Tải bản đầy đủ (.pdf) (106 trang)

Luận văn Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (688.49 KB, 106 trang )

Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 6
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 6
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................... 7
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 8
7. Bố cục của luận văn. ..................................................................................... 8
CHƢƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG ĐỒNG VATICAN II (1962 - 1965)
........................................................................................................................... 9
1.1. Bối cảnh lịch sử dẫn đến Công đồng Vatican II ........................................ 9
1.1.1. Bối cảnh thế giới ..................................................................................... 9
1.1.2. Tình hình Giáo hội Kitô ........................................................................ 12
1.2. Khái quát nội dung đổi mới của Công đồng Vatican II ........................... 14
1.2.1 Quá trình thành lập Công đồng Vatican II ............................................ 14
1.2.2. Nội dung đổi mới của Công đồng Vatican II(1962-1965). .................. 16
CHƢƠNG 2. TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II ĐỐI VỚI
GIÁO HỘI CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM (TỪ NĂM 1965 ĐẾN NAY) ... 38
2.1. Tình hình Giáo hội Công giáo ở Việt Nam trước Công đồng Vatican II
(từ năm 1945 đến trước 1965)......................................................................... 38
2.2. Tác động của Công đồng Vatican II đối với Giáo hội Công giáo Việt
Nam (từ 1965 đến nay).................................................................................... 46
2.2.1. Hàng ngũ giáo sĩ Công giáo Việt Nam dưới tác động của Công đồng
Vatican II (từ 1965 đến nay) ........................................................................... 46
2.2.2. Giáo dân dưới tác động của Công đồng Vatican II (từ 1965 đến nay) ........ 60
2.2.2.1. Những đổi mới về vấn đề sinh hoạt tôn giáo ..................................... 60



Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

2.2.2.2. Giáo dân với khoa học – kĩ thuật và kinh tế ...................................... 66
2.2.2.3. Những thay đổi trong sinh hoạt văn hóa – xã hội.............................. 70
Tiểu kết chương 2 ............................................................................................ 81
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CÔNG ĐỒNG VATICAN II
(1962 – 1965) VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG ĐỒNG ĐỐI VỚI GIÁO HỘI
CÔNG GIÁO Ở VIỆT NAM (TỪ NĂM 1965 ĐẾN NAY) ....................... 83
3.1. Nhận xét về Công đồng Vatican II (1962 - 1965) ................................... 83
3.1.1. Mặt tích cực của Công đồng Vatiacan II .............................................. 83
1.3.2. Mặt hạn chế của Công đồng Vatiacan II .............................................. 86
3.2. Nhận xét về tác động của Công đồng Vatican II đối với Giáo hội Công
giáo Việt Nam (từ 1965 đến nay) .................................................................... 88
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................ 95
KẾT LUẬN .................................................................................................... 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 98


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đạo Ki tô là một tôn giáo lớn nhất hành tinh từ hai chục thế kỉ nay. Một
trong những nguyên nhân quan trọng duy trì được ngôi vị đó là do Giáo hội
Ki tô luôn nhạy bén với thời cuộc và linh họạt trong hoạt động để tiến bước
cùng với sự phát triển của lịch sử nhân loại.
Bước sang thế kỉ XX, tình hình thế giới có những biến động dữ dội về

chính trị, xã hội. Đây cũng là thế kỉ cuộc cách mang khoa học kĩ thuật và
công nghệ phát triển như vũ bão, loài người đã đạt những thành tựu to lớn
trong việc chinh phục, khám phá tự nhiên, thay đổi cuộc sống của bản thân
mình.Để phù hợp với xu thế mới của thế giới và duy trì địa vị của mình, để
tồn tại và phát triển, buộc giáo triều Rôma phải thay đổi. Vì vậy, tháng từ
tháng 10/ 1962 đến tháng 12/1965 đã diễn ra hội nghị của các giáo chủ trên
toàn thế giới lần thứ 21, đó là Công đồng Vatican II. Công đồng Vatican
II(1962-1965) đánh dấu sự đổi mới, canh tân, thích nghi với thời đại của giáo
hội Ki tô.Công đồng Vatiacan II thực sự là một luồng sinh khí mới làm thay
đổi, tươi mới bộ mặt của giáo hội. Các nhà thần học thường dùng những thuật
ngữ như: cải cách, canh tân, thích nghi, đối thoại…để chỉ về giáo hội Ki tô
sau Công đồng Vatcan II.Tác giả Nguyễn Đình Quý trong tác phẩm: “ Tìm
hiểu Công đồng Vatican II” cũng nhận xét: “ Công đồng Vatican II xuất hiện
như một sự cứu cánh thích nghi của giáo hội”. Điều đó cho thấy, Công đồng
Vatican II có tác động không nhỏ tới giáo hội Ki tô.
Ki tô giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỉ XVI với những tên gọi như
Công giáo, Thiên chúa giáo, đạo Gia tô…. Sau nhiều thế kỉ tồn tại và phát triển,
Công giáo ở Việt Nam có số lượng tín đồ đứng hàng thứ 2 ở Đông Nam Á ( sau
philippin).Thế kỉ XX, Việt Nam cũng trải qua những biến động lớn chưa từng có
trong lịch sử dân tộc. Tình hình đạo Công giáo ở Việt Nam cũng có những thời

1


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

kì diễn biến hết sức phức tạp nhưng từ sau công đồng Vatican II,Giáo hội Công
giáo ở Việt Nam có những thay đổi rõ rệt theo chiều hướng tích cực.
Ở nước ta, Công giáo là một trong 6 tôn giáo được nhà nước công nhận

tư cách pháp nhân và là một trong những tôn giáo có số lượng tín đồ đông đảo
thứ 2 sau Phật giáo. Tìm hiểu về Công đồng Vatican II(1962-1965) và tác
động của nó tới Giáo hội Công giáo ở Việt Nam( từ 1965 đến nay) chính là
tìm hiểu một khía cạnh của nền văn hóa Việt Nam.Vấn đề trên có tác dụng hỗ
trợ cho giáo viên trong việc tìm hiểu và giảng dạy những nội dung về văn hóa
Việt Nam tốt hơn.Nhưngcho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có một công trình
khoa học nào nghiên cứu về vấn đề trên.
Với những lí do trên, tôi đã mạnh dạn chọn vấn đề “ Công đồng Vatican
II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công giáo Việt Nam ( từ
1965 đến nay)”làm đề tài cho cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Đến nay, ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Công
đồng Vatican II ở các phạm vi và góc độ khác nhau.
Trước hết là cuốn “Tìm hiểu Công đồng Vatican II” của Nguyễn Đình
Quý, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 1990. Đây là cuốn sách giới thiệu đầy
đủ nhất toàn bộ nội dung đổi mới của Công đồng Vatcan II.
Cuốn “ Một số vấn đề Lịch sử Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam” của tĐỗ
Quang Hưng, Tủ sách Đại học Tổng Hợp Hà Nội, năm 1991. Tác giả đã
thống kê được danh mục 21 Công đồng trong lịch sử; những nguyên nhân và
quá trình dẫn đến Công đồng Vatican II và nội dung cơ bản trong các văn
kiện của Công đồng.
Cuốn “Sưu tập chuyên đề Cơ Đốc giáo và Chủ nghĩa xã hội”, Viện
Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, năm 1978, cũng dành một chương
“Vatican II và sự tiến triển của Giáo hội”- dịch từ tiếng Pháp bài viết

