1
Trường Đại Học Bình Dương
Khoa: Luật Kinh Tế
---------------------
Qua chuyến đị thực tế đến miếu Bà Thiên Hậu Bình
Dương, anh (chị) hãy phân tích nét đẹp hình tượng
người phụ nữ trong văn hóa thờ cúng. Theo anh
(chị) tại sao trong xã hội Việt Nam phong kiến việc
tôn thờ: Quốc Mẫu Âu Cơ, Liễu Hạnh Thánh Mẫu,
Hai Bà Trưng, Bà Triệu lại rất được coi trọng
Bình Dương: ngày 23 tháng 10 năm 2014.
2
Lời nói đầu: Việt Nam là một đất nước có nền kinh tế đang phát triển khá năng động.
Một trong những yếu tố thu hút sự chú ý của thế giới với nước ta chính là nền văn hóa
phong phú đa dạng của khu vực này. Ngày nay nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã dành
nhiều thời gian để tìm hiểu về quá trình phát triển của cư dân khu vực nhằm đưa ra
những nhận định chính xác nhất về đặc điểm văn hóa nơi đây. Việt Nam là một quốc
gia nằm trong khu vực Đông Nam Á. Chúng ta là đất nước giao thoa giữa nhiều nền
văn hóa, từ Trung Quốc xuống, Ấn Độ sang và Đông Nam Á hải đảo vào nên nền văn
hóa rất phong phú đa dạng. Các yếu tố văn hóa này khi vào Việt Nam đều được bản
địa hóa trở thành nền văn hóa mang bản sắc của riêng chúng ta. Tuy nhiên khi nghiên
cứu văn hóa Việt, có nhà nghiên cứu văn hóa đã nhận xét “Việt Nam là một Đông
Nam Á thu nhỏ”. Lời nhận xét này khiến chúng ta vô cùng tự hào với bạn bè thế giới
và khu vực. Hơn nữa Việt Nam còn là quốc gia có truyền thống “Uống nước nhớ
nguồn. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” nên từ ngàn xưa chúng ta luôn có thái độ trân trọng
quá khứ. Mỗi người Việt Nam khi sinh ra đến lúc trở về với đất mẹ đều có niềm thành
kính khi nhắc nhở về những vị thần và những vị anh hùng đã có công bảo vệ xây dựng
đất nước. Do đó khi nghiên cứu về văn hóa dân gian Việt Nam chúng ta không thể
không nghiên cứu về yếu tố tôn giáo tín ngưỡng truyền thống của khu vực này. Bởi vì
tôn giáo tín ngưỡng truyền thống chính là một yếu tố cấu thành văn hóa dân tộc .
“Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông”
Nó thể hiện suy nghĩ cách nhìn nhận của con người Việt Nam trong thời xa xưa là cơ
sở hình thành của nhân dân ta hiện nay. Với quan điểm đó khi nghiên cứu về văn hóa
Việt Nam chúng ta thấy có điểm đặc biệt trong tôn giáo chính là tín ngưỡng đa thần
gắn liền với nó chính là tục thờ Mẫu.
3
I)
Nét đẹp hình tượng của người phụ nữ trong văn hóa thờ cúng
Nói đến phụ nữ, người ta mặc định trong tâm tưởng bốn từ “công-dung-ngônhạnh”, lấy đó là cái chuẩn mực chung cho hình tượng người phụ nữ.
Công: là nữ công gia chánh, phải khéo léo trong mọi công việc của mình như
là: may vá, cầm kì thi họa.
Dung: là dung nhan, dung mạo. Người đàn bà phải hòa nhã, gọn gàng và tôn
trọng hình thức của bản thân.
Ngôn: là lời nói phải khoan thai, nhẹ nhàng, mềm mỏng và đặc biệt phải có
chất trí tuệ, khéo léo trong lời ăn tiếng nói.
Hạnh: là tính nết hiền thảo, biết kính trên nhường dưới, giữ được đạo nghĩa làm
vợ, ngoài ra phải nhu mì chín chắn.
Lúc sinh thời người ta lấy đó làm chuẩn để hướng tới sự hoàn thiện về nhân
cách của người phụ nữ và khi chết đi đó cũng là cơ sở suy xét công đức mà thờ
cúng. Tuy nhiên những người phụ nữ được dân tộc thờ cúng không chỉ phải đạt
được tứ đức mà còn phải là người có chí lớn và công lao to lớn với toàn dân
tộc, là tấm gương cho mọi người noi theo.
