CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
A. PHẦN MỞ ĐẦU.
I. Tính cấp thiết của đề tài.
Là một quốc gia đa dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam
vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc là một trong những nội dung cơ bản được
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm thể hiện trong quan điểm, chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta. Xuất phát từ tình hình đặc điểm của
một quốc gia có nhiều dân tộc, có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời; Đảng
Cộng sản Việt Nam lấy những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để xây dựng và giải quyết vấn đề dân tộc trong
từng giai đoạn cách mạng, đã vận dụng sáng tạo và đề ra hàng loạt chính sách cụ
thể phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước, đã và đang đạt được nhiều thành
tựu quan trọng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và
ngày càng hoàn thiện chính sách dân tộc trên cơ sở ba nguyên tắc cơ bản: Đoàn kết
- Bình đẳng - Tương trợ, tạo mọi điều kiện để các dân tộc từng bước trưởng thành
trong sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Dân tộc là sản phẩm của của 1 quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài
người. trước khi dân tộc xuất hiện thì loài người đã traỉ qua những hình thức cộng
đồng người từ thấp đến cao như : thị tộc, bộ lạc, bộ tộc…Theo Mác - Lênin thì dân
tộc là một nội dung có ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là vấn
đề thực tiễn nóng bóng và thận trọng đòi hỏi phải được giải quyết một cách đúng
đắn và thận trọng, đối với Việt Nam thì :Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có
vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại
1
gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;
cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm
lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các
dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu,
vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định
cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát
triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ
thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò
của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên trong
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tri thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở
vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói
của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp
hòi, chia rẽ dân tộc".
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, dân tộc và công tác thực hiện
chính sách dân tộc đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm, đầu tư nghiên cứu,
nhằm đáp ứng đòi hỏi tất yếu khách quan của sự nghiệp xây dựng đất nước theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế và trong
nước hiện nay, vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức tạp vừa có những tác
động đến quan hệ quốc tế lại vừa mang tính đặc thù riêng của từng quốc gia. Dân
tộc, sắc tộc, tôn giáo, nhân quyền luôn là những vấn đề nhạy cảm mà các thế lực
thù địch tìm mọi cách lợi dụng, coi đó như những đột phá khẩu để chống phá sự
nghiệp cách mạng của nước ta; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Đảng ta đã dày công xây dựng, với nhiều thủ đoạn khác nhau nhằm
gây mất ổn định cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng.
2
Là một trong những dân tộc ít người ở Việt Nam thực hiện chính sách dân
tộc của Đảng từ khi đất nước đổi mới, đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào
Khmer từng bước được nâng cao hơn. Tuy nhiên, hiện nay vùng đồng bào dân tộc
Khmer vẫn còn là một trong những vùng chậm phát triển còn nhiều khó khăn đòi
hỏi phải có sự quan tâm nhiều hơn nữa.
Tây Nam Bộ là một khu vực ở đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí và vai trò
rất quan trọng đóng góp vào việc giữ vững an ninh - quốc phòng và phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Đây là vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm của phía Nam
và cả nước, có điều kiện thuận lợi về địa lý tự nhiên trong phát triển nông nghiệp.
Đồng bào dân tộc ở Tây Nam Bộ với số lượng không nhiều nhưng lại sống trên
một địa bàn chiến lược quan trọng có đường biên giới tiếp giáp với nước bạn
Campuchia. Vì vậy, lãnh đạo thực hiện tốt chính sách dân tộc là một vấn đề Đảng
bộ dân tộc ở Tây Nam Bộ rất quan tâm, để từng bước cải thiện và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc góp phần củng cố khối đại đoàn kết
toàn dân, ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của khu vực cũng như
của cả nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Vấn đề dân tộc và
đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”.
Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo và các loại hình tín ngưỡng; tín đồ các
tôn giáo đều là nhân dân lao động, có tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm.
Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định đồng bào các tôn giáo là
một bộ phận của lực lượng cách mạng Việt Nam. Đảng, Nhà nước ta có nhiều chủ
trương, chính sách đoàn kết các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc để
tiến hành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân luôn được Nhà nước ta tôn
trọng, bảo đảm, coi đó là một trong những quyền cơ bản của công dân. Thế nhưng,
3
các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách tung ra những luận điệu cho rằng Việt Nam
không có tự do tôn giáo, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, nhằm
gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ Đảng, Nhà nước với đồng
bào các tôn giáo, kích động quần chúng tín đồ chống đối chính quyền, gây mất ổn
định chính trị - xã hội, tạo cớ can thiệp vào nội bộ nước ta. Để thực hiện âm mưu
này, chúng đã tiến hành bằng nhiều cách, với các phương thức, thủ đoạn rất thâm
độc, xảo quyệt. Chúng ta có thể nhận diện và chỉ ra sự phi lý của những luận điệu
vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, tôn giáo qua các hoạt động sau.
