Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Tổ chức dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 trường tiểu học đồng phú – đồng hới – quảng bình từ quan điểm giao tiếp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.09 MB, 77 trang )

Để hoàn thành khóa luận này, với tình cảm chân thành, em xin trân trọng cảm ơn
Trường Đại học Quảng Bình, tập thể giảng viên khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã
tận tình giảng dạy, động viên khích lệ, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên - TS Nguyễn Thị Nga, đã
hướng dẫn chỉ bảo tận tâm, tận sức để em hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh Trường Tiểu học Đồng Phú đã
tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu.
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn lo lắng động viên em trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Do điều kiện về thời gian cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn
chế, khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các ý kiến đóng
góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài hoàn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 5 năm 2016
Tác giả

Dương Thị Huyền

i


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Nga. Các tài liệu, những nhận định là trung thực.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này.

Quảng Bình, tháng 5 năm 2016
Tác giả

Dương Thị Huyền




MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU .............................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu...........................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................................................3
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................4
5. Giả thuyết khoa học .......................................................................................................................4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................................................4
7. Giới hạn nghiên cứu ......................................................................................................................5
8. Phương pháp nghiên cứu ..............................................................................................................5
9. Đóng góp mới của đề tài ..............................................................................................................5
10. Cấu trúc đề tài ...............................................................................................................................6
PHẦN II: NỘI DUNG .......................................................................................................................7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ....................................................................7
1.1. Cơ sở lý luận ................................................................................................................................7
1.1.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học..........................................7
1.1.1.1. Giao tiếp và hoạt động giao tiếp ......................................................................................7
1.1.1.2. Cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt.........................................7
1.1.1.3. Nội dung quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ..........................................8
1.1.2. Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4-5 .............................................................................11
1.1.2.1. Đặc điểm nhận thức ..........................................................................................................12
1.1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ ...........................................................................................................13
1.1.3. Một số khái niệm liên quan đến đề tài .............................................................................13
1.1.3.1. Khái niệm về câu tiếng Việt ...........................................................................................13


1.1.3.2. Quan niệm và cách định nghĩa câu ghép tiếng Việt .................................................15

1.2. Cơ sở thực tiễn .........................................................................................................................16
1.2.1. Nội dung dạy học cụ thể về câu ghép ở lớp 5 hiện nay ..............................................16
1.2.2. Khái quát một số thông tin về thực trạng dạy học ở trường Tiểu học Đồng Phú
có liên quan đến đề tài .....................................................................................................................18
1.2.3. Thực trạng của việc dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Đồng
Phú từ quan điểm giao tiếp .............................................................................................................19
1.2.3.1. Mục đích khảo sát thực trạng .........................................................................................19
1.2.3.2. Nội dung khảo sát thực trạng ..........................................................................................19
1.2.3.3 Cách thức khảo sát thực trạng .........................................................................................19
1.2.3.4. Chọn mẫu khảo sát thực trạng ........................................................................................19
1.2.3.5. Kết quả khảo sát thực trạng.............................................................................................20
1.2.3.5.1. Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên ...........................................20
1.2.3.5.2. Thực trạng kiến thức về câu ghép và kỹ năng sử dụng câu ghép trong giao
tiếp của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú .................................................................24
1.2.4. Nguyên nhân của thực trạng dạy và học câu ghép .......................................................25
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................................................26
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY CÂU GHÉP CHO HỌC SINH
LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG PHÚ TỪ QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP ..................27
2.1. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để nâng cao chất lượng dạy câu ghép .......27
2.1.1. Dạy câu ghép theo hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động giao tiếp của
học sinh ..............................................................................................................................................27
2.1.2. Dạy câu ghép phải đặt trong ngữ cảnh ............................................................................27
2.1.3. Vận dụng hình thức tổ chức trò chơi học tập trong dạy học câu ghép ...................27
2.2. Trên quan điểm giao tiếp, đề xuất bổ sung một số nội dung dạy học về câu ghép .29


2.3.Vận dụng linh hoạt một số phương pháp dạy học để tổ chức dạy câu ghép cho học
sinh lớp 5 từ quan điểm giao tiếp .................................................................................................36
2.3.1. Vận dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ trong dạy học câu ghép .....................36
2.3.2. Vận dụng phương pháp luyện tập theo mẫu trong dạy học câu ghép .....................36

2.3.3. Vận dụng phương pháp giao tiếp trong dạy học câu ghép .........................................37
2.3.4. Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học câu ghép ............................38
2.4. Xây dựng hệ thống bài tập dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 trường tiểu học Đồng
Phú theo quan điểm giao tiếp.........................................................................................................41
2.4.1. Xây dựng hệ thống bài tập dạy câu ghép cho HS lớp 5 gắn với chủ điểm và ngữ
cảnh

..............................................................................................................................................41

2.4.2. Xây dựng hệ thống bài tập dạy câu ghép trong sự kế thừa và mở rộng vốn từ cho
HS lớp 5 ..............................................................................................................................................42
2.4.3. Xây dựng bài tập tình huống dạy câu ghép cho HS lớp 5 thông qua giờ học các
tiết dạy thể loại văn miêu tả ...........................................................................................................43
2.4.4. Xây dựng bài tập giúp HS lớp 5 nhận diện và sử dụng đúng mục đích diễn đạt
của câu ghép .......................................................................................................................................44
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................................................45
CHƯƠNG III.THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .............................................................................46
3.1. Những vấn đề chung của thực nghiệm................................................................................46
3.1.1.Mục đích thực nghiệm ..........................................................................................................46
3.1.2. Nội dung thực nghiệm .........................................................................................................47
3.1.3. Địa bàn, thời gian, đối tượng thực nghiệm.....................................................................47
3.2. Tổ chức thực nghiệm ...............................................................................................................48
3.2.1. Thiết kế giáo án và phiếu điều tra .....................................................................................48
3.2.1.1. Thiết kế giáo án thử nghiệm ...........................................................................................48
3.2.1.2. Phiếu kiểm tra kết quả thực nghiệm và cách xếp loại..............................................55


