Chương 1.
KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Kinh tế tư nhân
- Kinh tế tư nhân là một loại hình kinh tế phát triển dựa trên sở hữu tư
nhân về toàn bộ các yếu tố sản xuất (cả hữu hình và vô hình) được đưa vào
sản xuất kinh doanh. Nó hoàn toàn tự chủ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, cụ thể là: tự chủ về vốn, tự chủ về quản lý,
tự chủ về phân phối sản phẩm, tự chủ lựa chọn hình thức tổ chức, quy mô,
phương hướng sản xuất kinh doanh. Tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh trước luật pháp của nhà nước.
- Khu vực kinh tế tư nhân: là khu vực kinh tế bao gồm những đơn vị
được tổ chức dựa trên sở hữu tư nhân. Với khái niệm này có thể tiếp cận khu
vực kinh tế tư nhân dưới hai góc độ:
Một là, dưới góc độ thành phần kinh tế, thì kinh tế tư nhân gồm có:
kinh tế cá thể - tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Cách tiếp cận này trên thực tế
chỉ có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội phục vụ cho việc phân định các thành
phần giai cấp trong xã hội, mà ngày nay việc phân định này cũng chỉ có ý
nghĩa tương đối mà thôi bởi vì giữa thành phần kinh tế và giai cấp không
hoàn toàn tương hợp, cụ thể một giai cấp có thể nằm ở hai hay ba thành phần
kinh tế khác nhau. Ví dụ giai cấp nông dân chẳng hạn, số đông gắn với kinh tế
cá thể, nhưng có một bộ phận gắn với kinh tế tập thể, hay kinh tế nhà nước
(các hộ nông dân nhận khoán trong các nông lâm trường quốc doanh). Hơn
nữa cách tiếp cận này vô tình chúng ta đã phân cắt khu vực kinh tế tư nhân ra
hai mảng tách biệt nhau (mảng kinh tế cá thể - tiểu chủ, mảng kinh tế tư nhân
tư bản). Mà trong thực tế giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có
cùng một kiểu quan hệ quản lý, quan hệ phân phối, chỉ có khác nhau về quy
1
mô và trình độ phát triển. Chúng đều vận động và phát triển theo một lôgic từ
thấp đến cao theo quy luật tích tụ, tập trung sản xuất và quy luật quan hệ sản
xuất nhất định phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Hai là, tiếp cận dưới góc độ hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thì
khu vực kinh tế tư nhân gồm có: kinh tế hộ kinh doanh độc lập (cả trong nông
nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp) và các loại hình doanh nghiệp tư
nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần).
Với cách tiếp cận này cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay là một lực lượng
hùng mạnh bao gồm hàng chục triệu hộ sản xuất kinh doanh độc lập và trên
15.000 các loại hình doanh nghiệp tư nhân.
2. Quá trình đổi mới quan điểm của Đảng ta về kinh tế nhiều thành
phần và phát triển kinh tế tư nhân
Ở nước ta, trong thời kỳ khôi phục kinh tế (1954-1959), quan điểm
kinh tế nhiều thành phần đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và chú trọng
phát triển. Trên cơ sở quan điểm của Lênin về kinh tế nhiều thành phần, Đảng
đã phát triển và vận dụng quan điểm đó cho phù hợp với điều kiện nước ta.
Nhờ kiên trì thực hiện quan điểm phát triển kinh tế nhiều thành phần trong
suốt thời kỳ khôi phục kinh tế nên đã huy động được sức lực và trí tuệ của
toàn dân vào việc phát triển kinh tế, góp phần nâng cao đời sống của các tầng
lớp nhân dân ở miền Bắc.
