan đến môn hóa học THCS như
sách giáo khoa, sách giáo viên, các tài liệu khác của nhà xuất
bản giáo dục Việt Nam (theo mục các tài liệu tham khảo) và đối
tượng đặc điểm của học sinh trong trường.
Trên thực tế sau thời gian áp dụng lồng ghép các bài tập
hoá học thực tiễn vào những lớp giảng dạy, tôi nhận thấy học
sinh hứng thú hơn, say mê hơn và nhớ kiến thức nhanh hơn. Từ
nhận thức trên, trong bài viết này tôi đã xây dựng một số bài
tập liên quan đến thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng học tập
3


cho học sinh. Giúp cho học sinh có vốn kiến thức cơ bản vững
vàng hơn để các em tự tin và chủ động lĩnh hội những tri thức
ngày càng khó của thế giới.
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy trước khi áp dụng SKKN,
học sinh tiếp thu kiến thức lý thuyết rất khó khăn. Do một số
phần kiến thức lí thuyết trong chương trình đổi mới còn trừu
tượng nên ít gây hứng thú cho học sinh cũng như gây khó khăn
cho người dạy. Bên cạnh đó những hiện tượng hóa học thực tế

học sinh khó có thể giải thích được bằng những kiến thức lý
thuyết trừu tượng nếu như không được tiếp cận nhiều các bài
tập hóa học thực tiễn. Vì vậy để học sinh dễ hiểu bài đòi hỏi cần
thực tế hoá những kiến thức trừu tượng để tạo hứng thú và
không khí học tập sôi nổi cho học sinh.
Chất lượng cụ thể của học sinh khối 8, 9 môn hóa học ở
trường THCS Xuân Bình trước khi áp dụng SKKN được thống kê ở
bảng sau:
Khố
i lớp

Tổng
số
HS

Xếp loại học lực
Giỏi
SL

%

Khá
SL

%

TB
SL

Yếu

%

SL

%

Kém
SL

%

8

69

1

1,4 5

7,3 50

72, 12
5

17, 1
4

1,4

9


71

1

1,4 4

5,6 48

67, 16
7

22, 2
5

2,8

Tất cả những lí do trên cần thiết phải có hệ thống những
bài tập hoá học thực tiễn để giúp cho việc dạy và học môn hoá
có hiệu quả hơn, đồng thời giúp phát trển năng lực tư duy hóa
học của học sinh được tốt hơn.
III. Giải pháp giải quyết thực trạng
Xây dựng một số bài tập liên quan đến thực tiễn nhằm
nâng cao chất lượng học tập và phát triển năng lực thực tiễn
cho học sinh.
Câu 1: Tại sao khi đánh rơi nhiệt kế thuỷ ngân (Hg) bị vỡ
không được dùng chổi quét mà lại rắc bột lưu huỳnh (S) lên?

4



(Hình ảnh nhiệt kế thủy ngân bị vỡ - Nguồn mạng Internet)
Đáp án: Hg là một chất lỏng linh động, hơi Hg rất độc. Vì
vây, khi đánh rơi nhiệt kế thủy ngân (Hg) bị vỡ ta không thể
dùng chổi để quét Hg được vì làm như vậy Hg bị phân tán nhỏ
và khả năng bay hơi càng lớn, càng gây khó khăn cho quá trình
thu gom. Ta phải dùng bột S rắc lên chỗ có Hg rơi, S có thể kết
hợp với Hg dễ dàng tạo thành HgS rắn hấu như không bay hơi.
Việc thu gom HgS trở nên thuận tiện hơn.
Hg + S → HgS
Câu 2: Trước đây người ta bơm hidro vào khinh khí cầu. Tại
sao ngày nay người ta lại thêm He vào để thay thế một phần
hidro?

5


(Hình ảnh cuộc thi khinh khí cầu – Nguồn internet)
Đáp án: Vì hidro dễ cháy và có thể tạo thành hỗn hợp nổ
với oxi ở tỉ lệ VH2 : VO2 = 2 : 1, vì vậy nên đã có những vụ tai nạn
xảy ra trong quá trình sử dụng khinh khí cầu. Ta có thể khắc
phục tình trạng này bằng cách thay một phần hidro bằng He, là
một khí trơ. Tuy nhiên người ta không thay toàn bộ hidro bằng
He vì He rất đắt, người ta chỉ thay một phần hidro bằng He thôi.
He có tác dụng làm giảm khả năng tạo hỗn hợp nổ vì giảm khả
năng va chạm của hidro với oxi.
Câu 3: Vì sao dung dịch nước muối có tính khử trùng?

