Thm quyn iu tra hỡnh s ca Hi quan
Vit Nam
ng Cụng Thnh
Khoa Lut
Lun vn ThS ngnh: Lut Hỡnh s; Mó s: 60 38 40
Ngi hng dn: GS.TS. Ngc Quang
Nm bo v: 2008
Abstract: Trỡnh by nhng vn chung v thm quyn iu tra hỡnh s ca Hi quan
Vit Nam, nghiờn cu v so sỏnh thm quyn tin hnh mt s hot ng iu tra ca Hi
quan Vit Nam vi Hi quan cỏc nc trong khu vc v trờn th gii. Nghiờn cu ton
din cỏc quy nh ca phỏp lut t tng hỡnh s hin hnh quy nh v thm quyn tin
hnh mt s hot ng iu tra ca c quan Hi quan. ỏnh giỏ thc trng hot ng iu
tra v ỏn hỡnh s ca Hi quan Vit Nam t nm 2003 n 2006, nờu lờn nhng tn ti,
thiu sút, nhng vn bt cp trong cỏc quy nh ca phỏp lut ang cn tr hot ng
ca c quan Hi quan trong vic bo v an ninh quc gia, trt t an ton trong lnh vc
Hi quan. Trỡnh by nhng gii phỏp nõng cao hiu qu thc hin thm quyn iu tra
ca Hi quan Vit Nam : hon thin h thng phỏp lut v Hi quan; gii phỏp i vi t
chc b mỏy v cụng tỏc cỏn b; tng cng mi quan h phi hp vi c quan tin hnh
t tng
Keywords: Hi quan; Lut hỡnh s; Phỏp lut Vit Nam; Thm quyn; iu tra hỡnh s
Content
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hải quan Việt Nam là cơ quan quản lý Nhà n-ớc có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm soát về
hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, ph-ơng tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh
Việt Nam; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện
pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu...
Sau khi Vit Nam ó tr thnh thnh viờn chớnh thc ca T chc thng mi th gii (WTO),
lu lng hng hoỏ xut nhp khu, hnh khỏch xut cnh, nhp cnh, hot ng u t, liờn doanh,
gia cụng, sn xut hng hoỏ xut khu gia tng mnh m. Bờn cnh mt tớch cc, thỡ hot ng
buụn lu, vn chuyn trỏi phộp hng hoỏ qua biờn gii vi nhiu phng thc, th on tinh vi mang
tớnh quc t cng ó v ang tng bc thõm nhp vo Vit Nam. Mặt khác, cỏc th lc thự ch
luụn tỡm mi cỏch thụng qua cỏc hot ng buụn lu, vn chuyn trỏi phộp hng hoỏ qua biờn gii
chống phá, lật đổ chính quyền nhân dân. Do vậy, nhiệm vụ của Hải quan Việt Nam ngày càng
phức tạp, nặng nề và nhiều thách thức.
Để kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan nói chung, tội
buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới nói riêng, bảo đảm sự phát triển bền vững của
nền kinh tế đất n-ớc, bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, pháp luật tố tụng hình sự đã quy định cho
cơ quan Hải quan đ-ợc tiến hành một số hoạt động điều tra tội phạm.
Tuy nhiên, từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004
ban hành đến nay vẫn ch-a có một văn bản nào h-ớng dẫn trình tự, thủ tục tiến hành điều tra, công
chức Hải quan có đ-ợc phép áp dụng các biện pháp điều tra t-ơng tự nh- các điều tra viên, kiểm sát
viên hay không?.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài Thẩm quyền điều tra hình sự của Hải quan Việt Nam là vấn đề
mang tính cấp thiết, đáp ứng đòi hỏi của thực tế và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra
hình sự của Hải quan Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua tuy đã có, nh-ng rất ít bài viết, đề tài nghiên cứu về thẩm quyền tiến hành
một số hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan, nh- đề tài luận văn thạc sỹ của Nguyễn Văn Lịch về
thẩm quyền điều tra của Hải quan. Tuy nhiên, đề tài đ-ợc nghiên cứu theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 1988 và Pháp lệnh tổ chức hình sự năm 1989. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đề
cập trong luận văn đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của đề tài là nhằm làm rõ thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra của cơ quan
Hải quan theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004.
Để đạt đ-ợc mục đích này, nhiệm vụ của đề tài phải thực hiện là: nghiên cứu cơ sở lý luận và
thực tiễn trong việc quy định thẩm quyền điều tra hình sự của Hải quan Việt Nam; thẩm quyền điều
tra của Hải quan một số n-ớc trên thế giới; nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện các quy định về
thẩm quyền điều tra hình sự của cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật Việt Nam; nghiên cứu
thực trạng điều tra vụ án hình sự của cơ quan Hải quan, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của
nó để từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục, hoàn thiện.
4. Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp nghiên cứu:
Luận văn đ-ợc thực hiện trên cơ sở ph-ơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và t- t-ởng Hồ
Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà n-ớc ta về xây dựng nhà n-ớc pháp quyền và cải cách tpháp trong giai đoạn hiện nay liên quan đến tổ chức hoạt động điều tra hình sự nói chung và trên cơ
sở thực tiễn tổ chức hoạt động điều tra của Hải quan Việt Nam. Các ph-ơng pháp cụ thể đ-ợc sử
dụng để hoàn thành luận văn này là ph-ơng pháp phân tích tổng hợp; ph-ơng pháp lịch sử; các
ph-ơng pháp nghiên cứu của xã hội học nh- so sánh, đối chiếu, thống kê v.v... .
5. Những điểm mới của luận văn
Luận văn là một công trình đi sâu nghiên cứu, so sánh thẩm quyền tiến hành một số hoạt động
điều tra của Hải quan Việt Nam với Hải quan các n-ớc trong khu vực và trên thế giới; nghiên cứu
toàn diện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành quy định về thẩm quyền tiến hành
một số hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan; Đánh giá thực trạng hoạt động điều tra vụ án hình
sự của Hải quan Việt Nam từ năm 2003 đến 2006, nêu lên những tồn tại, thiếu sót, những vấn đề bất
cập trong các quy định của pháp luật đang cản trở hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan và từ đó
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác điều tra hình sự của Hải quan Việt Nam.
