I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Khi nhắc tời trường học , điều đầu tiên bạn nghĩ tới là gì? Với tôi thì đó là
bạn bè và những tiết học. nhiều người khác có thể nghĩ ngay tới sân trường, tới
thầy cô, tới giờ ra chơi… nếu bạn cũng nghí tới những điều đó hoặc những điều
tương tự thì có nghĩa rằng bạn và tôi nữa là những kẻ may mắn vô cùng. Tại sao
tôi nói rằng chúng ta may mắn? là vì có rất nhiều người, rất nhiều đứa trẻ khi
nhắc tới trường học họ sẽ nghĩ tới những chuỗi ngày khó khăn vô cùng, bị bạn bè
cô lập, chọc ghẹo, chê bai…
Với họ , trường học là một nỗi ám ảnh, đáng sợ. Họ bị bắt nạt.
Bắt nạt trong trường học diễn ra ở mọi môi trường học đường và có những
hình thái rất khác nhau. Tại Mỹ, Bắt nạt được coi là hình thái bạo lực phổ biến
nhất trong trường học với con số 15-30% học sinh có hành vi bắt nạt hoặc là nạn
nhân. Tại Việt Nam, tuy chưa có con số thống kê cụ thể nhưng báo đài trong
nhiều năm gần đây không ngừng đưa tin về các câu chuyện học sinh sợ hãi khi
đến trường, học hành sa sút, trầm cảm, có ý tưởng và thậm chí là hành vi tự sát
v.v. có liên quan đến việc là nạn nhân của Bắt nạt trường học.
Hàng ngày, hàng giờ, ở khắp nơi trên trái đất này bắt nạt học đường vẫn
âm thầm diễn ra gây hậu quả nghiêm trọng tới thể chất ,sức khỏe tinh thần,ảnh
hưởng tới kết quả học tập, sự phát triển tâm sinh lí và tương lai của trẻ.
II: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Nhận thấy những hậu quả nặng nề mà tình trạng bắt nạt trong học đường
gây ra cho trẻ, tôi quyết định lựa chọn vấn đề này để thiết kế một tiết học “kỹ
năng ứng phó khi bị bắt nạt ” dành cho học sinh Trung Học Cơ Sở nhằm cung
cấp những kiến thức về bắt nạt học đường cũng như những kỹ năng ứng phó
nhằm thay đổi nhận thức cho học sinh từ đó làm giảm thiểu tình trạng bắt nạt học
đường. Để trường học là nơi chắp cánh ước mơ,là nơi để lại những ký ức tốt đẹp
cho trẻ .
Phần II: NỘI DUNG.
I.Đối tượng giáo dục của chủ đề:
Học sinh (HS) trung học cơ sở (THCS)
1.1Đặc điểm
1.1.1 Đặc điểm thể chất.
-
Cơ thể phát triển nhanh chóng về chiều cao ( tăng 6-10 cm/năm), cân nặng
(tăng 2,4- 6kg / năm) . có hiện tượng mất cân đối trong hệ xương và hệ cơ
thể , các em cảm thấy lúng túng , vụng về , khó điều khiển cơ thể mình, nhạy
cảm với những đánh giá của người khác về cơ thể mình.
-
Tuyến nội tiết tố, tuyến giáp tăng cường hoạt động gây ảnh hưởng đến sự
phát triển của hệ thần kinh. Kích thước não tăng ít, chức năng não thay đổi
nhiều , tạo thuận lợi cho việc truyền thông tin. Hưng phấn mạnh hơn ức chế,
hưng phấn dễ lan tỏa, chuyển hóa giữa hưng phấn và ức chế linh hoạt nên dễ
bị kích động , khó làm chủ bản thân, khả năng kiềm chế kém , dễ bị môi
trường tác động, cảm xúc thất thường, hay giận dỗi , trong cơn xúc động có
phản ứng mạnh mẽ , hành vi thiếu ổn định, dễ phân tán chú ý. Hệ thần kinh
còn non nớt, chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn
điệu,kéo dài dễ khiến các em mệt mỏi, phân tán, năng suất học tập và lao
động kém hiệu quả.
-
Mức độ, chức năng của hệ thống tín hiệu thứ 2 suy giảm trong giai đoạn đầu
của tuổi dậy thì vậy nên khả năng tiếp nhận và phản ứng ngôn ngữ chậm, nói
nhát gừng.