Với việc chuyển sang mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp,
kinh tế tư nhân không được thừa nhận, là đối tượng cải tạo và xóa bỏ. Từ năm
1959, với chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư
bản tư doanh ở miền Bắc, khu vực kinh tế tư nhân được chuyển dần sang hình
thức doanh nghiệp công tư hợp doanh và hợp tác xã. Các biện pháp cải tạo xã
hội chủ nghĩa cũng được áp dụng đối với kinh tế tư nhân ở miền Nam sau
ngày giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
2
Cuối những năm 1970, trước tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội của
đất nước, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khóa IV) tháng 91979 chủ trương cho sản xuất bung ra và sử dụng đúng đắn các thành phần
kinh tế. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982)
khẳng định chủ trương đó và thừa nhận ở miền Nam vẫn còn năm thành phần
kinh tế. Tuy vậy, đến năm 1986, kinh tế tư nhân vẫn được coi là tồn tại và tạm
thời và giữ vai trò thứ yếu, bổ trợ cho kinh tế quốc doanh.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) đánh dấu bước
quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và khẳng định
sự tồn tại lâu dài của kinh tế tư nhân. Tuy vậy, kinh tế tư nhân chỉ được tồn tại
và phát triển trong lĩnh vực sản xuất, còn trong lĩnh vực lưu thông "phải xóa
bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân".
Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị (1988) và Hội nghị lần thứ sáu Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) năm 1989 tiếp tục khẳng định đường
lối đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và đã bổ sung, cụ thể
hóa một bước quan trọng và khẳng định, kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa
chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội và thể
hiện dân chủ hóa một bước quan trọng và khẳng định, kinh tế nhiều thành
phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên chủ
nghĩa xã hội và thể hiện dân chủ hóa về kinh tế và kinh tế tư nhân được phát
triển không hạn chế cả về địa bàn lẫn quy mô, trong các ngành, nghề mà pháp
luật không cấm.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng tiếp tục thực hiện
đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
và khẳng định, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành
phần, không phân biệt đối xử, không tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép
tập thể hóa, không áp đặt hình thức kinh doanh, khuyến khích các hoạt động
có lợi cho quốc kế, dân sinh.
3
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn công cuộc đổi mới, Hội nghị lần thứ hai
Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII) nam 1992, chuyên đề về kinh tế ngoài
quốc doanh đã đưa ra một số chủ trương, biện pháp lớn để phát huy tiềm năng
của kinh tế tư nhân, cá thể với những nội dung chính như sau:
- Bổ sung, sửa đổi thể chế nhằm bảo đảm cho kinh tế tư nhân được phát
huy không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà
pháp luật không cấm; được tự do lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên
doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định.
- Xóa bỏ những cấm đoán và ràng buộc vô lý, những thủ tục phiền hà
gây khó khăn cho việc phát triển sản xuất - kinh doanh của nhân dân.
- Cải cách bộ máy quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương để
thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với tất cả các thành phần kinh tế.
- Khuyến khích thành lập các tổ chức kinh tế - xã hội của các doanh
nghiệp tư nhân và cá thể, làm người đại iện cho các thành viên trong việc đối
nội, đối ngoại và làm cầu nối giữa doanh nghiệp với Nhà nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng năm 1996 khẳng định
vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân ở nước ta và nhấn mạnh: "Khuyến
khích kinh tế tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo
hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp"1.
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII tháng 12
năm 1997 khẳng định: "Tiếp tục cụ thể hóa chủ trương nhất quán xây dựng
nền kinh tế nhiều thành phần" 2 và "Khuyến khích phát triển và quản lý tốt
kinh tế kinh tế tư bản tư nhân" 3, đồng thời chủ trương phát triển các hình thức
hợp tác, liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế với các biện pháp cụ
thể. Nhà nước chủ động đầu tư và gọi vốn của các thành phần kinh tế...;
Nghiên cứu thí điểm việc Nhà nước góp vốn mua cổ phần của các công ty tư
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1996, tr.96.
2 ,3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.72, 73.
4
nhân, doanh nghiệp nhà nước thuê nhà kinh doanh tư nhân quản lý doanh
nghiệp.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIX của Đảng năm 2001 tiếp tục
phát triển chính sách kinh tế nhiều thành phần, bổ sung thành phần kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài và sắp xếp các thành phần kinh tế theo thứ tự phù hợp
hơn, coi trọng kinh tế tư nhân trong nước, chú trọng hơn đến nội lực của nền
kinh tế. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định, Đảng ta
chủ trương thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu
thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
Đại hội X và XI của Đảng khẳng định tiếp tục phát triển mạnh các hộ
kinh doanh cá thể và các loại hình của doanh nghiệp tư nhân.