2


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)


“Vatican II et l’esvoltion de I’esglige” của tác giả người Pháp Casanova
Antine, Paris, Esdi-tions socials, 1969,291p. Bài viết phân tích rõ những thay
đổi của thế giới và thay đổi trong ý thức tôn giáo của nhân dân, dẫn đến sự
đổi mới của Công đồng. Tác giả cũng nêu những nội dung cơ bản của Công
đồng Vatican II. Đặc biệt đề cập đến vấn đề Vatican II và Chủ nghĩa Cộng
sản với cái nhìn thẳng vào sự thật.
Viết về tác động của Công đồng Vatican II đối với đạo Công giáo nói
chung và đạo Công giáo ở Việt Nam nói riêng cũng đã có một số công tình
nghiên cứu. Tiêu biểu:
Cuốn “ Bốn mươi năm sau Vatican II nhìn lại” của Hội đồng Giám mục
Việt Nam- sách lưu hành nội bộ, với nhiều bài viết của các linh mục người
Việt và một số bài dịch từ bài viết của các tác giả nước ngoài. Các tác giả đề
cập đến nhiều vấn đề khác nhau, trong đó trọng tâm nói đến sự thay đổi của
đạo Công giáo từ sau Công đồng Vatican II, Công giáo trước những biến đổi
của đương đại…
Cuốn “ Ki tô giáo đi vào văn hoá Việt Nam” của Lm. An Sơn Vị, UBĐK
Công giáo Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10/1991. Tác giả phân
tích rõ sự cần thiết phải hội nhập văn hoá dân tộc của Ki tô giáo cũng như
những nội dung cần đổi mới, biện pháp để hội nhập.
Cuốn “ Giáo dân với Công đồng Vatican II” của Nguyễn Văn Nội,
UBĐK Công giáo thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5/1992. Tác giả đã giới
thiệu chung về Công đồng Vatican II, đồng thời làm rõ tác động của Công
đồng Vatican II với đời sống người tín hữu hôm nay.
Cuốn “ Về tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiện nay” của Đặng Nghiêm
Vạn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1998, có bài viết về “ Công giáo Việt
Nam” của Nguyễn Hồng Dương, đề cập đến tổ chức của Giáo hội Công giáo
và một số thay đổi trong đời sống tu trì của Giáo hội Công giáo Việt Nam sau
Công đồng Vatican II.


3


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

Năm 2005, Ủy ban đoàn kết Công giáo Việt Nam tổ chức hội thảo khoa
học và xuất bản “ Kỷ yếu hội thảo khoa học từ Công đồng Vatiacan II đến
Thư chung 1980”, nxb Tôn giáo ấn hành, đã giới thiệu một số bài viết của các
nhà khoa học cũng như các học giả Công giáo về Công đồng Vatican II và
ảnh hưởng của nó tới Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam…
Cuốn “ Nếp sống đạo của người Công giáo Việt Nam” do Nguyễn
Hồng Dương làm chủ biên, NXB Từ Điển Bách Khoa, năm 2010. Đây là
cuốn sách bao gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả khác nhau, bàn về vấn đề
nếp sống đạo của người Công giáo trước những đổi mới của Công đồng
Vatican II và sự thay đổi của thực tiễn cuộc sống và nhu cầu con người.
Tác phẩm “Tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở Việt Nam” của Nguyễn
Hồng Dương, nxb Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2011, đã làm nổi bật được sự
đổi mới về tổ chức Xứ, Họ đạo Công giáo và đời sống đạo trong làng Công
giáo ở Việt Nam sau Công đồng Vatican II.
Tác động của Công đồng Vatican II đối với đạo Công giáo ở Việt Nam
còn được nhắc đến trong nhiều tác phẩm khác như: “Một số vấn đề về lịch sử
Thiên Chúa giáo ở Việt Nam” của Đỗ Quang Hưng, Khoa Lịch sử trường Đại
học Tổng Hợp Hà Nội, Hà Nội 1990; “Giáo dân với công đồng Vatican II”
của Nguyễn Văn Hội, nxb thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992; “ Ảnh hưởng
của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” của
Nguyễn Tài Thư, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1997; “ Lý luận về tôn
giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” của Nguyễn Đức Lữ, NXB Tôn
giáo, Hà Nội 1998; ; “Sống đạo theo cung cách Việt Nam” của nhiều tác giả,
NXB Tôn giáo, Hà Nội năm 2004; “ Một số vấn đề cơ bản của Công giáo

Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Hồng Dương, NXB Từ Điển Bách Khoa, Hà
Nội 2012; “Công giáo trong mắt tôi” của Đỗ Quang Hưng, NXB Tôn Giáo,
Hà Nội, 2012.v.v…

4


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

Ngoài ra còn một số luận văn đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau của đạo
Công giáo, cụ thể như: “Hệ thống tổ chức giáo hội Công giáo thế giới” của
Nguyễn Thị Lan Anh- khoa Lịch Sử- Đại học Sư Phạm Hà Nội năm
2001;”Tìm hiểu về các mùa phụng vụ trong năm của giáo hội Công giáo” của
Trần Thị Thoan – khoa Lịch sử- Đại học Sư Phạm Hà Nội năm 2006.v.v…
Đặc biệt gần đây, luận văn thạc sĩ của Đào Xuân Hồng - Học viện chính
trị quốc gia với đề tài: “Ảnh hưởng của Công đồng Vatican II đối với đạo
Công giáo ở tỉnh Đồng Nai”. Luận văn đã đi sâu tìm hiểu về nội dung của
Công đồng Vatican II và một số ảnh hưởng của Công đồng đối với đạo Công
giáo ở tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên luận văn tìm hiểu vấn đề dựa trên nền tảng lí
luận chính trị, tìm hiểu những thay đổi trong sinh hoạt tôn giáo của cộng
đồng Công giáo ở tỉnh Đồng Nai.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu, vấn đề tác động của Công đồng
Vatican II còn được đăng một khối lượng lớn với nhiều tác giả khác nhau tren
các tạp chí. Cụ thể như: Mai Thanh Hải với bài: Bốn mươi năm công đồng
Vatican II, mười việc còn dang dở, Tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 4, năm
2005. “Bước đường hội nhập văn hóa dân tộc của Công giáo Việt Nam”, Tạp
chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1, 2, năm 1999. Nguyễn Hồng Dương với rất
nhiều bài viết như: “ Công đồng Vatican II ở Việt Nam( nhìn từ góc độ lí luận
về hội nhập văn hóa)” Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3, năm 2001.. “Về

thực hiện “Hiến chế về phụng vụ Thánh” của Công giáo ở Việt Nam sau
Công đồng Vatican II (1962 – 1965)”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4,
năm 2011. “Hậu Công đồng Vatican II – Những vấn đề Giáo hội Công giáo
đang phải đối diện”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, năm 2012. Thiện
Cẩm (2011), “Sự hội nhập của Kitô giáo vào thế giới hiện đại”, Nguyệt san
Công giáo và dân tộc”.v.v.. Nguyễn Văn Dũng (2011), “45 năm Công đồng
Vatican II: Nhìn lại”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3. Ngô Quốc Đông

