Tải bản đầy đủ (.pdf) (84 trang)

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc ngay sau khai thác rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng tây nguyên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 84 trang )

i

CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, công trình được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Vũ Tiến Hinh. Các số liệu và kết quả
nghiên cứu của đề tài là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ các
công trình khác, nếu có gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn

Trần Thanh Sơn


ii

LỜI CẢM ƠN
Đề tài được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm Nghiệp theo chương trình
đào tạo Thạc sĩ 2014-2016.
Trong quá trình thực hiện Luận văn, tôi đã nhân được sự quan tâm giúp đỡ
tận tình cả về điều kiện làm việc, cũng như tinh thần của Ban Giám Hiệu, Phòng
Đào tạo sau đại học, Khoa Lâm học trường Đại Học Lâm nghiệp cùng toàn thể các
thầy cô giáo trong Khoa và trong nhà trường. Nhân dịp này cho tôi được bày tỏ lòng
biết ơn tới thầy giáo hướng dẫn GS.TS Vũ Tiến Hinh đã dành nhiều thời gian công
sức giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Khoa Lâm học nơi tác giả đang công tác cùng toàn thể
các thầy cô giáo trong khoa đã tạo mọi điều kiện để tác giả hoàn thành Luận văn.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến người thân trong gia đình và bạn
bè gần xa đã động viên, gúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2016


Tác giả luận văn

Trần Thanh Sơn


iii

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan ...................................................................................................... i
Lời cám ơn ........................................................................................................ ii
Mục lục ............................................................................................................. iii
Danh muc các bảng .......................................................................................... vi
Danh mục các hình .......................................................................................... vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chương I. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................. 3
1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng: ................................................................. 4
1.1.1. Trên thế giới .................................................................................... 4
1.1.2. Ở Việt Nam ................................................................................... 10
1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng: ................................................................ 16
1.3. Về phương thức khai thác chọn. .......................................................... 19
CHƯƠNG II. ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU................................. 20
2.1. Đặc điểm khu vực Tây Nguyên ........................................................... 20
2.1.1. Vị trí địa lý vùng Tây Nguyên ...................................................... 20
2.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên ............................... 21
Chương III. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................... 25
3.1. Mục tiêu nghiên cứu: ........................................................................... 25
3.1.1. Mục tiêu tổng quát ........................................................................ 25

3.1.2. Mục tiêu cụ thể .............................................................................. 25
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:....................................................... 25
3.3. Nội dung nghiên cứu: ........................................................................... 25
3.3.1. Phân loại các trạng thái rừng......................................................... 25


iv

3.3.2. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng .............................................. 25
3.3.3. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tổ thành cây tái sinh ..................... 26
3.3.4. Nghiên cứu mức độ đa dạng loài .................................................. 26
3.3.5. Đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào sau khai thác .. 26
3.4. Phương pháp nghiên cứu: .................................................................... 26
3.4.1. Phương pháp luận tổng quát ......................................................... 26
3.4.2. Số liệu nghiên cứu ......................................................................... 26
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu............................................................. 28
Chương IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 37
4.1. Phân loại trạng thái hiện tại của rừng .................................................. 37
4.1.1. Trạng thái rừng IIIA3 .................................................................... 37
4.1.2. Trạng thái rừng IIIB ...................................................................... 37
4.2. Cấu trúc rừng........................................................................................ 38
4.2.1. Cấu trúc tổ thành rừng................................................................... 38
4.2.2. Quy luật cấu trúc đường kính và chiều cao .................................. 41
4.2.3.3. Quy luật phân bố số lượt loài theo cỡ đường kính (NL-D1,3) ..... 50
4.3. Đặc trưng về mức độ phong phú và đa dạng ....................................... 55
4.4.1. Hàm số liên kết Shannon – Weiner............................................... 56
4.4.2. Chỉ số Simpson ............................................................................. 57
4.3. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh .................................. 58
4.3.1. Tổ thành cây tái sinh. .................................................................... 59
4.3.2. Mật độ cây tái sinh và chất lượng tái sinh .................................... 60

4.3.3. Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao ................................... 61
4.5. Đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh..................................................... 64
KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ ........................................................ 68
1. Kết luận ................................................................................................... 68
1.1. Phân loại trạng thái hiện tại của rừng .............................................. 68


v

1.2. Cấu trúc tổ thành rừng...................................................................... 68
1.3. Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3), phân bố số cây theo cỡ
chiều cao (N/Hvn) ................................................................................... 69
1.4. Phân bố số lượt loài theo cỡ đường kính (NL/D), phân bố số lượt loài
theo cỡ chiều cao (NL/Hvn) ...................................................................... 69
.1.5. Về đa dạng loài................................................................................ 69
1.6. Đặc điểm tái sinh rừng ..................................................................... 69
2. Tồn tại ..................................................................................................... 70
3. Kiến nghị ................................................................................................. 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU


vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

TT
4.1
4.2


4.3

4.4

4.5

4.6

4.7

Nội dung
Kết quảphân loại trạng thái rừng khu vực nghiên cứu
Kết quả xác định công thức tổ thành theo chỉ số IV% cho các
OTC
Kết quả mô phỏng phân bố số cây theo cỡ đường kính
(N/D1.3) theo hàm Khoảng cách
Kết quả mô phỏng phân bố số cây theo cỡ đường kính
(N/D1.3) theo hàm Weibull
Kết quả mô phỏng phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/Hvn)
theo hàm Weibull
Kết quả mô phỏng phân bố số lượt loài theo cỡ đường kính
(NL-D1.3) theo hàm Weibull
Kết quả mô phỏng phân bố số lượt loài theo cỡ chiều cao
(NL- Hvn) theo hàm Weibull