3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm.............................................................................................57
3.3.1 Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 1 .............................................................................57
3.3.2. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 2 ............................................................................58

3.4. Kết luận thực nghiệm...............................................................................................................59
KẾT LUẬN CHUNG ......................................................................................................................61
1. Kết luận ...........................................................................................................................................61
2. Kiến nghị ........................................................................................................................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................................................63
PHỤ LỤC 1 ........................................................................................................................................65
PHỤ LỤC 2 ........................................................................................................................................66
PHỤ LỤC 3: .......................................................................................................................................68


KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN

STT

Kí hiệu

Chú giải

1

[17, tr.40]

2

CN

Chủ ngữ

3


GV

Giáo viên

4

HS

Học sinh

5

LT&C

6

PP

7

PPDH

Phương pháp dạy học

8

QHT

Quan hệ từ


9

SGK

Sách giáo khoa

10

TV

Tiếng việt

11

VD

Ví dụ

12

VN

Vị ngữ

Trích dẫn từ tài liệu tham khảo 17 trang 40

Luyện từ và câu
Phương pháp



PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu cơ bản của môn tiếng Việt ở tiểu học là hình thành và rèn luyện kĩ năng
sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt
động của lứa tuổi. Để đạt được mục tiêu này, hầu hết các bài học đều hướng đến việc tổ
chức các hoạt động giao tiếp bằng tiếng Việt cho HS.
Chức năng giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ. V.B Kasevich
khẳng định: “Truyền đạt thông tin là một trong những dạng và bình diện giao tiếp cần
yếu nhất giữa con người với con người. Vì vậy, nói theo V.I.Lênin, “ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”. Vì thế, dạy học tiếng Việt theo
quan điểm giao tiếp là tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào hoạt động giao tiếp,
học trong giao tiếp, bằng giao tiếp và để giao tiếp. Qua đó sẽ phát triển mọi mặt kỹ
năng giao tiếp của học sinh: nghe – nói – đọc – viết,…
Trong giao tiếp, đơn vị nhỏ nhất là câu. Khi một người nói ra một câu hay một số câu
thường hướng vào người nghe cụ thể, trong một tình huống cụ thể, nhằm một hoặc
nhiều mục đích nhất định. Nếu HS có kĩ năng sử dụng câu thì các em sẽ có điều kiện
cơ bản để nâng cao năng lực giao tiếp.
Tuy nhiên, thực tế trong giờ học tiếng Việt, đặc biệt trong giờ dạy lý thuyết về
câu ghép, giáo viên thường chú trọng đến hình thành khái niệm về câu ghép, cách nối
các vế câu trong câu ghép mà chưa quan tâm đến việc dạy học sinh kỹ năng thể hiện
mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích
hợp. Nhiều giáo viên thường chỉ chú trọng việc truyền tải nội dung kiến thức mà chưa
nắm vững mục đích dạy cho học sinh kỹ năng để giao tiếp.
Việc học của học sinh cũng nghiêng nhiều về hình thức, chủ yếu là nhận biết cấu
tạo của câu ghép, các vế câu trong câu ghép mà không chú trọng đến việc sử dụng câu
ghép đúng mục đích giao tiếp. Điều này dẫn đến việc lựa chọn nội dung, hình thức và
phương pháp dạy học chưa phù hợp, hiệu quả dạy học chưa cao.
Việc tổ chức dạy học câu ghép nếu được thực hiện tốt HS sẽ chủ động trong học
tập, thấy được sự đa dạng, phong phú của câu ghép trong giao tiếp; thấy được mục
đích của môn Tiếng Việt. Điều này làm cho môn học thật sự có ý nghĩa với các em,