5


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

(2011), “Các giám mục miền Nam trong tiến trình đồng hành cùng dân tộc”,
Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2. Ngô Quốc Đông (2013), “Đối thoại liên
tôn giáo từ Công đồng Vatican II”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 11. Trần
Thị Quỳnh Giao (2012), “Ảnh hưởng của Công đồng Vatican II trên đời sống
Giáo hội Việt Nam”, Nguyệt san Công giáo và dân tộc,..v.v…
Sau gần nửa thế kỉ, Công đồng Vatican II đã đi sâu vào đời sống Giáo hội
Công giáo Việt Nam, làm thay đổi ít nhiều về tổ chức của Giáo hội Công
giáo, về nghi lễ Phụng vụ, về vai trò của Giáo hội Công giáo trong xu thế phát
triển mới của đất nước, những thói quen sinh hoạt, tập tục, tư duy của giáo
dân Việt Nam. Dưới ánh sáng của Công đồng Vatican II, giáo dân Việt Nam
đã có đóng góp không nhỏ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong
thời đại mới. Vấn đề này chưa được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu với
cái nhìn tổng quan. Đó cũng là lí do tôi chọn đề tài “ Công đồng Vatican
II(1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công giáo Việt Nam( từ 1965
đến nay)”.
3. Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Tìm hiểu vềCông đồng Vatican II (1962-1965) và tác
động của nó đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam, cụ thể là những thay đổi
trong hàng ngũ giáo sĩ Công giáo và thay đổi trong đời sống giáo dân từ sau
Công đồng Vatican II.
- Về thời gian: Tìm hiểu tác động của Công đồng Vatican II (1962-1965)
tới Giáo hội Công giáo ở Việt Nam(từ 1965 đến nay).
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở tìm hiểu Công đồng Vatican II, luận văn đi sâu làm rõ những
tác động của Công đồng Vatiacan II đối với Giáo hội Công giáo ở Việt Nam
từ 1965 đến nay.

6


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ bối cảnh lịch sử dẫn đến Công đồng, những nội dung đổi mới
của Công đồng Vatican II (1962-1965).
- Tình hình Giáo hội Công giáo ở Việt Nam trước Công đồng Vatiacan II
( từ 1945đến trước năm 1965).
- Làm rõ tác động của Công đồng Vatican II đối với Giáo hội Công giáo
Việt Nam từ năm 1965 đến nay, cụ thể là: Những thay đổi trong hàng ngũ
giáo sĩ Công giáo vànhững thay đổi trong đời sống giáo dân từ sau Công đồng
Vatican II.
- Một số nhận xét vềCông đồng Vatican II(1962-1965) và tác động của
Công đồng tới Giáo hội Công giáo Việt Nam (từ1965 đến nay).

.5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Luận văn sử dụng nhiều nguồn tài liệu. Trước hết là những tác phẩm viết
về Công đồng Vatican II, những bài viết trên các tạp chí nói về ảnh hưởng của
Công đồng Vatiacan II đối với một số lĩnh vực cụ thể của đạo Công giáo ở
Việt Nam, do các tác giả trong nước viết.
Luận văn còn sử dụng một số tác phẩm của các tác giả nước ngoài dịch
sang tiếng Việt, một số tác phẩm tiếng Anh viết về Công đồng Vatican II và
những thay đổi trong lĩnh vực tôn giáo.
…Ngoài ra, luận văn có tham khảo nội dung của một số khóa luận tốt
nghiệp và thạc sĩ của một số tác giả đi trước, tìm hiểu về Công đồng Vatican
II. Tư liệu lấy từ những chuyến đi thực tế trên một số địa phận Công giáo
trọng điểm…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Do đặc trưng của bộ môn Lịch sử, trong luận văn này, tác giả đã sử dụng
chủ yếu phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic. Ngoài ra, tác giả

7


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

luận văn sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp làm sáng tỏ
những mục tiêu đề tài đặt ra.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về Công
đồng Vatiacan II, về tác động của Công đồng đối với Giáo hội Công giáo ở
Việt Nam.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tư liệu tham khảo cho việc tìm hiểu

về tôn giáo, xã hội, văn hóa của Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Khái quát về Công đồng Vatican II (1962-1965)
Chương 2. Tác động của Công đồng Vatican II đối với Giáo hội Công
giáo ở Việt Nam( từ 1965 đến nay)
Chương 3. Một số nhận xét về Công đồng Vatican II(1962-1965) và tác
động của Công đồng đối với Giáo hội Công giáo ở Việt Nam (1965 đến nay).

8


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

CHƢƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG ĐỒNG VATICAN II (1962 - 1965)
1.1. Bối cảnh lịch sử dẫn đến Công đồng Vatican II
1.1.1. Bối cảnh thế giới
Trong thế kỉ XX, đặc biệt là trước khi thành lập Công đồng Vatican II,
thế giới đã và đang trải qua những biến động lớn về kinh tế, chính trị, xã hội.
Điều đó có tác động không nhỏ đối với cuộc sống của người dân trên toàn thế
giới, làm thay đổi ít nhiều trong suy nghĩ và quan niệm của họ. Tình hình đó
có ảnh hưởng lớn đến vấn đề tôn giáo.
Vấn đề nổi bật của thế kỉ XX là thế giới đã trải qua hai cuộc chiến
tranh: Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) và Chiến tranh thế giới
lần thứ hai (1939 - 1945), để lại hậu quả vô cùng tàn khốc cho nhân dân toàn
thế giới. Từ đó, người ta bắt đầu nghi ngờ và thất vọng về Chủ nghĩa Tư Bản
và các giá trị phương Tây Ki tô giáo. Cũng từ hai cuộc chiến này, thế giới bị
chia thành hai khối thù địch luôn trong tư thế nhằm thôn tính lẫn nhau. Đó là

sự đối địch giữa hai phe: phe Xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và phe
Tư bản chủ nghĩa do Mĩ cầm đầu. Trật tự hai cực Ianta hình thành và Chiến
tranh lạnh bao trùm khắp thế giới. Tình hình căng thẳng và phức tạp kéo dài
đã gây nên tâm lí mệt mỏi, chán nản đối với nhân loại.
Nhưng sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới tiếp tục có
nhiều biến đổi có lợi cho cách mạng và ảnh hưởng không nhỏ đến đơi sống
tôn giáo nói chung và đạo Kitô nói riêng: chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ
thống thế giới và đang có ảnh hưởng quyết định đối với cục diện chính trị thế
giới; phong trào giải phóng dân tộc ngày càng phát triển sâu rộng, đang đấu
tranh đòi thủ tiêu chủ nghĩa thực dân cũ, làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới
và các thế lực phản động quốc tế; phong trào công nhân và phong trào đấu
tranh cho hoà bình, tự do, dân chủ ở các nước tư bản cũng đang có những