6



(Hình ảnh lọ đựng dung dịch Natriclorit 0,9% – Nguồn
internet)
Đáp án: Dung dịch muối có nồng độ muối lớn hơn nồng độ
muối trong các tế bào của vi khuẩn, do hiện tượng thẩm thấu,
muối đi vào các tế bào, làm cho nồng độ muối trong vi khuẩn
tăng cao và có quá trình chuyển ngược lại từ tế
bào vi khuẩn ra ngoài. Vi khuẩn mất nước nên bị tiêu diệt.
Câu 4: Tại sao các đồ vật cổ bằng đồng thường có màu
xanh?

(Hình ảnh đồ vật bằng đồng cổ - Nguồn internet)
Đáp án: Cu(OH)2 có màu xanh lam. Phản ứng do H 2O và
O2 hoặc O3 trong không khí oxi hoá Cu. Thường thì phản ứng này
xảy ra khó hơn phản ứng oxi hoá Cu thành CuO (màu đen) hoặc
từ CuO sau mới trở thành Cu(OH) 2 cho nên ban đầu đồ đồng
thường bị đen đi, chỉ có đồ đồng cổ có màu xanh.
Câu 5: Khi nhóm bếp than ta có thể nhúng than vào nước
vôi trong rồi phơi trước khi đun, làm như vậy được lợi gì khi
nhóm bếp?

7


Đáp án: Một kinh nghiệm nhóm bếp là hãy nhúng than
vào nước vôi trong rồi phơi khô trước khi đun, làm như vậy
Ca(OH)2 sẽ hấp thụ CO2 sinh ra, khi nhóm sẽ bớt khói hơn.
Câu 6: Vì sao có sự tạo thành thạch nhũ trong các hang
động của những núi đá vôi?


(Hình ảnh thạch nhũ trong các hang động – Nguồn
internet)
Đáp án: Đá vôi (CaCO3), thành phần cơ bản tạo nên núi đá
vôi, có thể kết hợp với khí cacbonic (CO 2) của khí quyển và nước
để tạo thành những phản ứng thuận nghịch sau đây: CaCO 3 +
CO2 + H2O ↔ Ca(HCO3)2.
Canxi hidrocacbonat (Ca(HCO3)2) là muối có tính axit, tan
được trong nước. Dòng nước suối (có phản ứng trên) khi chảy
âm thầm trong các hang thì không sao, khi đến gần cửa hang
thì gặp ánh sáng mặt trời, độ tan của khí trong nước giảm, do
đó khí CO2 thoát ra ngoài không khí, nghĩa là phản ứng (từ phải
sang trái) xảy ra. Canxi cacbonat tụ lại, lâu ngày thành thạch
nhũ dưới vòm hang. Những giọt nước (có chứa đá vôi và khí
CO2) ở vách nứt phía trên đang chuẩn bị rơi thì thiếu khí CO 2
không rơi được, đọng lại, lâu ngày thành thạch nhũ trên. Cảnh
thiên nhiên đã đẹp, cộng thêm với trí tưởng tượng phong phú
của con người, hang động đá vôi sẽ mãi mãi là nguồn cảm hứng
thi ca của đời này sang đời khác.
Câu 7: Giải thích hiện tượng “ma trơi”?

8


Đáp ảnh
án:maỞ
đầm internet)
lầy, nghĩa địa có sự thối rữa những
(Hình
trơicác
– Nguồn

chất hữu cơ giàu photpho mà lại không có không khí. Photphin
(PH3) theo đất thoát ra. bản thân nó không có khả năng tự bốc
cháy nhưng do có lẫn điphotphin (P 2H4) là một chất có khả năng
tự bốc cháy khi tiếp xúc với không khí trên mặt đất nên
photphin cũng cháy theo tạo thành những ngọn lửa là là mặt
đất gọi là “ma trơi”. Do đó “ma trơi” là một hiện tượng tự nhiên
có nguồn gốc hoá học do photphin không nguyên chất gây ra.
Câu 8: Giải thích câu ca dao:
“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Đáp án: Do khi có sấm sét thì:
N 2 + O2

→ 2NO

2NO + O2 → 2NO2
4NO2 + 2H2O + O2 → 4HNO3
Vì HNO3 tan trong nước mưa có nồng độ rất loãng lại bị
trung hoà bởi một số muối có trong đất trở thành phân đạm làm
cho cây xanh tươi sau cơn mưa.
Câu 9: Giải thích vì sao nước Javel và clorua vôi có tính tẩy
màu?