-
Độ tuổi này là độ tuổi phát dục, dậy thì. Tuy vậy không có sự tương đồng
giữa sự trưởng thành về mặt sinh dục và sự trưởng thành về mặt tâm lý- xã
hội thế nên cần giáo dục đặc biệt trong quan hệ nam – nữ. nhà trường, gia
đình cần quan tâm nhiều hơn trong việc giáo dục giới tính.
1.1.2 Đặc điểm phát triển tâm lý.
• Sự phát triển của quá trình nhận thức.
- Về tri giác: khối lượng tri giác tăng. Tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự
và hoàn thiện hơn ( thể hiện ở khả năng tổ chức việc quan sát)
-
Về trí nhớ: tăng cường trí nhớ chủ định, tốc độ và khối lượng ghi nhớ. Tiến
bộ trong việc ghi nhớ tài liệu tượng trừu tượng, biết sử dụng các thủ thuật ghi
nhớ( phân tích, so sánh, hệ thống hóa). Đặc biệt ghi nhớ ý nghĩa thay thế qua
loa do quá nhấn mạnh việc chỉ cần hiểu tài liệu là đủ. Khối lượng chú ý, khả
năng di truyền chú ý tăng nên cần tổ chức hoạt động học tập sao cho ít có
thời gian rảnh rỗi , gây sự hứng thú
-
Về tư duy: do nội dung các môn học phong phú , phức tạp, trừu tượng nên
đòi hỏi phải dựa vào tư duy độc lập , khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa,
so sánh, phán đoán mới rút ra được kết luận ,mới hiểu được tài liệu học nên
các phẩm chất tư duy này được phát triển. tư duy trừu tượng phát triển.
-
Về ngôn ngữ: vốn từ và tập hợp nghĩa tăng , khả năng sử dụng từ chuân xác ,
linh hoạt . ngôn ngữ được hiểu đúng là phương tiện để giao tiếp nên rất thích
sáng tạo , hình thành cả một hệ thống tiếng lóng
• Sự phát triển về mặt giao tiếp:
-
Giao tiếp với người lớn : HS THCS muốn thay đổi kiểu quan hệ cũ bất bình
đẳng giữa trẻ con với người lớn sang kiểu quan hệ mới đặc trưng cho người
lớn: bình đẳng , độc lập, tôn trọng lẫn nhau. Muốn hạn chế bớt quyền hạn
của người lớn , mở rộng quyền hạn của mình, không chấp nhận sự ra lệnh ,
chăm sóc quá tỉ mỉ của người lớn, muốn người lớn thừa nhận, tôn trọng , nới
rộng quyền tự do cho chúng. Trong giai đoạn này mối quan hệ giữa trẻ và
người lớn thường mâu thuẫn, bất đồng . Tuy muốn người lớn thôi kiểm soát
nhưng lại muốn được quan tâm và ủng hộ.
-
Một mặt ra Sức phủ nhận người lớn, không thừa nhận uy tín về tuổi tác
nhưng lại lấy người lớn làm hình mẫu bắt chước.
-
Bạn bè: giao tiếp với bạn bè là hoạt động chủ đạo trong độ tuổi này, nhằm
thỏa mãn nhu cầu được tôn trọng, được thừa nhận, bình đẳng và nhu cầu tâm
sự , chia sẻ, được sống trong tập thể.
-
Bạn bè có ảnh hưởng rất lớn đến hình thành nhân cách trẻ.
-
Bắt đầu xuất hiện rung cảm giới tính , có thể có cảm giác ngượng ngùng
hoặc thích một ai đó .
• Sự phát triển về ý thức.
- Do sự thay đổi vị trí của các em trong gia đình , nhà trường, xã hội, do nhu
cầu muốn vươn lên làm người lớn nên giai đoạn tự ý thức của các em xuất
hiện và phát triển một cách mạnh mẽ.
- Xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu nhận thức với kỹ năng tự phân tích nên
thường đánh giá không đúng về bản thân ,các em có xu hướng “thổi phồng
bản thân” dẫn đến nảy sinh mâu thuẫn với bạn bè , với người lớn do địa vị
thực tế không tương xứng với kỳ vọng của bản thân không nhận thức được
những khiếm khuyết của bản thân mình hoặc cho là không quan trọng . trong
khi đó rất khăt khe với người khác gay gắt.
- Muốn được người lớn tôn trọng , muốn bình đẳng với người lớn , không muốn
người lớn quá quan tâm. Chống lại sự ảnh hưởng của người lớn, phủ nhận uy
tín về tuổi tác.
• Sư phát triển về tình cảm.
