VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÀN THỊ QUỲNH GIAO
DÂN CA NGHI LỄ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62 22 01 25
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huế
HÀ NỘI, 2017
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
LUẬN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ..................................................... 8
1.1. Tình hình nghiên cứu .............................................................................. 8
1.2. Cơ sở lý luận ......................................................................................... 18
1.3. Khái quát về người Dao Tuyển và dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
ở Việt Nam ................................................................................................... 27
Chương 2: DIỄN TRÌNH DIỄN XƯỚNG DÂN CA NGHI LỄ CỦA
NGƯỜI DAO TUYỂN .................................................................................. 39
2.1. Dân ca trong nghi lễ cấp sắc ................................................................. 40
2.2. Dân ca trong nghi lễ đám cưới .............................................................. 50
2.3. Dân ca trong nghi lễ tang ma ................................................................ 60
Chương 3: SỰ PHẢN ÁNH THẾ GIỚI TÂM LINH VÀ ĐỜI SỐNG CON
NGƯỜI TRONG DÂN CA NGHI LỄ CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN.............. 73
3.1. Dân ca nghi lễ phản ánh thế giới quan của người Dao Tuyển.............. 73
3.2. Dân ca nghi lễ phản ánh vũ trụ quan của người Dao Tuyển ............... 87
3.3. Dân ca nghi lễ phản ánh triết lý nhân sinh quan của người Dao Tuyển ... 99
Chương 4: CÁC YẾU TỐ NGHỆ THUẬT TRONG DÂN CA NGHI LỄ
CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN ...................................................................... 115
4.1. Nghệ thuật diễn xướng dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển ............ 115
4.2. Ngôn ngữ trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển........................ 130
4.3. Thể thơ trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển ........................... 140
KẾT LUẬN .................................................................................................. 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ....................................... 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 152
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Người Dao Tuyển nói riêng và người Dao nói chung di cư đến Việt
Nam khá sớm. Trên con đường di cư cũng như khi “cắm bản” tại vùng đất
mới, người Dao Tuyển gặp nhiều khó khăn về điều kiện vật chất nhưng không
vì thế mà họ đánh mất đi đời sống văn hóa tinh thần của mình. Trong nền văn
hóa ấy, nổi bật lên là kho tàng dân ca nghi lễ phong phú về thể loại và đặc sắc
về nội dung – một tài sản văn hóa phi vật thể vô giá của người Dao Tuyển.
Dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển không chỉ phản ánh phong tục, tập quán,
tín ngưỡng, tư tưởng, tình cảm mà còn mang nét bản sắc văn hóa đặc trưng
riêng. Do vậy, nghiên cứu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển đặt trong cơ
tầng văn hóa tộc người Dao sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn đời sống văn hóa
của tộc người này.
1.2. Dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển chứa đựng trong nó văn hóa
truyền thống của tộc người. Ở đó thế giới tâm linh (thế giới quan, vũ trụ quan)
và triết lý nhân sinh quan được phản ánh rõ nét. Từ những bài dân ca nghi lễ
được thực hành trong đời sống văn hóa ta thấy được đặc tính văn hóa cũng
như những tâm tư, tình cảm của cộng đồng cư dân người Dao Tuyển.
1.3. Dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển có vai trò quan trọng trong
thực hành nghi lễ vòng đời đồng thời cũng phản ánh được đời sốngvật chất,
đời sống tinh thần của đồng bào. Tuy nhiên cho đến nay, nó vẫn chưa được
nghiên cứu chuyên sâu đúng với tiềm năng và thực trạng vốn có. Do vậy, tìm
hiểu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển ở Việt Nam trong đời sống văn hóa
chúng ta sẽ có một cái nhìn khái quát, toàn diện hơn về thể loại dân ca nghi lễ
của tộc người này.
1.4. Người Dao Tuyển ở Việt Nam cư trú trên những địa bàn có điều
kiện sinh tồn khác nhau. Vì thế, ở mỗi địa phương người Dao Tuyển lại có
những sắc thái văn hóa riêng, điều đó đã tạo nên tính đa dạng, phong phú
trong nguồn mạch văn hóa Dao nói chung. Việc sử dụng dân ca trong thực
1
hành nghi lễ vừa thể hiện tính thống nhất trong đời sống tinh thần tộc người,
vừa biểu hiện nét khác biệt của người Dao Tuyển so với các nhóm Dao khác.
Luận án nghiên cứu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển ở Việt Nam nhằm
góp phần chỉ ra những nét đặc thù và phổ quát của loại hình nghệ thuật này.
1.5. Bản thân nghiên cứu sinh là một người mang dòng máu và tâm thức
văn hóa của người Dao, sinh tồn trong môi trường văn hóa ấy nên có vốn hiểu
biết nhất định về đời sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân tộc mình.
Khi tiến hành khảo sát, nghiên cứu về dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển,
nghiên cứu sinh có điều kiện tiếp cận thực tế, sưu tầm, tìm hiểu các nghi lễ
trong đời sống văn hóa của tộc người. Do đó, trong đề tài nghiên cứu của luận
án, nghiên cứu sinh hy vọng sẽ trình bày được những hiểu biết của mình về
dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển từ góc nhìn khoa học của một người
trong cuộc.
1.6. Mặc dù không mong muốn nhưng có một thực tế mà chúng ta vẫn
phải thừa nhận, đó là sự mai một dần của các loại hình văn học dân gian đặc
biệt là văn học dân gian của các tộc người thiểu số trong đời sống hiện đại.
Bởi vậy, nghiên cứu, tìm hiểu dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của
người Dao Tuyển ở Việt Nam cũng góp một phần vào việc giữ gìn, bảo tồn
những giá trị văn hóa truyền thống của tộc người Dao Tuyển ở Việt Nam.
Từ các lý do đã trình bày trên, trong khuôn khổ một luận án Tiến sĩ,
chúng tôi chọn đề tài: “Dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người
Dao Tuyển ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình. Chúng tôi hy vọng
luận án này có thể góp một tiếng nói khoa học trong việc nghiên cứu văn học,
văn hóa dân gian của người Dao Tuyển nói riêng và người Dao nói chung ở
Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các nội dung phản ánh, phương thức phản
ánh của dân ca nghi lễ người Dao Tuyển trong đời sống văn hóa tộc người
2
(đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần) thông qua việc phân
tích, diễn giải các văn bản dân ca nghi lễ.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tiến hành tập hợp, hệ thống, đối chiếu tư liệu trên các văn bản đã
được công bố đồng thời điền dã, khảo sát thêm một số tư liệu mới, quan sát
thực tế bối cảnh diễn xướng dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển.
Luận án tập trung nghiên cứu nội dung phản ánh và phương thức phản
của dân ca nghi lễ với tư cách là một thành tố quan trọng trong mối quan hệ
giữa bối cảnh diễn xướng với các lễ thức tín ngưỡng dân gian. Bên cạnh đó,
luận án cũng xem xét dân ca nghi lễ như một hiện tượng văn hóa dân gian
mang tính nguyên hợp đồng thời dựa vào những đặc trưng văn hóa tộc người
để có cơ sở lý giải ý nghĩa cơ bản của một số hình ảnh nghệ thuật thẩm mĩ.
Để từ đó làm nổi bật lên mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa văn hóa với dân
ca nghi lễ người Dao Tuyển.
Trong luận án, ở một mức độ cho phép chúng tôi sẽ cố gắng so sánh dân
ca nghi lễ của người Dao Tuyển với dân ca nghi lễ của một số ngành Dao
khác để tìm ra sự tương đồng và nét văn hóa đặc trưng của dân ca nghi lễ dân
tộc Dao nói chung, nhằm làm rõ tính chuyên biệt và phổ quát của các loại
hình dân ca nghi lễ người Dao Tuyển.
