Tải bản đầy đủ (.pdf) (131 trang)

Cộng đồng Công giáo người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.55 MB, 131 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG
----------

NGUYỄN THỊ TRANG

CỘNG ĐỒNG CÔNG GIÁO NGƯỜI HOA TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Trường hợp giáo xứ Phanxico Xavie)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: VIỆT NAM HỌC
Mã số: 60220113

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. PHAN AN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đã gần năm thế kỷ trôi qua kể từ khi Công giáo du nhập vào Việt Nam, so với một
số tôn giáo khác mà người Việt tiếp nhận và gắn bó thì Công giáo xuất hiện muộn hơn
rất nhiều. Lịch sử phát triển của Công giáo ở Việt Nam đã trải qua nhiều biến cố thăng
trầm cùng với sự biến đổi của lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, trải qua thời gian xây dựng và
phát triển, Công giáo đã tạo nên những giá trị nhân văn, giá trị văn hóa vật thể và phi
vật thể, những tri thức khoa học tiến bộ,... đã góp những sắc màu mới mẻ vào bức tranh
chung của dân tộc.
Công giáo không chỉ du nhập vào Việt Nam nói chung mà còn ăn sâu vào từng
bộ phận dân cư nói riêng. Cụ thể phải kể đến cộng đồng Công giáo người Hoa Nam Bộ,


cộng đồng này hình thành vào khoảng đầu TK XIX do những giáo sĩ phương Tây truyền
đạo trên vùng đất Nam Bộ. Theo kết quả cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam
năm 2009 của Tổng cục thống kê nhà nước Việt Nam. Số tín đồ công giáo người Hoa ở
Nam Bộ có khoảng 5000 người trên tổng số 823,071 dân số người Hoa ở Việt Nam1. Từ
đó có thể thấy chiếm khoảng 6,07% tổng số người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh. Một
số lượng không hề nhỏ đang góp phần thực hiện các mục tiêu chung của thành phố.
Kể từ sau năm 1975 cho đến nay, đề tài về người Hoa vẫn luôn là một trong những
đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Bởi vì tiềm năng phong phú và sự phát triển
trong cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh là một động lực thúc đẩy của sản
xuất hàng hóa, phát triển các ngành nghề, dịch vụ, thương mại,... Chính vì vậy, nghiên
cứu chi tiết về tôn giáo, tín ngưỡng của tộc người này giúp ta có một cái nhìn toàn diện
và sâu sắc hơn. Hướng nghiên cứu của luận văn “ Cộng đồng Công giáo người Hoa tại
thành phố Hồ Chí Minh” được lựa chọn cũng chính vì mục đích trên.

1

Tổng cục thống kê – Số liệu điều tra năm 2009.

1


Mặt khác, đây cũng là một đề tài có hướng tiếp cận mới so với các đề tài đã được
nghiên cứu trước đó, thay vì nghiên cứu chung chung về kinh tế, phong tục, tín ngưỡng,
tôn giáo,... tác giả sẽ đi sâu vào nghiên cứu cụ thể về cộng đồng Công giáo của người
Hoa. Qua nghiên cứu đề tài, tác giả muốn chỉ ra được ba vấn đề như sau: Thứ nhất, chỉ
ra được ý thức tộc người của những người Hoa theo Công giáo. Thứ hai, chỉ ra được sự
giống và khác nhau giữa người Hoa theo Công giáo và người Hoa nói chung. Thứ ba,
nghiên cứu sâu và cụ thể hơn về nguồn gốc, tiến trình của cộng đồng công giáo người
Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ những vấn đề đó, tìm ra ưu điểm và hạn chế về ý
thức tôn giáo của cộng đồng này đối với cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Tóm lại, xuất phát từ sự cần thiết của thực tiễn khách quan cũng như những mong
muốn mang tính chủ quan như đã trình bày ở trên đã khích lệ cho tác giả lựa chọn đề
tài “ Cộng đồng Công giáo người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh”. Tác giả mong muốn
qua đề tài này sẽ đóng góp một phần nhỏ nghiên cứu vào việc tìm hiểu văn hóa dân tộc
nói chung và người Hoa nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu
Người Hoa và Công giáo cùng những giá trị về lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín
ngưỡng,.. luôn là những đề tài thu hút sự tìm tòi nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học
nghiên cứu về dân tộc và xã hội. Trong số đó, có những nghiên cứu sâu sắc liên quan
đến người Hoa và Công giáo được đã nhắc đến.
2.1. Lịch sử nghiên cứu về cộng đồng Công giáo
Luận văn thạc sĩ “ Kiến trúc nhà thờ công giáo tại thành phố Hồ Chí Minh (từ
1975 đến nay)” năm 2012 của tác giả Nguyễn Xuân Lộc (Đại học kiến trúc TPHCM),
luận văn đã nghiên cứu về nguồn gốc và quá trình hình thành của Công giáo. Nghiên
cứu cụ thể về hình thức kiến trúc và chỉ ra những ảnh hưởng của văn hóa bản địa đối
với kiến trúc nhà thờ tại thành phố Hồ Chí Minh.
Luận văn thạc sĩ “ Sự hội nhập văn hóa bản địa trong kiến trúc nhà thờ công giáo
tại thành phố Hồ Chí Minh” năm 2008 của tác giả Nguyễn Đức Hiếu (Đại học kiến trúc
TPHCM) đã chỉ ra những đặc điểm riêng của kiến trúc các nhà thờ công giáo tại thành
phố Hồ Chí Minh và các yếu tố lịch sử, văn hóa đã ảnh hưởng đến kiểu thức của các nhà
thờ. Từ đó rút ra sự hội nhập văn hóa bản địa đối với kiến trúc nhà thờ Công giáo

1


Công trình nghiên cứu “Nhà thờ Công giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh” năm 2007
của nhóm tác giả Hồ Tường, Lê Đình Tấn, Ngô Hỷ đã khái lược về các giáo hạt, giáo
phận và giới thiệu cụ thể 52 ngôi nhà thờ Công giáo tiêu biểu tại TP Hồ Chí Minh. Đồng
thời giới thiệu hình thức kiến trúc của mỗi nhà thờ và danh sách địa chỉ các nhà thờ
thuộc từng quận huyện ở thành phố Hồ Chí Minh.

Không phải là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về kiến trúc hay lịch sử,
công trình nghiên cứu “ Nhà thờ Công giáo ở Việt Nam(kiến trúc – lịch sử) NXB tổng
hợp năm 2015 của nhóm tác giả Nguyễn Nghị, Nguyễn Quốc Thái, Khổng Thành Ngọc,
Hoàng Minh Thức, Nxb Tổng hợp TPHCM, như một tập album ghi lại những hình ảnh
từ những góc máy khác nhau của các nhà thờ rải rác trên khắp Việt Nam. Cuốn sách đã
cụ thể ghi lại 25 nhà thờ chính tòa có kiểu thức kiến trúc đặc biệt và là nơi chủ trì của
các giám mục phụ trách 25 giáo phận trên cả nước.
2.2. Lịch sử nghiên cứu về cộng đồng người Hoa
Luận án phó tiến sĩ khoa học kinh tế “ Người Hoa trong nền kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay” năm 1996, Đại học kinh tế TPHCM của tác giả Trần Hồi Sinh
đã khái quát sơ bộ về người Hoa, sau đó đi sâu vào phân tích rõ những đặc điểm, vị trí,
vai trò hoạt động kinh tế của người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Công trình nghiên cứu “ Người Hoa ở Nam Bộ” năm 1994 của tác giả Phan An
đã giới thiệu tổng quan về người Hoa. Tác giả đề cập hầu hết mọi mặt của người Hoa từ
dân số đến phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, kinh tế,…
Công trình nghiên cứu “ Xã hội người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh sau năm
1975- tiềm năng và phát triển” của tác giả Mạc Đường năm 1994, Nxb Khoa học xã hội
đã đề cập toàn diện về xã hội người Hoa sau năm 1975. Cuốn sách đã phân tích quá trình
biến đổi xã hội sau năm 1975 của người Hoa, sự hình thành xã hội công dân và sự phát
triển ý thức công dân của người Hoa. Qua đó, chỉ ra những nhân tố ngoại sinh, nội sinh
, những bối cảnh xung đột tâm lý, quá trình xây dựng, ổn định và phát triển ý thức công
dân Việt Nam đối với người Hoa.
Tập sách “ Văn hóa người Hoa Nam Bộ” của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc
thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015, Nbx. Văn hóa- Văn nghệ Thành phố Hồ
Chí Minh đã khái quát được những nét cơ bản về văn hóa của người Hoa ở Nam Bộ,