6. Cơ cấu của luận văn:
Luận văn gồm phần mở đầu, 03 ch-ơng, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Ch-ơng 1. Những vấn đề chung về thẩm quyền điều tra hình sự của Hải quan Việt Nam
Ch-ơng 2. Thực trạng tình hình thực hiện thẩm quyền điều tra hình sự của cơ quan Hải quan t
năm 2003 đến nay
Ch-ơng 3. Những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền điều tra của Hải quan Việt
Nam
Ch-ơng 1
Những vấn đề chung về thẩm quyền
điều tra hình sự của Hải quan việt nam
Ch-ơng này của luận văn dành cho việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển thẩm quyền
tiến hành một số hoạt động điều tra hình sự của Hải quan Việt Nam, thẩm quyền điều tra của cơ quan
Hải quan một số n-ớc trên thế giới; các quy định hiện hành của pháp luật về thẩm quyền điều tra
hình sự của Hải quan Việt Nam
1.1. Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển của thẩm quyền điều tra hình sự của Hải
quan Việt Nam.
Ngày 10/9/1945, Bộ tr-ởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ lâm thời ký Sắc lệnh
27/SL thành lập "Sở thuế quan và thuế gián thu". Sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu sự
ra đời của Hải quan Việt Nam, không chỉ đáp ứng nhu cầu của đất n-ớc, mà còn khẳng định Hải
quan là một công cụ không thể thiếu của một quốc gia độc lập có chủ quyền.
Trong từng thời kỳ lịch sử, tên gọi, bộ máy tổ chức có sự thay đổi, nh-ng cơ quan Hải quan đều
có thẩm quyền khám xét, bắt giữ, điều tra đối với hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá
qua biên giới.
Trong giai đoạn hiện nay, nhằm thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách t- pháp, nâng
cao hơn nữa chất l-ợng hoạt động của các cơ quan t- pháp, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tiếp tục
quy định cơ quan Hải quan có thẩm quyền khởi tố vụ án và tiến hành một số hoạt động điều tra hình
sự.
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về quy định thẩm quyền điều tra hình sự của Hải quan Việt
Nam
1.2.1. Cơ sở lý luận
Bảo vệ lợi ích, chủ quyền và an ninh quốc gia là -u tiên hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào. Để
thực thi nhiệm vụ thì quốc gia nào cũng giao cho những cơ quan quản lý có những thẩm quyền và
đ-ợc thực hiện những biện pháp nhất định. Trong lĩnh vực Hải quan, để bảo vệ chủ quyền, an ninh
kinh tế..., Nhà n-ớc cũng giao cho lực l-ợng Hải quan những thẩm quyền và đ-ợc thực hiện những
biện pháp nh- xử phạt vi phạm hành chính, điều tra hình sự...
Trong một số lĩnh vực nhất định Pháp luật giao cho các cơ quan quản lý đ-ợc quyền tiến hành
một số hoạt động điều tra hình sự để nâng cao hiệu quả quản lý và hỗ trợ cho các cơ quan t- pháp,
trong đó cơ cơ quan Hải quan.
Tại các địa bàn, lĩnh vực th-ờng xuyên xảy ra tội phạm, Nhà n-ớc đòi hỏi phải có phản ứng kịp
thời xử lý theo pháp luật đối với những hành vi phạm tội đó, vì vậy, cần phải giao cho các cơ quan
quản lý đ-ợc tiến hành một số hoạt động điều tra.
Mặt khác, khi lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu đã thông quan thì việc phát hiện, điều tra các hành vi
phạm tội gặp nhiều khó khăn, nh- hàng hoá đã qua biên giới không thể bắt giữ, kiểm tra, đối chiếu...
Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời trong việc phát hiện, ngăn chặn hành vi phạm
tội, tất cả các n-ớc trên thế giới đều giao cho cơ quan Hải quan có quyền khởi tố, điều tra, xử lý các
hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn
Các vụ án buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới, trốn thuế xuất nhập
khẩu ... là những vụ án rất phức tạp, việc phát hiện, điều tra hành vi phạm tội hết sức khó khăn. Điều
đó đòi hỏi ng-ời cán bộ điều tra phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực kinh tế, ngoại th-ơng, chính
sách quản lý nhà n-ớc về xuất nhập khẩu, chính sách thuế...
Địa bàn hoạt động hải quan th-ờng là nơi biên giới xa xôi, có địa hình phức tạp, cơ quan Hải
quan phải th-ờng xuyên tuần tra, kiểm soát để phòng chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng
hoá qua biên giới. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Nhà nước phải trao cho cơ quan Hải quan cây gậy
pháp lý, đó là được quyền tiến hành các hoạt động điều tra hình sự để trấn áp bọn tội phạm.
Thực tế cho thấy từ ngày thành lập đến nay, cơ quan Hải quan đều có thẩm quyền khởi tố, điều
tra các vụ án buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
Mặt khác, qua nghiên cứu pháp luật các n-ớc trên thế giới, cơ quan Hải quan các n-ớc đều
đ-ợc giao thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự đối với tội buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng
hoá qua biên giới ở các cấp độ khác nhau.
1.2.3 Thẩm quyền điều tra của Hải quan một số n-ớc trên thế giới
Nhằm mục đích phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới,
pháp luật của các n-ớc trên thế giới đều giao cho cơ quan hải quan nhiều quyền hạn phù hợp với
chức năng của mình để kiểm tra, kiểm soát, điều tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hải quan,
trong đó có thẩm quyền điều tra hình sự. Đặc biệt, nh- Luật Hải quan của Trung Quốc, Luật Hải
quan Pháp, Bộ luật tố tụng Cộng hoà liên bang Nga đều giao cho cơ quan Hải quan có thẩm quyền
điều tra tất cả các tội xẩy ra trong lĩnh vực Hải quan
Trong khi đó, từ ngày thành lập đến nay, Hải quan Việt Nam chỉ đ-ợc tiến hành một số hoạt
động điều tra đối với tội buôn lậu, tội vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Một số tội danh
khác liên quan đến hoạt động của Hải quan, nh-ng cơ quan Hải quan không có quyền khởi tố vụ án,
nh- tội trốn thuế, buôn lậu vũ khí... Cần phải bổ sung thẩm quyền điều tra những tội trên cho cơ quan
Hải quan.