Trang
37
39

42


44

48

51

54

4.8

Tổng hợp kết quả tính toán chỉ số đa dạng Shannon – Weiner

56

4.9

Tổng hợp kết quả tính chỉ số đa dạng Simpson

57

4.10 Tổ thành cây tái sinh ở các trạng thái rừng theo Ki

59

4.11 Mật độ cây tái sinh ở các trạng thái rừng

60

4.12 Kết quả mô phỏng phân bố Nts/H bằng hàm Weibull


62


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

TT
4.1

Nội dung
Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3) theo hàm
Khoảng cách

Trang
43

4.2 Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3) theo Weibull

46

4.3 .phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/Hvn) theo hàm Weibull

50

4.4

4.5


Phân bố số lượt loài theo cỡ đường kính (NL-D1.3) theo hàm
Weibull
Phân bố số lượt loài theo cỡ chiều cao (NL- Hvn) theo hàm
Weibull

4.6 Phân bố Nts/H bằng hàm Weibull

53

55
64


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng có vai trò to lớn đối với con người không chỉ ở Việt Nam mà toàn
thế giới như cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà
nước, chống xói mòn, rửa trôi, bảo vệ môi trường, là nơi cư trú của động thực
vật và lưu trữ các nguồn gen quý hiếm. Tuy vậy, hiện nay cùng với quá trình
công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, một số lượng đất rừng đã bị chuyển
đổi mục đích sử dụng, nghiêm trọng hơn là việc khai thác quá mức dẫn đến
diện tích đất trống đồi núi trọc tăng, gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, lũ
lụt, hạn hán, mất diện tích canh tác, mất đi sự đa dạng sinh học.Mặc dù diện
tích rừng trồng cũng tăng trong những năm gần đây, song rừng trồng thường
có cấu trúc không ổn định,vai trò bảo vệ môi trường,phòng hộ kém.
Vai trò của rừng là rất lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện
tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất
lượng. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giới có 11 triệu
ha rừng bị phá huỷ, riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hàng năm có1,8

triệu ha rừng bị phá huỷ, tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt
đới. Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm
trọng. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác
quá mức, đốt nương làm rẫy. Hiện nay, rừng tự nhiên vùng Tây Nguyên đã và
đang suy giảm một cách nhanh chóng về cả diện tích và chất lương. Trong
vòng 5 năm từ năm 2005 đên năm 2010, diện tích rừng tăng lên 700.258 ha,
trong đó rừng tự nhiên tăng 89.056ha và rừng trồng tăng 611.212ha.Nhưng
riêng vùng Tây Nguyên, diện tích rừng tự nhiên giảm 93.256ha , rừng trồng
tăng 86.460ha. Tỷ lệ diện tích rừng bị mất lơn nhất là Đăk Nông 5.9%, tiếp
đến là Đak Lak 2.9%, Gia Lai 0.5% và Lâm Đồng 0.2%. Chỉ có tỉnh Kon
Tum là có diện tích rừng tăng 8.9%.


2

Chính vì vậy cần có những giải pháp thích hợp nhằm phục hồi lại rừng
để rừng có thểphát huy tối đa những chức năng của nó, đảm bảo được lợi ích
về mặt sinh thái môi trường và kinh tế cho người dân sống quanh khu vực.Để
làm được điều này cần phải hiểu biết đầy đủ những quy luật vận động của hệ
sinh thái rừng. Trong đó có cấu trúc rừng sau khai thác được xem là cơ sở
quan trọng trong việc xác lập các kế hoạch và biện pháp kỹ thuật tác động để
quản lý rừng bền vững. Trước thực tiễn đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc ngay sau khai thác rừng tự nhiên lá rộng
thường xanh vùng Tây Nguyên” .Từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh hợp lý nhằm sử dụng và phát triển tài nguyên rừng bền vững


3

Chương I. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cho đến nay, đã có nhiều khái niệm về cấu trúc rừng được đề xuất.
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [27], cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp
các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời
gian.Có thể thấy cấu trúc phản ảnh mối quan hệ giữa sinh vật với nhau, giữa
sinh vật với môi trường, ở đây là mối quan hệ giữa cây rừng với cây rừng và
giữa cây rừng với hoàn cảnh sống.
Trong nghiên cứu về cấu trúc rừng người ta chia thành các dạng cấu
trúc : Cấu trúc sinh thái (dạng sống, tầng phiến); cấu trúc hình thái tầng tán
rừng; cấu trúc đứng; cấu trúc theo mặt phẳng ngang (mật độ và dạng phân bố
cây trong quần thể); cấu trúc theo thời gian (theo tuổi). Các nghiên cứu về cấu
trúc rừng đều có chung một hướng là xây dựng cơ sở có tính khoa học và lý
luận phục vụ công tác kinh doanh rừng hiệu quả, đáp ứng mục tiêu ngày càng
đa dạng.
Để sử dụng và quản lý bền vững các hệ sinh thái rừng tự nhiên, chúng
ta cần dựa vào sự hiểu biết về các nhóm nhân tố cơ bản sau:
- Nhóm nhân tố nội tại của hệ sinh thái rừng (các đặc trưng, quy luật
cấu trúc và động thái: tăng trưởng, tái sinh, diễn thế của hệ sinh thái rừng);
- Nhóm nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng (cơ cấu
xã hội, các chính sách sử dụng rừng…).
Nhóm nhân tố thứ nhất là cơ sở quan trọng để xây dựng các biện pháp
kỹ thuật tác động vào rừng nhằm sử dụng bền vững tài nguyên. Nhóm nhân tố
thứ hai giúp chúng ta xây dựng các giải pháp kinh tế- xã hội thích hợp cho
từng điều kiện sinh thái-nhân văn cụ thể.
Để góp phần quản lý rừng bền vững và phục vụ công tác kinh doanh
rừng có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu về kinh tế, xã hội, sinh thái đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Dưới đây đề