-
Giai đoạn này các em dễ bị xúc động , dễ bị kích động , bồng bột , hăng say,
vui buồn chuyển hóa dễ dàng.
-
Nguyên nhân do sự phát dục trong lứa tuổi này , do sự phát triển mất cân
bằng của hệ thần kinh và một số cơ quan nội tạng.
-
HS THCS đã hình thành các tình cảm như : tình cảm tập thể ,bạn bè, đồng
chí , tình cảm đạo đức.
II:Mục tiêu.
2.1 Mục tiêu về kiến thức.
-
HS nhận biết được thế nào là hành vi bắt nạt.
-
Liệt kê được các hình thức bắt nạt
-
Nêu lên được lý do vì sao mình bị bắt nạt và vì sao những bạn khác lại đi bắt
nạt.
-
Nhận biết được hậu quả của việc bị bắt nạt.
-
Liệt kê được những địa điểm dễ bị bắt nạt.
-
Liệt kê được những phương pháp đối phó khi bị bắt nạt
-
Nêu được một vài quy định xử phạt khi vi phạm quyền con người.
2.2 Mục tiêu về kỹ năng.
- Có kỹ năng trình bày suy nghĩ, quan điểm của mình.
- Kỹ năng quan sát.
- Kỹ năng nhận diện bản thân.
- Kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định.
- Kỹ năng ứng phó tích cực khi bị bắt nạt.
2.3Mục tiêu về thái độ.
- Có thái độ yêu quý, trân trọng bản thân.
- Thái độ tự tin, cương quyết trước kẻ bắt nạt.
- Thái độ phê phán hành vi bắt nạt
III: HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG.
3.1 Hoạt động 1: Trò chơi khởi động. “Con muỗi bám đuôi”
1. Mục đích:
+ khởi động, tạo không khí vui vẻ, thoải mái.
+ giới thiệu chủ đề tiết học.
2.Không gian:
+lớp học rộng rãi không có bàn ghế.
3.Phương tiện: Luật chơi:
4.Cách tiến hành:
Bước 1: chơi thử.
Bước 2: chơi thật.
Bước 3: kết luận
Giáo viên hỏi:
+ các em thấy trò chơi này như thế nào?
+ để không bị muỗi đốt và bám theo thì các em đã làm gì?
Trong trò chơi vừa rồi, con muỗi luôn rình rập để gây tổn thương cho các
em , các em đã phải chạy trốn thật nhanh, chạy xa con muỗi để bảo vệ mình.
Trong cuộc sống này cũng vậy, có một vài người dù chúng ta không làm gì họ
nhưng họ lại luôn cố tình muốn gây tổn thương cho mình. Vậy trong trường hợp
đó chúng ta phải làm gì và bằng cách nào để họ không tiếp tục làm tổn thương
mình chúng ta hãy cùng nhau đến với buổi học hôm nay mang tên “ kỹ năng ứng
phó khi bị bắt nạt”
3.2 Hoạt động 2: “ Bắt sâu cho hoa”
1.Mục đích:
Để học sinh hiểu rõ khái niệm bắt nạt.
2.Mục tiêu:
-
Học sinh hiểu được thế nào là bắt nạt.
-
Học sinh nêu ra được những hành vi và địa điểm thường bị bắt nạt.
-
Học sinh cảm thấy vui vẻ, thoải mái với tiết học.
3.Phương tiện: giấy nhớ,bút dạ, giấy A0, băng keo 2 mặt.
4.Không gian: sân trường.
5.Cách tiến hành.
Bước 1: Nêu luật chơi
Bước 2: Giáo viên chia Lớp thành 2 đội một cách ngẫu nhiên sao cho 2 đội có số
lượng học sinh bằng nhau.
Bước 3: cho mỗi đội thời gian 3 phút để nghĩ tên cho đội mình.
Bước 3: Tiến hành chơi.
Bước 4: Tổng kết kết quả.
Bước : Tiến hành thưởng và phạt.
Bước 6: Giáo viên kết luận.
+ Lời khen về sự nhiệt tình của 2 đội
+ Tổng kết ý kiến, đưa ra khái niệm bắt nạt.
3.3 Hoạt động 3: “Chúng ta là chuyên gia”
1.Mục đích: Tìm hiểu nguyên nhân xảy ra tình trạng bắt nạt.
2.Mục tiêu: Học sinh nêu được nguyên nhân vì sao kẻ bắt nạt lại đi bắt nạt và vì
sao người bị bắt nạt lại bị bắt nạt.