1.3. Quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền điều tra hình sự và quan hệ phối hợp
trong tổ chức điều tra của cơ quan Hải quan
1.3.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền điều tra của Hải quan Việt Nam
Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự
năm 2004, c quan Hi quan khi thc hin nhim v trong lnh vc qun lý ca mình mà phát hiện
hành vi phạm ti quy nh ti iu 153 v iu 154 ca B lut hỡnh s, có quyn: Đi vi ti phm
ít nghiêm trng trong trng hp phm ti qu tang, chng c v lai lch ngi phm ti rừ rng thì
ra quyt nh khi t v án, ly li khai, thu gi, tm gi v bo qun vt chng, ti liu liên quan
trc tip n v án, khám ngi, khám ni oa tr trong khu vc kim soát ca Hi quan, trng cu
giám nh khi cn thit, khi t b can, tin hnh các bin pháp iu tra khác theo quy nh ca B
lut t tng hình s, kt thúc iu tra v chuyn h s v án cho Vin kim sát có thm quyn trong
thi hn hai mi ngy, k t ngy ra quyt nh khi t v án. i vi ti phm nghiêm trng, rt
nghiêm trng, c bit nghiêm trng hoc ti phm ít nghiêm trng nhng phc tp thì ra quyt nh
khi t v án, ly li khai, thu gi, tm gi v bo qun vt chng, ti liu liên quan trc tip n v
án, khám ngi, khám ni oa tr trong khu vc kim soát ca Hi quan, chuyn h s v án cho C
quan iu tra có thm quyn trong thi hn by ngy, k t ngy ra quyt nh khi t v án.
Nh vy, thm quyn iu tra ca c quan Hi quan theo quy nh ca pháp lut t tng hình s
có mt s c im sau ây:
Thứ nhất, cơ quan Hải quan chỉ có quyền khởi tố và tiến hành một số hoạt động điều tra hình sự
đối với tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
Th hai, i vi ti phm ớt nghiờm trng, nội dung quy định thẩm quyền điều tra của cơ quan
Hải quan tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 không có gì thay đổi so với Bộ luật tố tụng năm
1988, nh-ng thực chất đã có sự thay đổi về loại tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan Hải
quan. Tội phạm ít nghiêm trọng quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 là loại tội phạm nguy hiểm
không lớn có mức khung hình phạt đến 5 năm tù, còn theo phân loại tội phạm của Bộ luật hình sự
năm 1999, tội ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của
khung hình phạt đối với tội ấy là 3 năm tù. Nh- vậy, thẩm quyền điều tra của cơ quan Hải quan đã bị
thay đổi, bị hạn chế và bó hẹp lại đối với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của ng-ời phạm tội
trong lĩnh vực hải quan.
Thứ ba, đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong tr-ờng hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch
ng-ời phạm tội rõ ràng, cơ quan Hải quan có quyền khởi tố vụ án, tiến hành điều tra vụ án cho đến
khi kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát để truy tố.
Thứ t-, đối với tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội ít nghiêm
trọng nh-ng phức tạp, cơ quan Hải quan có thẩm quyền ra quyt nh khi t v án, ly li khai, thu
gi, tm gi v bo qun vt chng, ti liu liên quan trc tip n v án, khám ngi, khám ni oa
tr trong khu vc kim soát hi quan, chuyn h s v án cho C quan iu tra có thm quyn trong
thi hn by ngy, k t ngy ra quyt nh khi t v án.
Thứ năm, các hoạt động điều tra mà cơ quan Hải quan đ-ợc tiến hành còn tuỳ thuộc vào tính chất
của vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Tùy theo từng tr-ờng hợp cụ thể nêu trên, cơ quan Hải quan đ-ợc phép tiến hành các hoạt động
điều tra:
- Khám ng-ời, khám nơi oa trữ trong khu vực kiểm soát hải quan: Là hoạt động tố tụng hình sự
của cơ quan Hải quan bằng cách tìm tòi, lục soát, kiểm tra, đối chiếu có định h-ớng nhằm phát hiện,
thu thập công cụ, ph-ơng tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có, đồ vật tài liệu khác có liên
quan đến vụ án.
- Lấy lời khai: Đây là một biện pháp nhằm cũng cố, thu thập tài liệu, tránh việc thông đồng trong
khai báo và là biện pháp chuyển hoá tài liệu trinh sát thành chứng cứ pháp lý để xác định tính chất,
mức độ vi phạm làm căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
- Khởi tố bị can: Khởi tố bị can là hình thức pháp lý trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định
một ng-ời đã thực hiện hành vi phạm tội. Khởi tố bị can đ-ợc thể hiện bằng quyết định khởi tố bị
can.
Theo quy định của pháp luật thì ngay sau khi khởi tố bị can, cơ quan Hải quan phải tiến hành hỏi
cung bị can. Hỏi cung bị bị can là hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can.
- Để làm rõ hành vi vi phạm, cơ quan hải quan có quyền tr-ng cầu giám định. Bản chất của hoạt
động giám định là việc sử dụng những kiến thức, ph-ơng pháp, ph-ơng tiện khoa học kỹ thuật, kỹ
thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận những vấn đề thực tiễn.
Ngoài các hoạt động điều tra nêu trên, cơ quan Hải quan còn có quyền tiến hành các hoạt động
điều tra nh- đối chất, nhận dạng, yêu cầu các cơ quan tổ chức cung cấp tài liệu, chứng từ... liên quan
đến vụ án.
Thứ sáu, Thẩm quyền điều tra của Hải quan đ-ợc quy định cho cả 3 cấp từ Tổng cục Hải quan,
Cục Hải quan tỉnh, thành phố và Chi cục Hải quan cửa khẩu.
1.3.2. Quy định của pháp luật về quan hệ giữa cơ quan Hải quan với các cơ quan Điều tra chuyên
trách, Viện Kiểm sát nhân dân và các Cơ quan đ-ợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra.
- Theo quy định tại Điều 26 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thì quan h gia C
quan iu tra vi c quan c giao nhim v tin hnh mt s hot ng iu tra, gia các c quan
c giao nhim v tin hnh mt s hot ng iu tra vi nhau l quan h phõn cụng v phi hp
trong hot ng iu tra.
Theo quy định tại Điều 6 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thì Viện Kiểm sát nhân
dân kim sát vic tuân theo pháp lut trong hot ng iu tra nhm bo m hot ng iu tra ca
c quan Hi quan tuân th các quy nh ca B lut t tng hình s. Nh- vậy, mối quan hệ giữa cơ
quan Hải quan với Viện Kiểm sát nhân dân là mối quan hệ giữa cơ quan kiểm sát và cơ quan chịu sự
kiểm sát trong quá trình điều tra vụ án hình sự.
Ngoài mối quan hệ phối hợp với cơ quan điều tra, với Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan Hải quan
còn có mối quan hệ phối hợp với Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển trong việc tiếp nhận, trao đổi và
xử lý thông tin; phối hợp trong công tác phát hiện, ngăn chặn, điều tra, xử lý.