4


tài xin đề cập một cách tổng quát những nghiên cứu có liên quan đến nội dung
nghiên cứu.
1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng:
1.1.1. Trên thế giới
1.1.1.1. Cơ sở sinh thái cấu trúc rừng
Rừng tự nhiên là một hệ sinh thái cực kỳ phức tạp, bao gồm nhiều
thành phần sinh vật với các quy luật sắp xếp khác nhau theo không gian và
thời gian. Cấu trúc rừng là kết quả của quá trình chọn lọc, đấu tranh sinh tồn
giữa thực vật với thực vật, giữa thực vật với hoàn cảnh sống sảy ra ngoài tự
nhiên. Các nhân tố của cấu trúc rừng bao gốm : mật độ, tầng phiến, tầng thứ,
mạng hình phân bố, cấu trúc tuổi… Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được
những mỗi quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất
các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp.Có nhiều tác giả nghiên cứu và đã
thành công trong lĩnh vực này.
Baur G.N (1976) [1] đã đi sâu vào nghiên cứu các nhân tố cấu trúc
rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên.
Sau đó Catinot (1965) [5] đã nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông
qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng.Thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ
rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái.Tác giả cho rằng muốn ổn
định hệ sinh thái rừng nhất thiết phải nắm vững quy luật vận động, biết cách
điều tiết mối quan hệ trong sự phức tạp
Trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái của Tanslay A.P, Odum E.P (1971)
[27] đã hoàn thành học thuyết về hệ sinh thái. Sau đó khái niệm hệ sinh thái
được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm
sinh thái học.
Những kết quả của các tác giả đã làm sáng tỏ các khái niệm về hệ sinh
thái rừng trên quan điểm sinh thái học. Nó chính là nền tảng vững chắc cho


5


các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng hay ứng dụng đề xuất những biện
pháp lâm sinh phù hợp.
1.1.1.2. Về cấu trúc tổ thành
Theo Richards P.W (1952) [35] trong rừng mưa nhiệt đới, trên mỗi
hecta không mấy khi có ít hơn 40 loài cây gỗ, mà có trường hợp còn đến trên
100 loài. Nhiều loài cây gỗ lớn sinh trưởng hỗn hợp với nhau theo tỉ lệ khá
bằng nhau, nhưng cũng có khi chỉ có một hoặc hai loài chiếm ưu thế.
Baur G.N (1976)[1] đã thống kê được 36 họ thực vật trên ô tiêu chuẩn
diện tích khoảng hai hecta ở khu vực gần Balem trên song Amazôn, và trên ô
tiêu chuẩn bốn hecta ở phía bắc New South Wales cũng đã có 31 họ chưa kể
cây leo, cây thân cỏ và thực vật phụ sinh. Điều này cho thấy sự phong phú và
đa dạng trong rừng mưa nhiệt đới.
Catinot.R (1974) [5] cho rằng trong rừng mưa nhiệt đới Châu Phi có
đến vài trăm loài thực vật, và trong tổ thành thực vật rừng ẩm nhiệt đới ở
Đông Nam Á thường có một nhóm loài ưu thế - nhóm họ dầu, chiếm 50%
quần thụ
Các nghiên cứu trên cho thấy sự phong phú và đa dạng trong tổ thành
rừng mưa nhiệt đới.Các kết quả đó là tiền đề cho những nghiên cứu sau này
và thông qua đó, ta thấy được sự suy thoái mạnh mẽ của rừng bằng việc càng
ngày sự đa dạng đó càng giảm.Và cần có nhưng biện pháp kỹ thuật lâm sinh
nhằm khôi phục lại sự đa dạng của rừng mưa nhiệt đới sau này.
1.1.1.3. Quy luật phân bố số cây theo cỡ kính (N-D1.3)
Việc mô phỏng phân bố số cây theo đường kính là quy luật kết cấu cơ
bản của lâm phần được nhiều tác giả quan tâm, kiểu phân bố này thường được
biểu diễn dưới dạng hàm toán học phong phú.
Meyer (1934) đã mô tả phân bố N/D1.3 bằng phương trình toán học có
dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer.



