Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

TÀI LIỆU THAM KHẢO tư TƯỞNG PHÁP TRỊ của hàn PHI tử TRONG xã hội TRUNG QUỐC cổ đại, sự vận DỤNG TRONG một số TRIỀU đại PHONG KIẾN ở TRUNG QUỐC và VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (158.79 KB, 26 trang )

Tác phẩm Hàn Phi Tử là một tác phẩm độc đáo, về mặt chính trị và
là công trình quan trọng nhất của chính trị học Trung Hoa là một trong
những tác phẩm đầu tiên của chính trị học thế giới. Về tư tưởng nó xác lập
trường phái Pháp Gia, một trong bốn trường phái lớn nhất của Trung Quốc
(Nho, Mặc, Lão, Phóng). Nó là một trong những công trình cực kỳ hấp dẫn,
trình bày khách quan. Trong công trình viết cách đây 2300 năm nhưng ai
cũng giật mình về tính thời sự của nó, ta có cảm tưởng rằng tác giả là
người hiện nay, nói bằng ngôn ngữ và cách lý luận hôm nay về cách quan
hệ giữa người với người, không chỉ ở Trung Hoa mà cả thế giới, trong đó
có Việt Nam. Đó là một con người có đầu óc lỗi lạc nhất của Trung Hoa và
của xã hội loài người. Ngày nay chúng ta nghiên cứu tư tưởng Hàn Phi vẫn
thấy những tác nhân hợp lý của nó, vẫn đầy tính thực tiễn trong đời sống xã
hội, trong ứng xử giữa người với người, trong quản lý và thuật trị nước. Tư
tưởng của ông tồn tại lâu như vậy đó là vì nó có tính giáo dục sâu sắc, dạy
đời, dạy người sống tốt đời đẹp đạo, có lý có tình, trên cơ sở vận dụng một
cách linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống. Lời văn ông dùng ít có tính chất bác
học, dân sẽ xem nó trường tồn mãi với thời gian.
II. HÀN PHI TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ TRONG XÃ HỘI
TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI
1.Sự hình thành tư tưởng pháp trị của pháp gia.
Vào thời Xuân Thu,Trung Quốc chia ra hàng trăm tiểu nhỏ. Quan
hệ giữa quý tộc và nhân dân lao động là trực tiếp. xã hội chia ra đẳng cấp,
tôn ty rõ ràng. Sự cai trị dựa trên thứ bậc. Luật pháp chỉ áp dụng cho dân
thường còn đối với đại phu trở lên nếu có phạm sai lầm chỉ khiển trách mà
không trừng phạt. Việc nắm lấy hình phạt và vận dụng nó là quyền của quý
tộc, dân chỉ biết vâng theo. Cái đó gọi là sự cai trị theo nhân –nhân trị .
Nhưng nó tất yếu dẫn tới sự hủ bại của tầng lớp thống trị, dân oán và nước
mất. Trước tình hình ấy xuất hiện yêu cầu nước giàu dân mạnh để thôn tính

1



các nước khác, làm bá vương. Muốn nước giàu binh mạnh thì phải đề cao
pháp luật, đề cao kẻ chiến đấu và sản xuất, hạ thấp địa vị quý tộc, không
chấp nhận một lớp người sử dụng pháp luật mà không bị pháp luật chi phối
và một lớp người là đối tượng của lớp người mà chẳng được quyền lợi
pháp luật cấp cho. Quản Trọng là người đầu tiên làm cho nước Tề TCN sáu
thế kỷ trở thành bá, khẳng định . “.. Pháp (luật) là cái quy tắc của thiên hạ
…lấy pháp (luật) mà giết trị tội thì dân chịu chết mà không oán, lấy pháp
(luật ) mà định công lao thì dân được thưởng mà không cho là ân đức”…
Cho nên quan lại sai , khiến dân mà có pháp (luật) chống nhau với quan
lại. Người dưới lấy Pháp (luật) phục vụ người trên, cho nên bọn dối trá
không thể lừa chủ, bọn ghen gét không thể có cái hung kẻ ác, bọn xu nịnh
không thể khoe cái khéo, ngoài ngàn dặm không dám làm điều trái” ( Quản
Tử, quyển 21).
Như vậy, Quản Trọng là người mở đầu phái Pháp gia. Bên cạnh
những cải cách về ruộng đất, sắp xếp lại khu vực hành chính, Quản Trọng
còn đưa ra lời khuyên đầy tinh thần pháp trị đối với vua của mình là Tề
Hoàn Công.
Tề Hoàn Công hỏi Quản Trọng: “Chức quan thì ít mà người đòi làm
thì nhiều. Quả nhân lo việc đó. Quản Trọng nói: “Bệ hạ chớ nghe lời xin xỏ
của những ngưòi xung quanh. Căn cứ vào tài năng mà cấp bổng lộc, căn cứ
vào công mà cho làm quan. Bệ hạ có gì phải lo?” .
Tề Hoàn Công hỏi: “Trị nước thì điều gì đáng lo nhất?” Quản
Trọng đáp: Chắc Bệ hạ đã thấy việc dựng nhà thờ rồi chứ? Người ta trồng
cây rồi trát đất lên, lũ chuột khoét lỗ vào đấy, đào hang ẩn ở trong, nếu
người ta hun khói thì sợ cháy mất gỗ, nếu người ta tưới nước thì sợ đất nó
rã ra. Vì vậy không bắt được lũ chuột nhà thờ xã. Nay những người xung
quanh bệ hạ, khi đi ra thì dựa vào thế mạnh mà thu lợi của dân, khi vào bè
cánh với nhau để che đậy cái xấu không cho vua mình thấy. Bên trong thì
rình xem tình ý nhà vua để nói với ngoài, cho nên ở bên ngoài và bên trong