Ch-ơng 2
Thực trạng tình hình thực hiện thẩm quyền
điều tra của cơ quan Hải quan từ năm 2003 đến nay
2.1. Những kết quả đạt đ-ợc và những tồn tại trong thực hiện thẩm quyền điều tra của cơ
quan Hải quan
2.1.1. Tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm xẩy ra trong lĩnh vực hoạt động của Hải quan.
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, nền kinh tế n-ớc ta đã có nhiều khởi sắc và đạt đ-ợc
những thành tựu quan trọng, hình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định... Bên cạnh những thành tựu đã
đạt đ-ợc, nền kinh tế thị tr-ờng cũng nảy sinh không ít những tiêu cực tác động đến mọi mặt của đời
sống xã hội, trong đó tình trạng buôn lậu và tệ nạn tham nhũng gia tăng.
Lợi dụng chính sách mở cửa nền kinh tế của đất n-ớc, nhiều nhóm tội phạm có tổ chức, xuyên
quốc gia đã vào Việt Nam núp dưới hình thức đầu tư, du lịch để tiến hành rửa tiền, đầu t- bất hợp
pháp, lừa đảo... Các thế lực thù địch cũng luôn tìm mọi cách vận chuyển trái phép vũ khí, văn hoá
phẩm phản động vào Việt Nam...
Qua nghiên cứu các vụ án do cơ quan Hải quan xử lý có thể rút ra một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, về thành phần và đặc điểm đối t-ợng buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên
giới:
- Bọn đầu nậu là những tên cầm đầu, tổ chức điều hành những đ-ờng dây buôn lậu lớn từ biên
giới toả về nội địa hoặc trực tiếp làm thủ tục nhập khẩu tại các cảng biển tại các thành phố lớn nhHải Phòng, TP. Hồ Chí Minh....
- Ng-ời phạm tội thuộc các cơ quan, tổ chức. Những ng-ời này th-ờng núp bóng các cơ quan, tổ
chức d-ới danh nghĩa liên doanh, liên kết, nghiên cứu khoa học, viện trợ nhân đạo... để buôn lậu.
- Các đối t-ợng lợi dụng các sở hở trong chính sách điều hành xuất nhập khẩu, chính sách quản
lý nhà n-ớc về hải quan để buôn lậu.
- Một số thuyền tr-ởng, thuyền viên các tàu viễn d-ơng, các tiếp viên hàng không lợi dụng công
việc của mình đã vận chuyển thuê hàng hoá, ngoại hối.
- Ng-ời tội phạm là ng-ời dân tộc, ng-ời sống khu vực biên giới, ng-ời lao động, buôn bán tiểu
ngạch.
- Ng-ời phạm tội là ng-ời n-ớc ngoài, việt kiều.
Nghiên cứu về đặc điểm đối t-ợng: đối t-ợng là nam giới chiếm khoảng 85%, còn nữ giới chỉ
chiếm khoảng 15 %...
Thứ hai, về ph-ơng thức, thủ đoạn buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới:
- Lợi dụng đ-ờng biên giới trên bộ và trên biển của n-ớc ta dài, lực l-ợng kiểm soát biên giới mỏng
nên bọn chúng hoạt động trắng trợn, ngang nhiên vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
- Vận chuyển lén lút hàng hoá qua biên giới, với những thủ đoạn tinh vi nhằm tránh sự phát hiện của
các cơ quan chức năng.
- Lợi dụng những sơ hở trong quy trình thủ tục hải quan, chính sách quản lý xuất nhập khẩu để
buôn lậu.
2.1.2. Những kết quả đạt đ-ợc của Hải quan Việt Nam trong điều tra vụ án hình sự từ năm 2003 đến
năm 2006.
Theo số liệu thống kê thì từ năm 2003 đến năm 2006, kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm
của ngành Hải quan nh- sau:
Số vụ buôn lậu,
Số vụ Hải
Trị giá vận chuyển trái
quan khởi
(tỷ đồng) phép hàng hoá qua
tố
biên giới
2003
10.948
867,654
6.153
45
2004
11.327
405
5.116
47
2005
11.559
497,6
3.654
52
2006
12.134
.587,680
4.026
41
Qua nghiên cứu về kết quả điều tra vụ án hình sự của Hải quan trong những năm vừa qua, có thể
rút ra một số nhận xét về kết quả đạt đ-ợc nh- sau:
Thứ nhất, thực hiện thẩm quyền điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh
tổ chức điều tra hình sự cơ quan Hải quan đã tiến hành đấu tranh có hiệu quả đối với các tội phạm
xâm phạm hoạt động quản lý nhà n-ớc trong lĩnh vực hải quan, xâm phạm chủ quyền an ninh quốc
gia; góp phần vào công tác phòng ngừa tội phạm.
Thứ hai, thông qua điều tra, khám phá vụ án đã góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm nguồn thu
cho ngân sách nhà n-ớc, bảo vệ nền sản xuất trong n-ớc, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền
vững.
Thứ ba, thông qua công tác của Hải quan, các đơn vị điều tra đã phát hiện kịp thời hoạt động của
các thế lực thù địch chống Việt Nam, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia.
Thứ t-, qua công tác điều tra, cơ quan Hải quan đã góp phần bảo vệ gìn giữ bản sắc nền văn hoá
truyền thống, chống sự xâm lăng về văn hoá của lối sống phương Tây.
Thứ năm, thông qua công tác điều tra phát hiện những sơ hở, thiếu sót, bất cập trong chính sách
quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu... của nhà n-ớc, đề xuất các biện pháp khắc phục.
2.1.3. Những tồn tại trong điều tra vụ án hình sự của Hải quan Việt Nam từ năm 2003 đến
nay
Thứ nhất, việc tiếp nhận và xử lý tin báo tội phạm liên quan đến hoạt động của cơ quan Hải quan
Tổng
Năm vụ
phạm
số
vi
còn nhiều bất cập và thiếu sót.
Thứ hai, thực hiện ch-a nghiêm túc thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình
sự đã làm hạn chế hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm.
Ngành Hải quan ch-a nhận thức đ-ợc đầy đủ và chính xác về ví trí, vai trò của công tác điều tra
tội phạm hình sự, mà chủ yếu quan tâm nhiều đến vấn đề thu thuế, dẫn đến một loạt vấn đề ảnh
h-ởng đến công tác điều tra nh-: công tác chỉ đạo điều hành, công tác triển khai hoạt động điều tra,
công tác bố trí cán bộ làm công tác điều tra...