3.Phương tiện: Phấn , tình huống.
4.Không gian: lớp học
5.Cách tiến hành:
Bước 1: Đọc tình huống và nêu yêu cầu.( lưu ý: xưng hô là chuyên gia và tôi)
Yêu cầu:
+ Nhóm chuyên gia số1 sẽ chú ý những chi tiết về nhâ vật M và trả lời câu hỏi.
hoàn cảnh của M như thế nào? M cố tình bắt nạt P để làm gì?
+Nhóm chuyên gia số 2 chú ý những chi tiết về nhân vật P và trả lời câu hỏi:
Sau đó 2 nhóm cùng trả lời câu hỏi:
Hoàn cảnh của P như thế nào? Vì sao P lại bị bắt nạt trong một thời gian dài như
vậy?
Bước 2: Chia lớp thành 2 nhóm ngẫu nhiê, khác nhóm ở hoạt động 1 bằng cách
điểm số. Mỗi nhóm sẽ có thời gian 10 phút để cùng thảo luận về câu trả lời và
giải thích vì sao lại nghĩ như vậy. hết thời gian nhóm cùng đứng dậy và trình bày
kết quả của nhóm mình.
Bước 3: Cho 2 nhóm nhận xét lẫn nhau.
Bước 4: Giáo viên nhận xét và góp ý phần trình bày của 2 nhóm.
Bước 5: Kết luận.
Qua phần trình bày của 2 nhóm chuyên gia chúng ta thấy rằng vấn đề bắt
nạt trong học đường có thể xảy ra vì bất cứ lí do nhỏ nhặt. Vấn đề có thể xuất
phát từ một phía người đi bắt nạt, có lúc là cả hai nhưng lí do để cho tình trạng
này kéo dài là do chính nạn nhân không có kỹ ăng ứng xử trong trường hợp bị
bắt nạt.
+ cung cấp thêm các nguyên nhân bắt nạt và để tình trạng bị bắt nạt kéo dài sau
đó xin thêm ý kiến của các chuyên gia.
3.4 Hoạt động 4: “ Có thể bạn chưa biết”
1.Mục đích: Trình bày hậu quả của hiện tượng bắt nạt.
2.Mục tiêu: HS nêu lên được những hậu quả của tình trạng bắt nạt tại trường học
đường.
3.Phương tiện: phấn, bảng
4.Không gian:Lớp học
5.Cách tiến hành:
Bước 1: giáo viên đặt câu hỏi chung cho cả lớp:
+ theo các em, việc bắt nạt trong trường học sẽ gây ra những hậu quả và ảnh
hưởng như thế nào?
+ mỗi bạn khi đứng dậy trả lời sẽ thêm câu “có thể bạn không biết”trước câu trả
lời của mình .
Bước 2: Nhận câu trả lời của học sinh và ghi lên bảng.
Bước 3: Kết luận.
+Việc gây ra tổn thương cho một người khác là một con dao 2 lưỡi. đối với việc
bắt nạt học đường, nó không chỉ ảnh hưởng tới người trong cuộc mà còn gây ảnh
hưởng nghiêm trọng tới các yếu tố khác như gia đình, nhà trường và xã hội.
+ cho xem video về khái niệm, nguyên nhân và hậu quả của việc bắt nạt .
Link: />
3.5 Hoạt động 5: “ Tôi có thể”
1.Mục đích: Đưa ra một số cách ứng phó khi bị bắt nạt.
2.Mục tiêu: HS đưa ra được ứng phó quyết khi bị bắt nạt.
3.Phương tiện: Video, máy chiếu, loa, bút dạ, giấy A0.
4.Không gian: lớp học
5.Cách tiến hành:
Bước 1: nêu yêu cầu:
+ Cả lớp chia làm 4 nhóm, sắm vai một tình huống mà mình đã bị bắt nạt hoặc đã
chứng kiến và đưa ra cách giải quyết. (thời gian thảo luận tình huống là 15 phút)
+ Các nhóm sẽ quan sát và nhận xét nhau sau khi phần trình bày kết thúc.
Bước 2: Cho các nhóm lên diễn.
Bước 3: Nhận xét, góp ý.
Bước 4: Ghi lại những cách xử lý của các nhóm lên giấy A0 và phân tích.
Bước 7: Gợi ý thêm các cách giải quyết khác.
3.6 Hoạt động 6: Vận dụng.
1.Mục tiêu: HS vận dụng được những kiến thức đã học trong các tình huống
thực tiễn cuộc sống.