9


(Hình ảnh lọ đựng nước tẩy Javen – Nguồn internet)
Đáp án: Nước Javel và clorua vôi có tính tẩy màu vì trong
không khí có CO2, do đó xảy ra phản ứng:
NaClO + CO2 + H2O → NaHCO3 + HClO2

CaClO3 + CO2 + H2O → CaCO3 + CaCl2 + 2HClO
Do HClO có tính tẩy màu, do đó nước Javel và clorua vôi có
tính tẩy màu.
Câu 10: Axit clohidric (HCl) có vai trò như thế nào đối với
cơ thể?
Đáp án: HCl có vai trò rất quan trọng đối với quá trình
trao đổi chất của cơ thể. Trong dich vị dạ dày của người có HCl
với nồng độ khoảng từ 0,0001 đến 0,001ml/l. Ngoài việc hoà tan
các muối khó tan, HCl còn là chất xúc tác cho các phản ứng
thuỷ phân các gluxit (đường, tinh bột) và chất protein (chất
đạm) thành các chất đơn giản hơn để cơ thể có thể hấp thụ
được. Lượng HCl trong dịch vị dạ dày nhỏ hơn hoặc lớn hơn mức
bình thường đều mắc bệnh. Khi trong dich vị dạ dày HCl có
nồng độ nhỏ hơn 0.00001 ml/l ta mắc bệnh khó tiêu, ngược lại
nồng độ lơn hơn 0.001ml/l ta mắc bênh ợ chua. Một số thuốc
chứa muối natri hidrocacbonat NaHCO 3 (còn gọi là thuốc muối)
có tác dụng trung hoà bớt axit trong dạ dày.
NaHCO3 + HCl → NaCl + CO2 + H2O

10


Câu 11: Tại sao nước đá khô có tác dụng bảo quản thực
phẩm khi vận chuyển đi xa?

(Hình ảnh nước đá khô – Nguồn internet)
Đáp án: Nước đá khô chính là cacbon đioxit ở dạng rắn,
khi bay hơi thu nhiệt rất lớn, làm hạ nhiệt độ của môi trường
xung quanh. Do đó người ta dùng nước đá khô để bảo quản
thực phẩm khi cần vận chuyển đi xa.

Câu 12: Mưa axit là gì? Hãy giải thích nguyên nhân của
hiện tượng này? Nêu hậu quả do mưa axit gây ra?

11


(Một cánh rừng thông ở Czech bị "thiêu trụi" bởi mưa axit –
Nguồn internet)
Đáp án: Mưa axit là hiện tượng nước mưa có pH thấp hơn
7. Có nhiều nguyên nhân gây nên hiện tượng này, nhưng chủ
yếu là do các khí thải của ngành công nghiệp, đó là SO 2, H2S,
NO, NO2, HCl,… Ngoài ra, các khí này còn sinh ra do các quá
trình tự nhiên, ví dụ như SO 2, H2S sinh ra do quá trình hoạt động
của núi lửa, do quá trình phân huỷ xác động thực vật… Một
lượng lớn CO2 cũng gây nên mưa axit nhưng CO 2 gây ra ảnh
hưởng không lớn lắm.
Mưa axit có tác hại rất lớn cho con người cũng như môi
trường sống, chúng phá huỷ các công trình xây dựng, cũng như
di tích lịch sử,… Mưa axit lại thay đổi đột ngột độ pH của môi
trường làm ảnh hưởng đến sự sống của nhiều sinh vật trong
nước cũng như trong đất. Cây trồng không thích nghi được đối
với sự thay đổi PH cũng có thể cho sản lượng thấp hoặc có thể
chết. Mưa axit cần làm hoà tan các trầm tích trong đất, làm hoà
tan các kim loại nặng (Asen, sắt,..) gây ô nhiễm nguồn nước.
Câu 13: Các nguyên tắc vận tải axit sunfuric đậm đặc
đựng trong các toa thùng yêu cầu một cách nghiêm ngặt phải
đóng kín ngay tức khắc vòi thoát sau khi tháo axit ra khỏi toa
12



thùng. Tại sao sau khi tháo axit rồi mà khoá chặt ngay vòi lại thì
toa thùng không bị hư hỏng, còn nếu cứ để mở thì thùng không
dùng được tiếp nữa?