góp phần trong việc hoàn thành các nhiệm vụ của môn tiếng Việt ở tiểu học.
1


Xuất phát từ những lý do vừa nêu, tôi chọn vấn đề “Tổ chức dạy câu ghép cho
học sinh lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú – Đồng Hới – Quảng Bình từ quan điểm
giao tiếp” làm đề tài nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Câu ghép và vấn đề dạy câu ghép ở tiểu học
Theo sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5, tập 2: “Câu ghép là câu do nhiều vế câu
ghép lại. Mỗi vế câu thường có cấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và
thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác” [19, tr.8].
Việc dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5 là một vấn đề từ lâu đã được chú trọng.
Điều này thể hiện khá rõ nét ở chỗ, có nhiều tài liệu tham khảo đã đề cập đến nội dung
này:
Về mặt lý luận, một số công trình khoa học của các tác giả khi nghiên cứu về câu
ghép như: công trình “Ngữ pháp Tiếng Việt” của Đỗ Thị Kim Liên, năm 1999, ở
chương V – Câu [8, tr.100], tác giả đề cập đến các khái niệm về câu đơn, câu ghép,
việc phân loại câu ghép: câu ghép có quan hệ từ liên kết, câu ghép không có quan hệ
từ liên kết. “ Cơ sở ngữ pháp Tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Kim Thản, năm 2008, ở
chương II – Cách đặt câu ghép [17, tr.40], tác giả đề cập về câu ghép có phần rộng hơn
ngoài định nghĩa câu ghép, tác giả còn nêu các quy tắc đặt câu ghép. Tất cả các tài liệu
trên cũng chỉ mới đề cập đến vấn đề lý thuyết về câu ghép chưa nhắc đến việc dạy câu
ghép như thế nào?
Về mặt dạy học, có công trình “Câu tiếng Việt và việc luyện câu cho học sinh tiểu
học” của Nguyễn Quý Thành, năm 2009, trong chủ đề hai – Luyện câu cho học sinh
tiểu học theo hướng giao tiếp [18, tr.159], tác giả nói đến các định nghĩa giao tiếp,
chức năng của giao tiếp, các nhân tố giao tiếp,… tác giả cũng đã nêu lên các phương
pháp luyện câu cho học sinh tiểu học theo hướng giao tiếp.
2.2. Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp

Ở nước ta, từ hơn mười năm nay, dạy tiếng Việt theo hướng giao tiếp đã được đặt
ra và được nhiều nhà phương pháp dạy học tiếng Việt quan tâm nghiên cứu cùng đông
đảo GV ủng hộ. Từ những năm 1994-1995, hàng loạt các cuộc Hội thảo đánh giá
2


chương trình Tiểu học đang được thực hiện lúc đó như: Chương trình cải cách giáo
dục, Chương trình thực nghiệm của công nghệ giáo dục,… cùng với sự xuất hiện của
nhiều giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt như “Phương pháp dạy học tiếng
Việt ở tiểu học I, II”, “Dạy ngữ pháp ở Tiểu học” của tác giả Lê Phương Nga hay
“Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học I, II” của tác giả Nguyễn Quang Ninh,…
Những thành tựu đó đã đặt cơ sở lý thuyết và tổng kết kinh nghiệm cho các hoạt động
nghiên cứu, biên soạn sách giáo khoa, đổi mới PPDH tiếng Việt.
Năm 2002-2003, chương trình tiếng Việt năm 2000 được đưa vào giảng dạy ở
bậc Tiểu học trên cả nước. Chương trình đã khẳng định: dạy tiếng Việt ở Tiểu học
nhằm mục tiêu dạy kỹ năng tiếng Việt và rèn luyện năng lực sử dụng tiếng Việt để học
tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa tuổi. Song song đó, tác giả
Nguyễn Trí với “Một số vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp”, tác giả
Lê Thị Thanh Bình và Chu Thị Hà Thanh với “Quan điểm giao tiếp trong dạy học
tiếng Việt ở Tiểu học”, tác giả Nguyễn Thị Xuân Yến với nội dung “Bàn về hệ thống
bài tập dạy học tiếng Việt theo nguyên tắc giao tiếp”, tác giả Phan Thị Ngọc Quỳnh
với “Dạy học “Luyện câu” ở Tiểu học theo định hướng giao tiếp”… đã cụ thể hóa
quan điểm giao tiếp vào quá trình dạy học ở Tiểu học.
Tóm lại, các tài liệu nêu trên đã đề cập khá nhiều đến vấn đề dạy tiếng Việt cho
học sinh theo quan điểm giao tiếp. Nhưng vấn đề dạy “câu ghép theo quan điểm giao
tiếp” chưa được nghiên cứu thành đề tài chuyên sâu và có tính hệ thống. Vì vậy, vấn
đề khóa luận đưa ra là một vấn đề mới, cần được nghiên cứu và thử nghiệm cải tiến
việc tổ chức dạy và học câu ghép ở lớp 5 theo quan điểm giao tiếp một cách thích hợp
nhằm hình thành và rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh ở Tiểu học.
3. Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết những khó khăn của giáo viên và
học sinh trong quá trình dạy và học về câu ghép, góp phần nâng cao chất lượng dạy
học vấn đề về câu ghép tiếng Việt cho học sinh lớp 5 theo quan điểm giao tiếp.

3


4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học về câu ghép tiếng Việt cho học sinh lớp 5 trong phân môn
Luyện từ và câu theo quan điểm giao tiếp.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các phương pháp dạy học và hệ thống bài tập dạy học về câu ghép tiếng Việt cho
học sinh lớp 5 trong phân môn Luyện từ và câu theo quan điểm giao tiếp.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ khảo sát thực trạng và thử nghiệm kết quả dạy học về câu ghép tiếng
Việt cho học sinh lớp 5 theo quan điểm giao tiếp, qua phân môn Luyện từ và câu, tại
trường Tiểu học Đồng Phú trên địa thành phố Đồng Hới.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài đề xuất được cách thức vận dụng các phương pháp dạy học tích cực và
xây dựng được hệ thống bài tập dạy học về câu ghép theo quan điểm giao tiếp, sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học về câu ghép cho học sinh lớp 5.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể
sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
- Tìm hiểu thực trạng về dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5 tại trường Tiểu học
Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Đề xuất cách thức vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc dạy học
câu ghép theo quan điểm giao tiếp ở lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú.

- Đề xuất cách thức xây dựng hệ thống bài tập dạy học về câu ghép cho học sinh
lớp 5 trường Tiểu học Đồng Phú theo quan điểm giao tiếp.