2


giúp cho người đọc hiểu hơn về văn hóa giữa người Hoa với các dân tộc anh em trong

cả nước.
Ngoài ra còn rất nhiều sách báo, tạp chí, bài báo khoa học,.. của các ngành khoa
học khác có những vấn đề ít nhiều liên quan đến Công giáo và người Hoa. Tuy nội dung
của những đề tài nghiên cứu này không trực tiếp đến nội dung đề tài, song đó cũng là
nguồn tư liệu tham khảo có giá trị quan trọng trong viện hoàn thành luận văn.
Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên cho thấy thực chất vấn
đề tôn giáo của người Hoa tuy có được đề cập trong một số công trình nghiên cứu, nhưng
chỉ được nêu lên như một minh chứng cho dòng chảy lịch sử hình thành và phát triển
của dân tộc này. Do phân tích trên những mảng rộng lớn mang tính tổng quát ,các công
trình chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể đặc thù của cộng đồng Công giáo của người
Hoa. Vì vậy, đề tài nghiên cứu “ Cộng đồng công giáo người Hoa tại thành phố Hồ Chí
Minh” là hướng nghiên cứu không trùng lặp và thực sự cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của cộng đồng người Hoa theo Công
giáo trường hợp Giáo xứ Phanxicô Xavie.
Tìm hiểu sâu hơn về bản sắc dân tộc của người Hoa theo đạo Công giáo.
Chỉ ra sự tác động của Công giáo đối với đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, chính
trị và nếp sống đạo của bộ phận người Hoa theo Công giáo.
Đề xuất việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo giữa người Hoa theo đạo Công
giáo với người Hoa nói chung và các dân tộc anh em.
3.2. Nhiệm vụ
Tìm hiểu về nguồn gốc và sự hình thành nên cộng đồng Công giáo người Hoa tại
thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời nghiên cứu những vấn đề xung quanh có liên quan
trực tiếp tới vấn đề.
Đi sâu vào thực tiễn, tham gia sinh hoạt trong cộng đồng Công giáo người Hoa tại
giáo xứ Phanxicô Xavie và trong cuộc sống để hiểu rõ hơn về văn hóa, tập tục cũng như
nếp sống của họ.

3



4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Cộng đồng công giáo người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh qua nghiên cứu giáo
xứ Phanxicô Xaviê.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Không gian nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung trong nghiên cứu giáo xứ Phanxicô Xaviê.
Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu:
- Giáo xứ Phanxicô Xaviê là một trong những giáo xứ lâu đời nhất của cộng đồng Người
Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh.2
- Giáo xứ Phanxicô Xaviê nằm ở quận 5, là một trong những quận tập trung nhiều người
Hoa nhất
- Là nơi tập trung nhiều tín đồ người Hoa
4.2.2. Thời gian nghiên cứu
Thời điểm xác định nghiên cứu này là từ năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải
phóng. Trong khoảng thời gian đấy, tác giả muốn chỉ ra sự chuyển đổi tình hình nhận
thức và hoạt động của Công giáo người Hoa.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu, phương
pháp điều tra xã hội học và phương pháp quan sát để đạt được những mục tiêu nêu trên:
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Từ cơ sở lý luận đề tài xoay quanh các từ khóa: Giáo xử Phanxico Xavie, Công
giáo và người Hoa. Trên cơ sở đó, tác giả tập trung tìm hiểu, phân tích và hệ thống các
nội dung liên quan từ các tài liệu:
-

Các sách chuyên ngành, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài báo khoa học
liên quan đến vấn đề nghiên cứu


-

Các nghị định,bộ luật và quy định của nhà nước về tôn giáo và luật pháp

Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Thành phố Hồ Chí Minh (2015), Văn hóa người Hoa Nam Bộ. Nxb.
Văn hóa – Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 133.
2

4


Trên cơ sở những cứ liệu thu thập được từ những báo cáo, các nghiên cứu đã có và
các tài liệu khác xoay quanh đối tượng nghiên cứu. Tác giả tiến hành phân tích, đánh
giá tổng hợp để đi đến kết luận và đưa ra nhận định cần thiết.
5.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Phỏng vấn sâu:
-

Những người thuộc hàng giáo phẩm

-

Các tín đồ công giáo

-

Người dân địa phương (trong hoặc ngoài công giáo)
Điều tra thực địa: Tham gia vào các hoạt động cộng đồng Công giáo để quan sát


nhằm đi sâu đời sống đạo, mối quan hệ xã hội, các biểu hiện về nhận thức, thái độ và
hành vi của cộng đồng Công giáo người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh
Miêu tả: từ việc điều tra thực địa, tác giả miêu tả lại các sinh hoạt tôn giáo, sinh
hoạt hàng ngày, lối sống vòng đời của cộng đồng Công giáo người Hoa.
So sánh: Từ kết quả điều tra, tác giả so sánh người Hoa với người Hoa theo đạo
Công giáo và các dân tộc khác để làm nổi bật nét đặc trưng của công đồng này.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần đóng góp những giá trị sau:
Khái quát tiến trình hình thành và phát triển của cộng đồng Công giáo người Hoa
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu tác động và ý nghĩa của Pháp lệnh tôn giáo và tín ngưỡng đối với
người Hoa theo Công giáo sau khi được ban hành.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả mong muốn đề tài sẽ là nguồn tư liệu hữu
ích cho các nhà khoa học, các đối tượng quan tâm đến chuyên ngành dân tộc học, xã hội
học, lịch sử và văn hóa học.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần nội dung và kết luận, luận văn được trình bày theo ba chương cụ thể
như sau:
5


- Chương 1: của luận văn trình bày các cơ sở lý luận và tổng quan về vấn đề
nghiên cứu: Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu, làm rõ các khái
niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Bên cạnh đó, trình bày lịch sử hình thành, dân
số và kinh tế của Cộng đồng Công giáo người Hoa tại Sài Gòn và thành phố Hồ Chí
Minh để xác định vị trí và tầm quan trọng của Cộng đồng này.
- Chương 2: Trình bày về sự tác động của Công giáo đối với nghi lễ vòng đời
của người Hoa. Tác giả đi vào nghiên cứu chi tiết về sinh đẻ, tang ma, hôn nhân và gia

đình của người Hoa nhằm chỉ ra sự khác biệt của Cộng đồng này so với người Hoa nói
chung.
- Chương 3: Trình bày về sự tác động của Công giáo đối với đời sống tín ngưỡng,
văn hóa và nếp sống của từng cá nhân, gia đình và cộng đồng người Hoa.