Đảng, Nhà nước ta ngay từ khi thành lập đã hiểu rõ nhu cầu tâm linh của
người dân Việt Nam và coi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những
quyền nhân thân cơ bản của người dân. Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta
được xây dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam với tư tưởng nhất quán, xuyên suốt là tôn trọng và
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đoàn kết tôn giáo, hòa
hợp dân tộc.
Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải nhằm tăng
cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát
huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và
sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện
nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc
4
không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp
luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn
dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đoàn kết đồng bào
theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không
theo tôn giáo. Đại đoàn kết toàn dân tộc với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo
với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có
quyền và nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Động viên đồng bào nêu cao tinh
thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc; thông qua việc thực
hiện tốt các chính sách kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi ích vật
chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo.
Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên,
tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt
đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính
sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm
phạm an ninh quốc gia.
Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, có liên quan đến
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và nhiều cấp, nhiều ngành vì cuộc sống tinh
thần và vật chất của hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo,
phân bố ở mọi vùng, miền, địa phương trong cả nước.
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp
theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được
5
hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở
trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây
dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật. Việc truyền
đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp
luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan,
không được ép buộc người dân theo đạo cũng như bỏ đạo.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam
(tháng 4-2006) tiếp tục khẳng định: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng
của khối đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền
sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo
khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy
những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng
bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống "tốt đời, đẹp đạo". Các tổ chức tôn giáo
hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Thực hiện tốt các
chương trình phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của
đồng bào các tôn giáo. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công
tác tôn giáo. Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm
quyền tự do tôn giáo của công dân"
Vì vậy, nghiên cứu các chuyên đề " Quan điểm, mục tiêu của việc đảm bảo
thực hiện tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đên 2020;
Phương hướng, nhiệm vụ của việc đảm bảo thực hiện tốt chính sách đối ngoại
về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đến năm 2020; Các giải pháp nhằm đổi mới
phương thức thực hiện chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam
Bộ." là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực, được tác giả nghiên cứu dưới góc độ của
6
chuyên ngành khoa học lịch sử Đảng, nhằm làm sáng tỏ những thành công, hạn
chế, rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở An Giang
vừa qua để tiếp tục thực hiện tốt hơn trong thời gian tới.
II. Tình hình nghiên cứu vấn đề.
Vấn đề dân tộc, tôn giáo đang thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu hoạch
định chính sách, của các nhà khoa học từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Hiện
nay, việc nghiên cứu về chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc đã có các công trình
sau:
- Đề tài khoa học cấp bộ: Lịch sử đấu tranh cách mạng của đồng bào các
dân tộc ít người ở nước ta của Ủy ban Dân tộc và Miền núi do TS. Trình Mưu làm
chủ nhiệm trong đó có phần đề cập đến “Lịch sử đấu tranh của đồng bào dân tộc
Khmer ở Tây Nam bộ” đã nghiệm thu năm 1996.
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Thủy bảo vệ năm 2001: Quá trình thực
hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khmer ở
đồng bằng sông Cửu Long.
- Báo cáo tổng quan đề tài khoa học cấp bộ năm 2003: Một số giải pháp
nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc Khmer ở miền Tây Nam bộ trong giai
đoạn hiện nay do Th.S Lê Tăng làm chủ nhiệm.
- Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi: Vấn đề dân tộc và định
hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
- Ủy ban Dân tộc - Viện Dân tộc: Một số vấn đề đổi mới nội dung quản lý nhà
nước và phương thức công tác dân tộc, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2004.
7
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Trung tâm Khoa học về tín
ngưỡng tôn giáo: Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Vấn đề tôn giáo ở khu vực đồng
bào Khmer Tây Nam bộ hiện nay, Hà Nội, 2003 do TS .Hồ Trọng Hoài chủ nhiệm.
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về người Khmer được công
bố trên các tạp chí chuyên ngành, cũng như trong các công trình chuyên khảo như:
Các dân tộc ở Việt Nam - các tỉnh phía Nam; Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông
Cửu Long; Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ...
Các công trình trên đây tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau từ góc độ sử
học, dân tộc học, tôn giáo học, kinh tế học… đã trình bày, lý giải nhiều vấn đề đặt
ra đối với nghiên cứu đồng bào Khmer nói chung và bước đầu trình bày thực trạng
đời sống và các giải pháp để nâng cao đời sống cho đồng bào Khmer ở miền Tây
Nam bộ hoặc giới thiệu tổng quan về dân tộc Khmer. Tuy nhiên, cho đến nay chưa
có đề tài nào trình bày về Đảng lãnh đạo dân tộc Khmer ở một tỉnh nói riêng.