4
Hướng về cội nguồn dân tộc, chúng ta nhớ tới sự tích mẹ Âu Cơ sinh một bọc trăm
trứng, đẻ ra trăm con. Dân tộc Việt gồm nhiều dân tộc anh em có nguồn gốc từ đó. Mẹ
Âu Cơ như một biểu tượng bất tử về cội nguồn sự sống vật chất và tinh thần của thời
hình thành người Việt trên dải đất này. Và nghĩa đồng bào cũng từ tích ấy mà ra.
Trong tâm thức người Việt Nam luôn luôn hiện diện hình ảnh người phụ nữ. Tín
ngưỡng thờ Mẫu của người Việt thật sự là một hiện tượng đặc biệt trong đời sống tinh
thần, tâm linh... Có thể nói, việc thờ phụng anh hùng lịch sử, danh nhân văn hóa và
bách nghệ tổ sư thể hiện rõ bản sắc văn hóa và sức mạnh tinh thần của dân tộc Việt.
Tục thờ nữ thần vốn có ngọn nguồn lịch sử, đã phản ánh truyền thống coi trọng các bà
mẹ, phản ánh vị trí cao cả của phụ nữ nước ta trong chế độ phụ quyền trong gia đình
Việt Nam đã xác lập từ lâu.
Chân dung các Mẫu, các vị nữ thần được ngưỡng mộ thờ cúng mang dáng dấp của
một nữ nhân vật nổi tiếng trong lịch sử đất nước như Bà Trưng, Bà Triệu…
Và thần thoại hóa một chút, người ta nhắc đến thánh Mẫu Liễu Hạnh Tương truyền,
Liễu Hạnh là công chúa của Ngọc Hoàng, thác sinh vào nhà họ Lê từ thời Thiên Hựu
(1557). Theo luật trời, tiên xuống trần phải có thời hạn, nhưng Liễu Hạnh đã không
chịu theo. Hai lần hết hạn là hai lần nàng nhất quyết đòi được sống cuộc sống trần
gian. Nàng chu du khắp nơi, trêu ghẹo người này, gia ơn kẻ khác, đàm đạo với văn
nhân, kết hôn với danh sĩ, giúp dân trừ nạn. Liễu Hạnh là biểu tượng cho sức sống giải
phóng, ý thức tự do và lòng nhân đạo của phụ nữ. Chất Việt trong bà rất rõ. Đó là tâm
hồn nhân văn sâu lắng, biểu hiện ở sức sống quật cường và tâm hồn nghệ sĩ. Liễu
Hạnh được tôn vinh là Thánh Mẫu vì những lẽ đó; phụ nữ Việt Nam tự hào với Bà
Trưng, Bà Triệu nhưng với Liễu Hạnh, họ thấy gần gũi hơn.
Trong tâm thức sâu xa của dân Việt, cả nước là đại gia đình chung huyết thống như
tích Âu Cơ cho thấy. Gia đình nào cũng có người chủ là mẹ chứ không phải ông cha.
5
Luân lý phụ quyền là của Nho giáo chứ nào phải của dân Việt. Mẹ sinh ra con cái,
nuôi dưỡng rèn luyện, chăm sóc con. Không phải chỉ sinh vật mà cả vật vô tri cũng có
mẹ. Có mẹ Đất, mẹ Núi, mẹ Nước, mẹ Lúa... trong kho thần thoại của 54 dân tộc Việt
Nam này. Dựa vào các mẹ ấy là cách đem lại sự yên ổn, thanh bình, yêu thương.
Người phụ nữ, vì vậy, đã có một vị trí đặc biệt trong đời sống tâm linh của người Việt.
Chế độ phong kiến với những giáo điều ràng buộc người phụ nữ theo tam cương, ngũ
thường, "Phụ nhân nan hóa", "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" hay "Trăm đứa con
gái không bằng cái d... con trai", ngay đến tế lễ, rước xách cũng là đàn ông đã đành,
có nơi còn giữ lệ căng màn, quây rạp không cho phụ nữ lai vãng, bén mảng đến gần
để tránh "ô uế" nơi linh thiêng? Nhưng ngược đời thay, ngay chính nơi đó lại thờ các
nữ thần.
Tục thờ nữ thần, tục thờ Mẫu còn sống động đến ngày nay. Đó là các bà Mẫu thuộc
Tam phủ, Tứ phủ trên cơ sở thờ các nhiên thần (thần biểu trưng cho lực lượng tự
nhiên): Mẫu Thoải (Mẹ nước), Mẫu Cửu Thiên (Mẹ chín tầng trời), Mẫu Thượng
Ngàn (Mẹ của núi ngàn). Về sau có thêm Mẫu Liễu Hạnh (cõi nhân gian) ở thế kỷ
XVI. Đó còn là bà Mẹ xứ sở Pô Nưgar ở miền Trung của đồng bào Chăm, Bà chúa
Ngọc ở Huế, Bà chúa Tiên ở Nha Trang, Bà chúa Xứ ở Tây Nam Bộ...