6


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Những khái niệm liên quan đến luận văn
*Tín ngưỡng
Theo Wikipedia thì tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống mà con người tin vào
để giải thích thế giới và để mang lại sự bình yên cho bản thân và con người. Tín ngưỡng
còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững và đôi khi được
hiểu là tôn giáo.
Mác- Ăngghen coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức xã hội phản
ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan.
Một số nhà thần học xem tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng, cái huyền
bí, ở đó có chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, nó có một sức mạnh, một quyền lực to
lớn có thể cứu giúp con người khỏi khổ đau, có được hạnh phúc và sự bình yên.
Tại Việt Nam, vấn đề tín ngưỡng cũng có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo GS Đặng Nghiêm Vạn, thuật ngữ tín ngưỡng có thể có hai nghĩa. Khi nói
đến tự do tín ngưỡng, người nước ngoài có thể hiểu đó là niềm tin nói chung (belief,
lelieve, croyance) hay niềm tin tôn giáo (belief, lelieve, croyance riligieuse). Nếu hiểu
tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo
(belief, believer theo nghĩa hẹp croyance riligieose) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận
chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo. [Đặng Nghiêm Vạn 2001: 68]
Theo giải thích của Đào Duy Anh: “Tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với

một tôn giáo hay một chủ nghĩa nào đó”. [Đào Duy Anh 1996:283]
Ngô Đức Thịnh đưa ra quan điểm rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin
của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin,
ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó,
quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng và niềm
tin vào “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất con người, nó là

7


nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như đời sống vật chất, đời
sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm…”[Ngô Đức Thịnh 2001: 16]
Trần Ngọc Thêm cho rằng, tín ngưỡng được đặt trong văn hóa tổ chức đời sống
cá nhân là bộ phận thứ hai trong văn hóa tổ chức cộng đồng. Đời sống mỗi cá nhân trong
cộng đồng được tổ chức theo những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác
(phong tục). Khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, họ tin tưởng và ngưỡng mộ vào
những thần thánh do họ tưởng tượng ra (tín ngưỡng). Tín ngưỡng cũng là một hình thức
tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng. Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm
hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường…tín ngưỡng trở thành tôn giáo. Ở xã hội
Việt Nam cổ truyền, các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển được thành tôn giáo theo
đúng nghĩa của nó- mới có những mầm mống của những tôn giáo như thế - đó là Ông
Bà, đạo Mẫu. Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật, Đạo, Kitô giáo…đã được du
nhập và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc như: Cao Đài, Hòa
Hảo mới xuất hiện” [Trần Ngọc Thêm 1997: 262].
Ngoài ra còn có quan điểm cho rằng: “tín ngưỡng đồng nghĩa với tâm linh (niềm tin
thiêng liêng) cũng có nghĩa tâm linh không phải tôn giáo, tâm linh chỉ là khả năng dẫn
tới tôn giáo”
Hiện nay, Nhà nước ta cũng phân biệt rõ ràng giữa tín ngưỡng và tôn giáo. Điều
này thể hiện ngay trong pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) có quy định như sau:
Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh

những người có công với nước, vơi cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính
truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt
đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội.
* Tôn giáo
Theo Wikipedia Tôn giáo trong tiếng Anh là religion- xuất phát từ tiếng La tinh
religion mang nghĩa “ tôn trọng điều linh thiêng, tôn kính thần linh” hay “bổn phận, sự
gắn kết con người với thần linh” - xét trên một cách thức nào đó, đó là một phương
cách để giúp con người sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên, từ đó làm lợi ích cho
vạn vật và con người.
Các nhà thần học cho rằng “tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thành và con người”.

8


Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong
nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao
giờ có tôn giáo.
Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo của C. Mác: “Tôn giáo là
tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là
tinh thần của trật tự không có tinh thần”.
Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc của tôn giáo của Ph. Ăngghen: “Tôn giáo là
sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái
mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày…”
Như vậy: “tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính
thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo,
nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. Niềm tin đó biểu
hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý- văn hóa khác
nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những
hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau” [Đặng
Nghiêm Vạn 2005: 88-91].

*Mối liên hệ giữa tín ngưỡng và tôn giáo
Có nhiều quan điểm khác nhau về tín ngưỡng và tôn giáo. Giữa tôn giáo và tín
ngưỡng tuy có điểm giống nhau nhưng vẫn có những sự khác biệt, đó là:
-

Tôn giáo được hình thành, tồn tại trên cơ sở lý luận chặt chẽ và có tính hệ thống cao.
Nghi lễ trong tôn giáo được thực hiện mang tính bắt buộc đối với tín đồ, được duy
trì thường xuyên, cùng với những quy định khác. Còn tín ngưỡng được hình thành
và tồn tại dựa trên cơ sở lý luận, thiếu tính hệ thống. Cho nên tín ngưỡng phần lớn
mang tính dân gian, gần gũi với đời thường và phần nghi lễ được thể hiện đơn giản,
không bắt buộc đối với người theo.

-

Ở tôn giáo, niềm tin được đặc biệt đề cao, có thể đó là đức tin, nó đòi hỏi cách lí
giải mang tính logic, hệ thống và được xây dựng trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh
quan, ý thức, tình cảm...Còn tín ngưỡng, niềm tin không trở thành đức tin mà niềm
tin ấy mang tính huyễn hoặc, mờ ảo, không rõ ràng mà dựa vào sự cảm nhận của
chủ thể tín ngưỡng. Nói cách khác, xét về mặt nào đó thì tín ngưỡng có nội hàm hẹp

9


hơn tôn giáo, bởi vì tôn giáo nào cũng có tín ngưỡng, niềm tin, đức tin tôn giáo
nhưng không phải mọi hình thức tín ngưỡng đều là tôn giáo.
-

Tôn giáo thường có một số yếu tố như: Đấng sáng tạo, kinh sách, giáo chủ, hệ thống
giáo lý, tổ chức giáo hội rất điển hình, có quy mô lớn và theo hệ thống chặt chẽ. Vì
vậy, tôn giáo là một thực thể xã hội, nó có tác động lớn tới đời sống xã hội, còn tín

ngưỡng thì thiếu các yếu tố này hoặc chỉ là sự thể hiện mờ nhạt, mang tính sơ khai.
Mặt khác, giữa tín ngưỡng và tôn giáo lại có những điểm tương đồng:

-

Tôn giáo và tín ngưỡng đều là sự thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ của chủ thể con
người vào một thực thể siêu nhiên nào đó như Thượng đế, Thần, Phật, Thánh…và
đều bắt nguồn từ những nguyên nhân xã hội, nhận thức và tâm lý trong quá trình
hình thành và tồn tại. Chủ thể của niềm tin trong tín ngưỡng và tôn giáo là một
người, một nhóm người và một giai cấp trong xã hội.

-

Bản chất của niềm tin trong tín ngưỡng và tôn giáo là khẳng định sự tồn tại và sự
cứu giúp của thần thánh đối với con người. Cho nên, điều cốt lõi của tín ngưỡng và
tôn giáo là niềm tin vào cái siêu thực, đấng thiêng liêng.