4


7. Giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu các bài học về câu ghép trong sách giáo khoa
lớp 5, các phương pháp, bài tập nâng cao dạy học câu ghép theo quan điểm giao tiếp.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu: Phương pháp này được sử dụng
khi nghiên cứu, phân tích các tài liệu về lý thuyết giao tiếp, các tài liệu về tâm lý lứa
tuổi, đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học, các tài liệu về chương trình, SGK,
phương pháp dạy học, đặc biệt là các tài liệu về việc dạy câu ghép cho học sinh lớp 5
từ quan điểm giao tiếp.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát, điều tra nhằm khảo sát thực trạng, xác lập cơ sở thực
tiễn cho đề tài.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm tổng kết kinh nghiệm đưa ra các
phương pháp nâng cao hiệu quả dạy học về câu ghép cho học sinh lớp 5 theo quan
điểm giao tiếp.
- Phương pháp thử nghiệm sư phạm nhằm chứng minh tính khả thi của các
phương pháp đã đề xuất.
8.3. Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lý các số liệu thu thập được, từ đó có cơ sở rút ra những kết luận phù
hợp.
9. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài góp phần cụ thể hóa lý luận việc dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5 từ
quan điểm giao tiếp. Từ kết quả của đề tài chúng tôi, khẳng định vai trò của quan điểm

giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy câu ghép nói riêng. Đồng thời đưa
ra các phương pháp dạy học tích cực và xây dựng các dạng bài tập nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5. Qua đó, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích
đối với giáo viên, phụ huynh và sinh viên.
5


10. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài.
Chương 2: Một số biện pháp tổ chức dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 Trường
Tiểu học Đồng Phú từ quan điểm giao tiếp.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

6


PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.1.1. Giao tiếp và hoạt động giao tiếp
a. Giao tiếp
Giao tiếp là sự tiếp xúc, trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm,…
giữa các thành viên trong cộng đồng (giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập
thể, giữa tập thể với tập thể).
Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người, là phương tiện cơ bản để hình
thành nhân cách trẻ. Con người sử dụng nhiều phương tiện để giao tiếp nhưng ngôn
ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất.

b. Hoạt động giao tiếp
Mỗi cuộc giao tiếp đều gồm hai hoạt động: hoạt động tạo lập (sản sinh) lời nói (lí
thuyết thông tin gọi là hoạt động truyền tin), hoạt động tiếp nhận (lĩnh hội) lời nói (lí
thuyết thông tin gọi là hoạt động nhận tin).
Mỗi hoạt động lại liên quan đến một số kỹ năng. Hoạt động sản sinh lời nói sử
dụng kỹ năng nói và viết, hoạt động tiếp nhận lời nói sử dụng kỹ năng nghe và đọc.
1.1.1.2. Cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt
Xét theo góc độ ngôn ngữ học, quan điểm giao tiếp có cơ sở xuất phát từ chức
năng xã hội của ngôn ngữ. Nếu coi “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất của loài người” thì việc dạy tiếng Việt trong nhà trường là hình thành và rèn
luyện cho HS một công cụ giao tiếp. Vì vậy, phương pháp dạy học hiệu quả nhất là
dạy học trong giao tiếp.
Từ góc độ lý luận dạy học, quan điểm giao tiếp là sử dụng nguyên tắc lí thuyết
gắn với thực hành của lí luận dạy học đại cương vào lĩnh vực dạy tiếng. Trong dạy học
tiếng Việt, thực hành tức là tiến hành các hoạt động nói, nghe, đọc, viết, là phát triển
7


lời nói cá nhân. Trong dạy học LT&C, đảm bảo nguyên tắc giao tiếp tức làm giàu vốn
từ, nâng cao kĩ năng đặt câu, sử dụng câu đúng, hay, tinh tế trong các tình huống giao
tiếp cho HS.
1.1.1.3. Nội dung quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt
Con người giao tiếp với nhau bằng công cụ quan trọng nhất là ngôn ngữ. Vì thế,
việc dạy tiếng thông qua hoạt động giao tiếp là một trong những nguyên tắc chủ đạo
của việc xây dựng chương trình môn học ở cấp tiểu học. Đây là xu hướng phố biến
trong dạy học ở các nước tiên tiến hiện nay. Khác với xu hướng dạy học theo cấu trúc,
xu hướng này có tác dụng rõ rệt trong việc hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng
sử dụng ngôn ngữ. Dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp giúp thực hiện một cách
nhanh nhất, vững chắc nhất mục tiêu của chương trình tiếng Việt ở tiểu học là "Hình
thành và phát triển ở HS kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và

giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi”.
Với việc thay tên gọi hai phân môn "Từ ngữ", "Ngữ pháp" của chương trình cũ
bằng "LT&C" ở chương trình tiếng Việt mới không chỉ đơn thuần là việc đổi tên mà là
sự phản ánh quan điểm giao tiếp trong dạy học LT&C của chương trình tiếng Việt
mới: dạy học tiếng Việt là dạy thực hành sử dụng ngôn ngữ. (HS biết dùng từ đặt câu
và sử dụng các kiểu câu vào giao tiếp một cách có hiệu quả).
Quan điểm giao tiếp chi phối nội dung chương trình, phương pháp và hình thức
dạy học môn tiếng Việt nói chung cũng như phân môn LT&C nói riêng. Cụ thể là:
* Quan điểm giao tiếp chi phối nội dung dạy học
Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp cần đáp ứng yêu cầu cung cấp kiến
thức về ngôn ngữ và rèn luyện các kĩ năng, sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao
tiếp.
Cách làm là xuất phát từ hệ thống kĩ năng để chọn kiến thức. Trục cơ bản của
chương trình là 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Các kiến thức lí thuyết được lựa chọn
nhằm phục vụ cho việc hình thành và phát triển các kĩ năng đó của HS. Kiến thức về
tiếng Việt cung cấp cho HS ở dạng sơ giản nhưng cần đảm bảo tính hiện đại. Các khái
niệm lí thuyết được biến thành các quy tắc chỉ dẫn HS hành động. Có như vậy quá
8