Có thể nói, quá trình đổi mới quan điểm của Đảng ta cũng là quá trình
nhận thức ngày càng đầy đủ và đúng đắn hơn về kinh tế tư nhân trong nền
kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Những quan điểm, đường lối của Đảng là
định hướng chính trị quan trọng và được thể chế hóa trong Hiến pháp 1992,
Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990), Luật Công ty (1990) và các luật khác như:
Các Luật thuế (1990), Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1994), Bộ luật
Dân sự (1995), Luật Doanh nghiệp (1999). Chính phủ cũng đã ra các văn bản
quan trọng như Nghị định 27/HĐBT (1988) quy định về chính sách đối với
kinh tế tư nhân, cá thể, Nghị định 66/HĐBT (1992) đối với các cơ sở kinh
doanh dưới vốn pháp định. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng nhằm
khẳng định địa vị pháp lý của kinh tế tư nhân nước ta, quyền tự do kinh doanh
và bảo hộ sở hữu tư nhân hợp pháp.
Như vậy, quá trình đổi mới quan điểm phát triển kinh tế tư nhân trong
chính sách kinh tế nhiều thành phần ở nước ta ngày càng phù hợp với thực tế
của Việt Nam: từ chỗ quan niệm chỉ có hai thành phần kinh tế là quốc doanh,
tập thể, đến nay nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, trong đó kinh tế nhà
5
nước giữ vai trò chủ đạo; từ chỗ coi kinh tế tư nhân chỉ tồn tại tạm thời và chỉ
giới hạn trong một số lĩnh vực, đến chỗ khẳng định sự tồn tại lâu dài của kinh
tế tư nhân và không hạn chế về quy mô, địa bàn và trong các ngành, nghề mà
pháp luật không cấm; từ chỗ kinh tế tư nhân bị cô lập đến chỗ được khuyến
khích hợp tác với các thành phần kinh tế khác.
3. Vai trò kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa
Hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Kinh tế tư nhân ở
nước ta đã đóng góp phần tích cực và quan trọng trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Kinh tế tư nhân đã đóng vai trò to lớn trong việc khai thác và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực: lao động, tài nguyên, đất đai, vốn, khoa học công nghệ, tay nghề truyền thống... Kinh tế tư nhân cũng góp phần to lớn
trong việc đẩy mạnh khả năng xuất khẩu, mở rộng thị trường, thúc đẩy quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Có thể khái quát vai trò của kinh tế
tư nhân trong nền kinh tế nước ta thể hiện qua các nội dung sau:
Một là, kinh tế tư nhân góp phần giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho
người lao động.
Giải quyết việc làm cho người lao động không chỉ có ý nghĩa về kinh tế
mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Hiện nay, vấn đề giải quyết việc làm cho
người lao động là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô của nhà nước ta. Ở
Việt Nam, lực lượng lao động dồi dào. Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, từ 2005 đến nay, mỗi năm nước ta có từ 1,3 đến 1,4
triệu lao động. Đồng thời, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị
hóa đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo đó số lao động khu vực nông
thôn cần chuyển sang làm việc tại các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng đáng
kể. Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động mỗi năm đang
là một áp lực lớn đối với nền kinh tế. Đây là nhiệm vụ của Nhà nước, của
toàn dân, và mọi thành phần kinh tế. Trong đó có vai trò tích cực của kinh tế
6
tư nhân. Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các loại hình sản xuất, kinh
doanh từ các chủ thể tiểu chủ, tư bản tư nhân đã thu hút một lực lượng lao
động lớn của xã hội, góp phần giảm bớt áp lực cung - cầu lao động trong nền
kinh tế.