-

Cả tín ngưỡng và tôn giáo là sự phản ánh hư ảo của ý thức xã hội về tồn tại xã hội,
chịu sự quy định của các tồn tại xã hội, đều có chức năng bù đắp hư ảo, xoa dịu nỗi
đau hiện thực của con người, hướng con người tới sự giải thoát về mặt tinh thần.
* Công giáo
Công giáo là một thuật ngữ rộng được sử dụng đặc biệt trong ngữ cảnh Kitô giáo,

Xuất phát từ chữ Hi Lạp Katholikos, từ gốc là kat’holon, với ý nghĩa đó là đạo chung,
đạo phổ quát, đạo công cộng đón nhận mọi người, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc
gia nào3
Thuật ngữ này cũng dùng để chỉ mọi giáo hội “Công giáo về bản chất” qua việc họ
tuyên bố giữ niềm tin Công giáo và có tính tông truyền, như: Chính thống giáo Đông

Phương và Đông Phương không Chaldeson, Công giáo Thượng cổ (Ancient Catholic),
Công giáo cổ (Old Catholic, tách khỏi Giáo hội Công giáo Rôma năm 1870), Công Giáo
tự do (Liberal Catholic) hay Giáo hội chính thức của Anh (High Church Anglicans).

3

Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ (2010), Công giáo& Thiên Chúa Giáo.

tintuc/20100802/6086.

10

/>

Thuật ngữ “Công giáo” thường được dùng để nói về “Công Giáo Rôma”. Từ
“Rôma” dùng để chỉ vai trò trung tâm của giáo tông Rôma đối với giáo hội này và theo
định nghĩa mọi tín đồ Công giáo Rôma hiệp thông trọn vẹn với vị giáo tông này khi là
thành phần của Giáo Hội La Tinh (Tây Phương), chiếm đa số hay thuộc hơn 20 Giáo
Hội Đông Phương nhỏ hơn, chấp nhận “quyền lực phổ quát tối cao và trọn vẹn trên Giáo
Hội hoàn vũ” của giáo tông tại Rôma.4
1.1.2. Những khái niệm về đối tượng và phạm vi nghiên cứu liên quan đến đề tài
* Người Hoa
Người Hoa là những người gốc Trung Quốc định cư ở Việt Nam và đa số có quốc
tịch Việt Nam. Người Hoa ở Việt Nam còn được gọi với các tên khác như:
người Hán, người Việt gốc Hoa, Hoa kiểu, Hoa kiều hải ngoại, người Tàu, Tàu ô, Ba
tàu, người Khách, cộng đồng người Hoa. Trong ngôn ngữ phương Tây, người Hoa được
gọi là Chinese ( Tiếng Anh), Chinois ( tiếng Pháp), Kitai (tiếng Nga).
Người Hoa ở Việt Nam trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đó
là “ những người gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quốc đã Hán
hóa di cư sang Việt Nam và con cháu của họ đã sinh ra, lớn lên tại Việt Nam, đã nhập

quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn giữ những đặc trưng văn hóa, chủ yếu là ngôn ngữ,
phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa”5
* Giáo phận
Giáo phận là một phần dân Chúa được giao phó cho một Giám mục chăm sóc cùng
với sự cộng tác của Linh mục đoàn, để nhờ sự gắn bó với vị Giám mục chủ chăn và
được vị ấy tập hợp trong Chúa Thánh Thần, nhờ Phúc âm và Thánh thể, thành phần dân
ấy lập thành một Giáo hội địa phương.6
* Giáo hạt
Giáo hạt là một đơn vị cấp dưới tiếp theo Giáo phận. Các Giáo xứ gần nhau liên kết
lại thành Giáo hạt và chỉ trong phạm vi của Giáo phận; một Giáo phận có nhiều Giáo
hạt.
* Giáo xứ

Giáo lý vấn đáp Giáo hội Công giáo, 882.
Chỉ thị số 62 – CT/TW ngày 8-11-1995 của Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
6
Bộ Giáo luật Giáo hội Công giáo(1983), Bản dịch được HĐGM Việt Nam nhận làm bản chính thức.
4
5

11


Bộ Giáo luật 1983 quy định “Giáo xứ là một cộng đoàn dân Chúa nhất định được
thiết lập cách bền vững trong Giáo hội địa phương, mỗi Giáo xứ sẽ được Giám mục
Giáo phận ủy thác cho một Linh mục (Cha xứ) đứng đầu, vị này đóng vai trò; chăm sóc;
quản lý; lãnh đạo như một người cha và dưới quyền của Giám mục Giáo phận”
Chỉ một mình Giám mục Giáo phận mới có quyền thành lập, giải thể hoặc thay đổi
các Giáo xứ. Một khi đã được thành lập, Giáo xứ đương nhiên được hưởng tư cách pháp
nhân trọn vẹn theo Giáo luật Công giáo .

*Giáo dân
Là những người không có chức thánh, trong đó có những người tình nguyện phục
vụ trọn đời cho Giáo hội là tu sĩ.
* Giáo họ
Mỗi giáo xứ có thể chia thành các đơn vị nhỏ là các họ, khu, giáp. Mỗi họ đạo thường
có một nhà thờ, chọn một vị thánh bảo trợ để thờ lạy, tổ chức ra Ban hành giáo để duy
trì, tổ chức các sinh hoạt tôn giáo gọi là Giáo họ.
*Hội đoàn
Hội đoàn là một trong những hình thức tổ chức tập hợp quần chúng rộng rãi, đa dạng
với các tên gọi khác nhau thu hút tín đồ ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ tham gia. Giáo dân
ai cũng có thể gia nhập vào một hay nhiều hội đoàn thích hợp với mình tùy theo tâm,
sinh lý lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp…Việc gia nhập các hội đoàn Công giáo vừa đáp
ứng được nhu cầu sống đạo của mỗi tín đồ, vừa thể hiện được sự liên kết, gắn bó cao
trong sinh hoạt tôn giáo, phù hợp với phong tục tập quán và nó cũng đáp ứng được với
đặc điểm của lễ nghi Công giáo là phải biểu hiện ra ngoài bằng các hình thức phụng tự
khác nhau.
* Hội đồng Mục vụ Giáo xứ
“Hội đồng Mục vụ giáo xứ theo thói quen gọi tắt là Hội đồng Giáo xứ, là cơ chế
gồm những giáo dân thuộc giáo xứ được mời gọi và tuyển chọn để hợp lực cộng tác với
linh mục chánh xứ trong việc quản trị giáo xứ, tổ chức và điều hành các sinh hoạt mục
vụ, xây đắp tình liên đới và sự hiệp thông, giải quyết những vấn đề, giải tỏa những bất
đồng, nhằm góp phần xây dựng giáo xứ thành một cộng đoàn tư tế phụng thờ Thiên
Chúa, sống, làm chứng và loan truyền Tin mừng, yêu thương và phục vụ cho sự sống và
phẩm giá con người trong bối cảnh văn hóa xã hội ngày nay”7
7