(Hình ảnh xe vận chuyển axit sunfuric bằng thùng thép –
Nguồn internet)
Đáp án: H2SO4 đặc được vận chuyển bằng các toa thùng bằng
thép, do Fe bị thụ động hoá trong H2SO4 đặc nguội nên không có
phản ứng. Khi tháo H2SO4 đặc ra sẽ có một lượng nhất định
sunfuric còn lại trong toa thùng. Nếu không đóng kín lại thới tiết
ẩm sẽ xâm nhập làm loãng dung dịch axit. Khi đó H 2SO4 loãng
sẽ phản ứng với toa xe làm hỏng toa.
Câu 14: Tại sao Cl2 là một khí rất độc nhưng người ta vẫn
sục một lượng thich hợp vào nước sinh hoạt?
Đáp án: Tuy rất độc nhưng Cl2 lại là một chất có khả năng
diệt trùng rất mạnh (do tính oxi hoá của HClO tạo ra từ cân
bằng: Cl2 + H2O ↔ HCl + HClO).
Vì vậy người ta vẫn sục một lượng thích hợp khí clo vào
nước sinh hoạt để diệt khuẩn, tất nhiên hàm lượng Cl 2 trong
nước phải được kiểm soát nghiêm ngặt.

13


Câu 15: Ở các cây xăng ta thường nhìn thấy ghi các con
số 83, 90, 92. Các con số ấy có nghĩa gì? Tại sao ở các cây xăng
người ta cấm sử dụng lửa và cấm cả sử dụng điện thoại di
động?

(Hình ảnh cây xăng dầu – Nguồn internet)

Đáp án: Các con số ghi đây chính là chỉ số octan của các
loại xăng bán. Xăng có thành phần chính là các ankan lỏng, do
ankan lỏng dễ bay hơi nên các điểm bán xăng luôn có hơi xăng,
khi sử dụng điện thoại di động thì khi điện thoại reo sẽ phát ra
tia lửa điện có thể kích thích hơi xăng trong không khí cháy,
cũng như vậy đối với việc sử dụng bật lửa. Vì vậy những điều
này đều bị cấm.
Câu 16: Giải thích tại sao vào mùa hè, vào những hôm trời
nắng nóng, mặt hồ ao thường sủi bọt?
Đáp án: Vào mùa hè, những đêm trời nắng nóng nhiệt độ
của hồ ao cao hơn bình thường. Vì vậy độ tan của các khí trong
nước hồ ao sẽ giảm xuống và thấp hơn nồng độ của chúng
trong nước, một số khí thoát ra (ngoài CH4 còn có oxi, nitơ,…) do
mặt hồ ao thường lắm chất bẩn nên các khí không thoát được ra
ngoài không khí mà bị các “vấy bẩn” này chặn lại tạo thành các
bọt khí.
Câu 17: Trước đây axetilen sản xuất từ đất đèn. Đất đèn
lại được điều chế từ than đá (C) và đá vôi (CaCO 3). Phương pháp
sản xuất này có đặc điểm gì? Tại sao không nên xây dựng các lò
sản xuất đất đèn các khu vực đông dân cư?

14


Đáp án: Muốn điều chế đất đèn từ C và CaO, người ta phải
tốn rất nhiều năng lượng điện, vì phản ứng xảy ra ở nhiệt độ rất
cao trong lò điện với các điện cực bằng than chì:
CaO + 3C → CaC2 + CO
Chính vì hiện nay trên quy mô công nghiệp người ta ít sản
xuất axetilen từ đất đèn nữa, mà từ khí metan, còn trong thực

tế vẫn còn sản xuất CaC2 vì mục đích khác.
Không nên xây dựng các lò sản xuất các lò sản xuất đất
đền ở khu vực đông dân cư vì quá trình sinh ra khí CO là một khí
rất độc.
Câu 18: Tại sao khi sưởi ấm bằng bếp than con người lại bị
ngộ độc và có thể bị tử vong?