2.Cách tiến hành:
+Giáo viên yêu cầu mỗi học sinh sưu tầm 2 câu chuyện về bắt nạt học đướng mà
mình biết hoặc qua các phương tiện truyền thông.
+Nhận biết nạn nhân, kẻ bắt nạt, nguyên nhân vì sao kẻ đó đi bắt nạt
+Nêu cách ứng phó của mình khi rơi vào trường hợp đó.
+Giáo viên để học sinh chọn cách trình bày riêng cho mình sau đó cả lớp cùng
phân tích , giáo viên kết luận.
IV: KẾ HOẠCH RÈN LUYỆN.
stt Tên
hoạt
động
Mục đích
Mục tiêu
Cách tiến hành
1
-Để học sinh
hệ thống lại
kiến thức
mình đã
học.
- Học sinh
trình bày
được đầy đủ
nội dung đã
học về bắt nạt
tuổi học
đường.
Học sinh chọn cho
mình một người
bạn hoặc một
nhóm bạn chưa
được tham gia buổi
học kỹ năng ứng
phó khi bị bắt nạt
để nói cho bạn
mình biết những
nội dung về bắt nạt
học đường.
“Tôi
biết về
bắt nạt
học
đường”
- truyền đạt
những kiến
thức đã học
tới những
người chưa
được học.
Thời gian
Cách thức thực
hiện: buổi sáng khi
4 ngày
thức dậy nhắn tin
1/1/2016
cho bạn mình các
2/1/2016
nội dung sau:
Ngày 1: khái niệm
bắt nạt
Ngày 2: biểu hiện
bắt nạt
Ngày 3: Nguyên
nhân.
Ngày 4: hậu quả
của bắt nạt.
2
“Chúng
ta biết
phải
làm
Học sinh hệ
thống lại
những giải
pháp đã học
Học sinh và
bạn mình nêu
ra được
những giải
Học sinh cùng
những người bạn
đã được gửi tin
nhắn cùng thảo
3/1/2016
4/1/2016
Người
giám
sát
Các
bạn
trong
lớp
sao”
và cùng với pháp khi bị
bạn mình
bắt nạt.
tìm ra những
giải pháp
mới.
luận để đưa ra
những giải pháp
khi bị bắt nạt.
6/1/2016
Cách thức tiến
hành: thảo luận
nhóm.
Giáo
viên
dạy kỹ
năng
sống
Kết quả thảo luận
nhóm sẽ nộp lại
cho giáo viên đánh
giá.
3
“Chúng
ta cùng
hành
động”
Áp dụng
những kiến
thức lí
thuyết vào
thực tế
Học sinh và
bạn mình áp
dụng được
những giải
pháp đã đưa
ra khi chính
mình bị bắt
nạt hoặc giúp
đỡ các bạn bị
bắt nạt
-Với các học sinh
đang trong tình
trạng bị bắt nạt có
thể áp dụng những
giải pháp đã đưa ra
và ghi lại kết quả.
-Với trường hợp
chứng kiến bị bắt
1 tháng.
nạt học sinh tiếp
cận bạn bị bắt nạt
và truyền đạt lại
cho bạn những
kiến thức về bắt nạt
cùng giải pháp.
Ghi chép lại những
việc đã làm vào
một cuốn sổ tay
trong vòng 1 tháng
và chia sẻ với các
bạn trong lớp.
Học
sinh và
giáo
viên
IV:KẾT LUẬN.
Đối với một con người thì bất cứ giai đoạn phát triển nào cũng vô cùng
quan trọng, nếu một giai đoạn nào đó có biến cố mà không giải quyết kịp thời sẽ
đê lại hậu quả lâu dài , ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính cách, nhân sinh quan.
Vậy nên , để có thể phát triển hoàn thiện về thể chất, tinh thần thì kỹ năng sống là
một yếu tố quan trọng không kém kiến thức xã hội.
Ở mỗi giai đoạn phát triển, trẻ lại có vô vàn những vấn đề khác nhau và vấn
đề bắt nạt học đường là một trong số đó. Đây không chỉ là vấn đề của cá nhân
người bị bắt nạt và người bắt nạt mà là vấn đề của cả xã hội và cần sự chung tay
của tất cả mọi người.
Tôi mong rằng cùng với sự phát triển đi lên của đất nước thì những thế hệ
học sinh sẽ càng có thêm nhiều cơ hội đê tiếp cận những tiết học giáo dục kỹ
năng sống , giúp các em giải quyết những vấn đề của mình,hiểu được bản thân
cũng như giúp đỡ được những người xung quanh. Khi những thế hệ mầm non
tương lai được trang bị đầy đủ kiến thức kỹ năng và thái độ thì đất nước chúng ta
sẽ thật sự giàu mạnh, xã hội chúng ta sẽ thật sự văn minh.