Giáo luật, điều 536, 537

12



1.2. Khái quát về người Hoa Nam Bộ và người Hoa Thành phố Hồ Chí Minh
1.2.1. Người Hoa Nam bộ
1.2.1.1. Lịch sử hình thành người Hoa Nam bộ
Người Hoa Nam Bộ vốn là những cư dân Trung Hoa, ở vùng duyên hải phía Nam
Trung Quốc như các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, đảo Hải Nam….vượt biển tìm đến
Nam Bộ Việt Nam, tìm kiếm một vùng đất sống. Lý do tìm kiếm đất sống, mưu sinh của
người Hoa có nhiều, nhưng chủ yếu là cuộc sống khó khăn nghèo đói nơi vốn và quê
hương, vì các nạn dịch bệnh hoành hành, vì sự bất an bởi những cuộc tranh chấp của
các thế lực phong kiến Trung Hoa, nơi bọn cường hào ác bá hà hiếp nhũng nhiễu dân
lành, những cuộc bắt phu bắt lính của các thế lực thống trị đương thời. Họ vốn là những
nông dân nghèo khổ, thợ thủ công, những binh sĩ, quan lại bất mãn với thời cuộc, với
chính thể đương thời. Trong số những di dân đó, còn có cả những thương nhân buôn
bán trên biển, và cả những kẻ trốn tránh sự truy nã của chính quyền phong kiến Trung
hoa, một số nho sĩ, trí thức.
Người Hoa đến Nam Bộ vào nhiều thời điểm khác nhau trong suốt nhiều thế kỷ.
Thực ra, người Trung Hoa biết đến vùng đất Nam Bộ khá sớm. Đó là những thương
nhân thường qua lại buôn bán ở khu vực Đông Nam Á, và cả những sứ thần Trung Hoa
được triều đình cử đi công cán hải ngoại. Những thương nhân Trung Hoa, ngay từ thế
kỷ XII – XIII đã biết đến vương quốc Chân Lạp, và sau đó từ thế kỷ XV – XVI đã có sự
giao thương với Xứ Đàng Trong của Việt Nam (lúc đó là Đại Việt). Vào khoảng đầu thể
kỷ XIII, Châu Đạt Quan đã dẫn đầu một phái bộ ngoại giao của nhà Nguyên ở Trung
Hoa, được cử đến kinh đô Chân Lạp. Phái bộ của ông đã đến Nam Bộ và ngược theo
các con sông ở Đồng bằng sông Cửu Long để đến Nam Vang. Ở Nam Vang lúc đó đã
có một cộng đồng di dân Trung Hoa sinh sống trên đất Chân Lạp. Tuy nhiên vào thời
điểm này, vùng đất Nam Bộ vẫn còn hoang vu, dân cư thưa thớt. Những ghi chép của
Châu Đạt Quan trong sách “Chân Lạp phong thổ kỳ” đã ghi nhận trong chặng hành trình
ngược sông đến Nam Vang. Khi qua đất Nam Bộ chỉ bắt gặp rừng rậm, bãi cát bồi ven
sông những vùng đầm lầy và nhiều động vật hoang dã như trâu rừng….Như vậy, cuộc
định cư của người Hoa trên đất Nam Bộ phải từ khoảng cuối thế kỷ XVI – XVIII về sau.


13


Những ghi chép trong một số tư liệu thường nhắc đến các đợt nhập cư đông đảo
của người Hoa đến đất Nam Bộ vào thời gian ban đầu, được tổ chức và hướng dẫn bởi
Mạc Cửu, Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch,…
Vào năm 1679, một nhóm người Trung Hoa đông đảo khoảng 3000 người từ
Quảng Đông, dưới sự chỉ huy của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đã rời bỏ
Trung Quốc trên 50 chiến thuyền tìm đến xứ Đàng trong của Đại Việt. Hầu hết những
người trong nhóm này là các quan lại, binh lính và gia nhân của hai vị võ quan, tìm đến
Đại Việt xin được tị nạn chính trị. Họ là những người không chịu khuất phục sự thống
trị của chính quyền Mãn Thanh, bởi họ là thần dân của nhà Minh. Họ hy vọng đến Đại
Việt để chuẩn bị sự nghiệp “Phản Thanh phục Minh”. Khi đến Đàng Trong các chiến
thuyền cập cảng ở Đà Nẵng. Những người lãnh đạo của nhóm đã đến Huế (Thuận Hóa),
xin với Chúa Nguyễn được ở lại Đại Việt. Chúa Nguyễn đã tiếp đón trọng thị Trần
Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch và các bộ tướng. Trong tình hình Xứ Đàng trong lúc
bấy giờ, Chúa Nguyễn đã tiếp nhận yêu cầu của các di dân từ Trung Hoa, phong tước vị
cho các tướng và cho người đưa vào định cư ở Nam Bộ.
Đến Nam Bộ, hơn 3000 người di dân Trung Hoa được chia thành hai nhóm. Một
nhóm do Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình ngược sông Đồng Nai đến định cư ở
Biên Hòa, lúc đó gọi là Trấn Biên. Nhóm thứ hai do Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến
chỉ huy ngược sông Tiền đến định cư ở vùng đất Mỹ Tho ngày nay.
Năm 1671, Mạc Cửu, một thương nhân Trung Hoa người gốc Lôi Châu, Quảng
Đông, chuyên buôn bán đường dài trên biển ở khu vực Đông Nam Á đã dẫn đầu một
đoàn lưu dân Trung Hoa tìm đến vùng đất Hà Tiên ngày nay định cư. Mạc Cửu và những
người kế vị đã xây dựng và mở mang vùng đất Hà Tiên. Năm 1715, Mạc Sĩ Lân (còn
gọi là Mạc Thiên Tích là con của Mạc Cửu) đã xin các chúa Nguyễn bảo vệ vùng đất
Hà Tiên.
Ngoài ba địa điểm nhập cư và định cư trên đây của những di dân người Hoa buổi

ban đầu đến đất Nam Bộ còn có một số cửa sông, vịnh biển khác. Đó là cửa sông Mỹ
Thanh ở Sóc Trăng, nơi đây đã sớm có những di dân người Hoa. Theo sông Mỹ Thanh,
một số người Hoa đến lập nghiệp ở vùng Vĩnh Thanh và Mỹ Xuyên thuộc tỉnh Sóc
Trăng ngày nay. Bãi Xàu thuộc Mỹ Xuyên, là một bến sông, từ khá sớm đã có một cộng
đồng người Hoa Triều Trâu định cư, xây dựng phố xá và thương cảng. Vùng Rạch Giá
14


tỉnh Kiên Giang, là một trong những nơi tiếp nhận các di dân Trung Hoa đến từ Quảng
Đông, xã Bình An thuộc huyện Ba Hòn ở Kiên Giang, là nơi nhóm người Hoa phần
nhiều có gốc Hải Nam tìm đến định cư và lập nghiệp…
Năm 1688, Hoàng Tiến ở Mỹ Tho đã làm phản, giết Dương Ngạn Địch làm bá
chủ vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trần Thượng Xuyên và người con là Trần Đại
Định đã can thiệp, tiêu diệt Hoàng Tiến và ngăn chặn quân Chân Lạp tiến chiếm vùng
đất miền Tây Nam Bộ.
Năm 1872, cuộc chiến giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh ở Nam Bộ đã khiến
Biên Hòa bị hủy hoại, một số người Hoa phải chuyển cư về khu vực Chợ Lớn, ven sông
Tàu Hũ (ngày nay thuộc khu vực quận 5, 6 thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Một số
người Hoa phiêu bạt từ Mỹ Tho sau cuộc phản loạn của Hoàng Tiến cũng chuyển cư về
Chợ Lớn. Không bao lâu sau, khu vực định cư của người Hoa ở Chợ Lớn đã trở nên một
đô thị, bến cảng phồn thịnh đông đúc.
Năm 1858, thực dân Pháp tiến hành công việc khai thác thuộc địa vào khoảng đầu
thế kỷ XX. Nguồn nhân lực ở Việt Nam không đáp ứng đủ, chính quyền thuộc địa đã
thương lượng với chính quyền Mãn Thanh ở Trung Hoa để tuyển mộ nhân công người
Trung Quốc. Những đợt nhập cư đông đảo của người Hoa vào Việt Nam để làm công
nhân các đồn điền cao su, cà phê, xây dựng đường giao thông…Những người Trung
Hoa nhập cư vào Việt Nam được gọi là “cu li”, càng trở nên đông đảo vào cuối thập
niên 20 đầu thập niên 30 thế kỷ XX. Phần lớn những người Hoa nhập cư theo dạng tuyển
mộ nhân công của chính quyền thuộc địa là đàn ông. Họ sau thời hạn kết thúc hợp đồng
không trở về Trung Hoa mà tìm cách ở lại Việt Nam sinh sống.