9


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

bước phát triển mới; cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đang bùng nổ mạnh
mẽ với những thành tựu về giao thông vận tải, thông tin liên lạc, chinh phục
vũ trụ… Những biến đổi trên đã tác động đến tư tưởng nhân dân trên toàn thế
giới, trong đó có nhân dân theo đạo Thiên Chúa. Trước những tiến bộ và tính
đúng đắn được chứng minh trong thực tế của học thuyết khoa học và cách
mạng của Chủ nghĩa xã hội, những giáo lí, giáo luật và nghi lễ của Giáo hội
Công giáo lúc đó đã trở nên lỗi thời, đi ngược với lợi ích và guyện vọng của
nhân loại. Hơn thế, đã có nhiều giáo dân tỏ ra hoài nghi và bất bình với đường
lối chống cách mạng, với thái độ cấu kết trắng trợn của Vatican đối với bọn
Đế Quốc. Tình hình đó làm trỗi dậy tinh thần dân tộc, khích lệ giáo dân các
nước đứng lên đấu tranh đòi xoá bỏ đặc quyền đặc lợi của các giáo sĩ phương

Tây và thành lập hàng giáo phẩm bản quốc, do các giáo sĩ bản địa cai quản.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ sau Chiến tranh thế
giới thứ hai, đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thứ của con người. Tâm lí
con người ngày nay hướng về niềm tin khoa học chứng thực hơn là tin vào
những điều thần bí của tôn giáo. Nội dung và hình thức của tôn giáo theo
đó mà nghèo nàn dần, mất đi sự mầu nhiệm linh thiêng trước đây. Khoa
học kĩ thuật phát triển đã làm cho nền tảng giáo lí và những tín điều của
Công giáo bị lung lay.
Nhiều nhân vật có chức vụ cao trong Giáo hội đã phải suy nghĩ đến
những biến đổi của đương đại. Con người ngày nay đang mong mỏi Giáo hội
hãy khước từ một số hình thức hoạt động cũ kĩ không hợp thời, thay vào đó là
những hình thức hoạt động hoà hợp cải tạo cho phù hợp với thời thế. Nếu
không, giáo dân để cho thoả mãn lòng đạo, buộc họ phải đi tìm những hình
thức sùng bái khác thích ứng với tâm hồn họ. Trong diễn văn về vấn đề Công
đồng và tư tưởng cận đại ngày 20-11-1961, giáo chủ Phơ Rinh ở Tây Đức đã
tỏ ý lo ngại: “Do lòng tin quá mạnh mẽ của quần chúng với khoa học, họ

10


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

trông mong tất cả vào khoa học, ngay cả việc giải quyết những vấn đề mà
trước đây họ chỉ trông mong vào Giáo hội” [45;19]. Giáo hoàng Gioan XXIII
trong sắc chỉ “Cứu vãn nhân loại” nhân lễ Noel 1961 cũng đã nhìn nhận
rằng: “Ngày nay, Giáo hội phải trải qua một cơn khủng hoảng trầm trọng…
con người ngày nay trong lĩnh vực thiêng liêng chậm tiến hơn trong lĩnh vực
vật chất… Vì cục diện xã hội loài người thay đổi nên Giáo hội Thiên Chúa
cũng phải thay đổi theo” [45;18].

Mặt khác, cũng do xu thế của thời đại, thế giới lao động đã có một tầm
quan trọng đối với xã hội cũng như đối với đời sống Công giáo. Họ đòi hỏi
phải dân chủ hoá giáo dân. Nhưng bản chất của Giáo hội Công giáo là một xã
hội bất bình đẳng. Trong đó, các linh mục là lãnh đạo, còn đa số con chiên thì
phải phục tùng sự chỉ huy của họ. Nhưng từ lâu, qua nhiều dấu hiệu, những
phần tử tích cực trong nhà thờ không hài lòng chịu đựng mãi sự sai khiến của
bề trên. Họ cho rằng sự phục tùng là ngược lại đối với sự phát triển của nhân
cách, không xứng với con người tự do và trưởng thành. Người ta đòi hỏi phải
thừa nhận giá trị của con chiên trước Chúa. Nhiều giám mục trong Công đồng
Vatican II thừa nhận rằng, nếu từ chối không mở rộng trách nhiệm cho các
con chiên thì linh mục có nguy cơ bị cắt khỏi thực tế. Vì vậy trong Công đồng
II, Giáo hội được trình bày như dân của Chúa. Tất cả các tín đồ, dù là linh
mục hay các tín đồ bình thường đều có trách hiệm và phận vị xuất phát từ
Chúa. Là thành viên trong dân Chúa, các con chiên bình thường có vị trí bình
đẳng. Hoạt động chủ yếu về mặt thực tiễn xã hội. Họ có sự tham gia của Chúa
trong những cuộc đấu tranh để cải tạo thế giới. Giáo hoàng Paul VI đã từng
nói: “Thế giới lao động có một tầm quan trọng quyết định số phận của cả
nước, của đời sống Thiên Chúa giáo. Vì vậy mà những mối quan hệ giữa các
linh mục và công nhân phải là đối tượng chú ý sâu sắc” [42;30].

11


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

Như vậy, để phù hợp với những biến đổi của tình hình thế giới, Giáo
hội Công giáo buộc phải thay đổi để tránh tình trạng bị lỗi thời, thụt lùi và có
thể dẫn tới bị tiêu vong trước sự phát triển của khoa học, sự tiến bộ trong
nhận thức con người. Bởi “nếu rất khó khi làm cho cuộc sống xã hội phù hợp

với điều kiện tôn giáo thì lại dễ dàng hơn khi làm cho tôn giáo phù hợp với
cuộc sống…” [29;26]. Đó là đường lối “thích nghi thời đại” của giáo hội
Công giáo được đặt ra trong Công đồng Vatican II.
1.1.2. Tình hình Giáo hội Kitô
Tình hình thế giới đó đã tác động rất mạnh vào nội bộ Giáo hội Công
giáo. Giáo hội không thể tránh được việc đem lí thuyết của mình đối chứng
với lí thuyết, nguyện vọng và những yêu cầu của quảng đại quần chúng
nhân dân.
Mặt khác, trước sự thay đổi sâu sắc và toàn diện bộ mặt xã hội như vậy,
ý thức tôn giáo trong nhân dân cũng thay đổi. “Ý nghĩa của sự bí ẩn,của sự
huyền diệu trong thiên nhiên cũng như trong lịch sử bị mất đi, ngay cả đối với
những người còn tin ở Thượng đế, lịch sử các Thánh cũng trở nên kém linh
thiêng. Tình hình đó đòi hỏi Giáo hội phải làm giảm tính chất thần bí của
Kinh Thánh, nếu không thì sẽ làm cho con chiên bối rối, trí thức bất bình và
đức tin Cơ Đốc giáo trở thành trò cười” [42;31]. Trong hoàn cảnh ấy, hoạt
động của con người chỉ có ý nghĩa khi nó được gắn với kinh nghiệm và hành
động chứ không phải với Thượng đế. Thượng đế chỉ có trong thực tế với tư
cách là sự có mặt trong kinh nghiệm cụ thể, hoạt động lịch sử của con người.
Vì thế, khi Công đồng Vatican II được triệu tập, nhiều giáo mục đã đòi hỏi
phải xây dựng thần học của những thực tế trên trái đất, thần học về những giá
trị của con người. Thượng đế phải sống trong ý thức của con chiên, có mặt
trong con người. Thượng đế được xác định là gắn với yêu cầu và nguyện
vọng của con người. Ngoài ra, Thượng đế không có hình dạng nào khác,