6

Pierlot (1966) cho rằng, việc nắn đường thực nghiệm bằng phương
trình mũ sẽ mất đi những sai số ở những cỡ kính nhỏ và đề xuất nên dùng
hàm Hyperbol để nắn đường thực nghiệm là tốt hơn cả.
Balley (1973) [51] sử dụng hàm Weibull, Schiffel biểu thị đường cong
cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba.
J.L.F Batista và H.T.Z Docouto (1992) trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu
chuẩn với 60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo-Brazin đã dùng hàm
Weibull để nắn phân bố số cây theo đường kính và nhận xét rằng: hàm
Weibull mô phỏng rất tốt phân bố này.
1.1.1.4. Quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N/Hvn)
Phần lớn các tác giả khi nghiên cứu cấu trúc lâm phần theo chiều thẳng
đứng đã dựa vào phân bố số cây theo chiều cao.
P.W.Richards (1952) [35] đã dùng phương pháp vẽ các phẫu diện đồ
đứng với các kích thước khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu. Các phẫu
đồ đã mang lại hình ảnh khái quát về cấu trúc tầng tán, phân bố số cây theo
chiều thẳng đứng, từ đó rút ra các nhận xét và đề xuất ứng dụng thực tế.
Việc mô phỏng phân bố N/H bằng hàm toán học cũng đã có nhiều tác
giả nghiên cứu, song việc sử dụng hàm nào tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của
từng tác giả và đối tượng cụ thể.
Nhìn chung, các nghiên cứu về cấu trúc theo hướng định lượng trên cơ
sở thống kê sinh học vẫn tập trung vào phân bố số cây theo đường kính và
chiều cao. Các hàm toán học được sử dụng để mô phỏng rất đa dạng và
phong phú, nhưng khi kiểm tra bằng tiêu chuẩn phù hợp của thống kê toán
học thường chỉ đạt ở mức trung bình.Xu hướng nghiên cứu các quy luật phân
bố của nhân tố điều tra chủ yếu tập trung vào tìm các hàm toán học thích hợp
để mô phỏng.



7

1.1.1.5. Tương quan giữa chiều cao với đường kính (Hvn – D1.3)
Tiurin.Đ.V (1927) đã phát hiện hiện tượng chiều cao tương ứng với
mỗi cỡ kính cho trước luôn tăng theo tuổi, đó là kết quả tự nhiên của phân cấp
sinh trưởng; đường cong biểu thị quan hệ giữa H - D có thể thay đổi dạng và
luôn dịch chuyển lên phía trên khi tuổi lâm phần tăng lên, khi ông xác lập
đường cong chiều cao các cấp tuổi khác nhau.
Tiourin.A.V (1932) và Krauter.G.(1958) nghiên cứu tương quan giữa
chiều cao với đường kính ngang ngực dựa trên cơ sở cấp đất và cấp tuổi. Kết
quả cho thấy, khi dãy phân hóa thành các cấp chiều cao thì mối quan hệ này
không cần xét đến cấp đất hay cấp tuổi, cũng như không cần xét đến tác động
của hoàn cảnh và tuổi, vì những nhân tố này đã được phản ánh trong kích
thước của cây, nghĩa là đường kính và chiều cao trong quan hệ đã bao hàm tác
động của hoàn cảnh và tuổi.
Petterson.H (1955) (Nguyễn Trọng Bình, 1996), đề xuất phương trình
tương quan:
1
b
a
d
3 h  1.3

(1.1)

Curtis.R.O (1967) [52] đã mô phỏng quan hệ chiều cao (H) với đường
kính (D) và tuổi (A) theo dạng phương trình:
LogH = D + b1*

1

1
1
+ b2* + b3*
DA
D
A

(1.2)
Trong đó: bi là các tham số của phương trình
Sau đó, tác giả nắn theo từng định kỳ 5 năm, tương ứng với định kỳ
kiểm tra tài nguyên rừng Linh sam.
Tại từng tuổi nhất định phương trình có dạng:
LogH = b0 + b1*

1
D

(1.3)


8

Kennel.R (1971) [53] kiến nghị một cách khác mô phỏng tương quan
H-D là: tìm một phương trình thích hợp cho lâm phần, sau đó xác lập mối liên
hệ giữa các tham số phương trình với tuổi.
1.1.1.6. Tương quan giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực
(Dt/D1.3)
Zieger [58], Ilvessalo [59], Willing [56] qua nghiên cứu đã đi đến kết
luận là, có mối quan hệ mật thiết giữa đường kính tán với đường kính ngang
ngực. Tùy theo loài cây và điều kiện sống, mối liên hệ này được thể hiện khác

nhau nhưng phổ biến nhất là dạng phương trình đường thẳng:
DT = a + b.D1.3

(1.4)

1.1.1.7. Nghiên cứu về tái sinh rừng
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu lâm học, hiệu quả của tái sinh
rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng
cây con, đặc điểm phân bố. Vai trò của cây con là thay thế cây già cỗi, vì vậy
hiểu theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của
rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ.
Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên trên thế giới đã trải qua hàng
trăm năm nhưng đối với rừng nhiệt đới mới chỉ đề cập đến từ những năm
1930 trở lại đây.
Kết quả nghiên cứu được tóm tắt như sau:
Richards.P.W (1952) [35] đã nghiên cứu tái sinh ở rừng mưa nhiệt
đới.Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong các ô dạng bản, thế hệ cây tái sinh có
tổ thành giống hoặc khác biệt cây mẹ.
Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng
cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbread, 1930;
Richards, 1933; 1939; Aubresville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert,
1954; Jones, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) 55. Do


9

tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá
trị nên trong thực tiễn lâm sinh người ta chỉ tập trung khảo sát những loài
cây có ý nghĩa nhất định.
Vansteenis (1956) [55] khi nghiên cứu về rừng mưa đã nhận xét, đặc

điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến đặc điểm tái
sinh phân tán liên tục.Ngược lại, tái sinh phân tán liên tục ở rừng mưa lại là
tiền đề để tạo thành một rừng mưa hỗn loài khác tuổi. Tổ thành những loài
cây tái sinh mọc ở lỗ trống là những loài cây ưa sáng mọc nhanh, đời sống
ngắn, không có mặt trong tổ thành rừng, mà nguồn gốc có thể là do chim,
những động vật từ xa mang tới… Tỉ lệ cây ưa sáng tỉ lệ thuận với kích thước
lỗ trống, tức là kích thước lỗ trống càng lớn, thì tỉ lệ cây ưa sáng càng nhiều.
Đây là loài cây tiên phong làm nhiệm vụ hàn gắn các lỗ trống ở trong rừng.
Sau khi các loài cây ưa sáng đã tạo ra bóng, cây tái sinh của những loài cây
chịu bóng có trong thành phần của rừng nguyên sinh xuất hiện, vươn lên thay
thế các loài cây ưa sáng. Khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Châu Á, tác giả cho
thấy có hai đặc điểm tái sinh phổ biến, đó là tái sinh vệt và tái sinh phân tán
liên tục.
M.Loeschau (1977) 18 đã đưa ra một số đề nghị để đánh giá một khu
rừng có tái sinh đạt yêu cầu hay không phải áp dụng phương pháp điều tra
ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tổng quát
về mật độ tái sinh như nơi có lượng cây tái sinh rất lớn.
Tóm lại, trên thế giới có nhiều phương pháp nghiên cứu tái sinh, nhưng
đều dựa trên cơ sở thu thập số liệu tái sinh trên ô dạng bản để phân tích, đánh
giá. Đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng phải dùng cả ba chỉ tiêu: mật độ,
sức sống, khả năng sinh trưởng của cây con để đánh giá. Thực chất chỉ tiêu
mật độ mới chỉ phản ánh số lượng cây con của các loài ở các tuổi khác nhau
tồn tại ở một thời điểm nhất định, mà chưa phản ánh được khả năng tồn tại,


10

sinh trưởng ở giai đoạn tiếp theo. Do vậy, cần kết hợp cả ba chỉ tiêu trong một
thể thống nhất, khi phân tích có thể tách riêng.
Kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế

giới đã cung cấp các thông tin về phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh
tự nhiên ở một số vùng.Mặc dù vậy, thảm thực vật rừng nhiệt đới rất đa dạng
và phức tạp, đời sống của nó gắn liền với điều kiện tự nhiên ở từng vùng địa
lý.Vì thế cần tiếp tục nghiên cứu quy luật tái sinh tự nhiên của hệ sinh thái
rừng ở các vùng địa lý khác nhau, làm cơ sở cho việc phân tích và đề xuất các
luận điểm khoa học một cách chính xác.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta, rừng tự nhiên là đối tượng đã được nhiều tác giả quan tâm
và nghiên cứu.Trong đó, đã có nhiều công trình được công bố và có giá trị
khoa học cũng như thực tiễn ở mức độ này hay mức độ khác. Có thể kể tên
một số tác giả và tóm tắt kết quả đạt được như sau:
1.1.2.1. Phân loại rừng phục vụ kinh doanh
Loeschau (1966) [19] đã đưa ra hệ thống phân loại rừng theo trạng thái
hiện tại nhằm phục vụ cho công tác điều tra, điều chế rừng gỗ mỏ ở Quảng
Ninh. Đến năm 1966, công trình được chính tác giả bổ sung và mang tên:
Phân chia kiểu trạng thái và phương hướng kinh doanh rừng hỗn giao lá
rộng thường xanh nhiệt đới. Đây là hệ thống phân loại được sử dụng trong
thời gian dài và phổ biến ở nước ta. Việc mở rộng phạm vi sử dụng đã làm rõ
những điểm không hợp lý của hệ thống phân loại này.
Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã dựa trên hệ thống phân loại của
Loeschau, cải tiến cho phù hợp hơn với đặc điểm rừng tự nhiên nước ta và
cho đến nay vẫn áp dụng hệ thống này vào việc phân loại trạng thái rừng hiện
tại phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng tự nhiên.
Thái Văn Trừng (1978) [42] trên quan điểm sinh thái đã xây dựng hệ
thống phân loại thảm thực vật.Tác giả chia rừng tự nhiên Việt Nam thành 14


11

kiểu thảm thực vật.Công trình này đặt nền móng cho việc phân chia rừng tự

nhiên của nước ta một cách tổng quát. Xuất phát từ tính đa dạng, phong phú
của rừng nhiệt đới, kết luận: không thể dùng quần hợp thực vật làm đơn vị
phân loại cơ bản như các tác giả đã sử dụng ở vùng ôn đới. Ông đề xuất dùng
kiểu thảm thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản và lấy hình thái, cấu trúc quần
thể làm tiêu chuẩn phân loại. Những nhóm nhân tố sinh thái tham gia tác động
trong quá trình hình thành các kiểu thảm thực vật gọi là những nhóm nhân tố
sinh thái phát sinh. Thái Văn Trừng phân biệt thành 5 nhóm nhân tố: Địa lý địa hình; Khí hậu – thuỷ văn; Đá mẹ – thổ nhưỡng; Khu hệ thực vật; Sinh vật
và con người. Đây là cấp phân loại lớn, kiểu thảm thực vật chưa phải là cấp
phân loại cơ bản nhỏ nhất, để từ đó đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp
dụng cho từng đối tượng.
Vũ Đình Huề (1984) [11] đã tiến hành phân chia trạng thái rừng phục vụ
công tác kinh doanh rừng căn cứ vào trạng thái hiện tại (những trạng thái này
thường được phân chia theo hệ thống phân loại rừng của Loeschau).
Vũ Biệt Linh (1984) [21] khi bàn về vấn đề phân chia rừng theo hệ
thống phân loại kinh doanh đã xác định cần phân chia rừng, đất rừng theo
mục đích, nội dung, phương thức biện pháp kinh doanh nhằm tổ chức và định
hướng tác nghiệp kinh doanh theo các đối tượng khác nhau để đạt được hiệu
quả cần thiết.
Vũ Đình Phương (1987-1988) [30] đã dựa vào các đặc trưng như: nhóm
sinh thái tự nhiên, giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo
rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm địa hình, đặc điểm thổ
nhưỡng để phân chia rừng thành những lô khác nhau phục vụ điều chế rừng.
Bảo Huy (1993) [12] đã xác định trạng thái rừng hiện tại của các lâm
phần Bằng lăng ở Tây nguyên theo hệ thống của Loeschau, đồng thời tác giả
cũng xác định các loại hình xã hợp thực vật với các ưu hợp khác nhau thông
qua trị số IV%.