(Hình ảnh than đang cháy – Nguồn internet)
Đáp án: Vì khi sưởi ấm bằng bếp than vì không được cung
cấp đầy đủ khí oxi cho than cháy, phản ứng không hoàn toàn
thường sinh ra khí CO, con người hít phải khí này vào trong cơ
thể CO sẽ kết hợp với Hb trong máu, ngăn không cho máu nhận
oxi và cung cấp oxi lên não và đến các tế bào nên gây tử vong
cho con người.
Câu 19: Để khắc chữ hay hình trên các vật liệu bằng thuỷ
tinh người ta phải làm như thế nào?

15


(Hình ảnh khắc chữ lên ly thủy tinh – Nguồn internet)
Đáp án: Axit flohidric (HF) hoà tan dễ dàng SiO 2 theo phản
ứng:
4HF + SiO2 → SìF4 + 2H2O.
Do đó HF được dùng để khắc chữ và hình trên các vật liệu
bằng thuỷ tinh.
Câu 20: Vì sao ăn đường glucôzơ lại cảm thấy đầu lưỡi
mát lạnh?

16



(Hình ảnh gói đường glucose – Nguồn internet)
Đáp án: Nếu bạn cho một thìa đường glucozơ vào lưỡi
trong cảm giác ngọt ngào mà bạn cảm nhận được còn có cảm
giác mát lạnh. Ví sao vậy? Glucozơ tạo ra một dung dịch đường
trên lưỡi, sự phân bố các phân tử đường trong quá trình hoà tan
là quá trình thu nhiệt, do đó ta cảm thấy đầu lưỡi mát lạnh.
Câu 21: Dưa chuột là một loại cây thường được trồng ở
các nơi có khí hậu nhiệt đới (như Việt Nam). Nếu đem dưa chuột
sang trồng ở Nga, thì ta thấy rằng nằng suất thấp, khi thu
hoạch quả dưa chuột không được to. Hãy giải thích tại sao? Có
thể khắc phục tình hình trên bằng cách trồng dưa chuột trong
nhà kính và thường xuyên cung cấp lượng CO 2 thích hợp vào
trong nhà kính. Giải thích?

17


(Hình ảnh cây dưa chuột – Nguồn internet)
Đáp án: Cây xanh tổng hợp chất hữu cơ nhờ các quá trình
quang hợp:
6CO2 + 6H2O → C6H12O6 + 6O2
Để thực hiện quá trình này cần cung cấp đầy đủ năng
lượng ánh sáng mặt trời. Những cây trồng ở vùng nhiệt đới, quá
trình quang hợp càng xảy ra mạnh và do đó cây cần nhiều ánh
sáng mặt trời. Vì vậy khi mang sang trồng ở một nước có khí
hậu lạnh như ở Nga, lượng ánh sáng mặt trới là không đủ cung
cấp, nên quá trình quang hợp diễn ra kém, thu hoạch nông sản
thấp, quả không to. Khi trồng dưa chuột trong nhà kính sẽ giữ

được nhiệt độ ổn định và có thể dễ dàng cung cấp CO 2 một
lượng thích hợp. CO2 sẽ làm thúc đẩy quá trình quang hợp của
cây xanh.
Câu 22: Tại sao khi phun nước rửa sạch đường phố người
ta thường cho CaCl2 (rắn) xuống đường?
Đáp án: CaCl2 rắn có khả năng hút ẩm rất tốt, vì vậy
người ta cho CaCl2 để giữ hơi nước lâu hơn trên mặt đường.
Câu 23: Tại sao đất chua người ta thường bón vôi, tại sao
đất lại có xu hướng chua hoá?
18


(Hình ảnh người nông dân đang bón vôi cho lúa – Nguồn
internet)
Đáp án: Đất chua là đất có chứa nhiều axit. Khi bón vôi sẽ
trung hoà axit nên giảm độ chua của đất. Trong thực tế có thể
bón vôi cho ruộng bằng CaCO3, CaO, Ca(OH)2, quặng đôlônit
CaCO3.MgCO3. Đất bị chua do những nguyên nhân: có thể là
mưa axit, hay do ta bón lân đạm. Tuy nhiên nguyên nhân chính
dẫn đến chua hoá của đất là do quá trình rễ cây tiết ra axit để
hấp thụ các chất dinh dưỡng có trong đất. Do đó đất bị chua.
Câu 24: Vì sao ném đất đèn xuống ao lại làm cho cá chết?