Luận án, đặt dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao
Tuyển, với mong muốn làm rõ nội dung và nghệ thuật phản ánh của nó, để từ
đó góp phần khẳng định vai trò, vị trí, giá trị của loại hình dân ca này trong
cộng đồng người Dao Tuyển nói riêng và người Dao nói chung ở Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những bài dân ca trong nghi lễ vòng
đời của người Dao Tuyển, cụ thể là: dân ca trong nghi lễ cấp sắc, dân ca trong
nghi lễ đám cưới và dân ca trong nghi lễ tang ma qua các công trình sưu tầm,
nghiên cứu đã được xuất bản.
3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi một mặt căn cứ vào các thư tịch, văn bản dân ca nghi lễ đã
được tuyển chọn và giới thiệu, cụ thể: Lễ cưới người Dao Tuyển, xuất bản
năm 2001; Thơ ca dân gian người Dao Tuyển xuất bản năm 2005; Thơ ca dân
gian người Dao Tuyển (Song ngữ: Việt – Dao) xuất bản năm 2011; Đám cưới
người Dao Tuyển xuất bản năm 2011; Những bài ca giáo lý xuất bản năm
2012. Mặt khác, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, điền dã sưu tầm, đối chiếu
các bài dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển đã được xuất bản với các bài dân
ca nghi lễ trong thực tiễn sinh hoạt, thực hành nghi lễ của họ từ quá khứ tới
hiện tại. Việc khảo sát, đối chiếu dân ca trong thực tiễn sinh hoạt, thực hành
nghi lễ của người Dao Tuyển được chúng tôi tiến hành trên các địa bàn tỉnh
Lào Cai – địa phương có số lượng người Dao Tuyển sống tập trung đông
nhất ở các huyện Bảo Yên, Bảo Thắng, Bát Xát, Mường Khương… nơi văn
hóa truyền thống của người Dao Tuyển còn được lưu giữ khá nguyên vẹn. Tại
địa bàn tỉnh Lào Cai, với điều kiện tự nhiên đặc thù của vùng núi cao, nhất là
đối với các huyện vùng sâu, vùng xa, biên giới là nơi cư trú lâu đời của người
Dao Tuyển thì sự tác động của các yếu tố văn hóa ngoại lai đến đời sống kinh
tế, văn hóa của tộc người này diễn ra chậm hơn so với các khu vực khác. Do
vậy, các phong tục, tập quán, tín ngưỡng nơi đây ít bị biến đổi hơn so với các
địa phương khác có người Dao Tuyển cư trú.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra, điền dã, chúng tôi cũng mở rộng
phạm vi thực địa ra các địa phương khác như tỉnh Lai Châu, Yên Bái… đó là
những tỉnh có người Dao Tuyển sinh sống với số lượng ít hơn và mật độ phân
bố thưa thớt hơn ở Lào Cai để có một cái nhìn toàn diện hơn về sự ảnh hưởng
của dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của tộc người.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Ngoài phương pháp luận chung của nghiên cứu khoa học xã hội nhân
văn, khi thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi triển khai luận án trên
những phương pháp luận riêng sau đây:
4
Đặt dân ca nghi lễ trong bối cảnh diễn xướng folklore: Chúng tôi
không nghiên cứu dân ca nghi lễ như là một thành tố tồn tại độc lập mà đặt
trong bối cảnh diễn xướng của tộc người để tìm hiểu dân ca nghi lễ trong mối
quan hệ với các thành tố văn hóa khác. Đồng thời đặt dân ca nghi lễ của
người Dao Tuyển trong bối cảnh diễn xướng để có những luận giải về đời
sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần thông qua nội dung phản
ánh và phương thức phản ánh.
Vận dụng linh hoạt lý thuyết tính nguyên hợp ở phương diện chức năng
của folklore: Cụ thể là trong luận án chúng tôi đặc biệt chú ý đến chức năng
thực hành – sinh hoạt của dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của tộc người
Dao Tuyển. Song do đặc thù của loại hình dân ca nghi lễ và cũng do sự quy
định của mã ngành nghiên cứu nên trong luận án chúng tôi chỉ đi sâu nghiên
cứu tính chất thực hành – sinh hoạt của dân ca nghi lễ biểu hiện trực tiếp
thông qua chủ thể diễn xướng, không gian, thời gian diễn xướng, ngôn ngữ,
thể thơ trong các nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận án này, chúng tôi chủ yếu áp dụng một
số phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp phân tích ngữ văn: Phương pháp này được chúng tôi
tiến hành thường xuyên và là phương pháp chủ đạo của luận án nhằm phát
hiện ra đặc điểm cơ bản của dân ca nghi lễ người Dao Tuyển. Đồng thời, tìm
hiểu sâu hơn giá trị về nội dung và nghệ thuật của dân ca nghi lễ.
Phương pháp so sánh lịch sử và so sánh loại hình: Các phương pháp
này được chúng tôi sử dụng nhằm so sánh đối chiếu dân ca nghi lễ các ngành
Dao từ truyền thống đến hiện đại, trên cơ sở phân tích, tổng hợp nhằm tìm ra
nét văn hóa đặc trưng của dân ca nghi lễ người Dao Tuyển.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Dân ca nghi lễ của người Dao
Tuyển ẩn chứa những giá trị tinh thần quý báu của dân tộc, như: Tín ngưỡng,
tôn giáo, tâm hồn, tình cảm, nghệ thuật… các giá trị ấy tồn tại trong tính
nguyên hợp. Để khám phá được những giá trị ấy khi triển khai luận án chúng
5
tôi sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu khác nhau như: lịch sử
học, tâm lý học, dân tộc học, triết học, xã hội học… việc kết hợp các phương
pháp nghiên cứu liên ngành sẽ giúp khai mở các bình diện của dân ca nghi lễ
một cách toàn diện và sâu sắc hơn.
Phương pháp sưu tầm điền dã: Đây là một phương pháp quan trọng đối
với việc nghiên cứu dân ca nghi lễ như một sự kiện xã hội tổng thể. Chúng tôi
tiến hành sưu tầm điền dã, tham gia thực tế vào các nghi lễ để lắng nghe, quan
sát, ghi chép lại những bài dân ca nghi lễ được thực hành trong nghi lễ hiện nay
của người Dao Tuyển. Từ đó, tìm hiểu và mô tả lại diễn trình, diễn xướng thực tế
của dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của tộc người. Đó cũng chính là chìa
khóa, là phương thức giúp chúng tôi mở ra hướng thâm nhập sâu hơn đời sống
văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của người Dao Tuyển thông qua
các hình thức sinh hoạt của loại hình dân ca này.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất: Qua khảo sát của chúng tôi, cho đến thời điểm hiện tại chưa
có một công trình nghiên cứu nào đi sâu, tìm hiểu một cách hệ thống, khoa
học về dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển. Luận án
là công trình đầu tiên cung cấp một bức tranh cơ bản về diện mạo dân ca nghi
lễ của người Dao Tuyển ở Việt Nam theo từng tiểu loại đã và đang tồn tại
trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển.
Thứ hai: Từ các cuộc điều tra điền dã, chúng tôi có sự so sánh, đối chiếu
giữa các văn bản hóa của dân nghi lễ với các văn bản dân ca nghi lễ được
thực hành trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển hiện nay. Điều này,
giúp chúng ta hiểu sâu hơn về đặc điểm, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật
cũng như quy luật sản sinh, diễn biến, lưu truyền của dân ca nghi lễ đặt trong
bối cảnh văn hoá tộc người.