trình chuyển hóa từ kiến thức thành kĩ năng hoạt động lời nói của HS mới diễn ra dễ
dàng; quá trình hình thành kĩ năng và tiếp thu kiến thức mới đi đôi với nhau giúp HS
hình thành được năng lực giao tiếp.
Việc dạy HS tiểu học giao tiếp bằng tiếng Việt luôn hướng tới hai mục đích:
- Một là giúp HS hiểu được lời nói, bài viết có sẵn, diễn đạt bằng lời và bằng chữ
ý nghĩ của mình theo một yêu cầu đặt ra trước.
- Hai là giúp HS tự hiểu được lời nói, bài viết trong hoàn cảnh giao tiếp bằng
ngôn ngữ (ngữ cảnh) tự nhiên và giúp các em tự diễn đạt bằng lời và bằng chữ ý nghĩ
của mình theo một yêu cầu đặt ra trước.
Ngữ liệu đưa vào giờ LT&C phải là những ngữ liệu sinh động, chân thực, thường

được sử dụng trong hoạt động giao tiếp thường ngày, phù hợp với hoạt động giao tiếp
ở lứa tuổi tiểu học. Không sử dụng những ngữ liệu khô cứng, rập khuôn, xa đời sống
thực của HS.
Ngữ liệu để dạy tiếng Việt không chỉ là những bài có sẵn trong tài liệu học tập
(SGK, vở luyện tập, ...) mà còn bao gồm những lời nói, bài nói, bài viết do HS tạo ra.
Nghĩa là HS không chỉ học đọc, học viết, học nói, học nghe trên các tài liệu học tập do
nhà trường cung cấp mà còn thực hành các kĩ năng trên trong khi các em giao tiếp ở
nhà, ở trường. Thông qua các nội dung phong phú của những ngữ liệu dạy giao tiếp
bằng tiếng Việt sẽ giúp HS ngoài việc đọc, viết, nghe, nói thông thạo, còn tích lũy
được các tri thức thiết thực, không bỡ ngỡ với thực tiễn cuộc sống.
Để tổ chức hoạt động giao tiếp, chúng ta cần tạo ra những môi trường giao tiếp có
chọn lọc, phù hợp với cuộc sống thực thông qua các bài tập rèn kĩ năng mang tính tình
huống, sinh động, hấp dẫn, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên, kích
thích HS hào hứng tham gia, bộc lộ bản thân, từ đó phát triển kĩ năng giao tiếp.
* Quan điểm giao tiếp chi phối phương pháp dạy học
Quán triệt quan điểm giao tiếp, trong dạy học tiếng Việt nói chung và trong dạy
học LT&C nói riêng:

9


- Phải luôn xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đưa
chúng vào các đơn vị lớn hơn, đặt nó trong hoạt động giao tiếp, trong các sản phẩm
giao tiếp.
- Phải xuất phát từ ngữ cảnh giao tiếp, từ ngữ liệu điển hình để quy nạp thành dấu
hiệu khái niệm có tính lý thuyết rồi từ đó vận dụng vào giải quyết các bài tập cụ thể.
- Phải coi trọng việc tổ chức dạy học câu giao tiếp cho HS, coi thực hành giao
tiếp là hoạt động chủ yếu.
Vì vậy, trong dạy học LT&C hay trong tổ chức dạy học câu thì phương pháp dạy
học cần gắn dạy ngôn ngữ với giao tiếp, nghĩa là gắn ngôn ngữ với những yếu tố ngoài

ngôn ngữ như: hoàn cảnh, mục đích, vai, nội dung và các yếu tố như cử chỉ, thái độ,
điệu bộ... trong khi nói. Muốn vậy, GV phải tạo được các tình huống giao tiếp, GV
phải sử dụng phương pháp dạy học theohoạt động ngôn ngữ, tức là dạy cho HS chuyển
từ ngôn ngữ sang lời nói gắn với hoạt động giao tiếp. Trong dạy học câu, GV phải sử
dụng hệ thống bài tập tập hợp được những yêu cầu hoạt động bằng ngôn ngữ và lời nói
cho HS nhằm giúp các em hình thành và rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt.
Với hướng dạy học hoạt động ngôn ngữ, sử dụng phương pháp dạy học này, GV
không chỉ cho HS thực hiện các bài tập theo mẫu có sẵn mà còn hướng dẫn cách
chuyển ngôn ngữ sang lời nói trong hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp cụ thể và
vai giao tiếp phù hợp. Đây là quan điểm dạy học ngôn ngữ, trong hoạt động giao tiếp,
theo nguyên tắc giao tiếp, đưa HS vào các hoạt động nói năng. Thông qua thực hành,
HS tự rèn luyện các kĩ năng sử dụng từ, câu và tự nói ra các tri thức lý thuyết cần thiết
để ý thức hóa quá trình sử dụng từ, câu của mình.
Trên cơ sở đó, GV cần lựa chọn và kết hợp các phương pháp dạy học nhằm đưa
HS vào các hoạt động giao tiếp, phát huy tính tích cực sáng tạo, khả năng độc lập suy
nghĩ của HS như: phương pháp thực hành giao tiếp, phương pháp đóng vai, phương
pháp luyện theo mẫu, phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp dạy học nêu vấn
đề, . . .