12


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)


không có thực tế nào khác. Như vậy, nếu trước đây sự phục vụ con người chỉ
có ý nghĩa với tính cách là thờ phụng Thượng đế thì ngày nay, việc thờ phụng
Thượng đế chỉ có ý nghĩa với tính cách là phục vụ con người. Đối với quần
chúng Công giáo lao động, Thượng đế phải là người nghèo, trực tiếp nói
chuyện với con chiên bằng giọng thân ái, huynh đệ chứ không phải bằng
những ngôn ngữ khó hiểu. Điều đó dẫn tới việc yêu cầu dân chủ hoá của cộng
đồng các giáo dân. “Giáo hội cũng nhận ra điều đó và than phiền về sự đảo
lộn các giá trị, về việc đề cao những sự việc của trần thế làm giảm giá trị của
các sự việc siêu nhiên” [42;31].
Đồng thời, sự phát triển của khoa học - kĩ thuật với những thành tựu to
lớn trong việc thám hiểm không gian vũ trụ đã khiến tôn giáo đứng trước sự
phai nhạt niềm tin truyền thống. Giáo hội Công giáo đã chứng kiến sự phai
nhạt niềm tin đó của các tín đồ trong sự chểnh mảng, thờ ơ đối với Giáo hội.
Các phép bí tích của nhà thờ Công giáo như phép rửa tội, phép hôn phối… chỉ
còn được coi như những dịp vui vẻ đời thường hơn là mang một ý nghĩa tôn
giáo thiêng liêng. Ngày lễ, chủ nhật ở nhà thờ ngày càng vắng tín đồ.
Song song với tình hình trên, trong nội bộ Giáo hội lại có sự chia rẽ
thành những xu thế, trường phái khác nhau do sự tác động của những chuyển
biến lớn về chính trị, xã hội… Cụ thể, Giáo hội Công giáo đã có những xu
hướng sau:
Thứ nhất là xu hướng Bảo thủ cực đoan: Tiêu biểu cho xu hướng này là
nhóm Hồng y Ottavina (Italia), nhóm do linh mục Michel Collin và nhóm
giám mục Lefebvre ở Pháp. Họ cự tuyệt mọi đổi mới của Giáo hội, chủ
trương “trước sao sau vậy”, không làm gì trái với giáo luật, trái với những
điều mà các vị tiền bối của Giáo hội đã nói.
Thứ hai là xu hướng cấp tiến: Tiêu biểu cho xu hướng này là nhóm
Giáo sĩ trẻ, như nhóm của linh mục Han-Skung (nhà thần học người Đức). Xu

13



Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

hướng có những điểm giống với đường lối của Vatican, theo tinh thần của Công
đồng Vatican II sau này. Họ cho Vatican là bảo thủ, họ đấu tranh với Vatican
trên nhiều vấn đề như phản đối văn bản “Mầu nhiệm Giáo hội” của Bộ bảo vệ
đức tin của Toà thánh. Vì nội dung văn bản này đã xác định một lần nữa đặc tính
“không sai lầm” của Giáo hoàng. Họ chủ trương “Thần học về một cõi thần”
(The’ologic du mande) để làm nguồn cho “Thần học về chính trị” ( The’ologic
Politique) và đặt trách nhiệm cho người theo đạo Công giáo phải hoạt động trong
trần thế, cải tạo chứ không phải chiêm ngưỡng trần thế. Do đó, họ phải lo cho
công ích công lợi chứ không phải lo cho cá nhân.
Thứ ba là xu hướng thức thời, hay còn gọi là “thích nghi thời đại”. Đây
được coi là xu hướng chỉ đạo toàn bộ đường lối hoạt động của Giáo hội Công
giáo hiện nay. Đường lối “thích nghi thời đại” của Vatican được hình thành
từ sau khi Hồng y giáo chủ Rông-ca-li được bầu làm Giáo hoàng, lấy thánh
hiệu là Gioan XXIII, người Italia, đã tổ chức ra Công đồng Vatican II.
Trước những biến động lớn của tình hình thế giới và diễn biến phức tạp
có chiều hướng đi xuống của Giáo hội, để thích nghi với thời đại, để đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của mình, để nâng cao vị trí của mình trên trường quốc
tế nhằm mở rộng Nước Chúa ra phạm vi thế giới, buộc Vatican phải đổi mới.
1.2. Khái quát nội dung đổi mới của Công đồng Vatican II
1.2.1 Quá trình thành lập Công đồng Vatican II
Công đồng: từ tiếng Latinh: Concilium (Hội đồng), là Hội nghị (Hội
đồng) các giám mục và các nhà thần học do Giáo hoàng triệu tập để quyết
định các vấn đề về giáo lí và kỉ cương của giáo hội [26]. Công đồng Vatican
II (1962 - 1965) là Công đồng thứ 21, kể từ công đồng đầu tiên- tức Công
đồng Nice’e (năm 325 sau Công nguyên). Công đồng 20 là Công đồng
Vatican I (1861 - 1870) xác định tín điều “Giáo hoàng không thể sai lầm” (

Infailibi Life’du pape).

14


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

Công đồng Vatican II được triệu tập vào giai đoạn khủng hoảng sâu sắc
của Giáo hội Công giáo Roma nhằm tìm ra lối thoát khỏi khủng hoảng, giúp
Giáo hội thích ứng với các điều kiện đang biến đổi. Bởi cho đến nửa đầu thế
kỉ XX, Giáo hội Công giáo vẫn còn ứng xử với thế giới và cả trong nội bộ của
mình theo tài phán của “Nước Toà Thánh”. Mọi chỉ dẫn của Giáo hoàng đều
trở thành chuẩn mực của đức tin. Mọi tư tưởng, học thuyết khác với giáo huấn
truyền thống của Giáo hội đều bị kết án nặng nề. Trong khi đó, giáo huấn của
Giáo hội Công giáo lúc đó “nặng về mặt tiêu cực, dạy điều cấm hơn điều phải
làm, dạy tránh tội hơn là điều tiến đức, sợ phạm tội do hình phạt hơn là mất
ơn nghĩa với Chúa…Đạo Chúa như là con đường băng qua bãi mìn hơn là con
đường thoải mái đưa đến hạnh phúc thật” [51;64].
Cùng với nó là sự phát triển của khoa học kĩ thuật, sự thành công rực rỡ
và tính ưu việt của hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của
phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, sự chia rẽ trong nội bộ Công giáo
ngỳ càng sâu sắc..đòi hỏi Giáo hội Công giáo phải đổi mới. Vì thế, Công đồng
Vatican II mở ra bắt nguồn từ sự cần thiết phải đổi mới của chính Giáo hội và
tương quan của Giáo hội với thế giới.
Trong hoàn cảnh đó, Công đồng Vatican II được triệu tập. Cuộc họp có
thể coi là sóng gió kéo dài chưa từng thấy trong hơn 3 năm từ 11/11/1962 đến
18/12/1965, trải qua hai triều đại Giáo hoàng: Giáo hoàng Gioan XXIII và
Giáo hoàng Paul VI, gồm 4 khoá với 168 phiên họp toàn thể, trong đó bùng
nổ những cuộc tranh luận gay gắt, quyết liệt giữa những xu hướng khác nhau.