Từ sau 1940, do những chuyển biến của tình hình thế giới, chiến tranh thế giới lần
thứ hai bùng nổ, con đường hàng hải trên biển Đông bị cản trở, số lượng người Trung
Hoa nhập cư vào Nam Bộ giảm xuống nhanh chóng. Việc nhập cư này được kết thúc
vào năm 1949, khi cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo và thành
lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
1.2.1.2. Những đặc điểm về dân số
Vào thời điểm năm 1698, khi chính quyền đàng Trong thiết lập các đơn vị hành
chính, khẳng định chủ quyền trên đất Nam bộ, những thống kê cho thấy trên vùng đất
này có khoảng 40.000 hộ và hơn 200.000 nhân khẩu, trong số đó có một tỷ lệ nhất định
15


người Hoa. Nếu tính số người Hoa trong các đợt nhập cư do Trần Thượng Xuyên và
Dương Ngạn Địch hướng dẫn có 3.000 người. Trước đó, số người Hoa theo Mạc Cửu
đến Hà Tiên có khoảng 500 người, và số những người nhập cư tự do khác ở các cửa
sông, cửa biển Nam Bộ, ước khoảng hơn 1.000 người. Đó là chưa kể sự tăng dân số
người Hoa trong hơn 20 năm trước đó, có thể tạm ước lượng số người Hoa ở Nam Bộ
vào cuối thập niên 90 thế kỷ XVII phải hơn 10.000 người.[6:17]
Những đợt nhập cư ồ ạt của người Hoa vào Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu XX đã
làm tăng nhanh chóng số lượng người Hoa. Một tư liệu cho biết vào năm 1879 đã có
44.000 người Hoa ở Nam Kỳ. Đến năm 1886 đã có 56.000 người Hoa trong toàn bộ dân
số Nam Kỳ là 1.745.000 người.[6:17]
Vào đầu thập kỷ 20 thế kỷ XX đã có đến 156.000 người Hoa ở Nam Kỳ. Vào
những năm 30 của thế kỷ XX, số người Hoa ở Nam Kỳ chiếm 3,7% dân số toàn miền
với 171.000 người. Thực tế, số liệu dân số người Hoa ở Nam Bộ phần nhiều là ước tính,
còn những người nhập cư lậu chính quyền không thể kiếm soát. Đó là chưa kể, một số
không ít những người nhập cư từ Trung Hoa đến Nam Bộ một thời gian rồi tiếp tục
chuyển cư sang một số quốc gia khác như Campuchia, Singapore…Số liệu được biết
đến vào thời điểm kết thúc các đợt nhập cư, vào năm 1950 ở Nam Bộ có 678.621 người
Hoa.8

Theo kết quả cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 của Tổng
cục thống kê nhà nước Việt Nam, cả nước có 85.846.997 người9, trong đó dân số người
Hoa có 823.071 người ( 421.883 nam và 401.188 nữ).

8
9

Theo Tsai Man Kuy – Người Hoa ở miền Nam Việt Nam – Paris 1968.
Tổng cục Thống kê – Số liệu điều tra năm 2009.

16


Bảng 1.1 Bảng thống kê dân số người Hoa ở Nam Bộ năm 2009
STT

TỈNH/THÀNH PHỐ

DÂN SỐ NGƯỜI HOA

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21

Thành phố Hồ Chí Minh
Ninh Thuận
Bình Thuận
Bình phước
Tây Ninh
Bình Dương
Đồng Nai
Bà Rịa- Vũng Tàu
Long An
Tiền Giang
Bến Tre
Trà Vinh
Vĩnh Long
Đồng Tháp
An Giang
Kiên Giang
Cần Thơ
Hậu Giang

Sóc Trăng
Bạc Liêu
Cà Mau

414.045 người
1.847 người
10.243 người
9.970 người
2.945 người
18.783 người
95.162 người
10.042 người
2.950 người
3.863 người
5.213 người
7.690 người
4.879 người
1.855 người
8.075 người
29.850 người
14.199 người
6.363 người
64.910 người
20.082 người
8.911 người

Nguồn: Sách Văn hóa người Hoa Nam Bộ
1.2.1.3. Đặc điểm cư trú
So với một số các dân tộc khác ở Việt Nam, người Hoa cư trú phần lớn tập trung
ở Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị, thị trấn, nơi có đường giao thông thủy bộ thuận

tiện. Bởi lẽ, hoạt động kinh tế của người Hoa Nam Bộ chủ yếu là sản xuất tiểu thủ công
nghiệp và thương mại dịch vụ.
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, nơi dân số người Hoa chiếm hơn một nửa dân số người
Hoa ở Nam Bộ, người Hoa tập trung cư trú ở các quận 5,6 vốn là khu vực chợ Lớn cũ,
và các quận 8, 10, 11,.. Ngoài ra các quận huyện của Thành phố Hồ Chí Minh đều có
người Hoa sinh sống.

17


Ngay trong các phường của một số quận đông người Hoa thì một số hẻm phố, khu
phố lại có sự cư trú tập trung khá đông bà con người Hoa. Có một số địa bàn tổ dân phố
của những phường này, bà con người Hoa chiếm hơn 50% số nhân khẩu toàn địa bàn.
Những địa bàn có đông bà con người Hoa ở quận 5, quận 6, quận 11… ngày nay
vẫn còn dấu vết của các “Lý”, các “Hạng”. Đó là nơi tụ cư đông đảo của người Hoa
trong thuở ban đầu thành lập khu vực Chợ Lớn. Lý và Hạng ( Ngõ và Hẻm) vốn là một
đơn vị cư trú cộng đồng truyền thống của người Hoa khi còn ở Trung Quốc. Khi định
cư ở Chợ Lớn, bà con người Hoa tổ chức cư trú đã tạo dựng các lý, hạng.
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực cư trú tập trung của bà con lao động người
Hoa, là những hẻm phố chật hẹp, với những ngôi nhà thấp nhỏ. Đó thường là nơi cư trú,
cũng còn là nơi sản xuất, cửa hàng, trao đổi các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp. Một số
dãy phố có đông người Hoa như Triệu Quang Phục, Tản Đà, Trần Hưng Đạo B ( trước
đây là Đồng Khánh)…đã tạo nên một diện hạo văn hóa Hoa đặc sắc. Nhiều khách nước
ngoài gọi khu vực quận 5, quận 6 là “Khu phố Tàu” hoặc “China Town”.
Ở các thành phố, thị xã, thị trấn các tỉnh Nam Bộ, là một trong những địa bàn tập
trung cư trú và sản xuất kinh doanh của người Hoa. Ở đây mật độ cư trú của bà con
người Hoa không tập trung đông như người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên,
một vài địa bàn của thành phố Biên Hòa, Sóc Trăng, Trà Vinh, Hà Tiên… cũng có thể
dễ dàng nhận biết là phố của người Hoa. Ở đó, thường những người Hoa sản xuất, buôn
bán các mặt hàng, tập trung bởi dáng dấp của một phố Hoa, những cửa hàng tạp hóa,