Thứ ba: Bằng việc tiến hành khảo sát, giải mã dân ca trong đời sống
văn hóa của người Dao Tuyển, bước đầu chúng tôi hệ thống dân ca nghi lễ
theo các loại hình nghi lễ như sau: dân ca trong nghi lễ cấp sắc, dân ca trong
nghi lễ đám cưới, dân ca trong nghi lễ tang ma. Khi tiến hành nghiên cứu,
6
chúng tôi sẽ chỉ ra chức năng, ý nghĩa nội dung và giá trị nghệ thuật của từng
tiểu loại dân ca nghi lễ ấy.
Thứ tư: Đề tài cũng góp phần thực hiện chủ trương chính sách bảo tồn,
phát huy các di sản văn hóa truyền thống của các tộc người Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn.
Luận án cũng sẽ là tài liệu giúp cho các nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu
văn hóa người Dao Tuyển và người Dao nói chung, có hướng tiếp cận mới
với thể loại dân ca này cũng như có cách đánh giá, nhìn nhận mới về các giá
trị của dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển nói riêng
và các dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc nói chung.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
của luận án gồm có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và đối tượng
nghiên cứu
Chương 2: Diễn trình diễn xướng dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
Chương 3: Sự phản ánh thế giới tâm linh và đời sống con người trong
dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển
Chương 4: Các yếu tố nghệ thuật trong dân ca nghi lễ của người
Dao Tuyển
7
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
LUẬN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về người Dao và dân ca nghi lễ Dao
Theo khảo sát của chúng tôi, tình hình nghiên cứu về người Dao và dân
ca nghi lễ Dao ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1945 ít được các nhà nghiên
cứu quan tâm đến. Các công trình nghiên cứu về người Dao ở giai đoạn này
gần như chỉ thiên về giới thiệu sơ lược nguồn gốc, địa bàn cư trú, trang
phục… và không thấy xuất hiện một công trình nào nghiên cứu về dân ca
nghi lễ Dao. Căn cứ vào các thư tịch hiện còn lại chúng tôi thấy, việc ghi
chép, tìm hiểu về lịch sử, phong tục tập quán, tín ngưỡng của người Dao đã
được các nhà Nho tiến hành từ thế kỷ XVIII. Đầu tiên phải nhắc đến là trường
hợp nhà bác học Lê Quí Đôn, trong tác phẩm nổi tiếng Kiến văn tiểu lục
(1778) của mình, ông đã giới thiệu sơ lược về nguồn gốc, cuộc sống, cách ăn
mặc của một nhóm người Man (Dao) ở Việt Nam [24]. Mặc dù mới giới thiệu
một cách sơ lược về nhóm người Man nhưng Lê Quí Đôn cũng đã đưa ra
được những đặc điểm bên ngoài cơ bản nhất giúp chúng ta phân biệt được tộc
người này với các tộc người thiểu số khác. Người thứ hai phải kể đến là tiến sĩ
Hoàng Bình Chính trong cuốn Hưng hóa xứ phong thổ lục (1778), đây là cuốn
sách được viết theo thể loại địa chí, nhưng ở đó ông đã ghi chép và giới thiệu
khái quát về trang phục, phong tục của người Dao ở Lào Cai [9]. Người thứ
ba là nhà sử học Phạm Thận Duật trong năm 1856 ông viết tác phẩm Hưng
Hóa ký lược, ở mục phong tục tập quán ông đã giới thiệu về phong tục, tập
quán của các dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam, trong đó ông dành nhiều trang viết
về dân tộc Dao [17]. Có thể thấy, mặc dù đó chưa phải là các công trình
chuyên biệt về tộc người Dao, nhưng các tác giả thời phong kiến của Việt
Nam bước đầu đã có ý thức đề cập đến nguồn gốc, phong tục, tập quán của
tộc người này một cách tương đối có hệ thống. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ
thế kỷ XVIII, người Dao ở Việt Nam đã được quan tâm tìm hiểu, ghi chép.
8
Nhưng do nguồn tư liệu còn bị hạn chế nên hầu hết các công trình nghiên cứu
mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu sơ lược về tên gọi, một vài nét đặc sắc
về phong tục, tập quán, trang phục của người Dao. Nhưng đó là nguồn tư liệu
đáng tin cậy để tìm hiểu về nguồn gốc, quá trình di cư, địa bàn cư trú của
người Dao ở Việt Nam.
Thời kỳ Pháp thuộc ở Việt Nam, một số cha cố và sĩ quan Pháp đã có
những tìm hiểu, ghi chép về người Dao nhằm hiểu hơn về tộc người này.
Những nghiên cứu ấy đã được công bố trên tạp chí Viễn Đông Bác Cổ
(BEFEO). Chúng ta có thể kể đến một vài bài viết đáng chú ý thời kỳ này
như: Một cuộc công cán ở vùng người Mán từ tháng 10 năm 1901 đến cuối
tháng giêng năm 1902 [5]; Mán Chàm hoặc Lam Diên (1906), Mán Tiểu Bản
hay Đeo Tiền (1907), Mán Đại Bản hoặc Sừng (1908), Giản chí về người
Mán Cao Lan [6], những bài viết này của tác giả A. Bonifacy chỉ dừng lại ở
việc miêu tả về nhà cửa, trang phục, kinh tế, tổ chức xã hội, tôn giáo, tín
ngưỡng và văn học dân gian... của nhóm Dao Lam Điền, Dao Đeo Tiền, Mán
Cao Lan. Trong những bài viết này mặc dù A. Bonifacy có giới thiệu qua về
thể loại văn học dân gian của các nhóm Dao nhưng không thấy đề cập đến
thể loại dân ca nghi lễ. Song các bài viết thời kỳ Pháp thuộc là một nguồn tư
liệu quý, có giá trị tham khảo cho luận án của chúng tôi.
Từ sau năm 1945: Tình hình nghiên cứu về người Dao và dân ca Dao có
sự khởi sắc hơn giai đoạn trước đó, song có thể thấy ở tất cả các hướng
nghiên cứu chưa có công trình nghiên cứu sâu nào về dân ca nghi lễ của
người Dao. Song ở giai đoạn này các nhà nghiên cứu trong nước đã quan tâm
hơn đến việc sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu thể loại dân ca Dao. Trong số
các công trình đã được tuyển chọn, giới thiệu, một số bài dân ca nghi lễ của
dân tộc Dao (một số bài dân ca trong nghi lễ cấp sắc của người Dao Tiền, một
số bài dân ca nghi lễ đám cưới của người Dao Đỏ) xuất hiện trong các công
trình đó. Nhiều tác giả ở thời kỳ này đã đầu tư thời gian, công sức, trí tuệ để
tìm hiểu, nghiên cứu về dân tộc Dao. Bước đầu các tác giả đã giới thiệu
những làn điệu dân ca Dao đặc sắc, trữ tình đến với bạn đọc, đó là các tác giả:
9
Mạc Đường, Trần Quốc Vượng, Triệu Hữu Lý, Bàn Tài Đoàn, Nguyễn Khắc
Tụng, Bế Viết Đẳng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến, Ngô Đức Thịnh, Phạm
Quang Hoan, Lý Hành Sơn, Trần Hữu Sơn… Căn cứ vào các công trình đã
được xuất bản chúng tôi xin chia thành ba hướng nghiên cứu chính:
* Ở hướng nghiên cứu thứ nhất: Các công trình chủ yếu đề cập đến những
vấn đề khái quát, giới thiệu chung về nguồn gốc lịch sử, dân số, quá trình thiên
di, địa bàn cư trú… mức độ đậm nhạt khác nhau. Nhà dân tộc học Mạc Đường
công bố một số bài báo khoa học về Dân tộc Mán sau này ông cho in trong cuốn
Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (1959) [28, Tr.119 – 138], các bài viết của Mạc
Đường giới thiệu sơ lược về nguồn gốc lịch sử, dân số, đặc điểm kinh tế - xã hội,
văn hóa của người Dao ở Việt Nam. Năm 1963 nhà sử học Trần Quốc Vượng
trong bài viết Qua nghiên cứu bình Hoàng Khoán điệp thử bàn về gốc tích người
Dao (Mán) đăng tải trên tạp chí Dân tộc học[145, Tr.46- 51] đã trình bày lịch sử,
quá trình thiên di của người Dao đến Việt Nam. Đây có thể coi là một trong
những bài viết có giá trị học thuật cao, tác giả đã chỉ ra được nguồn gốc lịch sử
của người Dao nói chung và người Dao ở Việt Nam nói riêng. Đến năm 1971,
nhóm tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nam Tiến cho
xuất bản cuốn Người Dao ở Việt Nam [19], đề cập một cách tổng quan về tộc
người Dao ở Việt Nam, như: dân số, địa vực cư trú, tên gọi, nguồn gốc; các hình
thức kinh tế, sinh hoạt vật chất và sinh hoạt xã hội; một số tục lệ chủ yếu; tôn
giáo, tín ngưỡng. Năm 2010, tác giả Đỗ Quang Tụ, Nguyễn Liễn cho xuất bản
cuốn Người Dao trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam [131], đề cập đến nguồn
gốc và quá trình hình thành dân tộc Dao ở Việt Nam; các nhóm Dao; văn hóa
dân tộc Dao; quá trình đấu tranh bảo vệ tổ quốc và phát triển tộc người.