Thông th-ờng khi vụ buôn lậu bị phát hiện thì phần lớn đều liên quan đến các cơ quan chức năng
nh- Hải quan, Bộ đội biên phòng, Quản lý thị tr-ờng. Do vậy, Lãnh đạo các cấp ch-a chỉ đạo quyết
liệt trong hoạt động điều tra, dẫn đến việc xử lý khó khăn, nhiều vụ việc chuyển sang xử lý hành
chính.
Trong thực tế, khi xác định vụ việc vi phạm có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì cơ quan
Hải quan tiến hành khởi tố và chuyển giao vụ án ngay cho cơ quan điều tra mà không tiến hành bất
cứ hoạt động điều tra nào.
Thứ ba, Quan hệ phối hợp điều tra giữa các đơn vị trong cơ quan Hải quan, giữa cơ quan Hải
quan cấp trên và cơ quan Hải quan cấp d-ới còn nhiều bất cập, hạn chế hiệu quả phát hiện và xử lý
tội phạm.
Thứ t-, quan hệ phối hợp với cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và các cơ quan đ-ợc giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra khác ch-a đ-ợc chặt chẽ, hạn chế hiệu quả phát hiện, xử lý và
phòng ngừa tội phạm.
2.2. Những nguyên nhân làm phát sinh những tồn tại trong hoạt động điều tra hình sự của
cơ quan Hải quan
2.2.1. Nguyên nhân khách quan
Nền kinh tế n-ớc ta vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang
nền kinh tế thị tr-ờng theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa. Khi hàng hoá n-ớc ngoài tràn vào Việt Nam
thì nạn chảy máu vàng và thất nghiệp là hệ quả tất yếu có tác động ng-ợc trở lại làm cho hoạt động
buôn lậu có xu h-ớng gia tăng.
Một số ngành nghề kinh doanh Nhà n-ớc vẫn đang độc quyền hoặc đ-ợc Nhà n-ớc bảo hộ. Do
vậy, khi có sự chênh lệch về giá cả, thì hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên
giới gia tăng.
Mặt trái của nền kinh tế thị tr-ờng đó là tình trạng thất nghiệp gia tăng, sự phân hoá giàu nghèo
tiếp tục diễn ra ngày càng sâu sắc. Đời sống của một bộ phận nhân dân còn rất khó khăn, đã tác động
trực tiếp đến sự gia tăng tội phạm nói chung và tội buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên
giới nói riêng. Một bộ phận cán bộ, Đảng viên trong các cơ quan Nhà n-ớc tiếp tục suy thoái về đạo
đức.
Các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn ma tuý, mại dâm ngày càng diễn biến phức tạp. Các tệ nạn xã
hội đã, đang và sẽ là nhân tố làm cho tình hình tội phạm tiếp tục gia tăng với tính chất, mức độ nguy
hiểm hơn tr-ớc.
Cùng với việc gia nhập Tổ chức th-ơng mại thế giới (WTO) và khu vực mậu dịch tự do (AFTA)...
thì lu lng hng hoá xut nhp khu, hnh khách xut nhp cnh; hot ng u t, liên doanh,
gia công, sn xut hng hoá xut khu gia tng mnh m, ng thi nhng phng thc, th on
buôn lu, gian ln thng mi mang tính quc t cng thâm nhp vo Vit Nam, làm cho hoạt động
buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới ngày càng phức tạp.
Các thế lực thù địch đang tìm cách để vận chuyển trái phép vũ khí, tài liệu vận động vào n-ớc ta
để chống phá chế độ.
Trong những năm qua, tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp, xung đột sắc tộc, tôn giáo
diễn ra gay gắt, hoạt động vũ trang của các nhóm hồi giáo cực đoan đã làm cho hoà bình và an ninh
thế giới bị đe doạ. Do vậy, hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép vũ khí qua biên giới phát triển.
Tình hình buôn bán và vận chuyển ma tuý qua biên giới vẫn diễn ra phức tạp, do buôn bán ma
tuý là siêu lợi nhuận.
2.2.2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự còn ch-a phù hợp với thực tế hoạt
động của ngành Hải quan.
Về phạm vi khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Hải quan có thể thấy, trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế thì chính sách thuế sẽ giảm dần. Trong thời gian tới lực l-ợng Hải quan chủ yếu tập
trung vào việc chống buôn lậu, vận chuyển trái phép đối với hàng cấm xuất nhập khẩu, ma tuý, vũ
khí, đồ cổ, chất cháy, chất nổ, chất phóng xạ...
Tuy nhiên, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định cơ quan Hải quan chỉ có quyền khởi tố và
tiến hành các hoạt động điều tra đối với tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua
biên giới. Do vậy, trong thực tiễn khi phát hiện những hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép chất
độc, chất cháy... cơ quan Hải quan phải chuyển cho cơ quan Điều tra.
Về các hoạt động điều tra: Theo quy định tại Ch-ơng X, XI, XII, XIII Bộ luật Tố tụng hình sự
quy định các hoạt động điều tra mà Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đ-ợc tiến hành theo một trình
tự, thủ tục chặt chẽ. Còn các hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan ch-a đ-ợc quy định một cách
rõ ràng, cụ thể. Vậy, việc Hải quan tiến hành lấy lời khai, khám xét có áp dụng t-ơng tự việc lấy lời
khai, khám xét của Điều tra viên, Kiểm sát viên hay không, việc khám xét có cần Viện Kiểm sát
nhân dan cung cấp phê chuẩn tr-ớc khi khám xét hay không?...
Về thủ tục chuyển vụ án: Việc xác định cơ quan điều tra có thẩm quyền đang là một vấn đề có
nhiều ý kiến khác nhau. Đối với tr-ờng hợp Cục tr-ởng Cục Hải quan liên tỉnh khởi tố vụ án thì
chuyển cho cơ quan Điều tra nơi xẩy ra vụ án hay nơi phát hiện cũng ch-a có quy định cụ thể.
Tr-ờng hợp Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục Kiểm tra sau thông quan khởi tố vụ án thì việc
chuyển cho cơ quan Điều tra thuộc Bộ Công an hay cơ quan Điều tra cấp tỉnh ch-a có quy định cụ
thể.