Hội chùa Dâu mở hằng năm tại trung tâm Phật giáo đầu tiên ở nước ta hồi thế kỷ thứ
III, IV... ở 5 làng thuộc tổng Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc (thuộc khu vực
thành Luy Lâu xưa). Hội chùa Dâu gắn liền với việc thờ phụng năm nữ thần thờ ở 5
chùa thuộc tổng Dâu. Đó là Pháp Vân (vị thần chủ trì Mây), Pháp Vũ (vị thần chủ
Mưa), Pháp Lôi (vị thần chủ Sét), Pháp Điện (vị thần chủ Chớp) tục gọi là Tứ Pháp.
Các vị thần ấy chủ trì những lực lượng tự nhiên mà cư dân nông nghiệp cổ rất sùng
bái, vì có liên quan đến việc cung cấp nước cho nghề trồng lúa nước. Tứ Pháp được
đưa vào nhà chùa nhưng thực chất là các vị thần người Việt cổ.
6
Có thể nói, người phụ nữ Việt Nam đã có mặt và đóng vai trò quan trọng trong tiến
trình văn hóa của dân tộc Việt... Hiện nay, chủ trương của Nhà nước về việc trao tặng
danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" chính là tiếp nối với tiến trình văn hóa tốt đẹp
của dân tộc đối với người phụ nữ
II) Vì sao trong xã hội Việt Nam phong kiến việc tôn thờ: Quốc Mẫu Âu Cơ, Liễu
Hạnh Thánh Mẫu, Hai Bà Trưng, Bà Triệu lại rất được coi trọng.
Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng mang đậm chất bản địa và nguyên
thuỷ. Bởi vì tín ngưỡng thờ Mẫu có nguồn gốc sâu xa từ chế độ mẫu hệ, trong đó
người mẹ, người vợ giữ vị trí quan trọng trong gia đình. Do vậy, trong cuộc sống hàng
ngày cũng như trong văn chương nghệ thuật thì chữ “Mẫu”, chữ “Mẹ”, chữ “Cái” vẫn
giữ nguyên giá trị như nó vốn có cho đến bây giờ. Cũng như thế, ý nghĩa của chữ
Mẫu-Mẹ trong các danh từ đền Mẫu, Thánh Mẫu trong tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt
Nam cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó.
1. Từ thờ Nữ thần, Mẫu thần đến Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ
a. Tôn thờ nữ thần
Từ rất lâu đời, ở nước ta Nữ Thần đã được nhân dân tôn vinh và thờ cúng. Người xưa
cũng đã từng tập hợp các vị tiên có nguồn gốc thuần Việt , thì trong tổng số 27 vị, đã
có 14 là Tiên nữ. Trong truyền thuyết Nữ thần Mặt Trời và Nữ thần Mặt Trăng đã soi
sáng và sởi ấm cho mặt đất, tạo lập nên vũ trụ. Huyền thoại về Bà Nữ Oa đội đá vá
trời. Các nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Phong, Pháp Điện tạo ra mây,
7
gió , sấm chớp… Sinh thành ra dân tộc Việt Nam có Mẹ Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng,
nở thành 100 người con. Các bà Mẹ cũng là các vị thần sáng tạo ra văn hoá và các giá
trị văn hoá, là tổ của nhiều ngành nghề truyền thống như Mẹ Lúa, Mẹ Mía, Mẹ Lửa…
Nhiều Nữ thần là các danh tướng anh hùng ngoài trận mạc, là những nhân tài xây
dựng đất nước như Hai Bà Trưng, Bà Triệu... Các vị Nữ thần từ bao đời nay được
nhân dân tôn làm Thánh , Thần, được triều đình sắc phong thành các vị Thần, Thành
Hoàng của nhiều làng.
b. Tục thờ Mẫu và Tam toà Thánh Mẫu có quan hệ mật thiết với tục thờ Nữ thần
Mẫu là Nữ thần nhưng không phải tất cả các nữ thần đều là Mẫu, mà chỉ có một số nữ
thần được tôn vinh là Mẫu. Danh từ Mẫu là gốc Hán Việt, còn thuần Việt gọi là Mẹ.