10


* Quan điểm giao tiếp chi phối hình thức tổ chức dạy học
Quan điểm giao tiếp chi phối hình thức dạy học trong tất cả các giờ học tiếng
Việt và các môn học khác trong nhà trường. Trong quá trình dạy học, GV nên linh
hoạt áp dụng các hình thức tổ chức dạy học, khuyến khích HS phối hợp giữa học cá
nhân, học theo nhóm nhỏ, học theo lớp, tổ ngoại khóa, câu lạc bộ khoa học, tham gia
hội "Các nhà khoa học trẻ", dạ hội khoa học hay nghệ thuật,…
Các hình thức tổ chức dạy học theo hướng giao tiếp bao gồm: thảo luận (lớp và
nhóm), tham quan, hoạt động ngoại khóa, trò chơi học tập, đóng vai,…

Các hình thức dạy học trên góp phần tăng cường tối đa cơ hội để các HS trong
lớp được làm việc và thể hiện khả năng của mình, phát huy cao tinh thần hiểu biết, học
hỏi và khả năng hợp tác, thi đua giữa các thành viên trong lớp.
Các em mạnh dạn tham gia ý kiến, phát huy được tính chủ động của mình;
khuyến khích những em nhút nhát, những em không dám phát biểu chỗ đông người
cũng có cơ hội nói lên suy nghĩ của mình trong nhóm nhỏ hơn. Qua đó, HS chia sẻ ý
kiến và kinh nghiệm; tạo điều kiện để các em học hỏi lẫn nhau theo quan điểm "Học
thầy không tày học bạn"; hình thành và phát triển cho HS khả năng hợp tác. Bên cạnh
đó, các hình thức dạy học này còn giúp HS củng cố, đào sâu tri thức mới được học,
làm sáng tỏ những điều thắc mắc, GV có cơ hội thu được thông tin phản hồi từ HS
nhiều hơn.
Tóm lại, quá trình dạy học tiếng Việt ở tiểu học cần nghiên cứu hoạt động giao
tiếp bằng ngôn ngữ để làm cơ sở cho việc lựa chọn nội dung, phương pháp và hình
thức dạy học cho đạt hiệu quả cao trong quá trình dạy học tiếng Việt.
1.1.2. Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4-5
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu
học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi
sang hoạt động học tập. Đây là một bước ngoặt lớn trong đời sống của trẻ.

11


1.1.2.1. Đặc điểm nhận thức
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính
không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến
cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện
tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương
hướng rõ ràng - tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công
việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó,...).
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang

màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm
nhận, tri giác tích cực và chính xác.
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành
động.
Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng, khái
quát.
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái
quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở
phần đông học sinh tiểu học.
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm
non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dạn. Tuy nhiên, tưởng
tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
- Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ
thay đổi.
- Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình
ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển
ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ
tranh,.... Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ
bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các
rung động tình cảm của các em.
12


Qua đây, chúng ta phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách
biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em
những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động
tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách
toàn diện.
1.1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu

xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn
thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả
năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông
qua các kênh thông tin khác nhau.
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý
tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát
triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt
khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ
của trẻ.
Xuất phát từ đặc điểm nhận thức và đặc điểm ngôn ngữ của trẻ, chương trình
môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu lớp 5 nói riêng lấy nguyên
tắc dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản.
Tóm lại, việc tìm hiểu chung về các bài học câu ghép, cách vận dụng quan điểm
giáo tiếp trong dạy học và đặc điểm tâm lý học sinh lớp 4-5 là cơ sở vững chắc về mặt
lí luận cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Tổ chức dạy câu ghép cho học
sinh lớp 5 trường tiểu học Đồng Phú từ quan điểm giao tiếp”.
1.1.3. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.3.1. Khái niệm về câu tiếng Việt
Từ trước đến nay có rất nhiều định nghĩa về câu. Ở Việt Nam, hầu hết các nhà
ngôn ngữ học đều dựa vào các định hướng của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới để
định nghĩa về câu. Các định nghĩa này có thể được căn cứ về mặt nội dung của câu,
hoặc căn cứ vào mối liên hệ của câu với hiện thực. Cũng có tác giả định nghĩa câu dựa
13


vào cả hai mặt nội dung và hình thức cấu tạo câu. Có thể kể ra một số định nghĩa sau:
Tác giả Trương Văn Chình lấy mục đích giao tiếp làm cơ sở, ông chọn định nghĩa về
câu do A. Meillet nêu: “Câu là một tổ hợp tiếng dùng để diễn tả một sự tình hay nhiều
sự tình có quan hệ với nhau; tổ hợp ấy tự nó tương đối đầy đủ ý nghĩa và không phụ
huộc về ngữ pháp về một tổ hợp khác” [10, 476]. Tác giả Nguyễn Kim Thản không