Có thẻ chứng minh vai trò của kinh tế tư nhân trong việc tạo việc làm
cho người lao động. Cụ thể, chỉ tính riêng doanh nghiệp tư nhân có thấy: từ
năm 2000, tổng số lao động việc làm trong các doanh nghiệp tư nhân thuộc
mọi thành phần kinh tế là 3.356.998 lao động. Trong đó, lao động làm việc
trong các doanh nghiệp tư nhân là 236.253 người, chiếm 6,68%. Đến năm
2001, số lao động làm việc tại các doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên là
277.562 người, chiếm 7,06%. Từ năm 2002, số lao động làm việc trong các
doanh nghiệp tư nhân tăng đáng kể với tổng số là 339,638 người chiếm
7,29%. Như vậy, chỉ ba năm từ 2000-2002, các doanh nghiệp tư nhân đã tạo
thêm được việc làm cho 103.385 người. Điều này là do tác động của Luật
doanh nghiệp đã làm cho số lượng doanh nghiệp tư nhân và số lượng các văn
phòng, chi nhánh của doanh nghiệp tư nhân tăng lên. Mặt khác, do một số
doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh nên nhu cầu về
lao động của những doanh nghiệp này cũng tăng đáng kể. Đến năm 2004, số
lao động việc làm trực tiếp trong các doanh nghiệp tư nhân đã gần bằng tổng
số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước, giải quyết khoảng 1,6 đến2
triệu việc làm. Riêng số doanh nghiệp nhỏ và vừa đã chiếm 96% tổng số
doanh nghiệp ngoài nhà nước và thu hút được 49% việc làm phi nông nghiệp
ở nông thôn và khoảng 25-26% lực lượng lao động cả nước. Điều đó cho thấy
kinh tế tư nhân không chỉ tạo ra công ăn việc làm mới cho người lao động, mà
còn góp phần làm thay đổi diện mạo nền kinh tế. Nhất là thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu lao động ở vùng nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho người lao động1.
1.1 Trịnh Thị Mai Hoa, Kinh tế tư nhân trong tiến trình hội nhập, Nxb Thế giới, tr.122
7
Ngoài ra, sự phát triển của các loại hình sản xuất, kinh doanh của kinh
tế tư nhân góp phần quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ tay nghề cho người lao động. Về cơ bản, số lao động trước khi vào làm
việc tại cơ sở kinh tế tư nhân là những lao động phổ thông, tay nghề thấp, còn
mang nặng tư duy sản xuất tụ cung, tự cấp, chưa quen với cơ chế thị trường.
Vì vậy, các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải trực tiếp đào tạo, hướng dẫn họ.
Về các hình thức đào tạo cũng hết sức phong phú, đa dạng. Nhiều chủ thể
kinh tế tư nhân đã chủ động liên kết, phối hợp với các cơ sở dạy nghề để đào
tạo nghề cho người lao động theo yêu cầu thực tiễn. Một số doanh nghiệp tư
nhân chủ động xây dựng các trung tâm đào tạo nghề. Hoặc giao cho những
người có tay nghề cao kèm cặp, hướng dẫn những người có tay nghề thấp...
Hình thức đào tạo như vậy vừa phù hợp với khả năng của doanh nghiệp và
người lao động, vừa mang lại hiệu quả thiết thực trong sản xuất, kinh doanh.
Hai là, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã đóng góp ngày càng lớn cho
ngân sách nhà nước.
Thực hiện đường lối của Đảng về phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi để
phát huy mọi nguồn lực trong xã hội. Đặc biệt, từ Nghị quyết Đại hội VII
(1991) được thực hiện trên thực tế thông qua hàng loạt bộ luật được ban hành:
Luật doanh nghiệp 1999 ra đời và có hiệu lực năm 2000. Số lượng doanh
nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân đăng ký hoạt động kinh doanh tăng
lên đáng kể. Cùng với sự ra đời số lượng doanh nghiệp tư nhân ngày càng
tăng đã tạo ra một khối lượng hàng hóa, dịch vụ hết sức phong phú, đa dạng.
Đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước. Năm 1995, khu vực kinh tế tư
nhân, trong đó có doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp vào GDP là 136.915 tỷ
đồng. Năm 2003, đóng góp của khu vực này đạt 605.586 tỷ đồng. Tỷ lệ đóng
góp vào GDP của khu vực kinh tế tư nhân bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân
tăng đáng kể. Năm 1995, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 59,82% vào GDP
của cả nước. Số lượng tương ứng của năm 2000 là 60,47%; năm 2001 là
8
61,60%; năm 2002 là 61,62%. Năm 2003 chiếm 60,9%. Năm 2005, riêng
khối doanh nghiệp tư nhân đóng góp 37,7% GDP.