PHỤ LỤC.
1.Hoạt động 1
Luật chơi “muỗi bám đuôi”
• Cả lớp cử ra một bạn làm muỗi.
• khi quản trò hô: “Muỗi bay muỗi bay” bạn muỗi sẽ bay vừa kêu vì vù vì
vù, các bạn khác sẽ chạy khắp phòng chỗ nào tùy thích.
• Khi quản trò hô “muỗi đuổi theo con mồi” bạn muỗi sẽ vừa bay theo con
mồi vừa kêu vì vù vì vù.
• Khi quản trò hô: “muỗi đậu lên tay con mồi” bạn muỗi sẽ bay đuổi theo
con mồi, chụm đầu ngón tay phải của mình lại, cố gắng đặt lên tay con
mồi.
Cứ thế tiếp tục quản trò có thể cho con muỗi đậu "lung tung" lên người
của "con mồi".
• Nếu như con mồi chạy không kịp, bị con muỗi để tay lên chỗ quản trò
yêu cầu thì nạn nhân ấy sẽ phải dừng chơi.
- Cách tạo kịch tính: Tạo những tình huống gây cười, bị cắn những chỗ
đặc biệt
Chú ý: Vị trí nhạy cảm hài hước theo mức độ tăng dần(tránh chỗ quá
nhạy cảm).
1. Hoạt động 2
Khái niệm bắt nạt
Bắt nạt là hành vi đối xử tệ về lời nói, tinh thần và thể chất, lặp đi lặp lại với
mục đích làm tổn thương, hoảng sợ hoặc đe dọa một ai đó. Bắt nạt được coi là
một dạng bạo lực, một cách thức để có được quyền lực trấn áp những người yếu
thế hơn. Bắt nạt có thể xảy ra đối với bất cứ đứa trẻ nào, ở bất cứ nơi đâu, bất cứ
thời điểm nào.
•
Bắt nạt bao gồm 4 loại cơ bản:
-
Bắt nạt thân thể :gồm bất kỳ kiểu bạo lực nào về thân thể, bất kể nó nhỏ như
thế nào. Kiểu bắt nạt này chiếm 30.5% của bắt nạt học đường. (Time for
Tolerance, 2008). Nó gồm việc đánh đập nạn nhân hoặc một hành động đơn
giản như ngoéo chân, làm ai đó vấp ngã.
-
Bắt nạt bằng lời nói. Kiểu bắt nạt này gồm hành vi xúc phạm, trêu chọc, chế
nhạo và những đe doạ bạo lực. Kiểu bắt nạt này chiếm 46.5% của những vụ
bắt nạt ở trường học. (Time for Tolerance, 2008).
-
Hăm doạ. Kiểu bắt nạt này xuất hiện khi nạn nhân bị đe doạ để kẻ bắt nạt
khiến họ làm những việc họ muốn như làm bài tập về nhà hoặc đưa tiền cho
họ.
-
Bắt nạt trên mạng. Đây là kiểu bắt nạt nguy hiểm nhất vì nó có thể được thực
hiện một cách vô danh. Kẻ bắt nạt qua mạng có thể tìm thấy nhiều phương tiện
như email, tin nhắn, và các mạng xã hội như Face Book và MySpace. Ở đây
kẻ bắt nạt có thể ẩn danh khi họ tạo ra những tên và hồ sơ giả. Việc bắt nạt qua
mạng có thể bao gồm những lời đe doạ bạo lực, bạo hành bằng ngôn từ và
phát tán thông tin sai với mục đích làm bẽ mặt ai đó hoặc làm tổn hại uy tín
của họ
Các hành vi bắt nạt.
•
Bắt bạnlàm bài tập, chép phạt, trực nhật… cho mình
•
trêu ghẹo về giới tính.
•
Chê bai về ngoại hình.
•
Đem tôn giáo của bạn ra làm chủ đề bàn tán.
•
Ghi tên bạn lên bảng với những không tin không có thật
•
Bàn tán, lan truyền tin đồn không hay về bạn.
•
Tẩy chay , nói xấu bạn với mọi người.
•
Chơi những trò đùa ác độc như vứt rác vào ngăn bàn của bạn
•
Không cho bạn đi vệ sinh.