* Ở hướng nghiên cứu thứ hai: Các nhà nghiên cứu đã công bố những
công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa dân tộc Dao, các công trình đó
đã khái quát được văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của người Dao từ truyền
thống đến hiện đại, có thể kể đến: Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà
Giang (1999) [36] của tác giả Phạm Quang Hoan và Hùng Đình Quý, cuốn
sách đã đề cập một cách tương đối đầy đủ các lĩnh vực đời sống, kinh tế, văn
10
hóa, xã hội của người Dao. Năm 2011, tác giả Nguyễn Khắc Tụng xuất bản
cuốn Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam [135]. Trong cuốn
sách này các tác giả đã miêu tả sâu các công đoạn làm ra một bộ trang phục
truyền thống của 7 nhóm người Dao ở Việt Nam. Từ việc giải mã các hoa văn
trên trang phục của người Dao, các tác giả đã chỉ ra những đặc tính văn hóa
riêng của từng nhóm Dao. Cùng nghiên cứu về vấn đề trang phục của người
Dao, năm 2013 tác giả Phan Thị Phượng xuất bản cuốn Trang phục và nghệ
thuật trang trí trên trang phục của người Dao Đỏ ở Lào Cai [85] trong cuốn
sách đó tác giả đã phân tích được vai trò của người phụ nữ trong việc sử dụng
nguyên liệu, kỹ thuật tạo hoa văn trên vải thổ cẩm để làm ra bộ trang phục của
người Dao Đỏ. Ở phương diện văn hóa tinh thần, đã có một số công trình đi
sâu vào nghiên cứu các phong tục, tập quán của người Dao, cụ thể: trong cuốn
Tập tục chu kỳ đời người của các tộc người ngôn ngữ H’Mông – Dao ở Việt
Nam (2002) [54] tác giả Nguyễn Đức Lợi đã giới thiệu tới người đọc những
tập tục trong chu kỳ đời người thuộc nhóm ngôn ngữ H’Mông – Dao. Qua đó,
chúng ta biết được một số nghi lễ trong chu kỳ vòng đời của người Dao như:
cấp sắc, cưới xin, tang ma…. Năm 2011, tác giả Tẩn Kim Phu cho xuất bản
cuốn Nghi lễ trong việc cưới – việc tang của người Dao Khâu (ở Sìn Hồ, Lai
Châu) [83]. Cuốn sách bước đầu nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu những nghi
thức, ý nghĩa của việc thực hành các nghi lễ cưới, tang ma của người Dao
Khâu. Năm 2016, tác giả Chu Quang Cường bảo vệ thành công luận án tiến sĩ
Nhân học Hôn nhân của người Dao họ ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Luận án đã giới thiệu khái quát được về người Dao Họ, hôn nhân truyền
thống, những biến đổi trong hôn nhân đặc biệt đưa ra được nhiều thông tin
trong các lĩnh vực: quá trình lịch sử tộc người, sự giao thoa tiếp biến văn hóa
giữa người Dao Họ với các tộc người khác; những biểu hiện sinh động của
các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trong các nghi lễ liên quan đến hôn
nhân; triết lý và thân phận con người, nghĩa vụ của các thành viên trong gia
đình và cộng đồng; giá trị văn hóa tạo nên sự gắn kết giữa các thành viên với
nhau...[12].
11
* Ở hướng nghiên cứu thứ ba: Đây là hướng nghiên cứu liên quan trực
tiếp đến đề tài luận án, chúng tôi dành sự quan tâm, khảo sát kỹ hơn cho
những công trình nghiên cứu về thể loại văn học dân gian của dân tộc Dao.
Đây cũng là hướng nghiên cứu nhận được nhiều sự đầu tư với những công
trình khá công phu, cụ thể:
Về truyện cổ, truyện thơ, tục ngữ - câu đố: Nhà nghiên cứu, sưu tầm
Triệu Hữu Lý cho công bố Truyện Đặng Hành và Bàn Đại Hộ (1974) [56]
trên tạp chí Dân tộc học, đây là truyện thơ viết theo lối cổ phong (7 chữ) của
người Dao, gồm 632 câu, ghi lại lịch sử chuyển cư của người Dao từ thế kỉ
thứ 10 đến nay qua nhiều vùng đất khác nhau ở miền nam Trung Quốc và
miền Bắc Việt Nam. Đến năm 1978 nhà sưu tầm Doãn Thanh xuất bản cuốn
Truyện cổ Dao [111], giới thiệu đến bạn đọc 72 truyện cổ, cuốn sách bao gồm
các câu chuyện thần thoại về nguồn gốc ra đời của tộc người; các truyện cổ
tích lý giải vì sao người Dao ở nhà đất, không ở nhà sàn; nguồn gốc chữ viết
và tục cúng trời của người Dao có từ đâu?… Tác giả Doãn Thanh đã cung cấp
những tư liệu quý đồng thời gợi mở cho việc khảo sát và tìm hiểu truyện cổ
của người Dao. Hơn 20 năm sau, tác giả Trần Hữu Sơn cho ra mắt cuốn Tục
ngữ, câu đố của dân tộc Dao (1999) [100], đây là cuốn sách được tác giả dày
công sưu tầm và dịch thuật, cuốn sách chia làm 2 phần: phần tục ngữ đã giới
thiệu tới người đọc 396 câu tục ngữ về mùa vụ, thời tiết, quan hệ gia đình…
trong dân gian; phần câu đố tác giả sưu tầm được 186 câu đố dân gian, các
câu đố đó được bắt nguồn từ nhu cầu giải trí, thi tài, thử tài suy đoán của
người Dao. Đỗ Quang Tụ và Nguyễn Liễn cho xuất bản cuốn Câu đố - Tục
ngữ - Dân ca dân tộc Dao (2007) [132]. Cuốn sách này được hai tác giả sưu
tầm và diễn giải một cách cẩn trọng bốn thể loại văn học dân gian, đó là: các
câu đố dân gian được phân chia theo các chủ đề thiên nhiên, thực vật, động
vật, dụng cụ lao động sinh hoạt, ngâm – vịnh đố, hát đối đáp đố giải trong hôn
lễ; những câu thành ngữ châm ngôn bao gồm một số thành ngữ đời thường,
một số thành ngữ biến hóa thành tục ngữ, thành ngữ rút ra từ sách dần biến
thành câu cửa miệng, thành ngữ tham gia kết cấu bài ca…; các câu tục ngữ, ở
12
thể loại này tác giả đã trình bày định nghĩa, nội dung, hình thức cấu trúc, ảnh
hưởng qua lại giữa tục ngữ Dao và Kinh, Tày. Ngoài ra hai tác giả còn phân
loại tục ngữ theo các chủ đề như tục ngữ về thiên nhiên, môi trường, con
người, gia đình, dòng họ, lao động sản xuất, mua bán, tình yêu, hôn nhân, tín
ngưỡng, ứng xử xã hội, chống thói hư tật xấu; các khúc ca ngâm được hai tác
giả sắp xếp theo các chủ đề như tình và cảnh, cộng đồng xã hội, tình yêu, hôn
nhân, hôn lễ, hát ru. Năm 2010, tác giả Trần Trí Dõi, Triệu Phúc Xuân, Triệu
Thị Nga xuất bản cuốn Tác phẩm Đặng Hành và Bàn Đại Hội [15], cuốn sách
này là một tài liệu quý đối với những nhà nghiên cứu về văn học dân gian
Dao. Cuốn sách được chia làm hai phần: phần đầu giới thiệu khái quát về
người Dao ở Thanh Hóa, giới thiệu về tác phẩm “Tằng S’hi thênh Piền Tạ