Tây Nam Bộ là khu vực có nhiều đồng bào Khmer sinh tụ và các dân tộc
tiểu số khác, đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về Đảng bộ lãnh đạo
thực hiện chính sách đối ngoại dân tộc, tôn giáo đối với đồng bào dân tộc Khmer
nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung.
III. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Mục đích nghiên cứu : Là trình bày một cách có hệ thống chủ trương chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta và quá trình vận dụng chủ trương của Đảng
để chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào các dân tộc thiểu
số tại Tây Nam Bộ, làm rõ sự tác động của chính sách dân tộc, quan điểm, mục
tiêu của việc đảm bảo thực hiện tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây
Nam Bộ đến năm 2020.
8
- Nhiệm vụ của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn đánh giá
đúng những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong quá
trình thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào dân tộc tại Tây Nam Bộ; bước
đầu đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy tác dụng của kinh nghiệm trong
quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương. Phương hướng, nhiệm vụ của
việc đảm bảo thực hiện tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ
đến năm 2020.
IV. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Luận văn được hoàn thành trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận
chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và quyền dân tộc tự quyết; sự vận dụng
sáng tạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đề ra đườsng
lối, chính sách dân tộc thể hiện thông qua kết quả thực hiện chính sách dân tộc ở
Tây Nam Bộ
- Nguồn tư liệu chính để thực hiện đề tài là các văn bản, chỉ thị, nghị quyết
của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc và các văn bản cụ thể hóa việc tổ
chức thực hiện các chính sách trên của Đảng bộ ở khu vực Tây Nam Bộ. Tham
khảo và tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp
logic. Ngoài ra, còn kết hợp các phương pháp khác như: đối chiếu so sánh, phân
tích, thống kê, tổng hợp của khoa học lịch sử.
V. Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Chuyên đề chỉ nghiên cứu quan điểm, mục tiêu của việc đảm bảo thực hiện
tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đên 2020; Phương
hướng, nhiệm vụ của việc đảm bảo thực hiện tốt chính sách đối ngoại về tôn giáo,
9
dân tộc ở Tây Nam Bộ đến năm 2020; Các giải pháp nhằm đổi mới phương thức
thực hiện chính sách đối ngoại về tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ.
VI. Đóng góp của luận văn
- Khẳng định tính đúng đắn những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề dân tộc. Tìm ra những ưu điểm, hạn
chế và rút ra những kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách đối ngoại tôn
giáo, dân tộc của Đảng thông qua thực tiễn ở khu vực Tây Nam Bộ.
- Trình bày một cách hệ thống chính sách dân tộc của Đảng ở khu vực Tây
Nam Bộ qua đó góp phần vào nghiên cứu trong việc vạch ra những giải pháp mới
xây dựng khối đoàn kết dân tộc của Đảng ở khu vực Tây Nam Bộ trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
VII. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Chuyên đề gồm 3 chương chính sau:
Chương I. Khái quát về đặc điểm tôn giáo, dân tộc và quan điểm của nhà nước ta
về chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đến năm 2020.
Chương II. Thực trạng chính sách đối ngoại về tôn giáo. dân tộc ở Tây Nam Bộ.
Chương III. Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp về chính sách đối ngoại tôn giáo dân tộc ở Tây Nam Bộ đến năm 2020.
10
B. PHẦN NỘI DUNG
Trong điều kiện bối cảnh đất nước, khu vực và quốc tế có nhiều biến đổi sâu
sắc, ngoại giao Việt Nam có nhiệm vụ phục vụ ổn định chính trị, ưu tiên phát triển
kinh tế, đồng thời bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc.
Chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước ta được xây
dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng,
tôn giáo ở Việt Nam. Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Việt Nam là một nước đa tín ngưỡng, tôn giáo với khoảng hơn 20 triệu tín đồ
theo các tôn giáo khác nhau. Từ xưa đến nay, các tín ngưỡng, tôn giáo luôn chung
sống hoà hợp, gắn bó với dân tộc. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, các dân
tộc đã kề vai, đoàn kết bên nhau đấu tranh giành độc lập dân tộc, tích cực tham gia
vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc; Cả 54 dân tộc anh em trong cộng đồng
các dân tộc Việt Nam đã hình thành một truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa, đó là
xây dựng cuộc sống đan xen, hoà bình, trong đó mỗi dân tộc đều có tín ngưỡng,
tôn giáo, phong tục tập quán và văn hoá khác nhau góp phần tạo nên bản sắc văn
hoá Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta hiểu rõ nhu cầu tâm linh của nhân dân Việt Nam bởi
lẽ, hầu hết nhân dân Việt Nam không những có tín ngưỡng truyền thống thờ cúng
tổ tiên, thờ các vị thành hoàng, những vị đã có công xây dựng quê hương, đất
nước…mà không ít người là tín đồ các tôn giáo; Bản tính của người Việt Nam là
khoan dung, cởi mở, do vậy dù là tôn giáo nào, tín ngưỡng nào, từ đâu đến thì cộng
11
đồng cũng sẵn sàng chấp nhận miễn là nó không xâm phạm đến lợi ích quốc gia và
đi ngược lại truyền thống văn hoá dân tộc.
Chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước ta được xây
dựng một mặt dựa trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng,
tôn giáo ở Việt Nam. Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; Tinh thần đó được Đảng
và Nhà nước ta thể hiện bằng hệ thống chính sách phù hợp với từng giai đoạn cách
mạng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn có quan
điểm, thái độ rõ ràng về tín ngưỡng, tôn giáo theo lịch sử phát triển của dân tộc.
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng năm 1991 đã
khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của
nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc
phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống
những hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập dân tộc và đoàn kết dân tộc,
chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”. Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng ghi rõ: “Tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất
quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời chống
việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”.
Chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tín ngưỡng,
tôn giáo rất đúng đắn, minh bạch và từng bước được hoàn thiện. Đến đầu thập kỷ
90, trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, Bộ Chính trị ra Nghị quyết
12
số 24/NQ-TW Về công tác tôn giáo trong tình hình mới, đã ghi dấu son về sự đổi
mới đường lối, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo. Nghị quyết 24/NQ-TW xác định:
…Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức
tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Sau gần 10
năm thực hiện Nghị quyết 24/NQ-TW, Đảng ta đã tổng kết, đánh giá những thành
tựu và nêu rõ những khuyết điểm, đồng thời Bộ Chính trị ra Chỉ thị 37/CT-TW
ngày 02/7/1998 Về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Cho đến Nghị quyết Hội
nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy, khoá IX về công tác tôn giáo
(Nghị quyết 25/NQ-TW ngày 12/3/2003) thì quan điểm chính sách của Đảng ta đối
với tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được khẳng định và phát triển thêm một bước mới
phù hợp với sự nghiệp đổi mới đất nước. Đó là: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu
tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền
sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật”. Những quan điểm của Đảng
ta từ ngày thành lập đến nay chứng minh rằng Đảng coi quyền tự do tín ngưỡng là
một nhu cầu quan trọng của con người, là một trong những quyền công dân, quyền
chính đáng của con người. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng đức
tin của đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; tôn trọng quyền được theo
bất cứ tôn giáo nào, mong muốn cho người dân theo tôn giáo được “phần hồn
thong dong, phần xác ấm no”.
Nhà nước ta chỉ một ngày sau lễ Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà, trong phiên họp đầu tiên vào ngày 03/9/1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đề nghị chính phủ lâm thời tuyên bố: “Tín ngưỡng tự do và lương
giáo đoàn kết”, coi đó là một trong sáu nhiệm vụ của Nhà nước còn non trẻ. Sau
đó, thay mặt Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký văn
13
bản ngày 20/9/1945, trong đó Điều I ghi rõ: “Đền chùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả
những nơi có tính cách tôn giáo, bất cứ tôn giáo nào, nhân dân đều phải tôn trọng,
không được xâm phạm”. Nhưng văn bản có tính pháp luật tiêu biểu và hoàn chỉnh
nhất trên chặng đường đầu tiên xây dựng luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng là Sắc
lệnh số 234-SL ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Điều 15 trong Sắc
lệnh ghi rõ: “ Việc tự do, tín ngưỡng, thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân,
chính quyền dân chủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân
dân thực hiện”.
Trong lịch sử cho thấy, có nhiều cuộc chiến tranh do thương lượng mà đi đến
hoà bình, nhiều cuộc mâu thuẫn xung đột sắc tộc, tôn giáo đẫm máu trên thế giới
được thương lượng mà đi đến hoà giải. Sau năm 1975 đất nước ta thống nhất, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cả nước tập trung mọi nguồn lực để xây
dựng và phát triển đất nước và mở rộng quan hệ quốc tế. Đảng và Nhà nước Việt
Nam đã công bố chính sách đối ngoại của Việt Nam với các nước Đông Nam Á
với mục tiêu hoà bình và phát triển, đồng thời cũng tuyên bố với thế giới: “Việt
Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà
bình, độc lập và phát triển”. Thực tiễn trong những năm gần đây ngoại giao
Việt Nam nói chung và đối ngoại tôn giáo nói riêng đã góp phần quan trọng khẳng
định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế và trong các sinh hoạt của đời sống
quan hệ quốc tế và đối ngoại tôn giáo. Việt Nam đã tham gia và chủ trì nhiều hội
nghị thế giới và khu vực; một số tổ chức tôn giáo ở Việt Nam cũng đăng cai tổ
chức nhiều hội nghị, hội thảo về tôn giáo quốc tế lớn để lại dấu ân đậm nét trong
lòng bạn bè thế giới. Những sáng kiến của Việt Nam trong việc đóng góp xây dựng
thế giới hoà bình, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái của hành tinh được các quốc
gia ghi nhận và đánh giá cao, đồng thời cũng thể hiện trách nhiệm của Việt Nam
đối với các vấn đề quốc tế.
