Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên năm 2017

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (234.94 KB, 21 trang )

PHÒNG GD&ĐT ……………
TRƯỜNG .……….

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CỦA GIÁO VIÊN
Năm học: 2016 - 2017
- Họ và tên: …………………

Giới tính: ……………

- Ngày tháng năm sinh: ………………….
- Chức vụ: ………………………
- Trình độ chuyên môn: ……………………..
Bản thân tôi xin báo cáo về thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của bản
thân năm học 2016-2017 cụ thể như sau:
I. NỘI DUNG 1:
1. Nội dung bồi dưỡng:
- Chỉ thị 3031/CT-BGD&ĐT ngày 26/8/2016 của BGD&ĐT về nhiệm vụ chủ yếu
năm học 2016-2017 của ngành giáo dục;
- Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh việc học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”;
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ; Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày
28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông,
2. Kết quả đạt được:
- Chỉ thị 3031/CT-BGD&ĐT chỉ rỏ năm học 2016 - 2017, ngành Giáo dục đứng
trước những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đòi hỏi toàn ngành phải
quyết tâm, nỗ lực, phấn đấu hơn nữa để thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động
của Chính phủ triển khai Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội


về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016 - 2020, tiếp tục triển
khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của
Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, các Nghị quyết của
Đảng, Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ;
- Chỉ thị 05 về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh” có nhiều điểm mới, với một trong những trọng tâm là học tập và làm theo
phong cách, tác phong Hồ Chí Minh về dân chủ, nêu gương, quần chúng, khoa học, nói đi
đôi với làm…, sẽ tạo động lực mới trong việc đổi mới phong cách, tác phong công tác của
đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp, các ngành trong nhiệm kỳ
mới;
1


- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đòi hơi mỗi người giáo viên phải luôn luôn
phấn đấu, trao đổi học tập nâng cao tay nghề, tích cực thai đổi phương pháp dạy học cho
phù hợp với đối tượng học sinh.
3. Những nội dung bản thân đã vận dụng vào thực tiễn công tác giảng dạy/quản
lý tại đơn vị:
- Chỉ thị 3031/CT-BGD&ĐT ngày 26/8/2016 của BGD&ĐT về nhiệm vụ chủ yếu
năm học 2016-2017 của ngành giáo dục. Theo bản thân tôi quan trong nhất là: nâng cao
chất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở cấp học và trình độ đào tạo, đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học. Đây là 02 nhiệm vụ chủ yếu
để thực hiện trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
- Phải làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền
tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hoá, con người Việt Nam đáp
ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Có nghĩa là, phải làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân nhận thức ngày càng sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh;

4. Tự đánh giá:
Nhận thức sâu sắc trách nhiệm của bản thân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
được giao, đặc biệt là ý thức dạy học tích cực, chủ động và sáng tạo.
- Tự đánh giá: Đạt yêu cầu,
II. NỘI DUNG 2:
1. Nội dung bồi dưỡng:
- Quyết định số 1684/QĐ-UBND của UBND tỉnh Sóc Trăng về ban hành khung kế
hoạch thời gian năm học 2016-2017;
- Hướng dẫn số 1780 của SGD&ĐT Sóc Trăng về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ
giáo dục trung học năm 2016-2017;
- Công văn 977 của UBND huyện Cù Lao Dung về triển khai thực hiện nhiệm vụ
năm học 2016-2017;
- Hướng dẫn số 374/HD-PGD về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học
năm 2016-2017;
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nhằm phát triển năng lực tự học và
sáng tạo cho học sinh.
2. Kết quả đạt được:
- Quyết định số 1684/QĐ-UBND của UBND tỉnh Sóc Trăng về ban hành khung kế
hoạch thời gian năm học 2016-2017, nắm được khung kế hoạch thời gian năm học, phổ
biến rộng rãi cho giao viên áp dụng; vạch ra các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học
phù hợp với khung kế hoạch thời gian năm học;
- Hướng dẫn số 1780 của SGD&ĐT Sóc Trăng về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ
giáo dục trung học năm 2016-2017; Công văn 977 của UBND huyện Cù Lao Dung về
2


triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học 2016-2017; Hướng dẫn số 374/HD-PGD về hướng
dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm 2016-2017. Tập trung thực hiện nhiệm
vụ năm học 2016-2017 tiêu biểu là:
+ Tăng cường nền nếp, kỷ cương và chất lượng, hiệu quả công tác trong các cơ sở

giáo dục trung học.
+ Đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo trong quản lý và tổ chức các hoạt động giáo
dục.
+ Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, nâng cao hiệu quả công tác
quản lý.
+ Tích cực đổi mới nội dung, phương thức tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp
trong trường trung học;
- Vận dụng, khuyến khích giáo viên và học sinh trong đơn vị tích cực ứng dụng công
nghệ thông tin trong quá trình dạy và học. Tăng cường sử dụng các phần mềm quản lí
nhân sự, quản lí tài chính, soạn giảng, … từ đó đẩy mạnh kết quả thực hiện công việc
nhanh hơn.
3. Những nội dung bản thân đã vận dụng vào thực tiễn công tác giảng dạy/quản
lý tại đơn vị:
- Phát huy được tính tích cực của học sinh, năng lực tự học, hợp tác hoạt động
nhóm trong quá trình tổ chức các hoạt động: hoạt động hình thành kiến thức, hoạt động
luyện tập, hoạt động vận dụng, hoạt động tìm tòi mở rộng.
- Biết được các nhiệm vụ chủ yếu trong năm học 2016-2017, áp dụng vào cho bản
thân, tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập, bản thân tiếp tục học tập nâng
cao trình độ chuyên môn, đặc biệt là năng lực ngoại ngữ.
4. Tự đánh giá:
Tự học tốt, vận dụng vào hoạt động tự học và giảng dạy tốt.
- Tự đánh giá: Đạt yêu cầu
III. NỘI DUNG 3:
Qua quá trình thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của cá nhân tôi và vận
dụng những kiến thức, kỹ năng đã học tập bồi dưỡng thường xuyên vào quá trình thực
hiện nhiệm vụ năm học.
Bản thân tôi đã tiếp thu được một số modul ở nội dung 3 như sau:
THCS 1. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học cơ sở (THCS)
* về thể chất:


HS THCS cỏ tuổi đừi tù 11 đến 15 tuổi, tuổi cỏ biến động lớn và cỏ ý nghĩa đặc
biệt cửa đời người với một sổ đặc điểm sau:
- Cơ thể phát triển tuy chưa thật hoàn thiện nhưng các em đã cỏ sức lực khá manh mẽ
(tù xa xưa đã có câu: “gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu").
- Tuổi dậy thì (biểu hiện nam tính và nữ tính).
- Hoạt động giao tiếp là hoạt động chú đạo, trước hết là với HS cùng lứa. Qua đó hình
3


thành tình bạn của tuổi thiếu nìên (tình bạn của HS các lớp đầu cấp thường là tình bạn
cùng giới đến các lớp cuối cáp xuất hiện tình bạn khác giới; còn hoạt động học (họchành) là hoạt động cơ bản.
- Tuổi vị thành niên: HS THCS có độ tuổi từ 11 đến 16, các em không còn là trẻ con
nhưng cũng chưa phải là người lớn, là tuổi thiếu nìên và thanh nìên đã cỏ sự phát triển về
sinh lí và tâm lí, các em thích làm người lớn nhưng chưa ý thúc được đầy đủ, vì thế xã
hội coi các em là vị thành nìên. Trong nền vân hoá của dân ta, từ xa xưa đã cỏ quan niệm
“Con dại cái mang" và người dân thường cư xử với nhau như thế. Thời nay, trong giáo
dục, GV THCS cũng nên cỏ quan niệm và cách úng xử “HS mắc khuyết điểm thì GV
cũng cỏ phần trách nhiệm".
* Về hoạt động tập thể cửa HS THCS:
- Các hoạt động đoàn thể: HS THCS thuộc lứa tuổi thiếu niên, ngoài hoạt động học hành là hoạt động co bản các em còn có các hoạt động khác như sinh hoat Đội Thiếu niên
Tiền phong Hồ chí Minh theo các hình thức: nghi thức Đội, hoạt động văn thể, giao luu
tâm tình chia sẻ giúp đỡ lần nhau trong học tập, sinh hoạt, kể cả những vấn đề tế nhị ờ
tuổi dậy thì, tuổi vị thành nìên, gia cảnh.
Nếu như ờ lứa tuổi HS tiểu học, các em thần tượng thầy giáo, cô giáo của mình, thì lên
cấp THCS do trình độ hiểu biết cao hơn, đặc điểm tâm sinh lí phát triển hơn nên các em
không còn giữ thần tượng như trước mà đã cỏ sự định hướng giá trị sống, những giá trị
mà các em hướng tới, như tình bạn, khả năng cá nhân (muốn thể hiện mình, không còn
“ngoan ngoãn" kiểu trẻ thơ).
- Các hoạt động công ích xã hội: giúp đỡ người khỏ khăn, làm từ thiện, tham gia gìn
giữ, tôn tạo các khu di tích, công viên, nơi sinh hoat công cộng.