19


(Hình ảnh cá chết hàng loạt do ném đất đèn xuống ao –
Nguồn internet)
Đáp án: Đất đèn co thành phần chính là canxicacbua
CaC2. Khi tác dụng với nước sinh ra khí axetilen và canxi

hidroxit:
CaC2 + 2H2O → C2H2 + Ca(OH)2
Axetillen có thể tác dụng với nước tạo ra andehit axetic
(C2H2 + H2O → CH3CHO). Các chất này làm tổn thương đến các
hoạt động hô hấp của cá. Vì vậy có thể làm cá chết.
Câu 25: Vì sao người ta dùng tro bếp để bón cây?
Đáp án: Trong tro bếp có chứa K2CO3 nên cung cấp kali
cho cây.
Câu 26: Vì sao NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ
dày (bao tử)?
Đáp án: NaHCO3 làm giảm lượng HCl trong dạ dày nhờ
phản ứng:
NaHCO3 + HCl → NaCl + CO2 + H2O
Câu 27: Khi cơm bị khê người ta thường cho nồi cơm một
mẩu than củi lại làm mất mùi khê?

(Hình ảnh chữa cơm khê bằng than củi – Nguồn internet)
20


Đáp án: Do than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ
mùi khét của cơm khê làm cho cơm đỡ mùi khê.
Câu 28: Vì sao khi đựng nước vôi bằng chậu nhôm thì
chậu sẽ bị thủng?
Đáp án: Vì nhôm là một kim loại lưỡng tính và các hợp
chất của nó cũng là hợp chất lưỡng tính nên khi cho nước vôi
vào chậu nhôm thì xảy ra các phản ứng sau:
Al2O3 + Ca(OH)2 → Ca(AlO2)2 + H2O
2Al(OH)3 + Ca(OH)2 → Ca(AlO2)2 + H2O
Al + Ca(OH)2 + 2H2O → Ca(AlO2)2 + H2↑

Nhôm bị hoà tan dần nên lâu ngày chậu sẽ bị thủng.
IV. Kết quả đạt được
Với những bài tập hoá học thực tiễn đã xây dựng, tôi đã áp
dụng vào lớp tôi trực tiếp giảng dạy. Tôi đã thu được kết quả
nhất định. Học sinh tiếp thu kiến thức nhanh hơn, sáng tạo hơn
và điều đặc biệt là học sinh hứng thú học hơn nên đã tạo nên
không khí học tập sôi nổi. Đối với học sinh giỏi, đã có những câu
hỏi sáng tạo liên quan đến các vấn đề thực tiễn (ví dụ như: Tại
sao khinh khí cầu lại bị nổ khi V H2 : VO2 = 2 : 1? ...). Học sinh
không còn cảm thấy khó khăn khi học tập môn Hoá. Đó là một
trong những niềm vui và thành công lớn đối với một giáo viên
dạy hoá như tôi.
Chất lượng cụ thể của học sinh khối 8, 9 môn hóa học ở
trường THCS Xuân Bình sau khi áp dụng SKKN được thống kê ở
bảng sau:
Tổng
Khố
số
i lớp
HS

Xếp loại học lực
Giỏi
SL

%

Khá
SL


%

TB
SL

Yếu
%

SL

%

Kém
SL

8

69

6

8,7 12

17, 48
4

69, 3
6

4,3 0


9

71

7

9,9 11

15, 49
5

69, 4
0

5,6 0

%

C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
21


1. Kết luận
Với SKKN này, sau khi áp dụng vào các khối lớp 8, 9 ở
trường THCS Xuân Bình trong một năm học, bản thân nhận thấy
rằng:
- Hầu hết các học sinh trong các tiết học đều hứng thú học
tập môn hóa học hơn so với trước khi áp dụng từ đó giúp chất
lượng học tập của các em được nâng lên rõ rết như đã thống kê