Sự đóng góp của các thành phần kinh tế tư nhân, trong đó có doanh
nghiệp tư nhân ngày càng tăng. Điều đó khẳng định môi trường đầu tư kinh
doanh nước ta đã cải thiện đáng kể, từng bước phù hợp với yêu cầu của thị
trường. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân ngày càng có hiệu
quả. Năng lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ tổ chức quản lý của các
chủ thể kinh tế tư nhân được nâng lên. Đội ngũ doanh nhân dần trưởng thành
cả về số lượng và chất lượng, thích ứng với cơ chế thị trường và xu thể hội
nhập kinh tế quốc tế. Điển hình là ngày 13/10/2004 là ngày truyền thống đầu
tiên của "Doanh nghiệp Việt Nam".
Sự phát triển của kinh tế tư nhân mà trong đó chủ yếu là các doanh
nghiệp tư nhân là lực lượng quan trọng góp phần lớn vào nguồn thu ngân sách
nhà nước. Trong giai đoạn 1996-1998, các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh đóng góp khoảng 1/6 nguồn thu ngân sách nhà nước. Đến nay, theo số
liệu của Tổng cục Thống kê 10/2010, đóng góp của kinh tế tư nhân trong nền
kinh tế chiếm gần 40% GDP. Ngoài việc đóng góp vào ngân sách nhà nước,
các chủ thể kinh tế tư nhân còn đóng góp một phần không nhỏ thông qua tổ
chức hoạt động từ thiện, giúp đỡ các gia đình chính sách. Đóng góp cho các
địa phuonwg xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhà tình nghĩa, nhà
cho người nghèo, tôn tạo, cải tạo công trình văn hóa, đặc biệt cho các tỉnh
vùng sâu, vùng xa.
Ba là, phát triển kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại và tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn đầu tư
trong xã hội để phát triển kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung quan trọng của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nước ta đã có sự
chuyển dịch theo hướng tích cực, tiến bộ, phù hợp với xu thế vận động khách
9
quan của nền kinh tế thế giới và trong nước, khai thác có hiệu quả các nguồn
lực xã hội để phát triển kinh tế.
Thời kỳ từ 1990 - 2000, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5%;
GDP năm 2000 gấp 2 lần so với năm 1999. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ năm 2001 - 2005, tốc độ tăng
trưởng kinh tế nước ta đạt bình quân 7,51%. Đặc biệt 2007 đạt tốc độ tăng
8,48%.
Trong cơ cấu ngành kinh tế, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống, tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh. Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm,
tỷ lệ lao động công nghiệp, dịch vụ lao động qua đào tạo ngày càng tăng.
Năm 1990, lao động nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 73,03% tổng số lao động
toàn xã hội. Năm 2000, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm xuống còn 68,2%;
năm 2002 còn 66%; năm 2004 còn 63% và đến năm 2005 còn 57% 1. Lao
động trong công nghiệp và xây dựng gần 18% và trong dịch vụ là 25%. Đã
hình thành được những vùng kinh tế, khu vực kinh tế trọng điểm ở ba miền
Bắc - Trung - Nam. Có sự chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh và
quan tâm hỗ trợ các vùng đặc biệt khó khăn. Ba vùng kinh tế trọng điểm đã
phát triển với tốc độ cao hơn mức hàng năm của cả nước, chiếm hơn 60%
GDP. Trong đó đặc biệt phải kể đến sự phát triển mạnh mẽ của vùng kinh tế
trọng điểm miền Nam và thành phố Hồ Chí Minh là đầu tầu. Các vùng kinh tế
còn khó khăn đang từng bước vươn lên... Nền kinh tế chuyển từ trạng thái
đóng cửa, khép kín, sang nền kinh tế mở cửa, hội nhập với khu vực và thế
giới. Đồng thời, có sự chuyển dịch từ trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu,
năng suất lao động thấp sang nền kinh tế ngày càng ứng dụng rộng rãi những
thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và phát triển
kinh tế tri thức để nâng cao năng suất lao động. Sản phẩm tạo ra phong phsu,
đa dạng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Tăng cường khả năng
11 Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới (19862006). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10
cạnh tranh sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động hợp lý có vai trò rất lớn của kinh tế tư
nhân. Bởi vì, kinh tế tư nhân có khả năng tham gia vào các hoạt động sản
xuất, kinh doanh trong nhiều lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, tiểu thủ công
nghiệp, làm cho tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Kinh tế tư nhân có
nhiều khả năng ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất,
làm cho trình độ sản xuất của nền kinh tế được nâng cao. Điều đó càng làm
cho số lượng và chất lượng sản phẩm hàng hóa trong nước có khả năng cạnh
tranh với hàng ngoại nhập và mở rộng thị trường xuất khẩu. Nhiều chủ thể
kinh tế tư nhân đã đóng góp vai trò tích cực trong việc xuất khẩu hàng hóa.