Các hoạt động tập thể của HS THCS thường do các em tự tổ chức thực hiện, GV chỉ
hướng dẫn trợ giúp từ khâu xây dụng kế hoạch đến điều kiện triển khai thục hiện, cách
thức thực hiện.
* Về tâm lí:
- Tự coi mình là người lớn nhưng chưa thật trưởng thành, thường vẫn bị người lớn nhìn
nhận là “trẻ con", dẫn đến tình trạng có “rào cản" về sự chia sẻ giữa HS THCS và người
lớn, trước hết là các bậc cha me.
- Tình cảm của HS THCS phát triển phong phú, trước hết là tình bạn cùng trang lứa, các
em nhạy cảm, sẵn sàng cảm thông chia sẻ với bạn và muốn được bạn cảm thông chia sẻ
với mình, điều mà các em còn ít nhận được từ các bậc cha mẹ, GV.
- Nhận thức của HS THCS phát triển khá cao, đáng chú ý là sự phát triển tư duy khoa
học (tư duy lí luận), tính trùu tượng và tính lí luận trong nhận thức.
- Ý chí của HS THCS phát triển khá cao, các em đã cỏ sức mạnh về thể chất và tinh
thần để cỏ thể vượt qua những khó khăn trở ngại trong học tập và trong cuộc sổng.
Điều đáng chú ý trong dạy học và giáo dục HS THCS là độ trưởng thành về nhân
cách và vị thế xã hội của các em. Trong nền vàn hoá của dân tộc ta cỏ câu: “Con dại cái
mang" - được vận dụng coi như là lẽ sổng của người dân trong cách ứng xử với trẻ nhỏ
trong cộng đồng xã hội. Trẻ vị thành niên - HS THCS chưa hoàn thiện về nhân cách, chưa
đú độ chín như một công dân để chịu trách nhiệm hoàn toàn vể hành vi lối sổng của mình
4


nên nhà trường và gia đình vẫn có phần trách nhiệm đổi với các em.
Tự đánh giá: Đạt yêu cầu.
THCS 2. Hoạt động học tập của học sinh THCS
Theo các nhà lâm lí học, HS THCS có hoạt động giao tiếp (giao lưu), trước hết là
với bạn bè cùng trang lứa là hoạt động chủ đạo. Theo nhà tâm lí học A.H. Leônchep thì
hoạt động chủ đạo là hoạt động có một sổ dấu hiệu chính sau đây:
- Hoạt động lần đầu tiên xuất hiện ờ một giai đoạn phát triển của đời người với đúng
nghĩa của nó cả về nội dung và phương thức thực hiện.

- Qua hoạt động này tạo ra cái mới trong tâm lí của HS.
- Trong lòng cửa hoạt động này có mầm móng của hoạt động chủ đạo mới.
Một sổ nhà chuyên môn cho rằng HS THCS có hai hoạt động chủ đạo, đỏ là hoạt
động giao tiếp và hoạt động học tập. Một sổ nhà chuyên môn khác lại coi hoạt động học
tập của HS THCS là hoạt động cơ bản, còn hoat động chủ đạo là hoạt động giao tiếp.
Dù quan niệm có phần khác nhau nhưng các nhà giáo, nhà sư phạm đều cỏ sự định
hướng chung trong hành động. Đó là trách nhiệm đối với HS, luôn vì lợi ích học tập của
các em “Tất cả vì HS thân yêu"; đó là việc tổ chức tổt hoạt động học tập cho HS THCS;
đồng thòi chú ý tổ chức, tạo điều kiện để HS THCS được thực hiện hoạt động giao tiếp
lành mạnh. Đó là đặc điểm của hoạt động dạy học ờ cẩp THCS.
Tự đánh giá: Đạt yêu cầu.
THCS 3. Giáo dục học sinh THCS cá biệt
1. Những yếu tố tích cực và tiêu cực tác động đến học sinh, bạn bè và môi trường sống
- Ảnh hưởng của nhóm bạn
- Ảnh hưởng của gia đình:
- Ảnh hưởng của môi trường sống, các quan hệ xã hội khác
2. Những khó khăn về từng phương diện của học sinh
Những khó khăn về học tập, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình, tâm lí cá nhân, khả năng tự
nhận thức được bản thân, không định hướng được những giá trị đích thực, thiếu hoặc mất
niềm tin vào khả năng và giá trị của bản thân, sự lôi kéo, áp lực của nhóm bạn tự phát,
những thói quen tiêu cực...
3. Những nhu cầu, sở thích, mong muốn, điểm mạnh của từng học sinh cá biệt
HS nói chung và HS cá biệt nói riêng đều có thể có đầy đủ hoặc một số năng lực, vì vậy
nguửi GV cần tìm hiểu và sác định đuợc để tạo điều kiện và hỗ trợ các em phát triển
chứng.
- Năng lực giao tiếp ngôn ngữ
- Năng lực tư duy logic và toán học
- Năng lực tưởng tượng
- Năng lực âm nhạc
- Năng lực nội tâm

- Năng lực quan hệ tương tác, quan hệ xã hội
- Năng lực thể thao vận động
- Năng lực tìm hiểu thiên nhiên
4. Niềm tin, quan niệm của học sinh về các giá trị trong cuộc sống
5


Niềm tin và quan niệm về giá trị trong cuộc sống của mỗi cá nhân có ý nghĩa rất quan
trọng đối với cách ứng xử của người đó đối với những người xung quanh và những hoạt
động khác, vì vậy GV cần tìm hiểu xem HS cá biệt đó có những niềm tin nào? Coi điều gì
là quan trọng đối với bản thân và cuộc sổng?... Khả năng nhận thức, nhu cầu, động cơ học
tập, cách thức HS suy xét
5. Khả năng nhận thức, nhu cầu, động cơ học tập, cách thức HS suy xét
6. Tính cách với những đặc điểm cơ bản, trong đó có coi trọng khám phá
7. Hành vi, thói quen chưa tốt và những nguyên nhân làm cho HS có hành vi lệch lạc để
có kế hoạch hỗ trợ HS cá biệt thay đổi thói quen
Hoạt động 1: Phương pháp thu thập thông tin về học sinh cá biệt
1. Tổ chức cho học sinh biết về những điều có ý nghĩa đối với bản thân và cuộc sống
theo quan niệm các em
Bước 1: Phát cho mỗi GV tờ giấy yêu cầu đặt mình vào vị trí là HS, suy nghĩ để trả lời
các câu hỏi
Bước 2. Tổ chức cho HS xung phong chia sẻ với mọi người trong lớp
Bước 3. Kết luận
- Thông qua tổ chức cho HS thực hành kĩ năng tự nhận thức bản thân, GV có thể nắm
được những thông tin cơ bản về cá tính của tửng HS để giúp GV tiếp cận cá nhân phù
hợp.
- Quá trình suy ngẫm để trả lời câu hỏi trên đã giúp HS nhận ra những điểm mạnh cần
phát huy, những điểm yếu cần khắc phục...
- Kết quả tự nhận thức của HS nên lưu vào hồ sơ cá nhân để GV theo dõi, tạo điều
kiện hỗ trợ giúp đỡ các em tiến bộ.