Các quy định của Bộ luật hình sự ch-a có h-ớng dẫn cụ thể và nhiều quy định không còn phù
hợp với sự phát triển của nền kinh tế làm ảnh h-ởng rất lớn đến việc thực hiện thẩm quyền điều tra
hình sự của cơ quan Hải quan:
Việc định l-ợng trị giá hàng hóa, tiền tệ phạm pháp là 100 triệu đồng bị coi là tội phạm không phù
hợp với tình hình phát triển kinh tế hiện nay. Việc ng-ời xuất cảnh mang thêm 7000 USD (t-ơng đ-ơng
100 triệu đồng Việt Nam) không khai báo khi xuất cảnh th-ờng xuyên xẩy ra ở sân bay quốc tế. Những
tr-ờng hợp vi phạm nh- vậy, khi trao đổi ý kiến với Viện Kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra, thì đều
có ý kiến là xử lý về hành chính mà không khởi tố về hình sự.
Những hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, th-ơng mại không xác
định rõ hành vi nào là hành vi buôn lậu, hành vi nào là hành vi vận chuyển trái phép... để làm căn cứ
xác định một hành vi vi phạm pháp luật là tái phạm để xem xét xử lý hình sự.
Hiện nay, hoạt động ngoại th-ơng ngày càng phát triển, các thông lệ, tập quán quốc tế trong hoạt
động ngoại th-ơng đ-ợc thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong giải quyết tranh chấp. Chính sách quản
lý kinh tế có sự thay đổi, việc quy định về hành vi vi phạm cũng khác so với tr-ớc đây. Nhiều hành vi
vi phạm tr-ớc đây bị coi là buôn lậu, hiện nay có sự thay đổi quan điểm trong việc giải quyết vụ việc,
nh-ng ch-a đ-ợc h-ớng dẫn chính thức bằng văn bản.
Từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay, ch-a có một văn bản quy phạm pháp luật nào
h-ớng dẫn hoặc giải thích rõ hành vi buôn lậu, hành vi nào là hành vi vận chuyển trái phép qua biên
giới.
Thứ hai, về tổ chức bộ máy điều tra hình sự của cơ quan hải quan còn nhiều bất cập, ch-a đáp
ứng đ-ợc yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực Hải quan.
Ngành Hải quan ch-a tổ chức một hệ thống cơ quan điều tra hình sự riêng. Do vậy, tính chuyên
sâu, chuyên nghiệp trong hoạt động tố tụng hình sự còn yếu kém.
Thứ ba, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ điều tra của cơ quan Hải quan ch-a đáp ứng
đ-ợc yêu cầu thực hiện thẩm quyền điều tra của cơ quan Hải quan.
Thứ t-, điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ phát hiện, đấu tranh phòng, chống buôn lậu,
vận chuyển trái phép hàng hoá quan biên giới còn thiếu thốn, ch-a đáp ứng yêu cầu phát hiện và xử
lý tội phạm trong lĩnh vực hải quan.
Ch-ơng 3
những giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện thẩm quyền điều tra của Hải quan Việt Nam
3.1. Những giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm công tác điều tra hình sự của
Hải quan Việt Nam
3.1.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về hải quan
Theo quy định của Luật Hải quan thì địa bàn hoạt động hải quan bị bó hẹp chỉ còn trong khu vực
cửa khẩu, cảng biển, cảng sông quốc tế và các địa điểm làm thủ tục hải quan trong nội địa, trong khi
hoạt động của bọn tội phạm ngày càng rộng, v-ợt ra khỏi biên giới quốc gia. Vì vậy, việc áp dụng
các biện pháp điều tra gặp nhiều khó khăn.
Do đó, cần sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan theo h-ớng mở rộng phạm vi địa bàn hoạt động hải
quan bao gồm địa bàn hoạt động hải quan nh- hiện hành và khu vực kiểm soát hải quan (quy định cụ
thể nh- Nghị định 128-HĐBT ngày 19/4/1991 tr-ớc đây).
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật hình sự
Qua nghiên cứu các hành vi vi phạm pháp luật hải quan, cũng nh- những nguyên nhân ảnh h-ởng
đến hoạt động điều tra của cơ quan Hải quan, kiến nghị Toà án nhân dân tối cao h-ớng dẫn hành vi
buôn bán trái phép, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới theo h-ớng: Vận chuyển trái phép
hàng hoá qua biên giới để trao đổi trái với các quy định của Nhà n-ớc. Xuất khẩu, nhập khẩu hàng
hoá, mua bán hàng hoá qua biên giới không đúng cửa khẩu cho phép. Xuất khẩu, nhập khẩu hàng
hoá thuộc danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu. Không khai báo hoặc khai báo gian dối để trốn
tránh sự kiểm tra, kiểm soát hải quan. Giả mạo xuất xứ Việt Nam (bao gồm cả giả mạo C/O và ghi
nhãn hàng hoá). Chuyển tải bất hợp pháp để giả mạo xuất xứ Việt Nam. Giả mạo hồ sơ, giấy tờ để
xuất khẩu, nhập khẩu.
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự quy định thẩm quyền điều tra của hải quan.
- Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình buôn lậu vũ khí, ma túy, chất cháy, chất
nổ... có chiều h-ớng gia tăng.Vì vậy, đề nghị sửa đổi Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 20
Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự theo h-ớng:
Cơ quan Hải quan có thẩm quyền khởi tố và điều tra đối với các tội phạm về ma tuý, vũ khí, chất
nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tội trốn thuế, các tội xuất nhập khẩu gây ô nhiễm môi tr-ờng,
lây lan dịch bệnh, là những tội phạm xảy ra trong lĩnh vực quản lý của Hải quan.
Cơ quan Hải quan có quyền tạm giữ ng-ời theo thủ tục tố tụng hình sự. Cán bộ Hải quan đ-ợc
phân công tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.
- Để hoạt động điều tra hình sự của cơ quan Hải quan có hiệu quả, Bộ Tài chính chủ trì xây dựng
Thông t- liên tịch với Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao h-ớng dẫn thi hành Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 về hoạt động tố tụng của cơ
quan Hải quan.
3.2. Những giải pháp về tổ chức bộ máy và công tác cán bộ bảo đảm công tác điều tra của
Hải quan
3.2.1. Những giải pháp về tổ chức bộ máy
- Cấp trung -ơng: Tổng cục thành lập Phòng điều tra hình sự thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu.
Cục Kiểm tra sau thông quan thành lập Tổ chuyên trách về điều tra hình sự (thuộc phòng Kế
hoạch tổng hợp).