Dẫn theo tác giả Đào Xuân Hồng trong Luận văn Thạc sĩ Triết học với đề tài
“Ảnh hưởng của Công đồng Vatican II (1962 – 1965) đối với đạo Công giáo
ở tỉnh Đồng Nai hiện nay” thì tham dự Công đồng có khoảng 3000 giám mục
thuộc hàng giáo phẩm cao cấp ở các quốc gia trên thế giới; 460 chuyên viên
(linh mục và tu sĩ) tham gia soạn thảo, sửa chữa, hoàn thiện văn bản. Có 2109

15


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

ý kiến với 897 đề nghị. Trong các phiên họp có 695 nghị phụ phát biểu với
2234 làn ( nhiều nhất phải kể đến Italia có 309 lần, Tây Ban Nha có 237 lần,
Pháp có 231 lần, Đức có 141 làn, Việt Nam có 16 lần) tại nghị trường. Tổng
cộng có 147 biên bản họp, 2212 diễn văn, 4361 bài viết. Qua 4 khoá họp có
tất cả 538 cuộc bỏ phiếu, có văn kiện phải bỏ phiếu tới 15 lần mới được
thông qua [28;18].
Từ phiên khai mạc (11/11/1962) đến tháng 11/1963, Công đồng chưa
công bố được một nghị quyết nào về kết quả cụ thể. Có nhiều ý kiến khác
nhau cho cùng một vấn đề, nhất là khi bàn về vấn đề đổi mới nghi lễ, vấn đề
dân chủ trg Giáo hội.
Trong không khi căng thẳng và tiến độ của sự thoả thuận, nhất trí rất
chậm chạp, nhiều đại biểu lo ngại phải trở về địa phương với hai bàn tay
trắng; giữa lúc số phận của Công đồng đang rất mong manh, thì Giáo hoàng
Gioan XXIII từ trần. Công đồng như bị hẫng hụt và đứt quãng.
Ngày 21/6/1963 Hồng y giáo chủ Môn ti ni lên ngôi. Giáo hoàng mang
thánh hiệu là Paul VI. Ông đã quyết định để Công đồng tiếp tục họp vào ngày
29/9/1963 với số đề án rút xuống từ 70 còn 17 đề án đưa ra thảo luận.
Trải qua những cuộc tranh luận gay gắt, cuối cùng Công đồng cũng đưa

ra được 16 văn kiện, gồm 4 bản Hiến chế, 9 sắc lệnh, 3 tuyên ngôn và 5 phụ
lục. Tinh thần chung của các văn kiện này là từ bỏ những lời kết án và thái độ
khinh thị những người không theo Công giáo, tháo gỡ những lề lối và ràng
buộc cổ hủ, đưa ra nhiều hướng cởi mở, mềm mại, nhẹ nhàng, dễ được lòng
người hơn theo đường hướng thích nghi cùng thời đại.
1.2.2. Nội dung đổi mới của Công đồng Vatican II(1962-1965).
Giáo hoàng Gioan XXIII, trong thông điệp Ad Peiri Cac hedrams 1961
đã nói: “Giáo hội không còn là sự mặc khải của Chúa, mà là Giáo hội phải
thích ứng với những nhu cầu và những phương pháp của thời đại chúng ta”

16


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

[26;71]. Như vậy, Giáo hội không còn phân chia nhân loại ra làm hai: Tín đồ
và không tín đồ. Tất nhiên, chỉ có những “con chiên của Chúa” mới được coi
là có thể hành động đúng. Giáo hội cũng không còn sự kết án tự tiện những
người Cộng sản mà “Giáo hội phải sẵn sàng đối thoại với những người có
thiện chí, dù những người đó ở trong hay ngoài Giáo hội” [26;72] (Paolo VI thông điệp Ecdleriam Suam 1964). Trong số đó có cả những người vô thần.
Bây giờ, người ta luôn bắt gặp những từ ngữ “đổi mới”, “đối thoại”, “người
nghèo”, “công bằng xã hội”… ở những tác giả người Công giáo và trong
Công đồng Vatican II. Những người có xu hướng “đổi mới”, “hợp thời hoá”
lại chiếm đa số trong Công đồng Vatican II. Tuy nhiên, họ vẫn lên án về các
nguyên tắc các “triết học duy vật” và “chủ nghĩa cộng sản vô thần” cùng các
phong trào xã hội, tư tưởng và chính trị, vốn rút ra nguồn gốc và sức mạnh
của chúng từ Chủ nghĩa Mác. Chính vì thế, Giáo hội Thiên Chúa quyết định
phải đổi mới. Sự đổi mới đó chủ yếu trên hai mặt, đó là: Đổi mới trong quan
niệm về mặt thần học và đổi mới trong quan niệm về mặt xã hội.

- Về mặt thần học: Ngoài việc loại bỏ những gì quá lạc lõng, phải
xác nhận một quan niệm về Chúa theo hướng nhấn mạnh đến “tính người”,
tính hữu thể như thời trung cổ; phải xác nhận một quan niệm về con người
theo hướng nhấn mạnh đến quyền lực và giá trị, với tư cách là chủ thể hành
động và đáng kính trọng chứ không phải đến mặt yếu ớt, có tội với tổ tông;
phải xác nhận một quan niệm về thế giới như là một toàn thể hữu cơ đang
được tiến hoá và sáng tạo không ngừng bởi con người, chứ không phải là
bất biến và được tạo ra một lần là xong. Quan hệ giữa Chúa và con người
cùng thế giới cũng không phải là quan hệ thuần tuý có tính chất sáng chế
và cứu thế từ bên trên, mà là một quan hệ cộng tác của con người với Chúa,
ở bên dưới, ngay tại trần gian, để hoàn thiện các tạo vật của Chúa là thế
giới và xã hội con người.

17


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

Chính vì thế, nhà tư tưởng của phong trào “hợp thời hoá” Tay-a-đơsác-đanh viết: “Tôn thờ xưa kia là thích Chúa hơn tất cả mọi cái, mọi cái đều
đối chiếu với chúa và hi sinh chúng vì Chúa. Tôn thờ bây giờ là hiến dâng hết
mình cho hành vi sáng chế, bằng cách kết hợp với nó để hoàn thiện nó bằng
sự cố gắng và tìm tòi” [26;71]. Tác giả Minh Thảo trong “Sưu tập chuyên đề
Cơ Đốc giáo và Chủ nghĩa xã hội” cũng nói: “Trước đây, sự phục vụ con
người chỉ có ý nghĩa với tính cách là thờ phụng Thượng đế; thì nay, việc thờ
phụng Thượng đế chỉ có ý nghĩa với tính cách phục vụ con người” [42;31].
Như vậy, thứ thần học tân thời có pha chút hương vị của tiến hoá
luận- một học thuyết đã từng bị Giáo hội chống lại kịch liệt. Công giáo giờ
đây được giới thiệu như là tôn giáo của hành động chứ không phải của sự
chịu đựng.