2. Sắm vai trò chuyện với học sinh cá biệt ngoài giờ học
Bước 1: Chia lớp thành các nhóm từ 5 đến 8 người. Mỗi nhóm đọc những thông tin cơ
bản và phân công hai người sắm vai: một là HS cá biệt và một là GV.
Bước 2: Thực hành trò chuyện với HS cá biệt
3. Các phương pháp thu thập thông tin khác về học sinh cá biệt
a) Quan sát trong quả trình cùng tham gia vào các hoạt động với HS
- Trước khi quan sát, GV cần xác định mục tiêu và các tiêu chí quan sát.
- Trong quá trình quan sát, cần phát hiện và ghi nhận khách quan những thái độ,
hành vi của HS cá biệt đối với công việc, đối với những người xung quanh.
- Sau khi quan sát cần phân tích những hiện tượng thu thập được trong quá trình
quan sát
b) Tìm hiểu về HS thông qua nhóm bạn thân
c) Tìm hiểu về HS thông qua gia đình
d) Tìm hiểu về HS thông qua cán bộ lớp, tổ
e) Tìm hiểu về HS thông qua các bạn ngồi xung quanh trong lớp học
g) Tìm hiểu về HS thông qua GV khác và cán bộ Đoàn
h) Tìm hiểu về HS thông qua hàng xóm
Khi trò chuyện, phỏng vấn gia đình, bạn thân, cán bộ lớp, tổ, ngồi xung quanh trong lớp
học... GV cần:
- Đặt câu hỏi đơn giản, cụ thể, có thể dùng các câu hỏi trục tiếp, hoặc gián tiếp sao
cho phù hợp, nhưng phải liên quan đến mục đích tìm hiểu. Hạn chế dùng những câu hỏi
mà người được hỏi chỉ cần trả lời có hay không.
- Sử dụng nguyên tắc lắng nghe tích cực không chỉ để thu thập đầy đủ thông tin
chính xác, thể hiện thái độ tôn trọng người nói, mà còn để kịp thời phát hiện ra ý cần
6


phải tiếp tục hỏi sâu hơn nhằm khai thác thông tin toàn diện hơn.
- Kết hợp các hình thức giao tiếp: Giao tiếp không chỉ bằng IM mà còn thông qua
ngôn ngữ không lời, đặc biệt là ánh mắt thân thiện, chân thành, khích lệ; tóm tắt và phản

hồi lại ý kiến nghe được để đảm bảo rằng mình đã nghe và cảm nhận chính xác những
điều mà họ đã trao đổi...
Hoạt động 3: Hướng phối hợp xử lí, lưu trữ, khai thác thông tin về từng học sinh
cá biệt
1. Cách thức xử lý: phân tích các thông tin thu được theo hướng kết hợp, đối chiếu, so
sánh thông tin thu được từ các nguồn khác nhau, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá để giữ
lại những thông tin được kiểm chứng từ nhiều nguồn, sau đó tổng hợp, khái quát hoá để
có thể có những nhận định cơ bản về HS đó.
2. Cách lưu giữ kết quả đánh giá để lập hồ sơ từng HS cá biệt
3. Hướng khai thác thông tin về HS
Hoạt động 4: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học sinh cá biệt
1. Chưa có mục đích học tập rõ ràng, chưa nhận thức được trách nhiệm, bổn phận
của bản thân
HS chưa nhận thức được: Học để làm gì? vì cái gì mà học? hoặc chưa biết hài hòa
giữa quyền và bổn phận trách nhiệm của mọi con người trong cuộc sống, do được giáo
dục chưa đầy đủ hoặc chưa đúng cách, hoặc bản thân thiếu tự giác chấp nhận những bổn
phận, trách nhiệm của mình bên cạnh việc được hưởng thụ các quyền lợi trong gia đình,
nhà trường và xã hội. Vì vậy, các em đến trường, đi học như là ý muốn của gia đình, cha
mẹ, mà không nhận thức được đi học là cơ hội để thành công và hạnh phúc sau này, cho
nên các em này thiếu tự giác, thậm chí thiếu trách nhiệm với việc học tập và tu dưỡng.
2. Một số em có niềm tin sai về giá trị của con người và cuộc sống
HS quan niệm chưa hợp lí về giá trị của con người và cuộc sống. Các em này không
tin rằng sự học sẽ đem lại cho con người giá trị và cuộc sống có chất lượng
3. Chán nản
Nhiều HS cảm thấy chán nản về năng lực của mình, mất dần hứng thú, động cơ
học tập, hoạt động. HS tin rằng mình không thể “khá" lên đuợc, đánh giá thấp về bản thân
mình, không vượt qua được khó khăn, kém tự tin.
Phương pháp học tập không hiệu quả cũng có thể là nguyên nhân gây chán nản và mất
động cơ học tập.
4. Rối loạn hành vi xã hội của học sinh cá biệt

- Dửng dưng trước tình cảm của người xung quanh.
- Coi thường các chuẩn mực cũng như các nghĩa vụ xã hội.
- Hung tợn, có thể dùng vũ lực.
- Không cỏ khả năng cảm nhận tội lỗi và không thể rút ra những bài học có ích từ
kinh nghiệm sống
- Biện hộ cho những hành động đi ngược lại chuẩn mực xã hội của mình.
Đối với việc hạn chế các hành vi bạo lực ở HS, ngoài việc dạy tri thức thì sự quan tâm
của GV đến đời sống tinh thần của HS, hiểu đặc điểm tâm lí và tôn trọng cá tính của các
em là rất quan trọng. Nhiều HS do bị điểm kém, cô giáo mắng ngay trên lớp khiến các em
thấy xấu hổ với bạn bè, bị tổn thuơng nghiêm trọng. Nhiều thầy cô dùng hình thức trừng
phạt HS như là biện pháp giáo dục nhằm mục đích để HS vâng lời.
Các nhà giáo dục học và tâm lí học thế giới đã đúc kết: lứa tuổi THCS là tư duy hai
7


bước: ghi nhận và phân tích đúng sai, các em đã phát triển tốt hơn về tư duy suy luận, cá
tính bộc lộ rõ hơn, cùng với xu hướng tự khẳng định mình ngày càng nõ nét. Do đó, lúc
này quá trình giáo dục thành công chính là làm sao để các em tự giáo dục, tự nhận thức và
rút ra bài học cho bản thân, vì vậy trước hết cần để HS phải tự chịu trách nhiệm về mọi
hành vi của mình.
Hoạt động 5: Tìm hiểu cách thức giáo dục học sinh cá biệt
1.Giáo viên cần phải tiếp cận cá nhân và xây dựng quan hệ tin cậy, tôn
trọng, thân thiện với học sinh cá biệt
- Thể hiện sự hiểu biết, thông cảm và chấp nhận.
- Tập trung vào điểm mạnh của trẻ.
- Tìm điểm tích cực và nhìn nhận tình huống theo cách khác tích cực hơn.
- Tập trung vào những điểm cố gắng, tiến bộ của trẻ.
HS cần cảm thấy được khích lệ để có tự tin và có động cơ hoạt động. GVCN tiếp cận tích
cực thì sẽ khơi dậy được nhu cầu muốn khẳng định khả năng và giá trị của bản thân,
muốn hoàn thiện nhân cách.

Muốn thay đổi hành vi của HS một cách hiệu quả, GV cần có sự hợp tác của HS,
do đó GV cần chủ động tiếp xúc với HS để nắm bắt về điều kiện và hoàn cảnh, tâm tư,
sức khỏe... của HS; động viên, an ủi giúp cho các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn
hoặc ốm đau, bệnh tật cố gắng yên tâm học tập và biết vượt khó, vươn lên.
2.Giúp học sinh biẽt nhận thức đúng về điểm mạnh và điểm yếu của bản thân
- Nhận thức được những giá trị đối với bản thân
- Tự tin về gía trị và những điểm mạnh của mình để làm điểm tựa cho những hành
vi và ứng xử một cách tích cực
3.Giúp học sinh nhận thức được hậu qủa của những hành vi tiêu cực và tất
yếu phải thay đổi thói quen, hành vi cũ
- GV kết hợp với tập thể lớp giúp HS dần nhận thức được những hành động, cản trở sụ
phát triển chung.
- GV và tập thể HS cần hỗ trợ các em trong quá trình thay đổi hành vi. Đây là quá trình
khó khăn đòi hỏi sự kiên trì của HS cá biệt và sự khuyến khích, hỗ trợ của GV, gia đình,
bạn bè.
4. Giáo viên cần phải quan tâm hổ trợ các em vượt qua những khó khăn và đáp ứng
nhu cầu chính đáng của học sinh cá biệt
Tổ chức cho lớp quan tâm, giúp đỡ HS cá biệt khi gặp khó khăn; phụ đạo bồi
dưỡng thêm để các em có được những kiến thức, kĩ năng cơ bản, vận dụng phưong pháp
tự học bộ môn.
Để đáp úng nhu cầu cho HS, GV cần lưu ý:
- Thái độ hành vi của GV để HS thấy được an toàn
- Thái độ hành vi của GV để HS thấy được yêu thương
- Thái độ, hành vi của GV để HS thấy được hiểu, thông cảm
- Thái độ hành vi của GV để HS thấy được tôn trọng
-Thái độ hành vi của GV để HS thấy có giá trị
4. Động viên, khích lệ, tạo động lực cho học sinh cá biệt tạo động lực học tập
và hoàn thiện nhân cách cho học sinh
- Trong từng giờ học người GV cần chú ý khai thác những trải nghiệm của HS trong
quá trình kiến tạo tri thức mới, tạo nên sự hấp dẫn của nội dung tri thúc, quá trình học lập