Ụi”, đôi nét về ngôn ngữ Dao và việc phiên âm tác phẩm; phần hai giới thiệu
tác phẩm “Đặng Hành và Bàn Đại Hội” nguyên bản chữ Nôm Dao và phiên
âm chữ Nôm Dao. Hai năm sau (năm 2012), tác giả Tẩn Kim Phu cho xuất
bản cuốn Truyện thơ người Dao Khâu ở Sìn Hồ - Lai Châu [84]. Đây là cuốn
sách sưu tầm và giới thiệu được nội dung một số câu chuyện thơ của người
Dao Khâu trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Sách gồm hai phần: Phần một là giới
thiệu về người Dao Khâu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; phần hai
giới thiệu một số truyện thơ của người Dao Khâu bằng chữ Nôm Dao, phiên
âm chữ Dao và dịch nghĩa ra tiếng Việt. Nhà nghiên cứu văn hóa người Dao
Bàn Tuấn Năng đã công bố cuốn Truyện cổ dân tộc Dao (2013), cuốn sách
giới thiệu đến bạn đọc 23 câu chuyện cổ bao gồm: nguồn gốc ra đời người
Dao, sự tích ra đời của các loài vật, truyện kể về các phong tục tập quán của
người Dao [60].
Về dân ca: Dân ca Dao đã được các nhà nghiên cứu, sưu tầm dành nhiều
công sức, giới thiệu đến bạn đọc. Các nhà nghiên cứu Hồng Thao, Triệu Hữu
Lý lần lượt công bố những công trình dân ca có giá trị cao như: cuốn Dân ca
Dao (1963) [113] của nhà nghiên cứu sưu tầm Hồng Thao, cuốn sách ghi
chép lại những làn điệu Páo dung của người Dao trên mọi miền của tổ quốc,
qua đó giúp người đọc cảm nhận được những làn điệu dân ca trong trẻo của
13
tộc người này. Cuốn sách Dân ca Dao có thể coi là cuốn sách mở đường cho
việc sưu tầm, nghiên cứu tiếp theo về dân ca Dao. Năm 1982, tác giả Triệu
Hữu Lý xuất bản cuốn Bàn Hộ - Trường ca dân tộc Dao [57], cuốn sách đã
ghi chép lại những câu ca, ca ngợi Bàn Hộ người được coi là ông tổ của người
Dao, người đã có công đưa người Dao đến với vùng đất mới. Những câu ca
trong cuốn sách ngoài việc ngợi ca vị thần Bàn Hộ, người đã che chở cho
cuộc sống, là điểm tựa tâm linh của người Dao chúng ta còn thấy xuất hiện
những câu ca nói về thế giới tâm linh cũng như triết lý nhân sinh quan của
người Dao. Cho đến nay, các bài dân ca trong cuốn sách này vẫn được người
Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng sử dụng trong các nghi lễ cấp
sắc, tang ma và trong hát Páo dung đầu xuân. Đến năm 1990, Triệu Hữu Lý
tiếp tục cho ra mắt bạn đọc cuốn Dân ca Dao [58]. Đây là công trình giới
thiệu khá đầy đủ diện mạo dân ca Dao với 5 nhóm phân loại: Hát đối; Bài ca
can chi; Tình thơ gửi; Những bài hát đám cưới; Lời răn lưu truyền. Công
trình này đã được tác giả dày công sưu tầm và dịch thuật một cách công phu,
cho nên đã đảm bảo được tính khoa học, truyền tải được nội dung của dân ca
Dao từ tiếng Dao sang tiếng Việt/ Kinh song vẫn giữ được nhạc điệu và nhịp
điệu của lời ca. Có thể nói, cuốn sách này của ông đã trở thành nguồn tư liệu
quí giá, phục vụ cho việc bảo tồn và nghiên cứu văn học dân gian của người
Dao. Trong cuốn Dân ca các dân tộc thiểu số Việt Nam – tập 2 (1997) [129],
tác giả Hoàng Văn Trụ cũng tuyển chọn, giới thiệu đến bạn đọc một số bài
dân ca trong nghi lễ cấp sắc của người Dao Tiền. Mặc dù số lượng bài dân ca
trong nghi lễ cấp sắc được giới thiệu rất hạn chế (03 bài), nhưng đây cũng là
tư liệu quý để chúng tôi đối sánh trong luận án. Có thể khẳng định, các công
trình sưu tầm, giới thiệu về thể loại dân ca đã giới thiệu tới bạn đọc được một
số làn điệu dân ca giao duyên, dân ca đám cưới, dân ca nghi lễ cấp sắc, các
bài hát răn dạy của dân tộc Dao. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công
trình nghiên cứu chuyên sâu nào về dân ca nghi lễ cũng như dân ca giao
duyên của dân tộc Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng.
14
Từ những công trình tập trung ở ba hướng nghiên cứu chính về người
Dao ở Việt Nam như đã trình bày ở trên cho thấy: các nhà nghiên cứu đã đề
cập sâu đến vấn đề nguồn gốc, lịch sử, tổ chức xã hội, văn hóa vật chất và văn
hóa tinh thần của tộc người. Những nghiên cứu chuyên sâu ấy đã góp phần
làm rõ diện mạo, đặc điểm văn hóa và văn học truyền thống của người Dao.
Nhìn từ quá trình sưu tầm, biên soạn và dịch thuật văn học dân gian của
người Dao, chúng tôi nhận thấy nổi bật một số vấn đề như sau: Về thời gian,
việc sưu tầm và nghiên cứu về người Dao được tiến hành khá sớm (từ năm
1778), song đến nay nhiều công trình vẫn chỉ tồn tại dưới dạng tư liệu, chưa
được công bố trên các tạp chí chuyên ngành; Về số lượng, các ấn phẩm về
người Dao, được in ấn xuất bản từ năm 1963 cho đến năm 2013 bao gồm 20
bộ sách về dân tộc học, văn học dân gian Dao nói chung và Dao Tuyển nói
riêng. Các công trình đã xuất bản về văn học dân gian giới thiệu đến bạn đọc
được một số thể loại chính như: truyện cổ, truyện thơ, thơ ca dân gian, tục
ngữ, câu đố... Đây chính là nguồn tư liệu phong phú phục vụ cho việc tham
khảo và sử dụng trong quá trình khảo sát, nghiên cứu của chúng tôi.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về người Dao Tuyển và dân ca nghi lễ Dao Tuyển
Đến nay, những công trình nghiên cứu chuyên biệt về người Dao Tuyển
hầu như vắng bóng ngoại trừ cuốn Nhà ở truyền thống của người Dao Tuyển
ở Lào Cai [53] của tác giả Chảo Văn Lâm xuất bản năm 2015, đi sâu mô tả
cấu trúc, quy trình, chức năng và sinh hoạt văn hóa trong ngôi nhà của người
Dao Tuyển Lào Cai. Những đặc trưng về nguồn gốc tộc người, quá trình thiên
di, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần… của người Dao Tuyển đã được đề
cập ít nhiều trong các công trình nghiên cứu về người Dao nói chung. Riêng
về dân ca của người Dao Tuyển, cho đến nay, Trần Hữu Sơn là tác giả có
nhiều công trình nghiên cứu và sưu tầm: Đầu tiên là cuốn Lễ cưới người Dao
Tuyển (2001) [101], cuốn sách được tác giả biên soạn thành ba phần: phần
một dẫn luận; phần hai người Dao Tuyển và lễ cưới; phần ba dân ca lễ cưới.