- Về mặt xã hội: Công giáo được bao bọc thêm một lớp son mới để hấp
dẫn người lao động bởi các lí tưởng về công bằng xã hội mà nó coi đấy mới là
hoàn thiện sự nghiệp của Chúa. Nó tự giới thiệu như là tôn giáo của người
nghèo mà sự phản kháng áp bức bóc lột mới chính là lí tưởng thực sự của nó.
Lí tưởng này đã có trong thời sơ kì, nay nó muốn tiếp tục và giương cao trong
thời hiện đại; còn thứ Công giáo giàu sang và câu kết với kẻ thống trị thì chỉ
là những bộ áo lịch sử khác nhau, được khoác cho nó qua các thời đại và bây
giờ nó đã vứt bỏ. Với bộ áo mới, Công giáo tự giới thiệu là tôn giáo của
tương lai chứ không phải là của thế giới bên kia. Theo tinh thần của Công
đồng Vatican II :“…Muốn cho trái đất hướng lên trời thì Chúa ở trên trời
phải xuống đất đã. Muốn cho người lao động đến với Giáo hội thì Giáo hội
phải “đứng về phía họ”, giống như các tông đồ xưa kia đã “đứng về phía
những người dã man”, ngập xuống để nổi lên và nâng lên. Tham gia để
thăng hoa - đó là quy luật của sự nhập thể. Vẫn theo họ, tôn giáo của họ đã
không còn sự thần bí cũng như đã hết cả mùi thuốc phiện, chỉ còn sự kết hợp

18


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

bên trên với “Chúa” của giai cấp công nhân (ý nói Chủ nghĩa Mác) để xây
dựng thế giới mới” [26;72].
Nói tóm lại, Giáo hội phải đổi mới để “hợp thời hoá” đối với những
thay đổi của đương đại. Nhưng dù đổi mới thì nó cũng không đổi mới được
bản chất giai cấp, tính thần bí về nhận thức và tính bảo thủ về mặt xã hội của
nó. Điều đó được biểu hiện rất rõ trong từng nội dung cụ thể của Công đồng
Vatiacn II được trình bày dưới đây.
* Về Đức Chúa Lời (Trời) Ba Ngôi

- Về chúa Cha (Đức Chúa Lời(Trời)): Là thiên chúa vô hình. Hình
tượng Chúa Cha được thể hiện qua hình tượng Chúa Con(Chúa Giê su). Đây
là đấng sáng lập ra trời, đất, tạo dựng tổ tiên loài người. Ông Adam và bà Eva
là người quyết định nâng mọi người lên tham dự đời sống Thiên Chúa. Nhưng
khi tổ tông loài người là Adam và Eva sa ngã, Đức Chúa Lời đã cho con là
Chúa Giê su xuống trần gian cứu thế. Sau đó cũng thông qua những ai tin vào
Chúa, Chúa Giê su gọi họ hợp thành Hội Thánh và đến ngày tận thế thì tất cả
mọi người sẽ họp nhau gần Chúa Cha trong Hội Thánh đại đồng.
- Về sứ mạng của Chúa Con (tức Chúa Giê-su). Từ phép lạ của Đức
Chúa Cha, Chúa Kitô đã được đầu thai và sinh ra bởi bà Maria Đồng trinh,
sống ở trần gian, chịu nạn để cứu mọi người khỏi tội tổ tông và cũng chính
Giê-su đã khai sinh và phát triển Hội Thánh mang ý nghĩa là máu và nước
trào vọt ra từ cạnh sườn chúa Giê-su bị đóng đinh trên Thánh giá. Qua các
phép Thánh thể, tín hữu hợp thành một xác thân trong Chúa Giê-su, được
Chúa Giê-su mời gọi và kết hợp với Người.
Giáo hội Công giáo khẳng định Chúa Giê-su là có thật đã sinh ra trong
hang đá Bết-thê-lem. Đồng thời, nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhà
thần học đạo Công giáo, cũng đã biện minh cho sự sinh ra và hoạt động của
Chúa Giê-su trên trần thế, bác bỏ những truyền thuyết mê hoặc, hoang đường

19


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

xung quanh Chúa Giê-su, để Chúa thực sự gần gũi với loài người, Chúa là
Thánh thiện nhưng sinh ra từ loài người. Chẳng hạn như việc bác bỏ những
bịa đặt về những mẩu gỗ được nói là lấy từ thánh giá Chúa Giê-su vác và chịu
đóng đinh trên đó. Bởi vì nếu đem góp tất cả những mẩu gỗ đó sẽ lại nặng

khoảng một tấn và đè bẹp ngay Chúa Giê-su tại dinh Phi-la-tô khi người vừa
vác lên vai.
Quan hệ giữa Chúa và con người cũng “không còn thứ quan hệ sáng
chế từ bên trên, mà là quan hệ qua lại ở bên dưới, ngay trên trần thế để hoàn
thiện tạo vật của Chúa tức xã hội và con người” [30;26].
- Về ngôi ba (Chúa Thánh Thần) Thánh hóa Hội Thánh. Sau khi Chúa
Giê-su chịu nạn sống lại trên đời, Chúa đã sai Thánh Thần hiện xuống để
Thánh hóa Hội Thánh, giúp tín hữu tới gần Chúa Cha. Nhờ Chúa Ki tô, Thánh
Thần ngự trị trong Hội Thánh và trong tâm hồn các tín hữu.
- Về “Đức trinh nữ Maria, mẹ Thiên Chúa trong mầu nhiệm của Chúa
Giê su và Giáo hội” - đây là tiêu đề của Công đồng Vatican II.
Tuy không ở vị trí Ba ngôi, nhưng bà Maria là người sinh ra Thiên
Chúa bởi phép lạ mà vẫn giữ được trinh bạch (Đồng Trinh). Theo Tín lí Hiến
chế của Công đồng Vatican II, thì khi được Thiên Chúa báo tin, bà Maria đón
nhận ngôi Lời Thiên Chúa để cứu thế gian. Vì thế bà được coi là đấng sinh ra
Thiên Chúa, nuôi nấng và yêu thương Giê-su từ khi chịu thai cho đến ngày
Chúa chịu chết. Trong thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, nhiều nơi và nhiều người
biến Đức Bà thành một thứ thần linh, quá đề cao và tạo ra xung quanh Bà một
thứ sùng bái tình cảm gần như mê tín. Vì thế, Công đồng Vatican II chủ
trương khuyến khích việc duy trì lòng tôn sùng đức Thánh Trinh Nữ, song
vẫn phải quy tụ mọi thiên chức đặc ân vào Chúa Kitô, coi đó là nguyên ủy của
toàn thể chân lí, thánh thiện và sùng kính. Bà Maria tuy là hình ảnh, là mẫu
mực của Giáo hội, nhưng bà cũng chỉ có thể là người đưa tín về cùng Chúa

20


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)