- Cục Hải quan địa ph-ơng thành lập Tổ chuyên trách điều tra hình sự trong Đội Kiểm soát hải
quan.
- Chi cục thành lập Bộ phận chuyên trách trong Đội tổng hợp.
3.2.2. Những giải pháp về công tác cán bộ
- Cần bồi d-ỡng, nâng cao trình độ kiến thức cho cán bộ làm công tác điều tra.
- ổn định đội ngũ cán bộ điều tra hình sự theo h-ớng chuyên môn hoá; việc luân chuyển cán bộ
chỉ thực hiện trong hệ thống tổ chức điều tra.
- Xây dựng các tiêu chuẩn, chức danh cán bộ điều tra.
3.3. Tăng c-ờng mối quan hệ phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng
3.3.1. Tăng c-ờng mói quan hệ phối hợp với cơ quan điều tra chuyên trách
Sửa đổi, bổ sung quy chế phối hợp giữa Tổng cục Hải quan với Tổng cục Cảnh sát. Th-ờng
xuyên tiến hành giao ban, trao đổi thông tin, kinh nghiệm và giải quyết v-ớng mắc.
3.3.2. Tăng c-ờng mối quan hệ phối hợp với Viện Kiểm sát
Để hoạt động điều tra hình sự có hiệu quả, cần phải tăng c-ờng mối quan hệ với Viện Kiểm sát
nhân dân tr-ớc khởi tố vụ án (nh- trao đổi thông tin, xin ý kiến khởi tố vụ án) và trong quá trình điều
tra, nh- xây dựng Thông t- liên tịch về cung cầp thông tin, quy định hồ sơ trong việc xin phê chuẩn...
3.4. Những giải pháp khác nâng cao hiệu quả công tác điều tra của Hải quan Việt Nam.
3.4.1. Giải pháp bảo đảm ph-ơng tiện kỹ thuật phục vụ phát hiện, điều tra
- Trang bị thêm tàu thuyền, ống nhòm, hệ thống rađa, hệ thống định vị ph-ơng tiện, hệ thống
theo dõi liên lạc vô tuyến viễn thông.
- Trang thiết bị máy chụp ảnh, máy ghi âm, camera, các ph-ơng tiện giao thông để dẫn giải đối
t-ợng.
Về mặt kinh phí: cần bảo đảm có đủ kinh phí cho hoạt động giám định, in ấn văn bản...
3.4.2. Giải pháp nâng cao hoạt động nghiệp vụ hải quan
Để hoạt động điều tra đạt hiệu quả cao thì cán bộ Hải quan cần phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ việc,
các văn bản pháp luật và đặc biệt phải xây dựng kế hoạch cụ thể. Nh- kế hoạch đón bắt đối t-ợng, kế
hoạch lấy lời khai, kế hoạch khám xét...
- Cần phải tăng c-ờng các hoạt động bổ trợ cho hoạt động điều tra hình sự, đó là các biện pháp
kiểm soát hải quan nhằm thu thập thông tin, chứng cứ phục vụ cho việc đấu tranh với bọn tội phạm.
3.5. Tăng c-ờng hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyến trái
phép hàng hoá qua biên giới.
Để phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới có hiệu quả, Hải quan
cần mở rộng quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong vấn đề phòng chống tội phạm, nhất là các n-ớc
có chung đ-ờng biên giới.
Kết luận
1. Buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới là một hiện t-ợng xã hội, không chỉ có
ở n-ớc ta, mà tồn tại ở tất cả các n-ớc trên thế giới, kể các các n-ớc có nền kinh tế phát triển, bởi vì
mục tiêu của nhà kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận, do vậy, một số đối t-ợng luôn tìm mọi cách trốn
tránh sự kiểm soát của nhà n-ớc, trốn thuế xuất nhập khẩu để giảm chi phí, tăng lợi nhuận.
Tình hình buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới ở n-ớc ta trong thời gian qua có
xu h-ớng gia tăng. Các đối t-ợng buôn lậu sử dụng nhiều ph-ơng thức thủ đoạn tinh vi, lợi dụng
những bất cấp về cơ chế, chính sách th-ơng mại đang thay đổi của n-ớc ta khi gia nhập Tổ chức
Th-ơng mại Thế giới (WTO), lợi dụng những yếu kém trong qua trình chuyển đổi ph-ơng thức quản
lý của các cơ quan quản lý nhà n-ớc nói chung, của Hải quan nói riêng.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện các hình thức bảo hộ mới nh- hàng rào kỹ thuật, vệ sinh, an toàn thực
phẩm, vấn đề về môi tr-ờng, vấn đề chống phá giá... làm xuất hiện các hình thức gian lận mới. Nguy
cơ khủng bố quốc tế, buôn lậu vận chuyển trái phép các chất ma tuý, vũ khí, rửa tiền d-ới nhiều hình
thức khác nhau, quy mô hoạt động buôn lậu cũng mở rộng và có tính tổ chức cao hơn, hoạt động
buôn lậu xuyên quốc gia đã xuất hiện làm cho vấn đề chống buôn lậu ngày càng nóng bỏng hơn, sự
hợp tác quốc tế trong vấn đề chống khủng bố và an ninh kinh tế đã và đang là vấn đề đ-ợc quốc tế
quan tâm và thúc đẩy các n-ớc hợp tác.
2. Căn cứ vào quan điểm đối mới của Đảng trong vấn đề cải cách t- pháp, trên cơ sở nghiên cứu
vấn đề chung về điều tra, lịch sử hình thành và phát triển của Hải quan Việt Nam, thẩm quyền điều
tra hình sự của Hải quan một số n-ớc trên thế giới. Luận văn đã đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống,
toàn diện những quy định của pháp luật tố tụng hiện hành về thẩm quyền điều tra của Hải quan Việt
Nam cũng nh- thực trạng thực hiện thẩm quyền điều tra của Hải quan Việt Nam từ năm 2003 đến
2006, các yếu tố ảnh h-ởng đến quá trình điều tra của Hải quan nh- yếu tố về nhận thức của các cấp
lãnh đạo ngành Hải quan, Bộ Tài chính, tình hình kinh tế xã hội, chính sách thu hút đấu từ n-ớc
ngoài, chính sách quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam trong từng thời kỳ, các quy
định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, cũng nh- tình hình hợp tác quốc tế.
