(1953)
Tên khai sinh là Bùi Đình Diệm (Dậu).
Sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì,
huyện Đan Phượng tỉnh Hà Tây
(nay thuộc ngoại thành Hà Nội).
Sau Cách mạng tháng Tám, Quang Dũng
tham gia quân đội.
Thuở nhỏ, ông theo học trung học tại trường
Thăng Long, Hà Nội.
Năm 1947 ông từng là đại đội trưởng của
Trung đoàn Thủ Đô
. Ông cũng hoạt động văn
nghệ ở
Liên Khu III
thời kháng chiến, từng là
trưởng phòng văn nghệ Liên khu.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp
ông chiến đấu trên hai mặt trận: vừa
là người cầm bút nhưng cũng vừa là
người cầm súng chiến đấu.
Những năm khó khăn( sau 1954)
Về sau này, như những nhà thơ lớn
khác, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh,... ông
mai một và mất đi trong âm thầm.
Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988
tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.
Quang Dũng trước khi
mất 6 tháng (1988)
Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo
Văn
nghệ
, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học.
Ông là người tài hoa, vẽ tài, hát giỏi, thơ hay.
Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và
viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu
cùng với các họa sĩ nổi danh. Quang Dũng là
một nhà thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng
mạn.
Thơ Quang Dũng nằm giữa biên giới của thật
và mơ, như khói như mây mờ mờ ảo ảo, như
tiếng vọng từ chân trời nào xa vắng...
Cuối tháng 11 năm 2001, Nhà nước trao giải
thưởng Văn học Nghệ thuật cho thi sĩ Quang
Dũng. Chính phủ Thụy Điển cũng tặng 25
triệu đồng để đúc tượng đồng đặt ngay tại
trường học, chỗ nhà ông.
Các tác phẩm thơ chủ yếu của Quang Dũng
gồm có:
"Một chặng đường", "Gương mặt hồ
Tây", "Hoa lại vàng tháng Chạp", "Nhà đồi",
"Phiên chợ Bắc Hà", "Mùa chim ngói dưới
chân núi Ba Vì", "Đôi mắt người Sơn Tây",
"Mây đầu ô", "Tây Tiến"...
Tác phẩm đã xuất bản:
* Mùa hoa gạo (1950)
* Bài thơ sông Hồng (1956)
* Đường lên châu Thuận (1964)
* Làng Đồi đánh giặc (1976)
* Mây đầu ô (1986)
* Quang Dũng - Tác phẩm chọn lọc (1988)
Tác phẩm được in trong tập thơ “ Mây đầu ô”.
Hoàn cảnh sáng tác:
Đoàn binh Tây Tiến được thành lập đầu năm
1947.
a) Hoàn cảnh – xuất xứ:
Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội Lào để
bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực
lượng địch.
Địa bàn đóng quân: ở biên giới Việt-Lào.
Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh
niên Hà Nội chiến đấu trong hoàn cảnh gian
khổ, thiếu thốn nhưng vẫn phơi phới tinh thần
lãng mạn anh hùng.
Cuối 1948, Quang Dũng chuyển
sang đơn vị khác. Tại Phù Lưu
Chanh, Quang Dũng viết bài thơ
“Nhớ Tây Tiến”, sau đổi thành
“Tây Tiến”.
Quang Dũng là đại đội
trưởng đoàn binh từ 1947 –
1948.
Sau một thời gian ở Lào,
trở về Hòa Bình thành lập trung
đoàn 52.
b) Bài thơ thuộc thể:
c) Bố cục:
Phần 1:
Phần 2:
Phần 3:
Phần 4:
4 phần
Chặng đường hành quân đầy gian khổ.
Nhớ những kỉ niệm nơi đóng quân, vẻ
đẹp của văn hoá và sông nước Tây Bắc.
Chân dung người lính Tây Tiến.
Nỗi nhớ Tây Tiến.
14 câu đầu.
8 câu tiếp theo.
8 câu tiếp theo.
4 câu cuối.
thất ngôn.
1) Chặng đường hành quân đầy gian khổ:
a) 2 câu đầu: Nỗi nhớ miền Tây, núi rừng, sông Mã.
“Xa rồi” tiếng thở dài nỗi nhớ da diết
không nguôi.
Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” tha thiết như gọi
người thân yêu.
Từ cảm “ơi” bắt vần với từ láy “chơi vơi”
âm hưởng sâu lắng, bồi hồi, ngân dài từ
lòng người vọng và thời gian, năm tháng, lan
rộng lan xa trong không gian.
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Sau tiếng gọi ấy, hoài niệm về một thời gian
khổ hiện về trong tâm tưởng
b) Bức tranh thiên nhiên và hình ảnh đoàn quân
Tây Tiến:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Tên bản, tên phường: Sài Khao, Mường Lát…
gợi thương nhớ, ấn tượng về sự xa xôi, heo
hút, hoang dã, thâm sơn cùng cốc. Đoàn quân
đi trong sương mù dày đặc giữa núi rừng trùng
điệp lạnh nhưng vẫn lạng mạn khi hoa về trong
đêm hơi.