và những phương pháp tìm ra tri thúc, quan tâm truyền cảm hứng, sự đam mê kích thích
hứng thú học hành cho HS.
8


- Cần làm cho HS hiểu rõ bổn phận và trách nhiệm của mình trước gia đình và xã hội
để tự giác học tập
- Giáo dục mục đích học tập đứng đắn, học để nâng cao hiểu biết, có phuơng pháp làm
việc khoa học, có chất lượng cuộc sống sau này
- Cần tôn trọng các em làm cho các em thấy rằng mình có nhiều điểm mạnh, có giá trị
cần phải nổ lực khai thác, phát huy những điểm mạnh đồng thời khắc phục những điểm
yếu và thói quen chua tốt
- Giúp HS nhận thấy mình có giá trị, có khả năng, mọi người yêu quý, tôn trọng và tin
tưởng mình sẽ thay đổi.
- Việc cổ vũ hay thưởng cho HS khi có những hành động tốt, có sự thay đổi theo chiều
hướng tốt được xem là củng cố tích cực.
5. Tránh sử dụng củng cố tiêu cực
GV cảm thấy căng thẳng và bất lực khi có những HS hư, gây rối trong lớp. Nếu người
lớn trừng phạt thì không những không mang lại hiệu quả mà còn hại cho HS, làm HS lo
âu và hạn chế tiến trình học tập và phát triển của bản thân.. Muốn thay đổi hành vi của
HS một cách hiệu quả, người lớn cần có sự hợp tác của HS. HS cần cảm thấy được khích
lệ để có tự tin và động cơ hoạt động.
6. Sử dụng hệ quả tự nhiên và hệ quả logic
Mục đích chủ yếu của việc sử dụng hệ quả tự nhiên và hệ quả logic dạy cho HS có ý
thức trách nhiệm về các hành vi của chính minh, khích lệ HS đưa ra những quyết định có
trách nhiệm, do đó cách làm này có thể thay thế cho trừng phạt
7. Lập kế hoạch phát triển cá nhân, khơi dậy hoài bão và ý thức tự giáo dục của học
sinh
Kế hoạch giáo dục cá nhân sẽ đưa đến tiếp cận đúng đắn, phù hợp trong việc đánh giá
kết quả giáo dục, dạy học HS nói chung và những HS đặc biệt nói riêng.Tuy nhiên, xây

dựng bản kế hoạch giáo dục cá nhân là việc làm mới và không ít khó khăn. Để tiến hành
giáo dục HS có hiệu quả cần phải xây dựng và thực hiện một cách nghiêm túc, theo các
mục tiêu và kế hoạch đã định.
8. Áp dụng biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực đối với cả tập thể lớp và học sinh cá
biệt
- Tước bỏ hoạt động yêu thích cho đến khi khắc phục được lỗi
- Tạm dừng việc học tập để HS tự kiểm điểm bản thân với mục đích để giúp H s thoát
ra khỏi trạng thái căng thẳng không thể kiềm chế bản thân và tạo điều kiện cho HS bình
tĩnh trở lại.
- Yêu cầu viết báo cáo hàng ngày với mục đích là để HS nhận biết được những lỗi
thường xuyên mắc phải và tạo cho các em cơ hội điều chỉnh.
9. Thiết lập mối quan hệ thân thiện, gần gũi, chặt chẽ giữa GV với cha mẹ HS
thường xuyên
Làm tốt công tác tư vấn kịp thời về PPGD HS cho cha mẹ HS, vận động cha mẹ HS
cùng tham gia các hoạt động chung của lớp, của trường để cha mẹ HS hiểu thêm về các
hoạt động học tập của con em khi ở trường từ đó phối hợp quản lí giáo dục HS hiệu quả.
Hoạt động 6: Phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh cá biệt
a. Đánh giá hành vi không đồng nhất với đánh giá nhân cách
-Nếu HS cá biệt thực hiện hành vi không mong đợi nào đó thì GV chỉ đánh giá
hành vi đó, mà không quy kết hành vi đó thành nét nhân cách của HS.
-Đánh giá đứng không chỉ giúp các em nhìn nhận đứng bản thân với những điểm
mạnh cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục, mà còn tạo động lực cho HS nổ lực
9


rèn luyện tu dưỡng
b. Đánh giá sự tiến bộ của chính học sinh cá biệt theo quá trình
-Đánh giá sự tiến bộ của HS so với chính bản thân trong mối quan hệ với khả
năng, sự nổ lực của các em. Đồng thời, cần xác nhận mức độ cụ thể đạt được kết quả giáo
dục của từng em và điều chỉnh quá trình giáo dục để nâng cao hiệu quả.

c. Đánh giá cuối cùng: Khi các em thực sự đã tiến bộ
PHẦN VẬN DỤNG
Câu 1: Những nguyên nhân dẫn đến HS cá biệt có những hành vi lệch lạc ở trường
THCS?
Từ thực tiễn của nhà trường, hiện nay HS cá biệt, chưa ngoan không phải là phổ biến
nhưng ở trường nào cũng chịu ảnh hưởng bởi đối tượng học sinh này đối với phong trào
chung của lớp, chúng gây ảnh hưởng thường xuyên đến kết quả thi đua của bạn bè toàn
lớp. Nhìn chung những biểu hiện của các em là chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình
– nhà trường – xã hội. Bên cạnh còn có nhiều nguyên nhân khác gây ra:
*Nguyên nhân dẫn đến học sinh cá biệt:
- Các em đi học do gia đình ép buộc.
- Do tác động của xã hội, bị bè bạn không tốt lôi kéo. Sự kích động của phim ảnh,
các trò trơi bạo lực từ game.
- Chưa có sự quan tâm của cha mẹ đến việc học của con cái. Do gia đình khá giả,
chỉ biết cung cấp tiền cho con mà không quan tâm đến kết quả học tập của con mình, dẫn
đến tính ỷ lại.
- Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải làm thêm giúp gia đình nên thường xuyên
bỏ học, học lực sa sút.
- Do cho mẹ ly hôn, dẫn đến buồn chán.
- Do lớp học có quá nhiều học sinh yếu, kém…
Bên cạnh cũng có thể một số nguyên nhân xuất phát từ giáo viên như:
*Đối với giáo viên bộ môn:
- Do học yếu kém nên giáo viên bộ môn phân biệt trong cư xử.
- Thường xuyên gọi trả bài.
- Cho nhiều điểm kém. So sánh giữa học sinh này với học sinh khác.
- Hăm dọa sẽ ở lại lớp … làm cho học sinh mất đi niềm tin dẫn đến bi oan, chán
chường, không muốn học những môn đó…
*Đối với giáo viên chủ nhiệm:
-Trong quá trình giáo dục học sinh cá biệt còn sử dụng tùy tiện các phương pháp
không phù hợp và chưa khoa học.