Kitô. Bà Maria được coi là mẹ hiền của giáo dân, nhưng cũng không thay thế
được hoặc đi ngược chương trình cứu độ của Chúa Cứu thế. Trong bất cứ
trường hợp nào cũng không được tôn kính Đức bà Maria ngang hàng với Ba
ngôi. Việc quá đề cao Bà sẽ biến Cứu thế giáo thành Maria giáo. Vì thế, Công
đồng Vatican II đã đặt bà Maria bên cạnh Giáo hội và không đề cao bà trong
văn kiện về Phụng vụ vì trung tâm Phụng vụ vẫn là Chúa Giê-su.
Như vậy, trong quan niệm về Đức Chúa Lời (Trời) Ba Ngôi, Công
đồng Vatican II đã “đổi mới” theo hướng nhấn mạnh đến tính Người, tính
hữu thể của Chúa, để “Chúa là thánh thiện” nhưng “sinh ra từ loài người”.
Điều đó vừa là để tiếp tục chương trình “thích nghi văn hóa” của Giáo hội
Công Giáo và vừa đáp ứng được nhu cầu của quảng đại quần chúng nhân dân.
Việc đặt vị trí bà Maria bên cạnh Giáo hội, nhằm đề cao Chúa Giê-su, thu hút
sự sùng kính vào Chúa Giê-su (Đấng Cứu thế), cũng là một biện pháp để
tránh sự phân hóa lòng tin làm giảm uy thế của Giáo hội, nguy hại đến đức
tin, thỏa mãn nguyện vọng của nhân dân và duy trì vị trí quan trọng của Giáo
hội trong đời sống dân Thiên Chúa.
*. Bàn về hai cuốn kinh Cựu Ước và Tân Ước
Theo cách giải thích của Giáo hội Kitô thì bộ kinh Cựu ước kể về dân
tộc Do Thái từ khai thiên lập địa đến khi xây dựng lại thành Giêzusalem. Sách
Cựu Ước giải thích cục diện của sự nghiệp cứu rỗi và ý thức sống động về
Thiên Chúa, trong đó chứa đựng những điều giáo huấn cao cả về Thiên Chúa.
Đó là kho tàng kinh nghiệm kỳ diệu nên các tín đồ Kitô phải cung kính lĩnh
nhận những sách này và giữ nó như một giá trị trường cửu.
Tân Ước kể về Chúa Giê-su và Công đồng Kitô. Trong Tân Ước, lời
Thiên Chúa biểu hiện quyền năng của Người để cứu thoát những người tin
theo. “Tân Ước là một bằng chứng trường tồn, linh thiêng về những mầu
nhiệm của Thiên Chúa” [45;33].

21



Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

Tân ước tàng ẩn trong Cựu Ước và Cựu Ước tỏ hiện trong Tân Ước.
Các sách Cựu Ước khi đã được thu dựng toàn vẹn lời rao giảng Tin mừng thì
đạt được việc giãi bày ý nghĩa của mình trong Tân Ước, làm sáng tỏ và cắt
nghĩa cho Tân Ước. Các sách đó xác nhận những gì liên hệ đến Chúa Kitô,
thuật lại sự khởi đầu và những bước phát triển kỳ diệu của Giáo hội, tiên báo
sự hình thành vinh hiển của Giáo hội. Giáo hội tôn kính Thánh kinh như tôn
kính chính Thánh thể Chúa. Giáo hội đã và sẽ coi Thánh kinh là mẫu mực tối
cao của đức tin. Còn nhờ Thánh truyền, Giáo hội biết toàn thể thư lục các
sách Thánh và làm cho sự hiểu biết các sách đó được sâu xa hơn. Thánh
truyền và Thánh kinh tiếp nối và có liên quan với nhau chặt chẽ. Thánh kinh
là lời nói của Thiên Chúa được chép lại do Chúa Thánh Thần linh ứng, còn
Thánh Truyền thì truyền đạt nguyên vẹn cho các tông đồ lời Thiên Chúa. Vì
thế, theo Công đồng Vatican II phải đón nhận và tôn trọng Thánh Kinh và
thánh Truyền như nhau, phải mở cho các Kitô hữu đi vào Thánh Kinh. Các
giáo sĩ, linh mục, các phó tế, giảng viên, giáo lí phải liên hệ khăng khít với
Thánh Kinh. Giám mục phải giúp cho tín hữu biết sử dụng các sách Thánh,
nhất là Tân ước và các sách Tin mừng. Ngoài ra, Giáo hội cũng quý trọng các
bản dịch của Cựu Ước ra các thứ tiếng khác nhau như tiếng Hi Lạp, tiếng La
tinh, tiếng Đông phương...
Như vậy, Công đồng Vatican II chủ trương vẫn duy trì đề cao giá trị
của các sách Cựu Ước và Tân Ước. Mức độ đón nhận và tôn trọng các sách
này như nhau. Đặc biệt là việc khuyến khích xuất bản Thánh Kinh với những
ghi chú thích hợp với nhiều thứ tiếng, để có thể mở rộng việc tuyên truyền sử
dụng cho cả người ngoài Kitô giáo.
*. Bàn về Nước Chúa và Hội Thánh
- Bàn về Nước Chúa, Công đồng nhắc lại việc Chúa Giê-su đã khai sinh

ra Hội Thánh khi công bố Tin Mừng Nước Chúa đã đến và do phép lạ của
Chúa, Nước ấy đã đến thế gian thông qua chính con người của Chúa Kitô.

22


Luận văn: Công đồng Vatican II ( 1962-1965) và tác động của nó tới Giáo hội Công
giáo Việt Nam ( từ 1965 đến nay)

- Còn Hội Thánh được coi như là nhà Đức Chúa trời, trong đó gia đình
Chúa trú ngụ. Đây có thể coi là trú quán của Thiên Chúa nơi loài người
[45;35]. Hội Thánh vừa hữu hình, vừa linh thiêng do Chúa Giê-su là môi giới
duy nhất giữa trần thế và Thiên Chúa. Hội Thánh vừa có tính trần thế, vừa có
tính thiêng liêng. Đây là một thực thể duy nhất phức hợp do hai yếu tố nhân
loại và thần linh kết thành.
- Về Giáo Hội: Theo Công đồng Vatican II, Giáo hội là tất cả những
người tin ở Chúa Cứu thế và tất cả nhân loại được mời tới với lòng tin đó,
không phân biệt ranh giới quốc gia và chủng tộc. Giáo hội không phải là một
cơ cấu giai cấp, cũng không có một bên là giáo sĩ tác động, một bên là giáo
dân thụ động. Tuy chức năng và phạm vi hành động của hai bên có khác
nhau, song đều hòa đồng trong việc tế lễ [45;36].
Công đồng Vatican II cũng nhận xét, trong Giáo hội độc nhất của Thiên
Chúa , ngay từ đầu đã xuất hiện sự chia rẽ. Qua những thế kỉ kế tiếp đã xảy ra
những cuộc chia rẽ trầm trọng hơn. Vì thế, cần có sự “Hiệp nhất” dân Chúa ở
trong công dân các nước. Tất cả mọi người đều được mời gọi tham dự hợp
nhất Công Giáo. Sự hiệp nhất này sẽ đưa đến hòa bình thế giới.
Lí thuyết về sự Hiệp nhất được Công đồng Vatican II rất quan tâm.
Công đồng chủ trương tùy theo sáng kiến, tùy theo nhu cầu và thời cơ thuận
tiện để cổ vũ sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu như: cố gắng tránh những lời nói
phán đoán và hành động không phù hợp với anh em li khai, làm cho sự giao

tiếp khó khăn; Tổ chức các cuộc họp thuộc các Giáo hội, Công đồng khác
nhau; “Đối thoại” để mỗi người cắt nghĩa sâu rộng và trình bày minh bạch
giáo lí của Công đồng mình nhằm tạo ra sự hiểu biết giáo lí và đời sống của
mỗi Công đồng, cộng tác với nhau trong mọi công ích, cùng cầu nguyện; Sau
cùng là tất cả đều kiểm thảo, xem mình có trung thành với ý muốn của Chúa
Kitô về vấn đề Giáo hội không?... Nhờ đó mà Giáo hội đã thắng dần những

23


×