12


Đào Công Khanh (1996) [17] đã căn cứ vào tổ thành các loài cây mục
đích để phân loại rừng phục vụ cho việc xác định các biện pháp lâm sinh.
Lê Sáu (1996) [36] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc để đề xuất
phương thức khai thác chọn cho rừng kín thường xanh ở Kon Hà Nừng, đã
phân loại trạng thái các lâm phần dựa trên bảng phân loại Loeschau.
Tóm lại, các tác giả đều cho rằng: việc phân loại tài nguyên rừng ở Việt Nam
là rất cần thiết cho nghiên cứu, cũng như phục vụ sản xuất kinh doanh. Tuỳ
mục tiêu cụ thể mà xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau, nhưng
đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
1.1.2.2. Cấu trúc tổ thành
Đây là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc sinh thái và hình thái
khác của rừng.Tổ thành rừng là chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá mức độ
đa dạng sinh học, tính ổn định, tính bền vững của hệ sinh thái rừng.Cấu trúc
tổ thành đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam đề cập trong công trình
nghiên cứu của mình.
Trần Ngũ Phương (1963) [31] đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của
các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng
quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965.Nhân tố cấu
trúc đầu tiên được nghiên cứu là tổ thành và thông qua đó một số quy luật
phát triển của các hệ sinh thái rừng được phát hiện và ứng dụng vào thực
tiễn sản xuất.
Bảo Huy (1993) [12] và Đào Công Khanh (1996) [17] khi nghiên cứu
tổ thành loài cây đối với rừng tự nhiên ở Đắk Lăk và Hương Sơn – Hà Tĩnh
đều xác định tỷ lệ tổ thành của các nhóm loài cây mục đích, nhóm loài cây hỗ
trợ và nhóm loài cây phi mục đích cụ thể, đề từ đó đề xuất biện pháp khai thác
thích hợp cho từng đối tượng theo hướng điều chỉnh tổ thành hợp lý.
Lê Sáu (1996) [36] và Trần Cẩm Tú[50] khi nghiên cứu cấu trúc rừng
tự nhiên ở Kon Hà Nừng – Gia Lai và Hương Sơn – Hà Tĩnh đều xác định



13

danh mục các loài cây cụ thể theo cấp tổ thành và các tác giả đều kết luận sự
phân bố của một số loài cây theo cấp tổ thành tuân theo hàm phân bố giảm.
Cấp tổ thành càng cao số loài càng giảm.
Ngô Minh Mẫn (2005) [24] khi nghiên cứu cấu trúc rừng tại Vườn
Quốc gia Cát Tiên đã kết luận, phân bố của số lượng loài cây theo cấp tổ
thành của trạng thái IIIA1, IIIA2 tuân theo phân bố khoảng cách.
Võ Văn Sung (2005) [37] khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ven biển tại
khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu cũng cho thấy cấu trúc tổ
thành ở trạng thái IIB và IIIA2 tuân theo phân bố khoảng cách.
1.1.2.3. Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3)
Thống kê các công trình nghiên cứu về rừng tự nhiên ở Việt Nam cho
thấy, phân bố N/D1.3 của tầng cây cao (D6cm) có 2 dạng chính sau:
- Dạng giảm liên tục và có nhiều đỉnh phụ hình răng cưa.
- Dạng một đỉnh hình chữ J.
Với mỗi dạng cụ thể, các tác giả chọn những mô hình toán học thích
hợp để mô phỏng.
Khi lập biểu thể tích cây đứng rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam, Đồng
Sỹ Hiền (1974) [10] đã nghiên cứu nhiều lâm phần trên các địa phương khác
nhau và đi đến kết luận chung là: dạng tổng quát của phân bố N/D là phân bố
giảm nhưng do quá trình khai thác chọn thô không theo quy tắc, nên đường
thực nghiệm thường có dạng hình răng cưa. Với kiểu phân bố thực nghiệm
như vậy, tác giả đã dùng hàm Meyer và họ đường cong Pearson để mô phỏng
quy luật cấu trúc đường kính cây rừng.
Nguyễn Văn Trương (1983) [44] đã thử nghiệm dùng các hàm mũ,
logarit, phân bố Poisson và phân bố Pearson để biểu thị cấu trúc N/D của rừng
tự nhiên hỗn loài.
Nguyễn Hải Tuất (1986) [48] sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân
bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ kính bắt đầu đo.