- Xử lý học sinh trong lớp không công bằng, không đến nơi, đến chốn.
- Không xây dựng được quy định riêng cho lớp.
- Chỉ nhắc nhỡ mà không có biện pháp cưỡng chế.
- Học sinh vi phạm lỗi nhẹ cũng mời phụ huynh. Chưa kết hợp với phụ huynh,
chưa thông báo kịp thời với phụ huynh.
- Có thái độ kỳ thị đối với học sinh yếu, kém (cá biệt). Phạt học sinh vi phạm quá
nặng.
- Không thường xuyên theo dõi lớp mà chỉ giao cho lớp trưởng quản lý.
- Bầu Ban cán sự lớp không đủ năng lực. Chỉ nói mà không thực hiện…
*Đối với học sinh cá biệt thường có các biểu hiện sau:
- Bỏ học, cúp tiết, thường đi học trễ. Đi học về nhà không đúng giờ.
10


- Không đồng phục, phù hiệu. Thường nói dối. Đầu tóc, tác phong. Mê chơi game,
lôi kéo, rủ rê bè bạn
- Mất trật tự trong giờ học. Không chú ý nghe thầy cô giảng dạy.
- Thiếu văn hóa (nói tục, chửi thề), đùa giỡn, chọc ghẹo người khác quá mức.
- Sách vỡ không đầy đủ, thường xuyên không chép bài. Không giữ vệ sinh trường
lớp
Câu 2: Hãy nêu vai trò của GVCN đối với công tác tổ chức lớp và những giải pháp
cụ thể để giáo dục HS cá biệt?
Trong công tác chủ nhiệm, nếu làm đúng vai trò trách nhiệm thì người thầy phải bỏ ra
nhiều thời gian, rất vất cả trong việc theo dõi, quản lý lớp. Do đó người giáo viên muốn
làm tốt công tác của mình trước hết phải làm tốt công tác tổ chức lớp, thực hiện một số
công việc sau:
1. Tổ chức
*Xếp chỗ ngồi: GVCN phải xem trước học bạ của từng học sinh trong năm học trước để
nắm được học lực, hạnh kiểm của từng học sinh. Khi sắp chỗ ngồi nên chia đều những
học sinh có học lực khá, giỏi ngồi xen lẫn với những học sinh có học lực trung bình.

*Bầu Ban cán sự (BCS) lớp: Khi GVCN đã nắm được học lực, hạnh kiểm của học sinh sẽ
lựa chọn những học sinh có đủ phẩm chất đạo đức để bầu làm lớp trưởng, các lớp phó và
các tổ trưởng, tổ phó.
*GVCN xây dựng nội quy lớp:
Ngoài việc GVCN phổ biến cho học sinh biết về Nội quy nhà trường bắt buộc học sinh
phải thực hiện bên cạnh GVCN cần xây dựng Nội quy riêng cho lớp để các em thực hiện.
*GVCN khảo sát học sinh:
GVCN tiến hành khảo sát để nắm được những thông tin có liên quan đến hoàn cảnh, đời
sống gia đình của các em. Qua đó giúp GVCN biết được hoàn cảnh từng đối tượng học
sinh, trong số đó dễ dàng nhận ra được những học sinh sẽ rơi vào trường hợp học sinh cá
biệt để kịp thời ngăn chặn, uốn nắn, biết được những học sinh nào có hoàn cảnh khó khăn
dẫn đến nguy cơ bỏ học cao để báo lên Hội khuyến học nhà trường kịp thời giúp đỡ.
2. Tiếp xúc với cha mẹ học sinh
Trong cuộc họp cha mẹ học sinh đầu năm GVCN phải cố gắng nắm được số điện thoại
liên lạc của gia đình, đây là điều kiện thuận lợi giúp GVCN trao đổi gián tiếp với cha mẹ
học sinh khi cần thiết. Ngoài ra GVCN cần phải tiếp xúc riêng để trao đổi thông tin với
cha mẹ của những học sinh cá biệt. Mối quan hệ có tác động hai chiều này nhằm hạn chế
bớt mặc cảm, tự ti ở các em, giúp các em giảm bớt tâm lý lo sợ khi tiếp xúc với GVCN.
3. Tìm hiểu mối quan hệ bè bạn của học sinh
GVCN tìm hiểu thông qua lớp trưởng, các học sinh khác trong lớp, thông qua phiếu
khảo sát…. GVCN có thể giáo dục các em bằng cách nêu gương, điểm hình giúp các em
tự nhận thấy những khuyết điểm của mình để từng bước sửa chữa. GVCN nên gặp riêng
từng học sinh để trao đổi, giải thích cho các em hiểu những sai trái của mình để các em có
hướng khắc phục, không nên làm các em cảm thấy mặc cảm trước lớp.
4. Tạo sự gần gũi, quan tâm với học sinh
Tạo mối quan hệ gần gũi là thể hiện sự quan tâm đối với các em, nhưng người thầy vẫn
luôn giữ chuẩn mực, nghiêm khắc. Tiếp xúc tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em,
nhằm để động viên, khích lệ tạo cho các em có được chỗ dựa tinh thần vững chắc.
5. Công tác phối hợp.
GVCN cần phải biết phối hợp kịp thời, linh hoạt với các bộ phận trong nhà trường: Tổ tự

quản, giáo viên bộ môn để có hướng bồi dưỡng, rèn luyện thêm cho các em về kiến thức.
11


6. Giao nhiệm vụ cho học sinh:
GVCN nên tạo cho các em một cơ hội để các em thấy được vai trò của mình trong tập
thể, đồng thời phát huy tính làm chủ của các em và nhận thấy rằng mình không bị lạc
lỏng, không bị bỏ rơi. Như tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, tham gia các trò
chơi dân gian, các hoạt động thể thao, tham gia làm báo tường, cắm trại nhân các ngày lễ
hội của trường tổ chức…Khi hoàn thành nhiệm vụ GVCN phải đánh giá kết quả bằng
cách nêu gương trước tập thể lớp
7. Rèn luyện học sinh tính trung thực
Phải rèn luyện cho học sinh tính trung thực, tự lập, vượt qua mọi khó khăn thử thách,
không nên ỷ lại.
8. Sinh hoạt chủ nhiệm
Trong buổi sinh hoạt cuối tuần, GVCN đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn các em từng
bước tiến hành. Sau đó GVCN sẽ là người kết luận cuối cùng. Đối với những trường hợp
vi phạm cho các em tự báo cáo về mình dựa theo nội quy của lớp. Sau đó lớp trưởng nhận
xét xem còn ai chưa báo cáo, hoặc báo cáo không chính xác để GVCN xử lý. Ngoài việc
xử lý học sinh vi phạm, GVCN cần phải có hình thức biểu dương, khen thưởng. Đây là
hình thức rất có ý nghĩa, học sinh cá biệt thông thường vốn khó tính, khó dạy nếu GVCN
thiên vị lập tức sẽ có sự phản ứng ngược lại. Mỗi khi học sinh cá biệt làm được một việc
tốt, đạt điểm tốt thì phải động viên khuyến khích các em nên tiếp tục phát huy. Nếu các
em sai phạm thì cứ nhẹ nhàng xử lý như những học sinh khác, tránh nóng vội, kỳ thị để
các em tự nhận lỗi và sửa chữa.
Câu 3: Bằng kinh nghiệm thực tiễn trong công tác giáo dục, hãy đề xuất một số
biện pháp giáo dục học sinh cá biệt?
Trường học đạt được các danh hiệu thi đua "Tiên tiến", "Xuất sắc" là nhờ vào sự cố
gắng, nỗ lực của Thầy và trò. Giáo viên dạy giỏi là nhờ chúng ta có được những học sinh
giỏi. Nhưng giáo viên dạy giỏi chưa chắc học sinh của mình giỏi hết được. Vì sao? Vì bên