Đây là công trình đầu tiên tuyển chọn và giới thiệu đến người đọc những nghi
thức chính trong lễ cưới của người Dao Tuyển và một số bài dân ca trong
15
những nghi lễ ấy. Cuốn thứ hai là cuốn Thơ ca dân gian người Dao Tuyển
(2005) [102], cuốn sách được tác giả biên soạn thành hai phần, một phần giới
thiệu các loại hình thơ ca dân gian và những chuyên luận nghiên cứu về lịch
sử nghiên cứu thơ ca dân gian của người Dao ở Việt Nam và Trung Quốc, ở
phần thứ hai tác giả giới thiệu một số bài dân ca được người Dao Tuyển sử
dụng trong một số nghi lễ vòng đời như lễ đặt tên, cấp sắc, cưới xin, tang ma.
Đây là công trình đã để lại dấu ấn sâu đậm trong việc sưu tầm và tìm hiểu dân
ca của người Dao Tuyển. Cuốn sách này được tác giả tái bản, bổ sung thêm
phần chữ Nôm Dao năm 2011, xuất bản dưới tên Thơ ca dân gian người Dao
Tuyển (Song ngữ: Việt- Dao) [103]. Khi tái bản, tác giả đã chia cuốn sách
thành bốn phần: Phần thứ nhất là nghiên cứu về người Dao Tuyển, quá trình
nghiên cứu, sưu tầm và các loại hình thơ ca dân gian của người Dao Tuyển;
phần thứ hai giới thiệu những bài thơ ca dân gian người Dao Tuyển bằng
tiếng Việt; phần thứ ba giới thiệu những bài thơ ca dân gian người Dao Tuyển
phiên âm ra chữ Dao; phần thứ tư giới thiệu những bài thơ ca dân gian người
Dao Tuyển bằng chữ Nôm Dao. Sau đó, tác giả Trần Hữu Sơn xuất bản cuốn
Đám cưới người Dao Tuyển (2011) [104]. Cuốn sách đã giúp người đọc có
cách tiếp cận hoàn toàn mới về nghi lễ cưới hỏi của người Dao Tuyển: từ nghi
thức, âm nhạc, ngôn từ đến nghệ thuật trang trí trong một đám cưới ... Bên
cạnh đó cuốn sách còn giới thiệu toàn bộ 43 bài hát theo trình tự một lễ cưới
của người Dao Tuyển ở Hà Giang và Lào Cai. Đến năm 2009, Trần Hữu Sơn
công bố cuốn Những bài ca giáo lý [105], đây là một tài liệu đã được sưu tầm,
dịch thuật một cách bài bản. Những bài ca giáo lý trong cuốn sách này thực
chất là những bài cúng (những bài dân ca nghi lễ) được sử dụng trong nghi lễ
cấp sắc của người Dao Tuyển. Các bài ca này được hát lên trong nghi lễ cúng
Tam Nguyên và Tam Thanh cũng như răn dạy người được cấp sắc phải sống
đúng đạo lý làm người, để trở thành trò giỏi của Tam Nguyên, Tam Thanh.
Trong quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi cũng dành sự chú ý cho những
công trình chưa được xuất bản, nghiên cứu về văn hóa và dân ca của người
Dao Tuyển. Cụ thể: Năm 1997, Sở văn hóa tỉnh Lào Cai đã sưu tầm được gần
16
40 bài hát hội đầu xuân của người Dao Tuyển, đây là những bài hát giao
duyên dịp đầu xuân của trai gái người Dao Tuyển nhưng đến nay tập bài hát
này vẫn chỉ nằm dưới dạng bản thảo tại phòng tư liệu của sở văn hóa tỉnh Lào
Cai. Năm 2008, tác giả Phạm Vinh Quang đã bảo vệ thành công luận văn
Thạc sỹ tại trường Đại học sư phạm Thái Nguyên với đề tài Thơ ca dân gian
của người Dao Tuyển ở Lào Cai [143]. Ở luận văn này, tác giả đã nghiên cứu
và đánh giá một cách khái lược về nội dung và thi pháp thơ ca dân gian của
nhóm Dao Tuyển. Năm 2010, tác giả Phan Thị Hằng với luận văn thạc sỹ
chuyên ngành lịch sử Việt Nam tại trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, đã
lựa chọn đề tài Lễ cấp sắc và tang ma của người Dao Tuyển ở huyện Bảo
Thắng tỉnh Lào Cai [33], trong luận văn tác giả đã đưa ra được đặc trưng văn
hóa và những giá trị tiêu biểu của tộc người Dao Tuyển thông qua việc mô tả
nghi lễ cấp sắc và tang ma.
Như vậy, thông qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu về tộc người và
văn học dân gian người Dao Tuyển ở Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua,
chúng tôi thấy còn tồn tại một số điểm như sau:
1. Cho đến nay chưa có một chuyên khảo chuyên biệt nào của các nhà
nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu về lịch sử tộc người, quá trình thiên di và
đời sống văn hóa cũng như dân ca nghi lễ của họ.
2. Qua khảo sát, chúng tôi thấy các bộ sách dân ca của người Dao Tuyển
đã được xuất bản mới chỉ dừng lại ở việc sưu tầm, dịch thuật và biên soạn
các bài dân ca nghi lễ của tộc người này. Chưa có một tác giả nào có chuyên
khảo chuyên biệt chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa dân ca nghi lễ với đời sống
văn hóa của người Dao Tuyển.
3. Những thể loại văn học dân gian khác của người Dao Tuyển như: tục
ngữ, câu đố, truyện cổ tích, truyện cười chưa được sưu tầm và biên soạn thành
công trình riêng. Từ những công trình đã được xuất bản và những công trình
chưa được xuất bản, luận án vừa kế thừa thành tựu vừa mở ra một vấn đề mới
với hướng tiếp cận riêng, đó là đặt dân ca nghi lễ trong bối cảnh diễn xướng
17
foklore để thấy được giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong đời sống văn
hóa tộc người.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Khái niệm
Ở đây chúng tôi xin làm rõ một số khái niệm liên quan đến nội dung
luận án như: dân ca, dân ca nghi lễ, đời sống văn hóa, văn hóa tộc người…
nhằm phục vụ tốt hơn cho việc tìm hiểu dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển.
Khái niệm dân ca: Về thuật ngữ dân ca, ca dao, bộ sách Từ điển thuật
ngữ văn học đã chỉ ra rằng: Theo nghĩa gốc của từ nguyên thì ca là bài hát có
khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu. Ca dao là danh từ ghép chỉ toàn
bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc
điệu. Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca [31, tr.31].