14

Trần Văn Con (1991) [6] đã sử dụng phân bố Weibull để mô phỏng cấu
trúc đường kính cho rừng khộp ở Tây Nguyên.
Lê Minh Trung (1991) [46] thử nghiệm mô phỏng phân bố N/D rừng tự
nhiên ở Gia Nghĩa – Đắk Nông bằng 4 dạng hàm: Poisson, Weibull, Hyperbol
và Meyer và đã cho nhận xét là: phân bố Weibull là thích hợp nhất.
Bảo Huy (1993) [10] thử nghiệm mô phỏng phân bố thực nghiệm N/D
cho rừng ưu thế Bằng lăng ở Đắk lắk theo các dạng phân bố: Poisson, Khoảng
cách, Hình học, Weibull và Meyer và đã rút ra nhận xét: So với các phân bố
khác thì phân bố khoảng cách thích hợp hơn cả.
Trần Xuân Thiệp (1996) [49], Lê Sáu (1996) [36] đã khẳng định phân
bố Weibull là tốt hơn hẳn các phân bố khác trong việc mô tả phân bố N/D cho
tất cả các trạng thái rừng tự nhiên, cho dù phân bố thực nghiệm có dạng giảm
liên tục hay một đỉnh.
Đào Công Khanh (1996) [17] thì cho rằng, mô tả phân bố N/D theo
dạng tần số lũy tích thích hợp hơn, vì biến động của đường thực nghiệm này
nhỏ hơn rất nhiều so với biến động số cây hay % số cây ở các cỡ kính.
1.1.2.4. Phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/Hvn)
Những nghiên cứu của Đồng Sỹ Hiền (1974) [10] cho thấy phân bố số
cây theo chiều cao (N/H) ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây
thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu tầng phức tạp của rừng chặt chọn.
Một số tác giả khác như Bảo Huy (1993) [12], Đào Công Khanh (1996)
[17], Lê Sáu (1996) [36] đã nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích tụ tán
cây.Các tác giả đều đi đến nhận xét chung là, phân bố N/H có dạng một đỉnh,
nhiểu đỉnh phụ hình răng cưa và mô tả thích hợp nhất bằng hàm Weibull.
Trần Xuân Thiệp (1996) [49] sau khi thử nghiệm các hàm Meyer,
Weibull để mô phỏng kết cấu N/H cho rừng Hương Sơn – Hà Tĩnh cũng đã

nhận định: sự phù hợp giữa phân bố lý thuyết và thực tế cho phép dựa vào


15

hàm Weibull để điều tiết rừng trong giai đoạn quá độ chuyển hóa về rừng
chuẩn cũng như trong quá trình kinh doanh rừng bền vững.
1.1.2.5. Tương quan giữa chiều cao với đường kính (Hvn-D1.3)
Thực tiễn điều tra cho thấy, có thể dựa vào quan hệ H-D xác định chiều
cao tương ứng cho từng cỡ kính mà không cần thiết đo cao toàn bộ. Tuy
nhiên, về phương trình toán học cụ thể biểu thị quan hệ này lại phong phú và
đa dạng.
Với rừng tự nhiên nước ta, Đồng Sỹ Hiền (1974) [10] đã sử dụng
phương trình Logarit hai chiều hoặc hàm mũ để mô tả quan hệ H-D đồng thời
cho thấy khả năng sử dụng một phương trình chung cho cả nhóm loài cây có
tương quan H-D thuần nhất với nhau.
Vũ Đình Phương (1985) [28] cho rằng, có thể lập biểu cấp chiều cao
lâm phần Bồ đề tự nhiên từ phương trình Parabol bậc 2 mà không cần phân
biệt cấp đất và tuổi.
Vũ Nhâm (1988) [26], Phạm Ngọc Giao (1995) [9] dùng phương trình
Logarit một chiều xác lập quan hệ H-D cho các lâm phần Thông đuôi ngựa.
Bảo Huy (1993) [12], khi nghiên cứu tương quan H-D của một số loài
cây ưu thế: Bằng lăng, Cẩm xe, Kháo và Chiêu liêu ở rừng rụng lá và nửa
rụng lá khu vực Tây Nguyên đã thử nghiệm 4 phương trình:
H = a + b.D1.3

(1.5)

H = a + b.logD1.3


(1.6)

LogH = a + b.logD1.3

(1.7)

LogH = a + b.D1.3

(1.8)

Kết quả đã chọn được dạng phương trình thích hợp nhất, là phương
trình (1.7).
Bảo Huy (1993) [12], Đào Công Khanh (1996) [17] đã sử dụng phương
trình (1.7) để biểu diễn quan hệ H-D cho rừng ưu thế Bằng lăng ở Đắk Lắc và
rừng tự nhiên hỗn loài ở Hương Sơn – Hà Tĩnh.


16

1.1.2.6. Tương quan đường kính tán với đường kính ngang ngực (DT – D1.3)
Vũ Đình Phương (1985) [28] đã khẳng định giữa đường kính tán với
đường kính ngang ngực của cây rừng tự nhiên Việt Nam tồn tại mối quan hệ
mật thiết theo dạng đường thẳng. Tác giả đã thiết lập phương trình cho một số
loài cây lá rộng như: Ràng ràng, Vạng, Lim xanh, Chò chỉ trong lâm phân hỗn
giao khác tuổi để phục vụ công tác điều chế rừng.
Nguyễn Ngọc Lung và các cộng sự (1985) [22]đã xây dựng biểu tỉa
thưa tạm thời và biểu thể tích cây đứng tạm thời cho Keo lá tràm, trên cơ sở
xác lập mối quan hệ giữa DT – D1.3 và mối quan hệ giữa các nhân tố điều tra
với thể tích thân cây.
1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng:

Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt
đới nói chung, nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động của con người
nên những quy luật tái sinh đã bị xáo trộn nhiều.
Trần Ngũ Phương (1965) [31] kết luận: “Trong quá trình một tầng nào
đó của rừng bắt đầu già cỗi thì tầng ấy đã chuẩn bị cho bản thân nó một lớp cây
con tái sinh để sau này sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong”; tác giả cũng rút ra
các quy luật tái sinh tự nhiên này biểu hiện không đều, khi có khi không, chỗ
thưa chỗ dày, chỗ tốt, chỗ không tốt như vậy mô phỏng theo thiên nhiên một
cách thông minh và mô phỏng theo phương pháp nhân tạo, làm như vậy, cấu
trúc phân tầng của rừng luôn luôn đảm bảo về lượng cũng như về chất.
Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác rừng, Phùng Ngọc
Lan (1964) [23] đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm
trường Hữu Lũng, Lạng Sơn. Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân tố
gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm.
Thái Văn Trừng (1978) [42] khi nghiên cứu về “Thảm thực vật rừng
Việt Nam” đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển
quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng. Nếu các điều kiện khác


17

của môi trường sống như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay
đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng
không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà
diễn thế theo những phương thức tái sinh có quy luật nhân quả giữa sinh vật
và môi trường.
Vũ Đình Huề (1984) [12] từ kết quả điều tra tái sinh tự nhiên theo các
“loại hình thực vật ưu thế” rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966),
Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) của Viện Điều tra- Quy hoạch rừng từ
năm 1962-1969, đã tổng kết và rút ra nhận xét: Tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc

Việt Nam có đặc điểm của rừng nhiệt đới. Trong rừng nguyên sinh tổ thành cây
tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm kém
giá trị. Hiện tượng tái sinh theo đám tạo nên sự phân bố số cây không đều trên
mặt đất rừng. Từ kết quả đó, tác giả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự
nhiên áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc nước ta.
Nguyễn Hồng Quân (1984) [34] đã nghiên cứu kết hợp chặt chẽ khai
thác với tái sinh nuôi dưỡng rừng. Tác giả cho rằng để đáp ứng yêu cầu khai
thác bảo đảm tái sinh và nuôi dưỡng rừng, đối với rừng không đồng tuổi cần
thực hiện cả 4 nội dung chủ yếu là: thu hoạch cây thành thục, chặt tái sinh,
chặt nuôi dưỡng và chuẩn hoá cấu trúc rừng về trạng thái mong muốn.
Nguyễn Duy Chuyên (1985) [7] đã nghiên cứu quy luật phân bố cây
tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loài vùng Quỳ Châu, Nghệ
An. Tác giả nghiên cứu phân bố tái sinh theo chiều cao, tổ thành cây tái
sinh, số lượng cây tái inh. Trên cơ sở phân tích toán học về phân bố cây tái
sinh cho toàn lâm phần, tác giả cho rằng loại rừng trung bình (IIIA2) cây
tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Poisson, ở các loại rừng khác cây tái sinh
có phân bố cụm.
Nguyễn Văn Trương (1983) [44] khi nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu
trúc rừng với lớp cây tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài đã rút ra kết luận:


18

Muốn cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên
hoạt động rõ ràng lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây kế tiếp nó ở phía trên.
Điều kiện này không thực hiện được trong rừng tự nhiên ổn định mà chỉ có
trong rừng chuẩn sự tái sinh liên tục đã có sự điều tiết khéo léo của con người
Vũ Tiến Hinh (1991) [14] Nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của
rừng tự nhiên ở Hữu Lũng- Lạng Sơn và vùng Ba Chẽ- Quảng Ninh, nhận
xét: hệ số tổ thành tính theo phần trăm số cây của tầng cây tái sinh và tầng cây

cao có liên hệ chặt chẽ. Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng
lớn thì hệ số tổ thành tầng tái sinh cũng vậy. Do khó nhận biết tên cây của
tầng tái sinh, nên có thể sử dụng quan hệ giữa hệ số tổ thành tầng tái sinh và
tầng cây cao để xác định hệ số tổ thành tầng tái sinh. Từ đó, nếu biết mật độ
chung của những cây tái sinh có triển vọng của lâm phần, sẽ xác định được số
lượng tái sinh của từng loài. Trong điều chế rừng có thể sử dụng kết quả này
để sơ bộ xem xét những loài cây mục đích nào chưa đủ số lượng tái sinh cần
phải tra dặm hạt và những loài nào chỉ cần thông qua biện pháp xúc tiến tái
sinh là đủ.
Đinh Quang Diệp (1993) [8] nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở rừng
Khộp vùng Easup- Đắc Lắc kết luận: Độ tàn che, thảm mục, độ dày tầng thảm
mục, điều kiện lập địa… là những nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất
lượng cây con tái sinh dưới tán rừng. Qua nghiên cứu tác giả cho thấy, tái sinh
trong khu vực có dạng phân bố cụm.
Trần Xuân Thiệp (1995) [49] tiếp tục nghiên cứu vai trò của tái sinh và
phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng thuộc miền Bắc. Kết quả nghiên cứu cho
thấy: ở vùng Tây Bắc, dù vùng thấp hay vùng cao tái sinh tự nhiên khá tốt về
số lượng cây: từ 500-8000 cây/ha. Rừng Tây Bắc thể hiện rõ các mặt ảnh
hưởng đến chất lượng tái sinh: nghèo về trữ lượng, diễn thế ở nhiều vùng xuất
hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ


×