Nghĩa ban đầu, Mẫu hay Mẹ đều để chỉ người phụ nữ đã sinh ra một người nào đó, là
tiếng xưng của người con đối với người sinh ra mình. Ngoài ý nghĩa xưng hô thông
thường đó, từ Mẫu và Mẹ có ý nghĩa rộng rãi tôn vinh những bà Mẹ chung của mọi
người. Tín ngưỡng thờ Mẫu chứa đựng những nhân tố về một hệ thống vũ trụ luận
nguyên sơ, thể hiện một ý thức nhân sinh, ý thức cội nguồn, dân tộc, lòng yêu nước đã
được thiêng liêng hoá mà Mẫu là biểu tượng cao nhất. Đạo Mẫu tiếp thu những ảnh
hưởng của tục thờ cúng tổ tiên,một tín ngưỡng có vai trò quan trọng hàng đầu trong
tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình đạo Phật du nhập vào nước ta và
một bộ phận quan trọng của nó đã phát triển theo khuynh hướng dân gian hoá, giữa
đạo Phật và đạo Mẫu có sự thâm nhập và tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau khá sâu sắc.
Điều dễ nhận biết là ở hầu hết các ngôi chùa hiện nay ở nông thôn đều có điện thờ
Mẫu. Trong đó phổ biến nhất là dạng “ tiền Phật hậu Mẫu ” - (phía trước thờ Phật
,phía sau thờ Mẫu).
8
Tuy chưa có thống kê đầy đủ, nhưng các cách tôn xưng là Mẫu đều liên quan đến các
trường hợp sau:
* Các Mẫu đứng đầu trong tín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ là Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu
Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa, Thánh Mẫu Thiên Ya Na…
đều là Thánh Mẫu.
* Các Thái hậu, Hoàng Hậu, Công chúa có tài năng, công lao lớn, hiển linh thì cũng
được tôn xưng là các Mẫu: Quốc Mẫu, Vương Mẫu.
2. Đạo Mẫu, nghi lễ và lễ hội
3. Lên đồng
Theo GS Ngô Đức Thịnh, nghi lễ hầu bóng (lên đồng) của Đạo Mẫu, từ lâu là nhu cầu
tâm linh không thể thiếu của người Việt Nam. Lên đồng hay còn gọi là hầu đồng, hầu
bóng, đồng bóng là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman
giáo) của nhiều dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Về bản chất, đây
là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà
đồng). Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng,
bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con
nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn
là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.
3. Ba dạng thức thờ Mẫu
a.Thờ Mẫu ở Bắc bộ
9
Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến
một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương
ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến,
hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu
như hiện tượng thờ Ỷ Lan nguyên phi, Bà chúa Kho, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh
nương
Từ khoảng thế kỷ 15 trở đi, hình thức thờ mẫu Tam phủ, Tứ phủ được định hình và
phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh với các nghi
thức ảnh hưởng từ Đạo giáo
b. Thờ Mẫu ở Trung Bộ
Dạng thức thờ Mẫu này chủ yếu ở khu vực nam Trung bộ, đặc trưng cơ bản của dạng
thức thờ Mẫu ở đây là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diện của mẫu Tam phủ,
Tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần. Hình thức thờ Nữ thần như thờ
Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Mẫu thần như thờ Thiên Y A Na,
Ponagar
c. Thờ Mẫu ở Nam bộ
So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện
rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa
hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với
nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang
các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư
10
dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả
trong tín ngưỡng
Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương,
Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô,...và những Mẫu thần được thờ phụng như
Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu,...
4. Các vị nữ thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam:
A. Quốc Mẫu Âu Cơ.
Âu Cơ là một nàng tiên xinh đẹp sống ở trên những ngọn núi cao. Nàng đi khắp bốn
phương để giúp và trị những người đang lâm bệnh và gặp khó khăn. Nàng có lòng từ
bi và có tài về y thuật. Một ngày nọ, một con quái vật làm nàng sợ hãi. Nàng liền biến
thành một con sếu mà bay đi. Lạc Long Quân, là thần rồng từ biển cả, thấy nàng đang
gặp nguy hiểm liền cầm lấy cục đá và giết tên quái vật Sau đó tình yêu đã nảy nở giữa
hai người và họ cưới nhau. Âu Cơ sinh ra một bọc trứng có 100 người con. Một ngày
nọ, Lạc Long Quân nói với nàng vì hai người đến từ chủng tộc và môi trường rất khác
nhau nên không thể chung sống với nhau trọn đời được. Họ bèn chia nhau mỗi người
50 đứa con, 50 theo mẹ, 50 theo bố. 50 người con theo mẹ đi đến ở Phong Châu,
người anh cả trở thành Hùng Vương đầu tiên của nước Văn Lang.