cạnh những học sinh ngoan, học giỏi còn có những học sinh không chịu học, không ham
học làm ảnh hưởng thi đua của trường, của lớp - đó là những học sinh cá biệt
Học sinh cá biệt: là những học sinh thường có sự bất thường về tính cách, không có
động cơ học tập, tâm lý không ổn định. Chẳng hạn khi ở lớp học đang yên lặng làm bài
tập thì em đó bỗng la lớn lên khi làm bài được, thích học thì học, không thích thì đùa
giỡn, quậy phá các bạn kế bên, chọc cho bạn giỡn, nói chuyện với mình, tâm trạng thì
"mưa nắng thất thường" hoặc thầy cô đang giảng về vấn đề này lại hỏi vấn đề khác. Vì
vậy ta phải giáo dục học sinh cá biệt này ra sao? Phải có những biện pháp như thế nào để
giáo dục được những học sinh cá biệt này
Thứ nhất: Chúng ta nên tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh đó như là: thu nhập hàng
ngày của gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình như thế nào? Có êm ấm
hạnh phúc hay không? Có nhiều thành kiến gây ra xào xáo bất đồng... mục đích là để hiểu
rõ học sinh này.
Thứ hai: Nên xử lý mềm mỏng, thậm chí dịu ngọt đối với học sinh cá biệt này, nếu
không sẽ không có hiệu quả, có khi gặp phản ứng không tốt ngược trở lại về phía học
sinh. Tuy nhiên cũng có đôi lúc ta cũng phải cứng rắn: chẳng hạn trong vấn đề xử phạt
"mềm nắn, rắn buông".
Thứ ba: Giáo viên nên thường xuyên trò chuyện, quan tâm, gần gũi, nhắc nhở, động
viên học sinh học tập, có thái độ thân thiện với học sinh. Tạo cho học sinh nhìn mình là
cảm thấy gần gũi, chứ không phải gặp mình là sợ la, sợ bị mắng. Như vậy học sinh sẽ có
tâm lý bất cần " Thầy cô kệ thầy cô, ta là ta". Ta phải làm sao tạo cho học sinh có cảm
12


giác là giáo viên như là một người bạn thân, bạn tâm tình, sẵn sàng lắng nghe ý kiến của
mình, khi mình vui, buồn đều có thể chia sẻ với thầy cô, khích lệ mình khi mình khó khăn
trong gia đình, bế tắc trong học tập.
Thứ tư: Giáo viên cần hướng dẫn cụ thể những việc mà học sinh hỏi, tránh để học sinh
cảm thấy mình lạc lỏng, cảm giác vì mình học dở nên không ai quan tâm, ai cũng khi dễ
mình, không ai thèm chơi, để ý đến mình.

Thứ năm: Giáo dục từng bước, chậm rãi từ những công việc nhỏ. Chẳng hạn phải thức
sớm một chút để không phải đi trễ, mình học yếu thì nên chịu khó, siêng làm bài tập hơn
các bạn, khi nào làm bài tập, học sinh mệt thì nên giải lao để tinh thần thoải mái rồi làm
tiếp, không nên cố gắng quá sức. Giáo viên không nên giáo dục ào ạt chưa hỏi han lý do
gì hết mà đã la mắng học sinh cho dù học sinh đó vi phạm nhẹ, như vậy sẽ mất hiệu quả
giáo dục. Bởi vì đấy là những học sinh cá biệt, tính tình ương ngạnh, tâm lý bất cần, học
hay không đối với bản thân học sinh không quan trọng mà học sinh vào lớp là chỉ được
"lãnh lương" hàng ngày, không phải làm những việc nặng nhọc bằng tay chân ở nhà.
Thứ sáu: Chúng ta phải tác động vào động cơ học tập, để các em này thấy rõ tầm quan
trọng của việc học. Có thể đưa ra một số tranh ảnh về nạn thất học - chỉ mới mấy tuổi đầu
không được đến trường, phải làm những việc nặng nhọc của người lớn rồi lại bị bạn bè
khinh thường, xa lánh, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Ngược lại những em có học
thì làm việc thuận lợi dễ dàng, càng ngày càng tiến thân, bạn bè ngưỡng mộ phải trầm trồ
khen ngợi, cha mẹ được nở mày, nở mặt.
Câu 4: Vì sao cần tiếp cận cá nhân và khích lệ học sinh cá biệt? Nhớ lại 10 câu nói
không khích lệ mà bạn hay đồng nghiệp thường sử dụng và thay bằng 10 câu nói có
tính khích lệ học sinh?
Là người giáo viên chúng ta mong muốn các em hiểu được, và nhận ra những giá trị
xung quanh các em để các em có niềm vui thật sự ý nghĩa. Và để làm được điều đó, thì sự
cần thiết tiếp cận cá nhân các em và khích lệ các em là một việc làm trước hết
*Vài câu nói có tính khích lệ học sinh
1- “Triết gia Socrate là bậc thầy vĩ đại đã khẳng định rằng: tất cả mọi người là thông
minh như nhau nhưng sự thông minh ấy ở trạng thái ngái ngủ, và cô là một giáo viên có
nhiệm vụ đánh thức trạng thái ngái ngủ đó. Vì vậy cô tin là em sẽ làm được)”
2- “1 điểm thầy xem đây là bước tiến bộ của em, thầy tin là em sẽ tiến bộ. Hãy có niềm
tin”
3- “Em là học sinh lưu ban học lại, nhưng em có năng lực, hãy phát huy và phấn đấu đạt
loại khá năm nay”
4- “Hãy chấp nhận sự yếu kém của chính mình, và hãy học để mình được sáng suốt hơn,
thông minh hơn, như vậy em sẽ tiến bộ”

5- Lời khuyên đầu tiên cho hầu hết các em học sinh sau lần kiểm tra thứ nhất: “Hãy tự
ngẫm nghĩ xem mình ước mơ gì? Và hãy học vì điều đó”
“Hãy nghĩ đến những người yêu thương chúng ta, và hãy học vì họ”
“Dạo này chúng ta hơi lơ là, chúng ta cần nghiêm túc và tốt trở lại”
“Chúng ta mỗi ngày mỗi lớn, mà khi ta lớn ta chỉ có thể trở nên tốt hơn mà thôi. Vì
vậy hãy trở nên tốt hơn
Câu 5: Hãy nêu một số tình huống thường gặp trong công tác chủ nhiệm của cấp
THCS. Phân tích và giải quyết một tình huống sư phạm trong số các tình huống đã
nêu trên?
Tình huống 1: Trong một buổi sinh hoạt chủ nhiệm lớp, em Nam sử dụng điện thoại di
động bị giáo viên phát hiện và yêu cầu em giao nộp điện thoại vì em Nam làm sai với quy
13


định lớp học. Em Nam tỏ ý không vâng theo lời giáo viên. Trong tình huống này giáo viên
xử lý như thế nào?
Tình huống 2: Trong năm học 2014- 2015, Thầy A được phân công chủ nhiệm lớp 9,
lớp có nhiều học sinh yếu kém và cá biệt, đa phần các em ít tập trung trong giờ học, hay
nói chuyện và mất trật tự khiến các giáo viên bộ môn rất phiền lòng. Sau mỗi tiết dạy các
giáo viên bộ môn thường thông báo cho thầy chủ nhiệm biết về tình hình lớp. Hỏi: nếu
bạn là giáo viên chủ nhiệm bạn sẽ xử lý việc này như thế nào?
Tình huống 3: Vào đầu năm học 2014-2015 sau khi nhận chủ nhiệm lớp 9 và bầu chọn
ban cán sự lớp hoạt động được gần một tháng. Vào tuần thứ 3, bạn lớp trưởng đã xin thầy
chủ nhiệm từ chức với lý do chưa đủ khả năng, và nước mắt đằm đìa. Sau khi tìm hiểu
thầy chủ nhiệm biết rằng giữa lớp trưởng và các bạn trong lớp chưa hiểu nhau và tỏ ý
không thích vì lớp trưởng học không giỏi bằng các bạn khác. Theo bạn là giáo viên chủ
nhiệm bạn sẽ giải quyết như thế nào?
Giải quyết tình huống 3:
- Trước tiên làm cho bầu không khí giữa lớp trưởng và các bạn bớt căng thẳng bằng
cách: kể cho các em nghe về câu chuyện “vị thánh nhân”- nội dung câu chuyện nói về