14
Thực tế cho thấy, thời gian qua công tác đối ngoại tôn giáo có đóng góp tích
cực trong việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở của Nhà nước Việt Nam
trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế theo tinh thần “Việt Nam là bạn, là
đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập
và phát triển”. Lực lượng tham gia hoạt động đối ngoại tôn giáo không ngừng được
mở rộng và phát huy hiệu quả trong thực tiễn với địa bàn hoạt động ngày càng đa
dạng, đối tác quan hệ trên kênh đối ngoại tôn giáo ngày càng phong phú, góp phần
quan trọng đưa hình ảnh Việt Nam ra với thế giới, cụ thể tháng 5/2008, Việt Nam
đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc (VESAK), với sự tham dự
của 4.000 đại biểu quốc tế và trong nước từ 74 quốc gia và vùng lãnh thổ, đây là lễ
hội tôn giáo lớn có uy tín với thế giới; đối ngoại tôn giáo đóng góp tích cực cho
cuộc đấu tranh trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, chống âm mưu
“Diễn biến hoà bình” của các thế lực xấu, bày tỏ tình đoàn kết quốc tế với bạn bè
thế giới, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây
dựng sức mạnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Những thành tựu của công
tác đối ngoại tôn giáo năm 2010 là minh chứng rõ nét cho hoạt động quốc tế của
tôn giáo đã tăng về số lượng, phong phú đa dạng về nội dung, hình thức, nhiều
đoàn cán bộ và chức sắc các tôn giáo đã tham gia đối thoại về tôn giáo như: Đoàn
liên ngành đi Philipin tham dự Hội nghị đặc biệt cấp Bộ trưởng các nước phong
trào không liên kết về đối ngoại tín ngưỡng và hợp tác vì hoà bình và phát triển;
Đoàn cán bộ liên ngành và chức sắc tôn giáo đi Tây Ban Nha tham dự Đối thoại
“Liên tín ngưỡng ASEM lần thứ VI”; Đoàn Ban Tôn giáo Chính phủ và Ban Tôn
giáo một số địa phương đi nghiên cứu tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo tại
Malaysia và Singapore. Bên cạnh đó Việt Nam đã đón và làm việc với nhiều đoàn
tôn giáo nước ngoài, nhiều cá nhân và tổ chức tôn giáo, tổ chức quốc tế đến trao
đổi và tìm hiểu về chính sách tôn giáo của Việt Nam như: tham dự hội thảo bàn
tròn về Tin lành do Viện Ngiên cứu Tôn giáo Việt Nam chủ trì phối hợp với Viện
15
Can dự Toàn cầu (IGE); tiếp tập đoàn truyền thông (WAZ) của Đức vào Việt Nam
để tìm hiểu chính sách tôn giáo của Việt Nam; dự Hội thảo tôn giáo và Pháp quyền
tại Utah, Hoa Kỳ theo lời mời của trường Đại học BYU,…có thể khẳng định các
cuộc làm việc, trao đổi của các đoàn cán bộ, chức sắc các tôn giáo của Việt Nam
với các đoàn nước ngoài trên tinh thần hợp tác, thiện chí và tăng cường sự hiểu biết
lẫn nhau; trong các chuyến thăm của các đoàn nước ngoài vào Việt Nam, nhiều
đoàn đã tiếp xúc với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đại diện các bộ, ngành các tổ chức,
cá nhân tôn giáo mà đoàn quan tâm. Đây là điều kiện, cơ hội để các đoàn quốc tế
được chứng minh thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam và có cái nhìn đầy đủ
hơn về chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Chương I: Khái quát về đặc điểm tôn giáo, dân tộc và quan điểm của nhà
nước ta về chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ đến năm 2020
1. Khái quát về đặc điểm tôn giáo, dân tộc ở Tây Nam Bộ
Trong thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã xác định đường lối chiến lược “phát
huy sức mạnh toàn dân tộc”, coi “đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh
giữa công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo là động lực chủ
yếu để phát triển đất nước”, để “phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của toàn bộ
nền kinh tế, của toàn xã hội”.
Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong giai đoạn phát triển mới của đất
nước, trong những năm đầu của thế kỷ XXI đã được Đảng và Nhà nước ta căn cứ
vào tình hình thực tiễn trong nước, trong khu vực và trên thế giới; căn cứ vào yêu
cầu phát triển để đề ra nhiệm vụ cho từng giai đoạn với những giải pháp thích hợp
và nhiệm vụ cụ thể.
16
Theo định hướng của Đảng và Nhà nước, công tác dân tộc ở nước ta từ trước
đến nay được xây dựng trên cơ sở của các nguyên tắc cơ bản: bình đẳng - đoàn kết
- tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong đại gia đình các dân
tộc Việt Nam.
Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ:
Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự
nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương
trợ giúp nhau phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản
xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất tinh thần, xóa đói giảm nghèo, mở mang
dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của
các dân tộc, thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền
xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách
mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Động viên và phát huy vai trò của những người tiêu
biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương. Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc, chống
tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, khắc phục tư tưởng tự ti,
mặc cảm dân tộc.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến rất phức tạp hiện nay, các thế lực
thù địch đang tìm cách phá hoại khối đại đoàn kết của cộng đồng dân tộc Việt
Nam, âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động, chia rẽ, gây rối và can thiệp
vào công việc nội bộ nước ta, chống phá chế độ và sự nghiệp cách mạng của nhân
dân ta. Nhận thức đúng đắn, về vị trí, vai trò và trách nhiệm thực hiện chính sách
dân tộc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang là một yêu cầu vừa cơ bản vừa
cấp bách.
17
Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) năm 2003
đã ra Nghị quyết riêng về công tác dân tộc, thể hiện sự quan tâm của Đảng ta về
vấn đề dân tộc, tạo ra bước chuyển biến to lớn trong lĩnh vực công tác này, góp
phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Vấn đề dân tộc là vấn đề chính trị - xã hội đặc biệt nhạy cảm. Các giai cấp khi
nắm quyền thống trị đều phải quan tâm giải quyết các vấn đề về dân tộc và quan hệ
giữa các dân tộc. Lịch sử đã chứng minh, giai cấp thống trị trong mỗi thời đại lịch
sử đều đưa ra những phương thức giải quyết vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc
theo quan điểm, ý thức hệ của giai cấp của mình. Các phương tiện giải quyết
thường được gọi là " chính sách dân tộc". Như vậy, chính sách dân tộc thể hiện ý
chí của giai cấp nắm quyền thống trị xã hội, nắm đích của chính sách đó nhằm điều
chỉnh các quan hệ dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia theo quan
điểm của giai cấp thống trị tại quốc gia đó. Chính sách dân tộc cũng là cơ sở để
giải quyết mối quan hệ giữa các quốc gia dân tộc trong khu vực và quốc tế.
Tây Nam Bộ là vừng đất thuộc hạ lưu sông Mêkông, đây là khu vực có tầm
chiến lước của cả nước. Dân cư ở khu vực Tây Nam Bộ bao gồm nhiều tộc người:
Người Kinh, người Hoa, người Khơ me, người Chăm v.v... Trong đó người Khmer
với hơn một triệu dân chiếm 6% dân số khu vực.
Theo tổng hợp của cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam Bộ, tính đén
thắng 12 năm 1995, tổng số dân Khmer ở khu vực Nam Bộ là 1.055.811 người.
Với số lượng cư dân trên, tộc Khơ me là cộng đồng dân tộc có số lượng lớn đứng
thứ hai ở khu vực Tây Nam Bộ sau người Kinh. Trong đó có đến 1.038.876 người
chiếm 98,39% cư trú ở 7 tỉnh thuộc khu vực tây Nam Bộ là Sóc Trăng, Trà Vinh,
Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Minh Hải, An Giang. Trong 7 tỉnh của miền tây
18
Nam Bộ thì 3 tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh và kiên Giang là nơi cư trú tập trung đông
nhất của đồng bào Khơ me.
Ngoài một số loại hình tín ngưỡng dân gian, người Khơ me theo hai tôn giáo
chính là : Bàlamôn giáo và Phật giáo. Tuy nhiện, hiện nay hầu hết người Khơ me
đều theo Phật giáo tiểu thửa ( Phật giáo Nam tông ). Bàlamôn chỉ còn tồn tại như
một tàn dư và Phật giáo giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của đồng bào
dân tộc Khơ me Tây Nam Bộ.
Có thể nói, ở đâu có người Khơ me Sinh sống thì ở đó có chùa chiền sư sãi.