Về mặt thuật ngữ thì như vậy, còn để có một khái niệm chuẩn về dân ca
thì quả thật không đơn giản. Người Anh gọi dân ca là folk song (tạm dịch là
bài hát dân gian), người Đức gọi dân ca là volkslied (tạm dịch là: bài ca của
nhân dân), người Pháp gọi dân ca là chanson populaire (tạm dịch là: bài ca
được hát trong dân gian). Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra một
số khái niệm khác nhau về dân ca. Tuy nhiên, chúng tôi thấy có hai khái niệm
sau phản ánh đầy đủ hơn cả: khái niệm thứ nhất của nhà nghiên cứu Phan
Đăng Nhật, ông gọi:“Dân ca là một loại hình sáng tác dân gian chủ yếu có
tính chất trữ tình dưới hình thức ngôn ngữ có vần điệu gắn với lời ca hát”
[62, Tr.106]; khái niệm thứ hai của nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn, ông
coi dân ca là: “những bài hát ngâm hay kể bằng văn vần, hoặc độc lập, hoặc
kèm theo nhạc, điệu múa, trò chơi, hoặc tự một người thể hiện hay một tập
thể cùng tham gia… Đó là những bài hát ngắn dăm bảy câu đến hàng trăm
hàng ngàn câu cắt ra từng khúc, từng đoạn” [75, Tr.18]. Hai khái niệm trên
đều đã chỉ ra được bản chất cơ bản nhất của dân ca, nhưng xét về ý nghĩa thì
khái niệm thứ hai của tác giả Đặng Nghiêm Vạn có phần cụ thể, dễ đối chiếu
với tình hình thực tế của dân ca nhất là dân ca các dân tộc thiểu số, vì vậy
chúng tôi chọn khái niệm đó để vận dụng nghiên cứu trong đề tài này.
18
Khái niệm dân ca nghi lễ: Giáo sư Lê Chí Quế trong cuốn Văn học
dân gian Việt Nam cho rằng: ca dao, dân ca gắn với nghi lễ phong tục “là loại
hình ra đời sớm nhất trong loại hình trữ tình dân gian, lúc con người còn gửi
gắm niềm tin lớn nhất vào các lực lượng siêu nhân, vào các lời ca khẩn
nguyện, cầu phúc, cầu yên.” [88, tr.217].
Tác giả Đỗ Bình Trị trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (tập
1) cũng cho rằng: “Thời xưa, hoạt động lao động và sinh hoạt xã hội được quy
định và điều tiết bởi những lễ thức đặc biệt. Những hành động lễ nghi này là
sự thực hiện tập thể một số hoạt động ma thuật, kèm theo ca hát, nhảy múa,
đôi khi có cả trò diễn, v.v… nhằm tác động vào thế giới chung quanh, kể cả
con người, với nguyện vọng được sống no đủ, yên vui, tránh được bệnh tật,
mất mùa, dịch gia súc và các tai họa khác, hoặc với ý đồ gây hại cho kẻ thù
địch. Bản thân những lễ thức từ thời cổ truyền lại có thể ít biến đổi. Chỉ có ý
nghĩa ma thuật vốn có của chúng là thường trở nên mơ hồ dần hoặc bị quên
lãng và bị hiểu khác đi. Tất nhiên, những bài ca được diễn xướng kèm theo
những nghi lễ ấy đều không còn nguyên vẹn….”[126, tr.148]. Nhà nghiên cứu
Trần Thị An định nghĩa dân ca nghi lễ như sau: “Dân ca nghi lễ là các lời hát
của người thực hiện các hành vi nghi lễ trong các hoạt động nghi lễ như đám
cưới, đám tang, đám cầu cúng, chúc tụng – những lời hát này đã trở thành một
bộ phận hữu cơ của các nghi lễ đó” [75, Tr.20].
Từ các định nghĩa trên, chúng tôi hiểu dân ca nghi lễ của người Dao
Tuyển là những bài dân ca mà ở đó cộng đồng cư dân gửi gắm niềm tin tâm
linh của mình vào thế lực siêu nhiên để khẩn nguyện, cầu phúc, cầu yên,
tránh được bệnh tật, mất mùa… Các bài ca ấy được diễn xướng trong suốt
quá trình thực hiện nghi lễ và nó trở thành một bộ phận cơ hữu của những
nghi lễ đó. Qua khảo sát trong thư tịch của người Dao Tuyển và căn cứ vào
các định nghĩa nêu trên chúng tôi nhận thấy các bài dân ca được diễn xướng
trong các nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma của người Dao Tuyển có đầy đủ
các yếu tố trên, cho nên trong khi thực hiện đề tài, chúng tôi dùng thuật ngữ
“dân ca nghi lễ” để chỉ cả ba loại dân ca nghi lễ này.
19
Khái niệm về đời sống văn hóa: là thuật ngữ được sử dụng khá phổ
biến ở Việt Nam từ những năm 80, có nhiều định nghĩa khác nhau tuy nhiên
chúng tôi quan tâm đến ba định nghĩa sau: thứ nhất theo tác giả Trần Độ thì
“phải hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa rộng, không bó hẹp tính văn hóa vào
một số lĩnh vực đời sống văn hóa nào đó mà coi đời sống văn hóa là một khái
niệm rộng rãi, bao quát mọi mặt của đời sống xã hội: sản xuất, trao đổi, tiêu
dùng, nhận thức, sáng tạo” [23, tr.24]. Thứ hai là định nghĩa của GS.TS
Hoàng Vinh, ông cho rằng “đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã
hội, mà đời sống xã hội là một phức thể của những hoạt động sống của con
người, nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của nó”. Trong đó
“Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể,
còn nhu cầu tinh thần giúp cho con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức
một nhân cách văn hóa” [142, tr.149]. Thứ ba là định nghĩa của GS. TS Đỗ
Huy, ông cho rằng “đời sống văn hóa là hoạt động sản xuất của con người
trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Sản xuất của con người không
chỉ duy nhất tạo ra cuộc sống cá nhân, còn tạo ra đời sống nhiều người khác.
Hoạt động sản xuất vật chất cũng như hoạt động sản xuất tinh thần đều tạo ra
những mối quan hệ, ra các hình thức giao tiếp mới” [76, tr.15]. Từ những định
nghĩa trên, chúng tôi hiểu: Đời sống văn hóa trong dân ca nghi lễ của người
Dao Tuyển là một cắt lắt trong đời sống chung của xã hội bao gồm đời sống
văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần. Đời sống văn hóa vật chất
gồm có: đời sống sinh hoạt, đời sống mưu sinh, các nghề thủ công, thương
nghiệp. Đời sống văn hóa tinh thần gồm có: tín ngưỡng tôn giáo, nghệ thuật,
phong tục tập quán, chữ viết, giải trí. Đời sống văn hóa ấy không ngừng tác
động, biến đổi theo tự nhiên, biến đổi theo sự phát triển của xã hội nhưng nó
vẫn luôn đáp ứng được đời sống tinh thần và đời sống xã hội của tộc người.
Khái niệm đời sống văn hóa mà chúng tôi sử dụng trong luận án là một thành
tố không thể thiếu trong đời sống chung của tộc người.
Khái niệm về tộc người và văn hóa tộc người: “Tộc người (ethnie/
ethnos) là một tập đoàn người có tiếng nói chung, có nguồn gốc lịch sử, văn
20
hóa và ý thức tự giác cộng đồng” [123, tr.105]; “văn hoá tộc người là tổng thể
các yếu tố văn hoá mang tính đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố
kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người kia. Trong văn hoá tộc
người, các yếu tố đầu tiên được nhận diện là ngôn ngữ, trang phục, các tín
ngưỡng và nghi lễ, vốn văn học dân gian, tri thức dân gian về tự nhiên xã hội,
về bản thân con người và tri thức sản xuất, khẩu vị ăn uống, tâm lý dân tộc…”
[146, tr.107]. Điều đó cũng có nghĩa, diện mạo chính của văn hóa tộc người là
văn hóa dân gian. Nói tới văn hóa tộc người là nói tới một phạm vi rất rộng,
đụng chạm tới toàn bộ các lĩnh vực của đời sống dân tộc, tuy nhiên với mỗi
nền văn hóa bao giờ cũng chứa những sắc thái, bản sắc riêng. Mà sắc thái và
bản sắc thường là cái tàng ẩn, thậm chí rất trừu tượng. Bản sắc văn hóa là
tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc văn hóa của mỗi dân
tộc được hình thành và tồn tại bền vững trong tiến trình lịch sử, giúp cho văn
hóa dân tộc giữ được tính duy nhất và thống nhất, phân biệt văn hóa của dân
tộc đó với các dân tộc khác [37]. Những khái niệm này được chúng tôi áp
dụng khi nghiên cứu về sự biến đổi của nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma.