ở bảng trên.
- Giáo viên giảng dạy có thể lựa chọn các bài tập trong hệ
thống bài tập đã trình bày ở trên vào các tiết dạy cho phù hợp,
cũng không nên quá lạm dụng các bài tập vào các tiết học sẽ
ảnh hưởng đến việc truyền thụ các kiến thức lý thuyết cơ bản
cho học sinh.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên có thể kết hợp các
phương pháp truyền thụ kiến thức cho học sinh và quan tâm
đến việc sử dụng trình chiếu các hình ảnh, tư liệu liên quan đến
các bài tập mà mình sử dụng, đồng thời lồng ghép việc tích hợp
các kiến thức liên quan nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện
hơn.
Vì thời gian có hạn và vốn kinh nghiệm chưa nhiều nên đề
tài này tôi mới chỉ đưa ra một số bài tập hoá học thực tiễn có
liên quan đến kiến thức hoá học trong chương trình hoá học 8,
9. Có một số bài tập là phần mở rộng nhằm kích thích sự sáng
tạo và ham hiểu biết của học sinh đặc biệt là những học sinh
giỏi. Hy vọng những bài tập nhỏ này không chỉ vận dụng lồng
ghép vào lớp tôi đảm nhiệm mà còn mang tính phổ biến đối với
các em học sinh THCS cũng như THPT.
Mặc dù vậy, là một giáo viên giảng dạy ở một trường thuộc
xã miền núi nghèo (xã thuộc chương trình 135 của Chính phủ)
nên chưa thể tạo ra được những giờ học lồng ghép lý thuyết và
thực tiễn đạt hiệu quả cao như ý muốn. Tuy nhiên bản thân tôi
sẽ cố gắng rèn luyện để những đề tài lần sau có nhiều vấn đề
thực nghiệm giải quyết sáng tạo và thuyết phục hơn. Trong bài
viết này không tránh khỏi những sai sót nhất định. Với tinh thần
cầu thị, tôi mong được sự góp ý, bổ sung của các đồng nghiệp
để lần nghiên cứu sau tôi hoàn thiện tốt hơn.
2. Kiến nghị

Đối với nhà trường: Tăng cường huy động các nguồn kinh
phí từ cấp trên, từ xã hội hóa giáo dục và từ các nguồn khác để

22


sữa chữa, mua sắm bổ sung các máy chiếu giúp công tác giảng
dạy của giáo viên và việc học tập của học sinh được tốt hơn.
Đối với đồng nghiệp: Nên tham khảo SKKN này và lựa chọn
các bài tập phù hợp cho từng tiết dạy, sử dụng phương pháp
giảng dạy phù hợp thì chất lượng học tập của học sinh sẽ từng
bước được nâng lên. Đóng góp ý kiến cho tác giải để công tác
giảng dạy môn hóa học của giáo viên và học tập của học sinh
ngày càng tốt hơn./.
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG

Xuân Bình, ngày 01 tháng 4
năm 2016

ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.

Nguyễn Thị Loan

Phạm Văn Ánh


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Hóa học 8, 9 hiện hành;
2. Sách giáo viên Hóa học 8, 9 hiện hành;
3. Chuẩn kiến thức – Kĩ năng môn Hóa học THCS;
4. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa học
THCS. Tác giả: Cao Thị Thặng – Vũ Anh Tuấn, Nhà xuất bản
Giáo dục;
5. Bồi dưỡng năng lực tự học Hóa học 8. Tác giả: PGS Võ Đinh
Nguyên Trực - Lê Thị Hồng- Đinh Mỹ Vân - Vũ Duy Quang Đoàn Thị Linh Sang, Nhà xuất bản: Đại học Quốc gia TP.Hồ
Chí Minh;
6. Hóa học các câu chuyện lý thú. Tác giả: Thế Trường. Nhà
xuất bản: NXB Giáo dục;
7. Đố vui Hóa học. Tác giả: Huỳnh Văn Út. Nhà xuất bản: NXB Giáo Dục;
8. Hóa học quanh ta. Tác giả: Dương Văn Đảm. Nhà xuất bản: NXB Giáo
dục;
23


9. 385 câu hỏi và đáp về Hóa học với đời sống. Tác giả: Nguyễn Xuân
Trường. Nhà xuất bản: NXB Giáo dục.

24



×