Theo báo cáo của cơ quan đặc trách công tác dân tộc ở Nam Bộ, tính đến thắng
7.1992 dân số Khơ me khu vực Tây Nam Bộ là 1.046.318 người phân bố chủ yếu ở
các tình như sau : An Giang 85.728 người, Bạc Liêu 58.073 người, Cần Tơ có
33.900 người, Cà Mau 23.678 người, Kiên Giang có 181.149 người, Sóc Trăng có
384.116 người. Trà Vinh co 293.323 người, Vĩnh Long có 22.351 người. Số chùa
trong toàn khu vực là 434 chùa phân bố ở accs tỉnh như sau: An Giang có 64, Bạc
Liêu 22, Cần Thơ 26, Cà Mau 6, Kiên Giang 72, Sóc Trăng 90, Trà Vinh 141,
Vĩnh Lõng 13. Sõ sư sãi tổng cộng có 8.170 người phân bố như sau : An Giang có
816 người, Bạc Liêu có 454 người, Cần Thơ có 170 người, Cà Mau có 74 người,
Kiên Giang có 1000, Sóc Trăng có 1.966, Trà Vinh 3.500, Vĩnh Long 190.
Như vậy trung bình cứ 2.411 người Khơ me thì có một ngôi chùa và cứ
128.000 người thì có một nhà sư. Tại 3 tỉnh đông người Khơ me cư trú nhất là Sóc
Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang cũng là nơi có nhiều chùa và sư vãi nhất. Dân số
Khơ me tại 3 tỉnh này chiếm 78,6% dân số Khơ me toàn khu vực, số chùa chiếm
69,8% và số sư sãi chiếm 79,1%
19
Từ năm 1990 đến nay, Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản
Việt Nam đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình mới.
Trong đó, công tác chỉ thị về tôn giáo mang những đặc điểm sau :
Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và
sẽ tồn tại cũng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đồng bào tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, do vậy
Đảng có quan điểm " Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền
tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt bình
thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động theo đúng khuôn khổ của pháp
luật, bình đẳng trước pháp luật.
Đảng ta vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo dưới chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt,
Đảng chú trọng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo trong thực
hiện chính sách tôn giáo. Trên cơ sở thừa nhận tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của
tinh thần của một bộ phận nhân dân và đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với
sự nghiệp xây dựng xã hội ở nước ta. Đảng yêu cầu tất cả cán bộ, đảng viên và
công dân phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.
Sự tôn trọng đó phải được hiểu là Đảng chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân,
trong đó có nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận nhân dân, không phân
biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, không phân biệt đối xử vì lý
do tín ngưỡng, tôn giáo, nhằm tăng cường đoàn kết, gắn bó giữa Đảng, Nhà nước
và nhân dân, tạo sự đồng thuận, giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Bên cạnh đó,
Đảng ta yêu cầu hệ thống chính trị các cấp và toàn dân nêu cao cảnh giác, chủ
động đấu tranh làm công tác tôn giáo, dân tộc.
Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.
20
Đồng bào theo tôn giáo là một bộ phận không thế tách rời khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, có vai trò lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Vì vậy,
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là:
Đoàn kết đồng bào théo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn
giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực
của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công dân với lý do tín
ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để hoạt
động mê tín dị đoan, hoạt động trái luật và chính sách của Nhà nước, kích động
chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
Nội dung trên thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta. Đảng và nhà nước
đánh giá cao vai trò và sự đóng góp to lớn của bộ phận nhân dân theo tôn giáo. Sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước chỉ thành công khi có đường lối lãnh đạo đúng đắn của
Đảng, khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo được củng cố. Bên cạnh đó,
Đảng và Nhà nước chú trọng giáo dục truyền thống trong đạo lý của dân tộc. Tăng
cường đoàn kết lương giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, làm thất bại âm mưu
của những kẻ chống phá Nhà nước ta.
2. Quan điểm của nhà nước ta về chính sách đối ngoại tôn giáo, dân tộc ở
Tây Nam Bộ.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc được thể hiện trong
cương lĩnh dân tộc của Lênin gồm ba nội dung chủ yếu: Các dân tộc hoàn toàn
bình đẳng, các dân tộc có quyền tự quyết, đoàn kết nhân dân lao động trong cuộc
đấu tranh xóa bỏ áp bức dân tộc và xây dựng mối quan hệ mới giữa các dân tộc.
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, thực chất của bình đẳng
dân tộc là xóa bỏ sự nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác. Từng bước xóa
21
bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, việc thực hiện bình đẳng
dân tộc sẽ góp phần thực hiện bình đẳng xã hội. Sự bình đẳng này phải được thực
hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…Để thực hiện được
điều ấy chỉ có đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân mới thực hiện
được quyền bình đẳng và tự quyết đúng đắn, khắc phục được thái độ kỳ thị và mới
đoàn kết được nhân dân lao động các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp
giải phóng xã hội, giải phóng con người, đưa các dân tộc tiến tới bình đẳng, công
bằng, dân chủ, văn minh.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã bắt gặp tư tưởng Lênin về cách mạng vô sản và vấn đề dân tộc thuộc địa.