Đặc biệt, một số sản phẩm hàng hóa chất lượng cao như hàng thủ công mỹ
nghệ, sản phẩm gỗ tinh chế, nông sản, thủy sản, linh kiện máy móc... đều do
các chủ thể kinh tế tư nhân sản xuất. Chính vì vậy, khu vực kinh tế tư nhân
góp phần thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế đóng cửa,
khép kín, sang nền kinh tế mở, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Ngày nay, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại, cạnh
tranh là quy luật khách quan và là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phát
triển. Khi có sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân, môi trường cạnh
tranh trở nên gay gắt hơn. Do đó, doanh nghiệp tư nhân góp phần làm cho nền
kinh tế thị trường năng động hơn, hiệu quả hơn. Bởi vì, quá trình cạnh tranh
buộc các doanh nghiệp tư nhân phải không ngừng đổi mới công nghệ sản
xuất, nâng cao trình độ tay nghề của người lao động. Đổi mới cách thức tổ
chức quản lý doanh nghiệp. Đồng thời, quá trình cạnh tranh đó buộc các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nhất là doanh nghiệp nhà nước
cũng phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của mình để
khẳng định được vị thế, vai trò chủ đạo.
Sự phát triển đa dạng và phong phú của các doanh nghiệp tư nhân trong
thành phần kinh tế tư nhân ở các ngành kinh tế tạo ra khả năng liên kết với
nhau. Từ đó, tạo ra sự liên kết giữa các vùng, thành phần kinh tế và ngành
11
kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các
doanh nghiệp tư nhân đòi hỏi thị trường về tư liệu sản xuất, thị trường sức lao
động, thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa mở rộng vượt ra khỏi phạm vi
địa bàn hoạt động của mình. Các doanh nghiệp tư nhân sẽ từng bước vươn ra
với thị trường thế giới. Quá trình đó tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các chu
thể kinh tế với nhau, giữa doanh nghiệp vùng này với doanh nghiệp vùng
khác và doanh nghiệp các thành phần kinh tế khác, nhất là liên kết với các
doanh nghiệp nhà nước trong quá trình phát triển.
Cùng với đà phát triển của nền kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh
ngày càng thuận lợi, số lượng các chủ thể kinh tế tư nhân tăng nhanh. Quy mô
của doanh nghiệp tư nhân được mở rộng thì số vốn được huy động trong các
tầng lớp nhân dân càng lớn. Cùng với những nguồn vốn chủ yếu bằng tiền,
những nguồn vốn khác như đất đai, nhà cửa, sức lao động và trí tuệ, các
phương tiện, công cụ sản xuất trong nhân dân cũng được huy động ngày càng
nhiều cho mục đích sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân. Khi Luật doanh
nghiệp và Luật đầu tư (có hiệu lực từ 1/7/2006) đi vào cuộc sống, dự báo
nguồn vốn trong các doanh nghiệp tư nhân sẽ tăng lên. Mặt khác, quá trình
hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam, nhất là khi Việt Nam
chính thức là thành viên của WTO, thị trường trong nước và quốc tế mở rộng
sẽ tạo nên động lực mạnh mẽ để các chủ thể kinh tế tư nhân có điều kiện mở
rộng quy mô vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh.
Bốn là, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã tạo ra khả năng khai thác có
hiệu quả các nguồn lực, bảo tồn và phát triển các ngành nghề truyền thống
của địa phương.
Sự phát triển của kinh tế tư nhân không chỉ huy động có hiệu quả
nguồn vốn trong xã hội mà còn huy động nhiều nguồn lực khác của đất nước.