Đây là vị Mẫu được nhân dân tôn sùng là Quốc Mẫu vì, người ta tin Âu Cơ đã sinh
đồng bào ta trong bọc trăm trứng từ đó người dân việt tự hòa là dòng giống con rồng
cháu tiên. Quốc Mẫu Âu cơ được người dân thờ phụng.
B. Liễu Hạnh Thánh Mẫu
11
Liễu Hạnh Công chúa (chữ Hán: 柳杏公主) là một trong những vị thần quan trọng
của tín ngưỡng Việt Nam. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh
(柳杏), Mẫu Liễu Hạnh (母柳杏) hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi
ngắn gọn là Thánh Mẫu.
Theo truyền thuyết trong dân gian Việt Nam, Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một trong
bốn vị thánh Tứ bất tử. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến
thời nhà Nguyễn cấp nhiều Sắc, tôn phong là "Mẫu nghi thiên hạ - Mẹ của muôn dân".
Bà còn được cho là người đứng đầu hệ thống Tam phủ, Tứ phủ thờ đạo Mẫu.
C. Hai Bà Trưng
Hai Bà Trưng được coi là anh hùng dân tộc của Việt Nam, và được thờ cúng tại nhiều
đền thờ, trong đó lớn nhất là Đền Hai Bà Trưng ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và đền
Hai Bà Trưng tại thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh,Vĩnh Phúc nay là Mê
Linh,Hà Nội - quê hương của hai bà. Ngoài ra, tại tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) hiện
nay vẫn còn miếu thờ Trưng Vương (miếu này đã được kiểm chứng bởi hai nhà nho đi
sứ đó là Nguyễn Thực và Ngô Thì Nhậm) do những cừ súy bị bắt về đất Hán sau khi
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại lập ra để tưởng nhớ về quê hương và cũng là thể
hiện tinh thần bất khuất của người Việt thời Hai Bà Trưng.
D. Bà Triệu
Sử gia Ngô Sĩ Liên ở thế kỷ 15 viết:
12
Triệu Ẩu (tức Bà Triệu) là người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh
phá thành ấp, các bộ đều theo như bóng theo hình, dễ hơn trở bàn tay. Tuy chưa chiếm
giữ được đất Lĩnh Biểu như việc cũ của Trưng Vương, nhưng cũng là bậc hùng tài
trong nữ giới.
Hiện nay, nơi núi Tùng (xã Triệu Lộc), vẫn còn di tích lăng mộ của bà. Cách nơi bà
mất không xa, trên núi Gai ngay sát quốc lộ 1A (đoạn đi qua thôn Phú Điền, xã Triệu
Lộc, cách thành phố Thanh Hóa 18 km về phía Bắc) là đền thờ bà. Hằng năm, vào
ngày 21 tháng 2 (âm lịch), người dân trong vùng vẫn tổ chức tế giỗ bà. Tại nhiều tỉnh
thành trong nước Việt Nam, tên bà cũng đã được dùng để đặt tên cho nhiều trường
học và đường phố; riêng tại Hà Nội, có một con đường mang tên phố Bà Triệu.
5. Kết luận
Đạo thờ Mẫu là một hiên tượng văn hóa dân gian tổng thể. Là một loại hình tín
ngưỡng tôn giáo, tục thờ Mẫu đang trong quá trình chuyển hóa từ tín ngưỡng nguyên
thủy thành một tôn giáo dân gian sơ khai. Với môi trường xã hội, Đạo Mẫu như là
một hiên tượng sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa cộng đồng. Và ta Thấy tín ngưỡng thờ
mẫu của nhân dân ta bắt nguồn từ từ chế độ mẫu hệ, trong đó người mẹ, người vợ giữ
vị trí quan trọng trong gia đình.
=====HẾT=====
13
Mục Lục
Lời mở đầu.
I) Vẻ đẹp hình tượng của người Phụ nữ trong văn hóa thờ cúng
II) Vì sao trong xã hội Việt Nam phong kiến việc tôn thờ: Quốc Mẫu Âu Cơ, Liễu
Hạnh Thánh Mẫu, Hai Bà Trưng, Bà Triệu lại rất được coi trọng.
1. Từ thờ Nữ thần, Mẫu thần đến Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ
2. . Ba dạng thức thờ Mẫu
3. . Ba dạng thức thờ Mẫu
4. Các vị nữ thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu
5. Kết luận