•
Bắt bạn xách cặp dùm lúc ra về.
•
Bắt bạn mua đồ ăn sáng.
•
Cố tình Xô đẩy, đánh hoặc lạm dụng thân thể bạn
Địa điểm bắt nạt:
•
Lớp học.
•
Căng tin
•
Nhà vệ sinh
•
Đường về nhà.
•
Sân thể dục
•
Những nơi ít người qua lại.
•
Nhà xe
2. Hoạt động 3
+Nội dung tình huống:
M là con út trong một gia đình khá giả.Trước m còn có một chị gái lớn đã
đi lấy chồng. Bố mẹ làm kinh doanh tại một quầy hàng lớn ở chợ. Do tính chất
công việc nên bố mẹ m thường xuyên đi vắng, M luôn phải ở nhà một mình,
không nhận được sự yêu thương, quan tâm của bố mẹ. Mỗi sáng, trước khi ra
khỏi nhà, bố mẹ M lại để tiền ăn trên bàn cho M trên bàn rồi đi làm. Chỉ có dịp
tết, đám dỗ, M mới được gặp mặt đủ mọi người trong nhà bên mâm cơm.
Ở lớp M có một bạn tên P, gia đình bạn ấy rất nghèo, bố mất sớm, mẹ đi bán
hàng rong . Hàng ngày, lúc tan trường dù bận đến mấy, mẹ M vẫn đứng trước
cổng đón P về với nụ cười ấm áp.
Sau một thời gian quan sát, M tự dưng ghét p và thường xuyên bày trò cùng
bạn mình bắt nạt P. Lần đầu tiên M cố tình gài chân P trong giờ thể dục.Ban đầu
P nghĩ rằng M vô tình nhưng càng về sau , M lại càng bày nhiều trò hơn để bắt
nạt P. Vì M và đám bạn của M cảnh cáo rằng nếu P méc cô thì P sẽ bị ăn đòn.
Vậy là P tiếp tục chịu đựng những trò đùa ác ý của M và cảm thấy vô cùng sợ hãi
mỗi lần đến trường.
+ Đáp án câu hỏi
1: Hoàn cảnh của M như thế nào? M cố tình bắt nạt P để làm gì?
- Hoàn cảnh: Gia đình khá giả nhưng không nhận được sự quan tâm, yêu
thương, chăm sóc của bố mẹ.
- Lý do bắt nạt: Ghen tị với tình yêu thương mà P đang nhận được từ mẹ P.
Muốn gây sự chú ý với bố mẹ để bố mẹ quan tâm mình nhiều hơn
2: Hoàn cảnh của P như thế nào? Vì sao P lại bị bắt nạt trong một thời gian dài
như vậy?
- Hoàn cảnh: P tuy nhà nghèo, lại mồ côi bố nhưng lại rất được mẹ thương yêu,
quan tâm.
- Lý do P bị bắt nạt trong 1 thời gian dài: P sợ không dám nói ra vấn đề của
mình và im lặng chịu đựng.
Nguyên nhân hiện tượng bắt nạt.
- Muốn điều khiển hoặc thống trị người khác để thể hiện vị thế, sức mạnh của
mình.
- Chán nản, giận dữ hoặc buồn rầu về những sự kiện ở trường hoặc nhưng
không biết cách giải quyết nên giận cá chém thớt.
- Muốn thấy được sự phản ứng tiêu cực, yếu đuối của nạn nhân.
- Chính họ từng là nạn nhân. Một đứa trẻ sống trong môi trường thường xuyên
bị người khác bắt nạt ví dụ như bố mẹ, anh chị, bạn trong xóm có thể sẽ đi bắt
nạt kẻ yếu hơn mình ở trường.
- Nhận thức sai lầm, lệch lạc trong việc thể hiện quyền lực.
- Ghen tị với những thứ người khác có.
- Gây chú ý với những người mình muốn họ chú ý.
Nguyên nhân tình trạng bị bắt nạt kéo dài.
- Vì sợ lời đe dọa của những kẻ bắt nạt.
- Nghĩ rằng tự mình có thể giải quyết được vấn đề này.
- Không có ai đủ thân thiết để tâm sự.
- Cho rằng việc bị bắt nạt là do mình và xấu hổ với điều đó.
- Vì tư tưởng “1 điều nhịn , chín điều lành” nên nghĩ chịu đựng sẽ tốt hơn làm
lớn chuyện
- Nghĩ không ai quan tâm, đứng về phía mình.
3.HOẠT ĐỘNG 4.