Việc thống nhất cách hiểu về các khái niệm trên là cơ sở giúp khai mở
những vấn đề nội tại trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển. Trong đó,
mỗi khái niệm sẽ được ứng dụng trong từng trường hợp cụ thể nhằm định
hình những vấn đề nghiên cứu một cách khoa học và khách quan.
1.2.2. Cơ sở lý luận
Đối với người Dao Tuyển dân ca nghi lễ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,
bởi ở đó phản ánh đầy đủ về thế giới tâm linh và đời sống của con người. Khi
những lời ca nghi lễ cất lên cũng là lúc tâm tư, tình cảm của họ hướng về thế
giới siêu nhiên, hướng về thế giới tổ tiên để khẩn nguyện, cầu xin sự che chở
của thần linh ban cho họ cuộc sống an lành, hạnh phúc nơi trần gian. Vì vậy,
khi tìm hiểu dân ca nghi lễ không thể tách rời chúng ra khỏi các nghi lễ và bối
cảnh diễn xướng của nó. Trên quan điểm ấy, luận án coi dân ca nghi lễ như
một sự kiện xã hội tổng thể và đặt nó trong bối cảnh văn hóa tộc người. Để
khai mở được những lớp lang ẩn chứa sâu trong dân ca nghi lễ, chúng tôi sử
21
dụng lý thuyết bối cảnh diễn xướng folklore làm cơ sở nghiên cứu dân ca nghi
lễ của người Dao Tuyển.
Dân ca nghi lễ trong bối cảnh diễn xướng folklore: Như chúng tôi đã
trình bày ở trên, để hiểu chính xác về dân ca nghi lễ chúng ta phải đặt các lời
ca nghi lễ trong bối cảnh diễn xướng folklore. Bối cảnh diễn xướng của dân
ca nghi lễ người Dao Tuyển không giống với bối cảnh diễn xướng của các làn
điệu dân ca người Việt. Nếu như bối cảnh diễn xướng của các làn điệu dân ca
người Việt chỉ gắn liền với không gian sinh hoạt thì bối cảnh diễn xướng của
dân ca nghi lễ người Dao Tuyển lại gắn với không gian văn hóa, không gian
tâm linh của tộc người. Nói như Barbara Kirshenblatt – Gimblett thì “Văn bản
cố nhiên là cực kỳ quan trọng, song nếu không có bối cảnh thì nó cũng vô
hồn” [118, tr.663]. Điều này hoàn toàn đúng bởi “ Theo một nghĩa nào đó, bối
cảnh được nêu, nhưng nó được nêu mà không liên hệ tới từng văn bản. Như
vậy nó không phải thực sự là văn bản” [118, tr.508]. Từ đó chúng ta thấy, nếu
các bài dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển không được đặt vào những bối
cảnh diễn xướng cụ thể thì các bài dân ca ấy không thể tồn tại được đến ngày
nay. Nói như vậy để chúng ta thấy được vai trò quan trọng của bối cảnh diễn
xướng trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển, bởi nếu không có bối cảnh
diễn xướng thì sẽ không có nghi lễ, hoặc nếu có thì sự hấp dẫn của các nghi lễ
có lẽ sẽ giảm đi đáng kể đồng thời cũng sẽ không tạo ra được dáng vẻ riêng
cho từng nghi lễ. Qua lý thuyết bối cảnh diễn xướng, luận án có cơ sở để phân
tích, tìm hiểu vai trò, vị trí của các nghi lễ cấp sắc, cưới xin, tang ma của
người Dao Tuyển, kể cả việc tìm hiểu vai trò của người thầy cúng (chủ thể
diễn xướng)... trong các nghi lễ ấy. Đồng thời, thấy được những nét đẹp trong
phong tục, tập quán, tín ngưỡng, đời sống tâm linh… thông qua những nghi lễ
ấy của người Dao Tuyển xưa và nay.
Thuật ngữ “bối cảnh diễn xướng” được bắt nguồn bởi hai thuật ngữ đó
là thuật ngữ “bối cảnh” và thuật ngữ “diễn xướng”. Thuật ngữ “bối cảnh”
được bắt nguồn từ tiếng La-tinh “textere”, nghĩa của nó là “hành động dệt”.
Một bài dân ca nghi lễ, giống như một mảnh vải thổ cẩm của các mẹ, các chị
22
người Dao Tuyển, nó được “dệt” nên bởi ca từ và bối cảnh của một cuộc diễn
xướng. Mà bối cảnh diễn xướng ấy nó bao gồm: người nghe, người thực hành
nghi lễ, chủ thể diễn xướng, những nền tảng kiến thức xã hội và văn hóa của
người nghe lẫn người diễn xướng đan xen, hòa quyện với nhau tạo nên sự hấp
dẫn riêng cho dân ca nghi lễ. Trong một nghĩa rộng hơn, thì tất cả những gì đi
cùng với văn bản, trong đó có “diễn xướng” được coi là “bối cảnh”. Thuật
ngữ “diễn xướng” (performance) được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa
học xã hội bởi tính phổ biến và cách tiếp cận khoa học của thuật ngữ này [38].
Thuật ngữ này được “dùng để chuyển tải ý nghĩa kép của hành động mang
tính nghệ thuật – một việc làm có tính folklore, và một sự kiện có tính nghệ
thuật, thính giả và bối cảnh. Cả hai cái đó đều là cơ bản đối với việc phát triển
cách tiếp cận diễn xướng” [118, tr.744].
Nghiên cứu các văn bản folklore từ nghệ thuật diễn xướng được áp
dụng rộng rãi từ những năm 70 của thế kỷ XX với nhiều công trình nghiên
cứu về folklore có giá trị như: Tiến tới những viễn cảnh mới về ngành folklore
(Toward new perspectives in Folklore); Khám phá về dân tộc học lời nói
(Explorations in the Ethnography of Speaking); Folklore: diễn xướng và giao
tiếp (Folklore: performance and communication) [39, tr.92]. Qua những công
trình nghiên cứu đó chúng ta có thể thấy, ban đầu các nhà nghiên cứu folklore
mới chỉ tiếp cận văn bản văn học dân gian theo kiểu dân tộc học ngôn ngữ
(ethnolinguistic model), sau đó họ tiếp cận văn bản theo xu hướng văn học,
trường phái ngôn ngữ học Praha … nhưng chỉ đến khi các văn bản văn học
dân gian được tiếp cận theo lý thuyết bối cảnh diễn xướng thì nó mới mang
đến cho giới nghiên cứu folklore một cái nhìn mới mẻ, toàn diện và sống
động hơn về các nội dung phản ánh trong văn bản văn học dân gian.
Nhà nghiên cứu Richard Bauman trong công trình nghiên cứu Nghệ
thuật ngôn từ truyền miệng như một hình thức diễn xướng đã nhấn mạnh: “Về
cơ bản, sự diễn xướng với tư cách một phương thức thông tin bằng miệng bao
gồm cả giả thiết về trách nhiệm trước thính giả về một sự thể hiện năng lực
truyền đạt. Năng lực này nằm ở chỗ kiến thức và khả năng nói theo những
23