thuốc Bắc…và cả các miếu thờ.
Ở Vùng nông thôn Nam Bộ, những nơi có đông người Hoa sinh sống như Vĩnh
Châu (Sóc Trăng), Bạc Liêu, Rạch Giá (Kiên Giang)…,thường người Hoa cư trú xen
lẫn với người Kinh, Khmer trong các xóm ấp hoặc các phum sóc. Người Hoa ở vùng
nông thôn vừa sinh sống bằng nghề nông hoặc kết hợp giữa nông nghiệp và buôn bán
nhỏ.
Nhìn chung, hình thái cư trú của người Hoa ở Nam Bộ, dù ở thành phố hoặc nông
thôn chủ yếu là sống xen kẽ với người Kinh, Khmer, Chăm và các dân tộc anh em khác.
Sự cư trú xen kẽ đó đã tạo nên sự giao lưu văn hóa và quan hệ đoàn kết gắn bó giữa bà
con người Hoa với các dân tộc anh em.

18


1.2.2. Người Hoa Thành phố Hồ Chí Minh
1.2.2.1. Lịch sử hình thành
Bắt đầu từ thế kỷ XVII, gắn liền với sự kiện người Mãn Thanh lật đổ triều Minh
ở Trung Quốc. Thời Bắc thuộc, người Hoa nói chung đến với nước ta cùng đội quân
xâm lược và bộ máy thống trị của họ và dù “di thực”, “di trú” hay bị lưu đầy cũng vẫn
là người đi khai thác thuộc địa, mở mang đế chế. Giai đoạn thể kỷ XVII, người Hoa đến
vùng Nam Bộ (trong đó có Sài Gòn- Gia Định) với thân phận “vong quốc”, “vong thần”
tìm kiếm đất sống cho mình.
Làng Minh Hương ở khu vực Chợ Lớn được thành lập vào khoảng cuối thế kỷ
XVII10, là một trong những cộng đồng dân cư người Hoa đầu tiên ở Sài Gòn. Làng Minh
Hương nằm trong cơ cấu hành chính chung của nhà nước phong kiến Việt Nam Xứ
Đàng Trong và nhà Nguyễn về sau. Dấu vết của làng Minh Hương xưa, nay là đình
Minh Hương Gia Thạnh nằm trên đường Trần Hưng Đạo thuộc quận 5. Trong đình hiện
còn lưu giữ bức hoành phi có chữ: “Thiện tục khả phong” là sự khen thưởng của vua Tự
Đức về nếp sống tốt đẹp của làng Minh Hương. Làng Minh Hương là một dẫn liệu về
sự hội nhập của người Hoa vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Sự hội nhập của người

Hoa có nhiều lý do, nhưng chủ yếu là do bản thân của cộng đồng Hoa cố gắng tìm cách
ổn định và phát triển trên vùng đất miền Nam Việt Nam. Sự hội nhập đó đem lại những
điều kiện thuận tiện cho công việc làm ăn, sản xuất kinh doanh và cả những quyền lợi
về mặt chính trị, xã hội. Với tư cách công dân họ được quyền tự do đi lại, cư trú, có
quyền sử hữu bất động sản và cả việc kết hôn dễ dàng với những người thuộc các dan
tộc khác ở Việt Nam. Chính nhờ những quyền lợi đó mà các hoạt động thương mại của
người Hoa nhanh chóng phát triển và là một thế mạnh trong hoạt động kinh tế của họ.
Về phía các chính quyền ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, sự hội nhập của người
Hoa trở thành thành viên của các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam cũng có nhiều ích lợi.
Số lượng đông đảo những di dân Trung Hoa đến miền Nam đã tăng cường, bổ sung
nguồn nhân lực cho công cuộc khai khẩn ở phía Nam, nơi vùng đất còn nhiều tiềm năng.

Theo “Minh Hương Gia Thạnh” – Xuất bản ở Sài Gòn tháng 4- 1951: Làng Minh Hương ở Sài Gòn lập năm
1789 ( Kỷ Dậu). Trong sách này có in bản khoán ước của xã Minh Hương. Niên đại này có khác với sách Gia
Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức: Làng Minh Hương được thành lập năm 1698.
10

19


1.2.2.2. Những đặc điểm về dân cư
Theo kết quả điều tra ngày 1 tháng 4 năm 1999, dân số người Hoa ở Thành phố Hồ
Chí Minh có 428.576 người, chiếm 8,5% so với dân số toàn thành phố.Trong số đó có
212.575 năm và 216.001 nữ, tỷ lệ nữ/nam là 50,4%.
Các quận huyện ở Thành phố Hồ Chí Minh đều có người Hoa cư trú và sinh sống,
ít nhất là Huyện Cần Giờ với 258 người và có nhiều nhất ở quận 11 với 105.524 người.
Người Hoa tập trung ở một số quận thuộc nội thành của thành phố như sau:

Bảng 1.2 Bảng thống kê dân số người Hoa ở nội thành thành phố Hồ Chí Minh
QUẬN


NGƯỜI HOA

DÂN SỐ TOÀN
QUẬN

11

105.524

238.074

TỶ LỆ DÂN SỐ
NGƯỜI
HOA/QUẬN(%)
44,32

5

72.142

144.711

49,8

6

71.088

253.166


28,0

Tân Bình

36.922

531.879

6,8

10

27.197

239.927

11,3

1

21.649

226.736

9,54

Nguồn: Chi cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh 4-1999
Bình Chánh là huyện có đông người Hoa nhất so với các huyện ngoại thành với
14.319 người, chiếm 3,7% so với dân số toàn huyện.

Những số liệu trên đây cho thấy, người Hoa tập trung cư trú và sinh sống tại các
quận 5, 6, 10, 11 là những quận vốn trước đây thuộc Chợ Lớn, cũng là vùng đất của khu
vực cư trú xa xưa của người Hoa, nơi có làng Minh Hương xưa. Chợ Lớn, nay thuộc
thành phố Hồ Chí Minh vốn là một đô thị cổ mà người Hoa gọi là Đề Ngạn, nằm dọc
con sông Tàu Hũ. Hơn hai thế kỷ trước, Chợ Lớn được ghi tên trên bản đồ của Le Brun
vẽ năm 1795 với cái tên “ Cửa hàng bách hóa Trung Hoa” (hoặc Bazar Chinoi). Sách
Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức viết vào khoảng thế kỷ XIX, đã miêu tả
khu vực cư trú của người Hoa dọc kênh Tàu Hủ như sau: “ Cách phía Nam trấn 12 dặm,
nằm hai bên quan lộ là đường phố lớn, ba đường xuyên thẳng qua giáp bến sông, một
con đường chạy ngang ở giữa và một con đường chạy dọc theo bờ sông. Các con đường
20