+ Ảnh hưởng của bắt nạt
+ ảnh hưởng lên nạn nhân
- Bị bắt nạt ảnh hưởng đến lòng tự trọng,có thể dẫn đến trầm cảm, sợ bị tấn
công và ốm đau bệnh tật.
- ảnh hưởng đến học tập ,sợ đến trường đến nỗi phải bỏ học
- có ý định và tự tử.
-
vì tức giận và và thiếu kiểm soát nên chọn giải pháp tìm kiếm một người nào
đó yếu hơn và bắt nạt. Nạn nhân chuyển thành kẻ bắt nạt
-
Bị bạn bè quay lưng vì họ sợ trở thành đối tượng bị bắt nạt
+ Những ảnh hưởng của bắt nạt lên kẻ bắt nạt
-
Có nguy cơ bị pháp luật xử lí và mang tiền án.
-
Có cảm giác tội lỗi trong tương lai.
-
Bị bạn bè xa lánh, khó kết bạn.
+ Ảnh hưởng đến gia đình.
- ảnh hưởng tới sức khỏe của gia đình nạn nhân.
- ảnh hưởng tới danh tiếng của gia đình kẻ bắt nạt.
+Ảnh hưởng đến xã hội
- Khiến bạo lực leo thang
- Sói mòn đạo đức.
- Mất thuần phong mỹ tục.
5.Hoạt động 5.
Cách ứng phó
+ Điều nên làm
- Nhìn thấy nhóm bắt nạt từ xa tiến lại gần, phải chạy thật nhanh khỏi nơi nguy
hiểm. Bởi an toàn là điều quan trọng nhất đối với cháu trong lúc này.
- La to để kêu cứu hoặc gọi tên thầy cô, bác bảo vệ để đánh lạc hướng bọn bắt
nạt
- Dùng óc khôi hài. Chẳng hạn, nếu kẻ bắt nạt chê bạn mập, bạn có thể đáp:
“Mập cũng có cái duyên của mập.
- Nói cho kẻ bắt nạt biết những việc họ làm đang vi phạm quyền con nguời và
luật xử phạt tương đương với hành vi đó. Theo quy định tại Điều 20 Hiến
pháp 2013:
Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về
sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục
hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc
phạm danh dự, nhân phẩm.
Ðiều 37 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng có quy định:
“danh dự, nhân phẩm,uy tín cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo
vệ”
Theo quy định tại điều 5 nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt hành chính
về lĩnh vực an toàn xã hội , an ninh trât tự, phòng chống tệ nạn xã hội thì sẽ
phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một
trong những hành vi sau: có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo,
xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.
- Tránh đi một mình tới các chỗ vắng. Khi có việc gì nên cố gắng rủ các bạn
khác đi cùng.
- Tìm cách để hòa đồng với các bạn: Không gây mâu thuẫn với các thành viên
trong lớp, chơi với nhiều bạn hơn.
-
Rèn luyện sức khỏe thật tốt để có thể lực và tinh thần tốt, để đối phó với
những tình huống bất ngờ xảy ra.
- Học hỏi và luyện tập những kỹ năng giúp mình tự tin hơn: Tập trước gương
cách nhìn thẳng vào bạn bắt nạt, tập những câu mình sẽ nói với bạn, tập cách
nói với người lớn về tình trạng của mình, để mọi người có thể hiểu cháu đang
ở trong tình cảnh nào.
- Không đánh lại hay nhờ người đánh lại các bọn đi bắt nạt, khiến chuyện không
được giải quyết mà càng ngày càng mâu thuẫn lớn
+ Những hành động không được làm khi đối diện với người bắt nạt:
- Thể hiện mình sợ hãi.
- Chạy trốn, im lặng, khóc, quỳ xuống, cầu xin được ở một mình. Những hành
động này chính là việc kích thích hành vi bắt nạt diễn ra và lặp lại
- Nếu việc bắt nạt vẫn xảy ra. Hãy báo lại việc này cho bố mẹ, ông bà, hoặc
người thân, để gia đình giúp tìm cách ứng phó ,để được bảo vệ.
- Không nên quá sợ hãi mà giấu bố mẹ, khiến sự việc có thể trầm trọng hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. />2. />3. Lê Thị Duyên (2013) Đề Cương Bài Giảng Giáo Dục Kỹ Năng Sống, Khoa
Tâm Lý-Giáo Dục, Đại Học Sư Phạm – Đại Học Đà Nẵng.
4. />5. />6. />7. />