Trước hết, khu vực kinh tế tư nhân này khai thác có hiệu quả nguồn lực đất
đai, mặt nước, diện tích rừng, khoáng sản và vùng nguyên vật liệu sẵn có ở
các địa phương. Đây là những tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
12
thống nhất quản lý. Khi Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân của khu vực
kinh tế tư nhân nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thì các nguồn
lực này sẽ phát huy được tác dụng của nó. Nhờ có sự phát triển của kinh tế tư
nhân mà nhiều trang trại trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản phát triển nhanh
chóng. Tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa phong phú, phục vụ tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu ra thị trường thế giới. Hiện nay, cả nước có hàng
chục ngàn trang trai nông - lâm - thủy sản. Sự phát triển kinh tế trang trại đã
khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, mặt nước, giải quyết việc làm cho
hàng chục vạn lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn. Đặc biệt đã sử dụng có hiệu quả
nguồn lực sẵn có của địa phương. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn trong những năm qua đã làm cho nền nông nghiệp
nước ta về cơ bản chuyển sang nền sản xuất hàng hóa, những vùng sản xuất
hàng hóa chuyên canh được hình thành. Tỷ trọng sản phẩm hàng hóa ngày
càng cao, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn được tăng
cường. Những kết quả đó có vai trò rất lớn của kinh tế tư nhân.
Kinh tế tư nhân được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia
đình. Các hộ sản xuất, kinh doanh cá thể thường gắn liền với các hoạt động
sản xuất, kinh doanh ngành nghề truyền thống như nghề gốm sứ, nghề thủ
công mỹ nghệ, mây tre đan, thêu ren và sản xuất hàng cơ khí nhỏ, chế tác
vàng bạc. Khi các doanh nghiệp tư nhân hình thành, quy mô đầu tư sản xuất
tăng lên, đặc biệt là ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất góp phần
làm cho các nghề truyền thống ở địa phương ngày càng phong phú, phù hợp
với xu thế phát triển kinh tế thị trường. Cụ thể, các doanh nghiệp tư nhân
trong các làng nghề truyền thống có quy mô sản xuất ngày càng lớn và tăng
lên đáng kể ở nhiều tỉnh, thành. Giải quyết nhiều việc làm cho người lao động
vùng làng nghề. Sản phẩm làm ra với số lượng lớn, chất lượng cao do ứng
dụng công nghệ sản xuất tiên tiến, thị trường vì thế được mở rộng. Đến nay,
nhiều doanh nghiệp tư nhân thuộc các làng nghề truyền thống đã xuất khẩu
13
hàng hóa sang nhiều thị trường trong và ngoài nước. Ví dụ như các doanh
nghiệp tư nhân sản xuất đồ gốm sứ Bát Tràng (ngoại thành Hà Nội), đồ gỗ mỹ
nghệ Đông Kỵ (Bắc Ninh), gốm Thiên Long (Bình Dương)... có doanh thu
ngoại tệ hàng triệu đô la mỗi năm. Nhờ đó, sự phát triển của kinh tế tư nhân
không chỉ giữ gìn các ngành nghề truyền thống mà còn có vai trò tích cực
trong việc mở rộng những ngành nghề theo hướng sản xuất hàng hóa lớn.
Tóm lại, sự phát triển của kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta có đóng góp vai trò quan trọng trên nhiều mặt, góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất và đời sống.
Tuy nhiên, cũng cần nghiêm túc nhìn nhận về bản chất và thấy được
những mặt hạn chế khi phát triển thành phần kinh tế tư nhân. Do tính tự phát
và chạy theo lợi ích kinh tế cũng như những xu hướng chính trị khác nhau thể
hiện trong đời sống kinh tế - xã hội. Mâu thuẫn công hữu và tư hữu giữa lao
động và bóc lột lao động làm thuê, giưa các lợi ích kinh tế và các xu hướng
chính trị khác nhau. Vì vậy, cần phải động viên, khuyến khích kết hợp tăng
cường kiểm tra, kiểm soát, hướng dẫn pháp luật để kinh tế tư nhân ở nước ta
phát triển đúng hướng.
14