đó giao nhau hình chữ điền. Phố xá liên tiếp sát mái nhau, người Hoa, người Việt ở
chung lẫn lộn dài chừng ba dặm, hàng hóa bày bán có gấm đoạn, đồ sứ, giấy má, châu
báu, sách vở, thuốc thang, trà bột. Những sản phẩm Nam Bắc theo đường sông, đường
biển chở tới không thiếu món nào. Phía Bắc đường lớn có miếu Quan Thánh và hội quán
Phước Châu, Quảng Đông, Triều Châu ở hai bên tả hữu. Phía Tây đường lớn ở giữa có
miếu Thiên Hậu, gần phía Tây có hội quán Ôn lăng. Phía Tây đường lớn ở đầu phía
Nam có hội quán Chương Châu. Hễ gặp tiết đẹp đêm trăng, các ngày tam nguyên, sóc
vọng thì treo đèn đặt bàn, đua tranh kỹ xảo, trông như cây lửa cầu sao, thành gấm vóc,
hội Quỳnh Dao, trống kèn huyên náo, trai gái dập dìu. Đó là nơi phố thị đô hội náo nhiệt.
Đường phố lớn ở giữa có giếng nước xưa, nước ngọt đầy suốt bốn mùa không cạn…”.11
Khoảng cuối những năm 50 thế kỷ XIX, một du khách phương Tây, Ông Henri de
Ponchalon đến thăm Sài Gòn, Chợ Lớn cũng đã nhận xét: “Chợ Lớn là một trung tâm
náo nhiệt, nơi đây tập trung tất cả thương mại là người Tàu, và có thể nói là họ độc
quyền…”12 . Như vậy, vùng đất Chợ Lớn mà ngày nay là các quận 5, 6, 10, 11 của Thành
Phố Hồ Chí Minh đã sớm là nơi quy tụ sinh sống của người Hoa. Hiện nay, dọc kênh
Tàu Hủ, các phố Hàm Tử, Trần Văn Kiểu vẫn còn nhiều kiến trúc mang sắc thái Hoa
của thời kỳ đầu thế kỷ XIX, nơi diễn ra các hoạt động thương mại náo nhiệt của người

Hoa.
Tình hình dân số của người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh từ sau năm 1975 có
nhiều biến động. Năm 1950 toàn Nam bộ có 678.201 người Hoa (theo Tsai Maw
Kuey)13. Trước đó, theo Tập san Kinh tế Đông Dương (tập 44 Bộ mới năm 1948) ở Sài
Gòn, Chợ Lớn có khoảng 350.000 người Hoa. Đây cũng là thời điểm chấm dứt các cuộc
nhập cư ồ ạt của những di dân Trung Hoa. Hơn 25 năm sau, tháng 2 năm 1976, dân số
người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh đã đạt đến con số 547.510 người, chiếm 15,8%
dân số toàn thành phố.

Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành thông chí. Phong tục chí. Bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Sài Gòn, 1972.
Henri de Ponchalon, Souvenirs de Voyage et Campagne (1858-1860). Dẫn lại theo Sài Gòn Gia Định qua thơ
văn xưa, của Nguyễn Thị Thanh Xuân và các tác giả. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.
13
Tsai Maw Kuey, Người Hoa ở miền Nam Việt Nam, Luận án tiến sĩ, thư viện Quốc gia Paris 1968 (Bản dịch của
Ủy ban nghiên cứu sử học và Khoa học của Bộ Quốc Gia Giáo dục Sài Gòn). Chương 1, phần thứ nhất.
11
12

21


Bảng 1.3 Bảng thống kê tình hình biến động dân số người Hoa TPHCM sau 1975
NĂM

NGƯỜI HOA

DÂN SỐ TP

TỈ LỆ(%)


1976(1)

547,510

3.464.141

15,8

1979(2)

474,712

2.790.990

14,4

1955(3)

431,180

4.401.114

9,8

1999(4)

428,576

4.593.982


8,52

Nguồn: (1) Chi cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, Số liệu điều tra 5-2-1976.
(2) Mạc Đường, Xã hội người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh sau 1975, Nxb.
Khoa học Xã Hội – 1996. Trang 25, Dẫn lại số liệu của chương trình KX.04 năm 1994.
(3) Trần Hồi Sinh, Hoạt động kinh tế của người Hoa từ Sài Gòn đến thành phố
Hồ Chí Minh,Nxb. Trẻ TPHCM – 1997, trang 171 (số liệu 1-7-1995).
(4) Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố Hồ Chí Minh, Số liệu
điều tra 1-4-1999.
Những con số trích dẫn từ nguồn tư liệu trên đây rõ ràng có sự khác biệt và không
chuẩn xác về dân số người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh qua các năm. Tuy nhiên, qua
đó cũng thấy rõ sự giảm sút lớn dân số vào năm 1979. Đây là năm xảy ra cuộc chiến
tranh biên giới phía Bắc, khiến nhiều người Hoa lo sợ đã tìm cách rời bỏ Việt Nam.
Trong những năm sau đó, dân số người Hoa có chiều giảm sút, điều đó do sự phân bố
lại dân cư trên địa bàn cả nước. Một số gia đình người Hoa đã rời bỏ thành phố về nông
thôn, hoặc về các tỉnh làm ăn sinh sống và cũng có một số tiếp tục ra định cư ở nước
ngoài.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, phân bố cư trú của người Hoa theo hai dạng, một là
cư trú xen kẽ giữa người Hoa với các cộng đồng dân cư khác, hai là cư trú tập trung
thành từng khu vực nhỏ. Hình thức cư trú thứ nhất là phổ biến đối với cộng đồng người
Hoa trên địa bàn thành phố. Ngay những khu vực tập trung nhất của người Hoa ở quận
5 hoặc quận 11… trong các khu phố, các chung cư…đều có sự xen kẽ giữa người Hoa
và người Việt và các dân tộc anh em khác. Còn về dạng cư trú tập trung đông người
Hoa, phần nhiều là trong phạm vi một số khu phố, tổ dân phố ở các quận 5, 6, 11…ở
một số phường của quận 5, 11, có tỷ lệ dân số người Hoa khá cao, khoảng trên 70%.

22


Bảng thống kê về dân số của người Hoa ở quận 5 vào năm 1998 sau đây sẽ minh họa

cho hai loại hình cư trú của người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh:
Bảng 1.4 Bảng thống kê dân số người Hoa ở quận 5 năm 1998
PHƯỜNG

DÂN SỐ CHUNG

NGƯỜI HOA

TỶ LỆ(%)

1

22.300

2.564

10

2

18.411

3.713

22

3

7.141


2.276

32

4

11.734

2.112

18

5

16.914

6.434

38,04

6

11.451

6.625

56

7


3.048

1.635

53,65

8

10.337

6.044

60

9

17.342

3.337

23,65

10

11.800

4.919

41,69


11

14.616

6.999

47,89

12

7.081

2.890

40,81

13

14.606

4.629

44,10

14

17.962

7.636


42,50

15

13.519

9.716

70,15

Nguồn: Địa chí văn hóa quận 5
Phần nhiều người Hoa là bà con lao động nghèo, nên khu vực cư trú thường tập
trung trong các hẻm sâu, các chung cư bình dân ở quận 5, 6, 11,…
1.2.2.3. Người Hoa với sự phát triển kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh
Có tài liệu nghiên cứu về người Hoa ở Đông Nam Á đã viết: "Mặc dù họ (người
Hoa) chỉ là người di cư ở khu vực, nhưng không phóng đại mà nói rằng kinh tế các nước
Đông Nam Á sẽ không phát triển được nếu không có người Hoa". 14 Ở Việt Nam nói
chung, ở TP. Hồ Chí Minh và Nam Bộ nói riêng không hoàn toàn như vậy, song cũng
không thể phủ nhận vai trò và tiềm năng kinh tế của người Hoa. Tiềm năng ấy được thể
hiện ở nhiều phương diện:

14

Tạp chí văn hóa nghệ thuật số 12/2004

23


×