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, căn cứ vào thực tiễn Việt Nam là một
quốc gia đa dân tộc, Bác đã nhiều lần căn dặn chúng ta về việc quan tâm đến đời
sống của đồng bào các dân tộc. Người nói:
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp Đảng ta thấy rõ rằng trong điều kiện một nước
nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân.
Cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng của nông dân do giai cấp công nhân
lãnh đạo và chính quyền nhân dân thực chất là chính quyền của công nông
Người luôn kêu gọi đoàn kết các dân tộc, bởi đoàn kết là một yếu tố cực kỳ
quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam. Người chỉ rõ:
Nhờ sức đoàn kết đấu tranh chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay
được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả
đều như anh chị em trong một nhà, không còn sự phân chia nòi giống, tiếng nói
làm gì nữa; Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ
lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa.
22
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta Hồ Chí Minh rất quan tâm đến
việc hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách chung của cả nước. Người nhắc
nhở phải tìm cách vận dụng đường lối chính sách chung ấy sao cho phù hợp với
điều kiện các dân tộc, đồng thời Người cũng quan tâm đến việc hoạch định và thực
hiện những chính sách cho riêng đồng bào các dân tộc thiểu số, cho riêng miền núi.
Đặc biệt trong Di chúc Bác Hồ đã căn dặn:
Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng
gian khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm
chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ
ngày có Đảng nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng
cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng
nâng cao đời sống của nhân dân.
Đặc điểm nổi bật trong quan hệ dân tộc - tộc người ở Việt Nam là có truyền
thống đoàn kết gắn bó từ lâu đời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Do đặc
điểm lịch sử của cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt và chống giặc
ngoại xâm, các dân tộc ở Việt Nam, thiểu số cũng như đa số tuy trình độ kinh tế,
văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán… khác nhau, nhưng đều có chung truyền
thống đoàn kết thống nhất, tương thân, tương ái, đồng cam cộng khổ trong công
cuộc dựng nước và giữ nước. Truyền thống đó đã được phát huy cao độ trong các
cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và đang được phát
huy trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà
nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc; xuất phát từ đặc điểm tình
hình các dân tộc ở nước ta. Đảng ta, luôn luôn đề ra chính sách dân tộc đúng đắn
23
ngay từ cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiếp tục hoàn thiện
và thể hiện cụ thể trong các Nghị quyết của các Đại hội đại biểu toàn quốc, trong
các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và được khẳng định trong Hiến pháp.
Chính sách dân tộc được thể hiện trong các giai đoạn, trên cơ sở cụ thể hóa
những nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng:
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tháng 8 -1952, Nghị quyết của Bộ
Chính trị về công tác dân tộc của Đảng đã chỉ rõ: “Các dân tộc sống trên đất nước
Việt Nam đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ lẫn
nhau để kháng chiến và kiến quốc”
Sau khi miền Bắc được giải phóng, đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược cách mạng, miền Bắc trở thành hậu phương lớn của cả nước. Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ III đã đề ra chủ trương:
Đảng và Nhà nước cần có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển kinh tế và văn
hóa ở miền núi, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp dân
tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của mình.
Sau khi miền Nam được giải phóng, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã
hội, Đảng ta chủ trương tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn
dân, đồng thời, coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những
nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ IV của Đảng đã chỉ ra một cách cụ thể
hơn về chính sách dân tộc của Đảng:
Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt
giữa các dân tộc, tạo ra những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch
24
về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người, đưa
miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp, làm cho tất cả các dân
tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc phát triển về mọi mặt, đoàn
kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
Đại hội Đảng lần thứ VI của Đảng cũng đã chỉ rõ con đường phát triển các
dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc:
Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố phát triển của
cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống
nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không
mâu thuẫn, không bài bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo của mỗi dân tộc.
Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ VII của Đảng đã chỉ rõ:
Thực hiện chính sách bình đẳng đoàn kết tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi
điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật
thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Xuất phát từ tình hình phát triển không đồng đều giữa các dân tộc trong lịch
sử và sự chênh lệch lớn về đời sống kinh tế - xã hội giữa các dân tộc, giữa các
vùng, miền, Đảng và Chính phủ Việt Nam trong lãnh đạo công cuộc đổi mới ngày
càng nhận rõ việc xóa bỏ sự chênh lệch giữa các vùng miền, đẩy mạnh xóa đói
giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng dân tộc.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ:
Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện “ Bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Xây dựng Luật dân tộc. Từ nay đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích
25