đưa ra định nghĩa trực tiếp mà chọn định nghĩa về câu của V.V.Vinogradov: “Câu là
đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo quy luật của một
ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng để cấu tạo, biểu thị tư tưởng. Trong câu
không chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với
hiện thực” [20]. Tác giả Nguyễn Lân thì định nghĩa: ”Nhiều từ mà hợp lại mà biểu thị
một ý nghĩa dứt khoát về động tác, tình hình hoặc tính chất của sự vật gọi là một câu”,
Định nghĩa câu khá dài là của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng
Trọng Phiến: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên
ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn và có kèm
thái độ của người nói hoặc chỉ biểu thị thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu
hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là một đơn vị thông báo nhỏ nhất”.
Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết, “Câu là đơn vị có chức năng thông báo, tức là
biểu hiện một thông điệp. Trong đó, vị ngữ là một nòng cốt, là “xuất phát điểm” của
thông điệp”. Tác giả Đỗ Thị Kim Liên có định nghĩa về câu rất súc tích, đủ cả mặt nội
dung và hình thức cấu tạo, đây cũng là định nghĩa gần gũi với việc dạy các kiểu câu
trong chương trình tiểu học hiện nay mà chúng tôi đưa ra làm cơ sở cho mình khi tìm
hiểu vấn đề về câu: “Câu là một đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được
gắn với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá.
Câu có cấu tạo độc lập, có ngữ điệu kết thúc”[12, 101].Theo định nghĩa này, câu có
các đặc điểm: có chức năng thông báo, thể hiện ở chỗ câu mang nội dung thông tin và
thể hiện thái độ, tác động đến nhận thức người nghe, diễn đạt được ý của người nói.
Cách giải thích này gần gũi với nội dung dạy học về câu của HS tiểu học; câu có cấu
trúc ngữ pháp độc lập, thể hiện ở chỗ câu thường có cấu trúc chủ - vị; câu có ngữ điệu
kết thúc, đó là dấu hiệu giúp HS nhận biết câu về mặt hình thức; câu được gắn với một
ngữ cảnh nhất định, gắn với hoàn cảnh giao tiếp phù hợp. Với phương pháp dạy học
môn tiếng Việt hiện nay: Dạy về câu không chỉ căn cứ các mẫu câu cụ thể mà còn căn
cứ cả về chức năng, tức phương diện giao tiếp, thông qua giao tiếp.
14



1.1.3.2. Quan niệm và cách định nghĩa câu ghép tiếng Việt
Trong Việt ngữ học, có ít nhất là ba quan niệm khác nhau tương đối phổ biến về
câu đơn, câu ghép (hoặc câu đơn, câu phức; câu đơn giản, câu phức hợp):
Một số tác giả quan niệm câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ - vị, câu ghép là câu
chứa hai cụm chủ - vị trở lên. VD:
a/ Trời mưa rất to (câu đơn)
b/ Trời mưa rất to, mọi người đều mang áo mưa. (câu ghép)
c/Vì trời mưa rất to nên mọi người đều mang áo mưa. (câu ghép)
Một số tác giả phân biệt ba loại câu: câu a là câu đơn, câu b là câu phức, còn câu
c là câu ghép.
Đi vào chi tiết, các tác giả còn trình bày nhiều ý kiến khác nhau, VD: Nên dựa
vào cụm chủ - vị hay dựa vào nòng cốt câu để phân biệt câu đơn, câu ghép? Nên hiểu
nòng cốt câu thế nào cho đúng? Những câu như Trời ơi, đội ta thắng rồi! hay Hoa, lá,
cành là câu đơn hay câu ghép?...
Định nghĩa câu ghép trong SGK Tiếng Việt 5 thể hiện quan niệm thứ 2 – một
quan niệm được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về cụm từ được trình bày trong cuốn
Ngữ pháp tiếng Việt, năm 1983 của Viện Ngôn ngữ học và nhiều giáo trình đại học,
nhiều sách nghiên cứu. Để phù hợp với trình độ nhận thức của HS tiểu học, sách định
nghĩa: “Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại. Mỗi vế của câu ghép thường có cấu
tạo giống câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý
của những vế câu khác”

15


1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Nội dung dạy học cụ thể về câu ghép ở lớp 5 hiện nay
Bảng 1.1: Bảng nội dung các bài dạy câu ghép trong sách Tiếng Việt 5, tập hai
Tuần


Chủ điểm

Tên bài

Nội dung
- Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại.

Câu ghép

19

- Mỗi vế câu ghép thường có cấu tạo giống một
câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một
ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu
khác.

Người công
dân

- Có hai cách nối các vế câu trong câu ghép.
Cách nối
các vế câu
ghép

+ Nối bằng những từ ngữ có tác dụng nối.
+ Nối trực tiếp (không dùng từ nối). Trong
trường hợp này, giữa các vế câu cần có dấu
phẩy, dấu chấm phẩy hoặc dấu hai chấm.
- Các vế câu trong câu ghép có thể được nối với
nhau bằng một quan hệ từ hoặc một cặp quan

hệ từ.