một người từng phạm sai lầm nhưng chịu sữa đổi và cuối cùng ông ta trở thành vị thánh
nhân, sau đó cho cả lớp ghi vào sổ tay “bạn sai hãy chờ bạn sửa sai, nếu mình sai hãy tha
thứ cho chính mình để mình tốt trở lại”. Bầu không khí lớp trở nên lắng dịu, các em như
hòa nhau, các bạn có vẻ thương lớp trưởng và kế bên có bạn đang an ủi để lớp trưởng thôi
khóc.
- Tiếp theo giáo viên nhận định chắc chắn với lớp rằng “lớp trưởng vẫn là lớp trưởng
chúng ta hãy cùng nhau phấn đấu với lớp trưởng để lớp mình ngày một tốt hơn”. Xong
rồi, nếu các em không có ý kiến gì chúng ta sẽ lên kế hoạch cho tuần tiếp theo. Cuối buổi
lớp trưởng ở lại gặp thầy, các em khác có thể ra về.
- Giáo viên ở lại tâm sự và nở nụ cười khích lệ “em hãy cố lên, em có thể làm được vì
chúng ta chưa quen việc đó thôi, cố lên em nhe, lớp trưởng! nào về nhà thôi”.
Tự đánh giá: Đạt yêu cầu.
THCS 4. Phương pháp và kĩ thuật thu thập, xử lí thông tin về môi trường giáo
dục THCS
1. Khái quát về môi trường giáo dục:
1.1. Khái niệm môi trường.
- Môi trường là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và xã hội hiện hữu ảnh hưởng lớn đến
đời sống và nhân cách con người. Môi trường bao quanh con người gồm môi trường tự
nhiên và môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên gồm khí hậu, đất nước, sinh thái... và
môi trường xã hội là các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hoá...
1.2. Khái niệm môi trường giáo dục:
- Môi trường giáo dục THCS là hệ thống các điều kiện, hoàn cảnh, các yếu tố bên
ngoài và bên trong có ảnh hưởng trực tiếp tới sự hình thành và phát triển nhân cách học
sinh THCS.
14


Môi trường giáo dục có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân
cách cho học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng. Trong quá trình giáo dục, muốn
tạo được những tác động tích cực từ môi trường đến việc học tập và rèn luyện đạo đức

cho học sinh thi điều kiện tìên quyết đòi hỏi mọi giáo viên cần có những hiểu biết và có kĩ
năng sử dụng các phương pháp, kĩ thuật thu thập, xứ lí thông tin về môi trường giáo dục.
Module THCS 4 được xây dụng nhằm giúp giáo viên từ các trường THCS có thể đáp ứng
được những yêu cầu đó trong công tác giáo dục học sinh.
1.3. Vai trò của môi trường giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách của học sinh Trung học cơ sở.
- Khi nói tới vai trò của môi trường giáo dụcTHCS đối với sự hình thành và phát
triển nhân cách học sinh ở cấp học này chủ yếu là muốn nói tới môi trường xã hội.
- Môi trường xã hội đuợc phân thành môi trường lớn và môi trường nhỏ:
+ Môi trường lớn (môi trường vĩ mô), đuợc đặc trưng bởi các yếu tổ như: chính trị,
kinh tế, các quan hệ sản xuất.
+ Môi trường nhỏ (môi trường vĩ mô): là một bộ phận của môi trường lớn, trực
tiếp bao quanh học sinh THCS như: gia đình, họ hàng, làng xóm, nhà trường, bạn bè...
- Tác động của môi trường đối với sự phát triển của cá nhân là vô cùng mạnh mẽ
và phức tạp, có thể rất tốt hoặc rất xấu, có thể cùng chiều hay ngược chiều, chủ yếu là con
đường tự phát. Nó có mức độ ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực như thế nào, có được chấp
nhận hay không trong quá trình phát triển nhân cách tùy thuộc phần lớn vào trình độ được
giáo dục, đó là ý thức, niềm tin, quan điểm, ý chí và xu hướng, năng lực hoạt động, giao
lưu góp phần cải biến môi trường của cá nhân. Chính vì vậy, C. Mác đã khẳng định: Hoàn
cảnh sáng tạo ra con người, trong một mức độ con người lại sáng tạo ra hoàn cảnh.
Con người luôn luôn là một chủ thể cỏ ý thức, tùy theo lứa tuổi và trình độ được
giáo dục chứ không hoàn toàn bị động bởi những tác động xấu của môi trường làm biến
đổi nhân cách tốt đẹp của mình. Ca dao, tục ngữ cũng đã từng ngợi ca về những con
người có khi phải sống trong một môi trường, hoàn cảnh thấp kém nhưng phẩm chất,
15


nhân cách vẫn không hề hoen ố: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".
1.4. Vai trò của môi trường giáo dục đối với việc học tập, rèn luyện của học
sinh Trung học cơ sở.

- Gia đình là môi trường sống đầu tiên của học sinh, đó là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và
giáo dục các em và cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên. Nếp sống gia đình, mối quan
hệ tình cảm của các thành viên, trình độ văn hóa, sự gương mẫu và phương pháp giáo dục
của cha mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển tâm lí, ý thức, hành vi của học sinh
THCS.
- Nhà trường với sứ mệnh kép là đảm bảo truyền thụ kiến thức và giáo dục học sinh
như là yếu tố môi trường bên ngoài có ảnh hưởng to lớn đến việc học tập, rèn luyện của
học sinh THCS. Cụ thể, nhà trường là nơi tổ chức các hoạt động dạy học nhằm giúp các
em chiếm lĩnh hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách hệ thống, là nơi giáo dục các
phẩm chất đạo đức của nhân cách cho các em. Nhà trường giúp cho người học tự chủ và
đào tạo người học trở thành một công dân có trách nhiệm đối với gia đình, cộng đồng, xã
hội.
- Xã hội, với các truyền thống, giá trị, định hướng kinh tế chính trị và tôn giáo có
ảnh hưởng gián tiếp tới việc dạy học và giáo dục học sinh nói chung, học sinh THCS nói
riêng. Môi trường xã hội có ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển nhân cách
học sinh THCS thường qua hai hình thức là tự giác và tự phát. Những ảnh hưởng tự phát
bao gồm các yếu tố tích cực và tiêu cực của đời sống xã hội vô cùng phức tạp do cá nhân
tự lựa chọn theo nhu cầu, hứng thú, trình độ giáo dục của mình. Những ảnh hưởng tự giác
là những tổ hợp tác động trực tiếp hay gián tiếp có hướng đích, có nội dung, có phương
pháp, bằng nhiều hình thức của các tổ chức, cơ quan, đoàn thể xã hội.
- Tập thể và phương pháp tổ chức hoạt động của tập thể học sinh THCS như Đoàn
Thanh niên có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nhân cách các em. Tập thể với tư
cách là cộng đồng đặc biệt được tổ chức ở trình độ cao, có tôn chỉ mục đích, nội dung
họat động, có kỉ luật, tạo điều kiện tốt cho học sinh THCS sống, hoạt động và giao lưu.
Giáo dục hiện đại rất coi trọng giáo dục tập thể, coi tập thể là môi trường để các em được
giao lưu, tương tác, hợp tác; là phương tiện để giáo dục học sinh THCS.
16


- Các nhỏm bạn bè cỏ ảnh hưởng hàng ngày, hàng giờ đến học sinh THCS, trong

đố có nhóm bạn bè chính thức và không chính thức. Các nhóm bạn bè này có ảnh hưởng
tích cực hoặc tiêu cực đến các thành viên trong nhóm trong quá trình học tập, sinh sống.
- Tóm lại, môi trường giáo dục có tác động quan trọng tới sự hình thành và phát
triển nhân cách học sinh THCS. Cụ thể, môi trường góp phần tạo nên mục đích, động
cơ, cung cấp phương tiện cho hoạt động và giao tiếp của học sinh, nhờ đó mà mỗi học
sinh THCS chiếm lĩnh đuợc những tri thức, kĩ năng, kỉ xảo, thái độ, hành vi và thói quen
tốt đẹp trong học tập và cuộc sổng.
- Phải đánh giá đúng vai trò của môi trường giáo dục đổi với việc học tập,
rèn luyện của học sinh THCS. Phải tổ chức cho học sinh tích cực tham gia vào việc cải
tạo và xây dựng môi trường theo những yêu cầu của xã hội.
2 - Phương pháp tìm hiểu môi trường giáo dục trung học cơ sở.
Các phương pháp tìm hiểu môi trường giáo dục Trung học cơ sở:
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ học sinh: nghiên cứu học bạ, lí lịch của học
sinh THCS và cha mẹ các em; nghiên cứu hồ sơ, sổ sách ghi chép của lớp. Học bạ của
học sinh là hồ sơ ghi tương đối đầy đủ về tình hình học tập, tu dưỡng, khen thưởng và kỉ
luật đối với mỗi học sinh. Nghiên cứu học bạ sẽ cho giáo viên hiểu khái quát về tình hình
học sinh qua những năm học trước, lí lịch cá nhân cho biết về hoàn cảnh xuất thân, các
mối quan hệ trong gia đình và xã hội của học sinh. Nắm đuợc lí lịch học sinh sẽ giúp GV
lựa chọn được phuơng pháp tác động đến học sinh phù hợp và hiệu quả.
- Phương pháp quan sát, phỏng vấn và nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư
phạm: người giáo viên THCS cần kiểm tra lại những thông tin thu được qua hồ sơ bằng
việc quan sát hằng ngày các hoạt động tập thể, học tập, lao động, vui chơi, giải trí, thái
độ, hành vi của học sinh trong lớp và ngoài lớp. Các sản phẩm lao động, học tập cũng
phản ánh được sự phát triển nhân cách học sinh, vì thế, GV cần dựa vào đó để hiểu và
nắm vững tình hình học sinh. Mặt khác, mỗi GV cần sắp xếp thời gian để cỏ điều kiện
đến thăm hỏi và trao đổi cùng với gịa đình, phụ huynh học sinh.
- Sử dụng phương pháp điều tra viết để thu nhập thông tin: thực chất của
17