Từ đó rút ra những nhận xét đánh giá những kết quả, cũng nh- những tồn tại và hạn chế trong quá
trình thực hiện hoạt động điều tra hình sự của cơ quan Hải quan sau hơn 4 năm thực hiện các quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự. Qua đó, luận văn đã đ-a ra
những các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật nh- sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp
lệnh tổ chức điều tra hình sự... tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động điều tra hình sự của cơ quan
Hải quan, các giải pháp về nâng cao hiệu hoạt động điều tra hình sự của cơ quan Hải quan, cũng nhcác vấn đề bảo đảm về cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí bảo đảm cho hoạt động điều tra, theo
h-ớng:
Thứ nhất, những giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm công tác điều tra hình sự của
Hải quan Việt Nam, nh- sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan; h-ớng dẫn Bộ luật hình sự; sửa đổi, bổ
sung Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, quy định cơ quan Hải quan có
quyền khởi tố và tiến hành các hoạt động điều tra đối với tất cả các tội danh liên quan đến lĩnh vực
hải quan nh- tội trốn thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, tội buôn lậu, vận chuyển trái phép các
chất ma tuý, vũ khí qua biên giới, .... và cơ quan Hải quan có quyền tạm giữ ng-ời, cán bộ Hải quan
đ-ợc phân công có quyền áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, tăng c-ờng và hoàn thiện các quy định về mối quan hệ phối hợp với cơ quan Điều tra
chuyên trách, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan đ-ợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra hình sự trong hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hoá qua
biên giới.
Thứ ba, xây dựng bộ máy tổ chức điều tra hình sự từ Tổng cục đến Chi cục; xây dựng tiêu chuẩn
chức danh cán bộ làm công tác điều tra, để đảm bảo tính chuyên sâu, chuyên nghiệp trong hoạt động
điều tra hình sự của Hải quan Việt Nam.
Thứ t-, trang bị thêm ph-ơng tiện, kỹ thuật phục vụ công tác phát hiện và đấu tranh đối với hành
vi buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới.
Thứ năm, tăng c-ờng hợp tác quốc tế trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng
hoá qua biên giới, nhất là với các n-ớc có chung đ-ờng biên giới nh- Trung Quốc, Lào, Campuchia.
Tôi xin cám ơn sự giúp đỡ, động viên của các Thầy giáo, các cấp lãnh đạo và bạn bè đồng
nghiệp. Rất mong nhận đ-ợc sự góp ý chỉ bảo của Hội đồng giám khảo chấm luận văn tốt nghiệp
Cao học khoá IX Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội để bản luận văn đ-ợc hoàn thiện hơn ./.
References
Văn bản pháp luật:
1. Nghị định 03/CP ngày 27/2/1960 của Chính phủ ban hành Điều lệ Hải quan.
2. Nghị định 139/HĐBT ngày 20/10/1984 của Hội đồng Bộ tr-ởng quy định nhiệm vụ,
quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan
3. Pháp lệnh Hải quan năm 1990.
4. Bộ Luật hình sự n-ớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985.
5. Bộ Luật hình sự n-ớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999.
6. Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988.
7. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng hình sự, năm 2000.
8. Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 1989.
9. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
10. Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004.
11. Luật Hải quan năm 2001.
12. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm 2005.
13. Quyết định 65/2004/QĐ-TTg ngày 16/4/2004 của Thủ t-ớng Chính phủ ban hành Quy
chế hoạt động của lực l-ợng Hải quan chuyên trách phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hoá qua biên giới.
14. Hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam từ năm 1945 2000.
Các tài liệu tham khảo khác:
15. Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự - Nhà xuất bản chính trị quốc gia (2004),
Hà Nội.
16. Bình luận khoa học bộ luật hình sự (phần các tội phạm) NXB CAND (2001), Hà
Nội.
17. Cục Điều tra chống buôn lậu (2006), Báo cáo tổng kết công tác kiểm soát ngành Hải
quan 2003, 2004, 2005, 2006, Hà Nội.
18. Ch-ơng trình cải cách tổng thể hành chính Hải quan giai đoạn 2001- 2010 và tầm
nhìn đến 2020.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Luật tố tụng hình sự NXB
Công an nhân dân, Hà Nội
23. Khoa Luật Tr-ờng Đại học KHXH và NV (1999), Giáo trình điều tra hình sự, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
24. Luật Hải quan một số n-ớc, NXB Chính trị quốc gia (2003), Hà Nội.
25. Lê Thanh Bình (1998), Đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn lậu hoặc vận chuyển
trái phép hàng hoá qua biên giới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
26. TSKH, PGS Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự
(phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
27. Trần Mạnh Đạt (2004), Đấu tranh phòng, chống tội kinh doanh trái phép ở Việt Nam,
NXB T- pháp, Hà Nội.
28. Tr-ờng Đại học luật Hà Nội (2000), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội.
29. Tổng cục Hải quan (2005), 60 năm Hải quan Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà
Nội.
30. Tổng cục Hải quan (1998), Xây dựng Ngành Hải quan là một bình chủng đặc biệt
trên mặt trận kinh tế, an ninh, L-u hành nội bộ, Hà Nội
31. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1997), Chuyên đề Hội thảo tố tụng hình sự Việt Nam,
Hà Nội
32. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (1998), Bộ luật tố tụng hình sự Nga, Hà Nội.
33. Các công -ớc quốc tế, Về cấm các loại vũ khí hủy diệt, vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa
học, vũ khí vi trùng, sở hữu trí tuệ, phòng chống ma tuý, rửa tiền, buôn bán phụ nữ, trẻ em, Tổng
cục Hải quan, bản dịch tiếng Việt.
34. Công -ớc Quốc tế Nairobi, Về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trên lĩnh vực Hải quan,
Tổng cục Hải quan, bản dịch tiếng Việt.
35. Hải quan Hoa Kỳ (2005), Tài liệu hội thảo về kiểm soát xuất khẩu, Tổng cục Hải
quan, bản dịch tiếng Việt.
36. Tổ chức Hải quan Thế giới (2001), Sổ tay cẩm nang nghiệp vụ Hải quan, Tổng cục
Hải quan, bản dịch tiếng Việt.
37. Tổ chức Hải quan Thế giới (1999), Cẩm nang dành cho các Điều tra viên về chống
gian lận th-ơng mại, Tổng cục Hải quan, bản dịch tiếng Việt.
38. Văn phòng Tình báo Hải quan khu vực Châu á - Thái Bình D-ơng, Bản tin Tình báo
hàng tháng từ 2001 - 12/2006, Tổng cục Hải quan, bản dịch tiếng Việt.