20

Người công
dân

- Những quan hệ từ thường được dùng là: và,
Nối các vế
rồi, thì, nhưng, hay, hoặc,…
câu ghép
bằng quan - Những cặp quan hệ từ thường được dùng là:
hệ từ
+ Vì… nên…; do… nên…; nhờ… mà…
+ Nếu… thì…; giá… thì…; hễ… thì…
+ Tuy… nhưng…; mặc dù… nhưng…
+ Chẳng những… mà…; không chỉ… mà…
- Để thể hiện quan hệ nguyên nhân – kết quả

21

Người công
dân

Nối các vế giữa hai vế câu ghép, ta có thể nối chúng bằng:
câu ghép
+ Một quan hệ từ: vì, bởi vì, nên, cho nên…
bằng quan
+ Hoặc một cặp quan hệ từ: vì… nên…; bởi
hệ từ

vì… cho nên…; tại vì… cho nên…; do… nên…;
do… mà…; nhờ… mà….
16


Nối các vế - Để thể hiện quan hệ điều kiện – kết quả, giả
cấu ghép

thuyết – kết quả giữa hai vế câu ghép, ta có thể

bằng quan

nối chúng bằng:

hệ từ

+ Một quan hệ từ: nếu, hễ, giá, thì…
+ Hoặc một cặp quan hệ từ: nếu… thì…; nếu

Vì cuộc
22

như… thì…; hễ… thì…; hễ mà… thì…; giá…

sống thanh

thì…

bình
- Để thể hiện mối quan hệ tương phản giữa hai

Nối các vế vế câu ghép, ta có thể nối chúng bằng:
câu ghép
+ Một quan hệ từ: tuy, dù, mặc dù, nhưng…
bằng quan
+ Hoặc một cặp quan hệ từ: tuy… nhưng…;
hệ từ
mặc dù… nhưng…; dù… nhưng…
Vì cuộc
23

sống thanh
bình

Nối các vế - Để thể hiện quan hệ tăng tiến giữa các vế câu
câu ghép

ghép, ta có thể nối chúng bằng một trong các

bằng quan

cặp quan hệ từ: không những… mà…; chẳng

hệ từ

những… mà…; không chỉ… mà….
- Để thể hiện quan hệ về nghĩa giữa các vế câu,
ngoài quan hệ từ, ta còn có thể nối các vế câu

Vì cuộc
24


sống thanh
bình

Nối các vế ghép bằng một số cặp từ hô ứng như:
câu ghép
+ Vừa… đã…; chưa… đã…; mới… đã…;
bằng cặp
vừa… vừa…; càng… càng…
từ hô ứng
+ Đâu… đấy…; nào… ấy…; sao… vậy…; bao
nhiêu… bấy nhiêu…

17


Chúng tôi tìm hiểu các tiết Luyện từ và câu có bài dạy câu ghép về cả thời lượng,
các dạng bài. Qua đó, chúng tôi nhận thấy: có 8 tiết dạy về câu ghép, cụ thể: khái niệm
câu ghép (tuần 19: 1 tiết); Cách nối các vế câu ghép (tuần 19: 1 tiết); Nối các vế câu
ghép bằng quan hệ từ (tuần 20: 1 tiết; tuần 21: 1 tiết; tuần 22: 2 tiết; tuần 23: 1 tiết);
Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng (tuần 24: 1 tiết).
Khảo sát 8 bài dạy về câu ghép thì cả 8 bài dạy đều là kiểu bài hình thành kiến
thức mới và có ba mục Nhận xét, Ghi nhớ, Luyện tập, mỗi mục chứa một loại câu hỏi,
bài tập tương ứng.
1.2.2. Khái quát một số thông tin về thực trạng dạy học ở trường Tiểu học Đồng
Phú có liên quan đến đề tài
Trường nằm trong địa bàn trung tâm thành phố Đồng Hới, trường luôn nhận được
quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Phòng Giáo Dục và Đào Tạo Thành phố Đồng Hới, sự
chỉ đạo sát sao của các cấp Ủy Đảng, chính quyền địa phương và đặc biệt là sự ủng hộ
nhiệt tình của các cấp đoàn thể và lực lượng cha mẹ học sinh luôn kề vai sát cánh cùng

với nhà trường. Với đội ngũ giáo viên đạt chuẩn của trường luôn nêu cao tinh thần
đoàn kết, nhiệt tình , có kinh nghiệm trong giảng dạy, gắn bó với nhà trường. Có ý
thức tự học, tự bồi dưỡng, trau dồi kiến thức trình độ chuyên môn; đặc biệt luôn là đội
ngũ đi đầu trong việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ
thông tin trong dạy học.
Đội ngũ cán bộ giáo viên giỏi chuyên môn nghiệp vụ, dày dặn kinh nghiệm, có
lòng nhiệt huyết, yêu trẻ mến nghề. Trường có 38 giáo viên, trong đó 100% giáo viên
đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định, đều có năng lực sư phạm tốt. cán bộ và giáo
viên nhà trường luôn học hỏi, cầu tiến, trau dồi, tiếp thu những phương pháp dạy học
mới. Chính nhân tố này đã góp phần tạo nên một môi trường giáo dục tiến bộ. lành
mạnh tạo niềm tin cho cả phụ huynh và học sinh. Bên cạnh đó nhà trường luôn đảm
bảo về điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học được trang bị đầy đủ. Các phòng học
đều kiên cố, được trang bị bàn ghế đúng chuẩn, có bảng chống lóa và tủ đựng thiết bị
đồ dùng được trang trí đẹp mắt, tạo không gian lớp học gần gũi với học sinh. Mang lại
cảm giác thích thú cho học sinh khi đến trường. yếu tố này giúp cho quá trình dạy học
của các giáo viên được thuận lợi hơn và học sinh có hứng thú vào việc học tập, hình
thành ý thức học tập, biết cố gắng phấn đấu trở thành con ngoan ,trò giỏi xứng đáng là
những chủ nhân tương lai của đất nước.
18


×