phương pháp này là sử dụng bảng hỏi đã được soạn sẵn với một hệ thống câu hỏi đặt ra
cho nhiều người nhằm thu thập ý kiến của họ về vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Là vận dụng lí luận về khoa học
giáo dục để thu thập, phân tích, đánh giá, khái quát hóa, hệ thống hoá thực tiễn môi
trường giáo dục THCS, từ đó rút ra lí luận giáo dục.
- Phương pháp trắc nghiệm: Trắc nghiệm là một phương pháp nghiên cứu đối
tượng với những chương trình đặt trước, nhưng không gây biến đổi bất cứ một tiêu chí
nào trên đối tượng nghiên cứu.
3 - Kĩ thuật xử lí thông tin về môi trường giáo dục trung học cơ sở.
Một số kĩ thuật xử lí thông tin về môi trường giáo dục Trung học cơ sở:
3.1. Phân tích định lượng: Là xem xét, đánh giá về số lượng các kết quả nghiên
cứu, thể hiện bằng các con số. Để phân tích định lượng, cách hay sử dụng nhất là dùng
các thuật toán.
3.2. Phân tích định tính: Xem xét, đánh giá kết quả nghiên cứu về mặt chất
lượng, đòi hỏi phải phân tích, lí giải các số liệu trên cơ sở đối chiếu với tri thức lí luận,
hoặc qua quan sát, qua trao đổi, phỏng vấn với đồng nghiệp về những nội dung đang
nghiên cứu.
4 - Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường giáo dục đối với học sinh
trung học cơ sở.
4.1. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường giáo duc đến việc học tập và
rèn luyện của học sinh trung học cơ sở:
Các môi trường đánh giá:
- Môi trường giáo dục gia đình: Gia đình là môi trường cơ sở, đầu tiên có vị trí
quan trọng và ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách học
sinh THCS. Đó là môi trường gắn bó trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân. Gia đình là nơi
tạo ra mối quan hệ gắn bó, ruột thịt, huyết thống - một thứ tình cảm khó có thể chia cắt.
Giáo dục gia đình cỏ những mặt mạnh, mặt tích cực là mang tính xúc cảm cao, gắn
bó với quan hệ ruột thịt, máu mủ nên có khả năng cảm hoá rất lớn. Giáo dục gia đình
cũng mang tính cá biệt rõ rệt dựa trên cơ sở huyết thống, yêu thương sâu sắc, lâu dài, bền
vững và cũng rất linh hoạt, thiết thực trên cơ sở nhu cầu và hứng thú của cá nhân. Mặc dù

18


vậy, giáo dục gia đình không thể thay thế hoàn toàn giáo dục của nhà trường.
- Môi trường giáo dục nhà trường: So với môi trường giáo dục gia đình, giáo
dục nhà trường rộng lớn hơn, phong phú hơn, hấp dẫn hơn với học sinh THCS. Trong nhà
trường, trẻ được giao lưu với bạn bè cùng lứa tuổi, đuợc tham gia vào nhiều hoạt động
mang tính xã hội, giúp cho quá trinh xã hội hoá cá nhân phong phú, toàn diện hơn.
Giáo dục nhà trường có sự thống nhất về mục đích, mục tiêu cụ thể, được thục
hiện bởi đội ngũ các nhà sư phạm được đào tạo và bồi dưỡng chu đáo; tiến hành giáo dục
theo một chương trình, nội dung, phương pháp sư phạm nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi
nhất cho sự phát triển nhân cách toàn diện, hướng tới sụ thành đạt của con người.
- Môi trường giáo dục xã hội: Giáo dục xã hội là hoạt động của các tổ chức, các
nhóm xã hội có chức năng giáo dục theo quy định của pháp luật hoặc các chương trình
giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Giáo dục của xã hội phải kết hợp chặt chẽ với giáo dục gia đình và nhà trường, góp
phần thực hiện mục tiêu đào tạo con người theo định hướng của Đảng và Nhà nước.
4.2. Một số biện pháp phối kết hợp các môi trường giáo dục.
4.2.1. Nội dung phối hợp.
- Thống nhất mục đích, kế hoạch chăm sóc, giáo dục học sinh của tập thể sư phạm
nhà trường với phụ huynh, với các đoàn thể, cơ sở sản xuất, các cơ quan văn hóa – giáo
dục ngoài nhà trường.
- Theo dõi, đánh giá kết quả quá trình giáo dục học sinh trong nhà trường và ở địa
phương nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục.
- Gia đình phải tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ cho học sinh; người lớn có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho
con em, cùng nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
- Đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hóa giáo dục, tạo động lực mạnh mẽ cũng như điều
kiện thuận lợi cho hệ thống nhà trường thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đào tạo ở tất cả các
cấp học.

4.2.2. Yêu cầu để thực hiện tốt việc phối hợp giữa các môi trường giáo dục.
19


- Đối với gia đình: Hoạt động tích cực trogn tổ chức hội phụ huynh nhà trường nhằm
góp phần xây dựng cơ sở vật chất, tinh thần, thực hiện xã hội hóa giáo dục, tạo điều kiện
thuận lợi cho nhà trường nâng cao chất lượng giáo dưỡng và giáo dục.
- Đối với nhà trường: Cần phát huy vai trò trung tâm trong việc liên lạc, phối hợp
giáo dục; nhà trường chủ động phổ biến nội dung, mục đích giáo dục đến các tổ chức xã
hội của địa phương nhằm định hướng tác động thống nhất đối với quá trình hình thành và
phát triển nhân cách học sinh.
- Yêu cầu đối với các tổ chức xã hội: Chính quyền các cấp động viên tất cả mọi lực
lượng, mọi tầng lớp xây dựng thực hiện nếp sống văn minh, lành mạnh, mỗi người lớn là
một tấm gương cho học sinh noi theo.
IV. Kết quả
Qua quá trình học tập và nghiên cứu nội dung Module THCS 1,2,3,4. Bản thân tôi
đã học hỏi được nhiều kiến thức bổ ích và áp dụng vào quá trình giáo dục học sinh có
hiệu quả. Tôi thấy rằng trong công tác mỗi giáo viên, nhất là giáo viên chủ nhiệm muốn
làm tốt vai trò của mình thì trước hết cần nắm chắc mục đích, kế hoạch chăm sóc, giáo
dục học sinh của tập thể sư phạm nhà trường thống nhất mục tiêu, kế hoạch đó với phụ
huynh, với các đoàn thể, cơ sở sản xuất, các cơ quan văn hóa – giáo dục ngoài nhà trường.
Bản thân tôi với cương vị là một tổ trưởng kết họp với đứng lớp, có nhiều học sinh chưa
ngoan nên càng phải thường xuyên theo dõi, đánh giá kết quả quá trình giáo dục học sinh
trong nhà trường và ở địa phương nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục, đồng
thời thường xuyên trao đổi với gia đình học sinh, đồng nghiệp nhằm tạo môi trường thuận
lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ cho học sinh; người
lớn có trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng nhà trường nâng cao chất
lượng, hiệu quả giáo dục.
Tự đánh giá: Đạt yêu cầu.
…………., ngày 25 tháng 5 năm 2017

Người viết thu hoạch

.
20


21



×