họ đều được trọng. Các bầy tôi và trăm viên quan lại đều dựa vào họ. Quan
2


lại không giết họ đi thì họ sẽ làm pháp luật rối loạn, nhưng giết họ thì nhà
vua không yên, nên che trở và giữ họ lại. Họ cũng là lũ chuột nhà thờ xã
của nước đấy .
Đến thời Chiến Quốc,Thương Ưởng ở nước Tần triều đại Tần Hiếu
Công đề cao pháp luật. Luật pháp có từ trước đó nhưng chỉ có tầng lớp
quan lại biết đến nhưng đến thời Thương Ưởng thì nhà nước cho công bố
rộng rãi và công khai cho mọi người biết trên thân của đỉnh đồng. Pháp luật
là mệnh lệnh ban bố rõ ràng ở nơi cửa công, hình phạt chắc chắn đối với
lòng dân, thưởng cho những kẻ cẩn thận giữ pháp luật, phạt những kẻ làm
trái lệnh - Ông đã đặt ra quy chế tố cáo lẫn nhau để xét thực sự, cho các nhà
kết thành từng nhóm năm nhà, mười nhà cùng nhau chịu tội, thưởng hậu
mà chắc chắn, hình phạt nặng mà dứt khoát. Sử Ký Tư Mã Thiên chép: “
Ưởng sai chia dân thành từng nhóm, năm hộ, mười hộ, phải củ soát nhau vì
bị ràng buộc vào nhau. Ai không tố cáo kẻ gian thì bị chém ngang lưng; ai
tố cáo kẻ gian thì cũng được thưởng ngang với chém đầu quân địch ; người
che giấu quân gian bị phạt ngang với người đầu hàng quân địch. Gia đình
có hai người con trai trở nên mà không chia của ở riêng thì bắt đánh thuế
gấp đôi. Ai có quân công thì cứ theo thứ bậc mà được thưởng, ai đánh nhau
về việc riêng thì đều bị hình phạt lớn hay nhỏ, tuỳ theo nặng hay nhẹ mà
trị. Ai ra sức vào nghề nghiệp gốc, cày cấy, dệt vải, cung cấp nhiều lúa thì
được tha khỏi sưu dịch; trái lại, ai theo cái lợi trên ngọn (ý nói buôn bán )
cùng những người lười và nghèo thì đều bắt cùng với vợ con làm nô; người
tôn thất mà không quân côngthì không được ghi vào sổ sách họ nhà vua.
Định cấp bậc tước trật cao thấp rõ ràng; ghi tên các ruộng vườn, thần thiếp
áo quần theo số hiệu từng nhà. Ai có công thì hiển vinh, ai không có công
thì tuy giàu có cũng không được vinh hoa “.Như vậy, nguyên lý cơ bản của

biến pháp Thương Ưởn: mọi người bình đẳng trước pháp luật, lấy thưởng
phạt làm nguyên lý trị nước, không cần giáo dục. Vì vậy dân chúng dùng
sức vất vả mà không nghĩ ngợi, đuổi theo quân địch gặp nguy hiểm mà
không lùi. Nhờ vậy nước giàu, quân mạnh. Đây là mặt tích cực mà chúng ta

3


cần tiếp tục nghiên cứu phép trị nước, an dân. Có thể nói nó gần giống như
quy chế dân chủ của chúng ta hiện nay.
Phái trọng thuật doThân Bất Hại đề ra. Sử Ký Tư Mã Thiên chép:
“Thân Bất Hại là người đất kinh, vốn là một viên quan nhỏ ở nước Trịnh,
nhờ có học thuật nên thành thân cận với Hàn Chiêu Hầu, Chiêu Hầu dùng
Thân Bất Hại làm tướng quốc.Thân Bất Hại bên trong lo sửa đổi chính sự,
giáo lễ, bên ngoài lo đối phó với chư hầu suất mười lăm năm cho đến khi
Thân Tử mất, nước được bình yên, binh mạnh, không nước nào xâm lấn
nước Hàn. “Nước Hàn từ nước Tần tách ra.Trọng thuật là đề cao mưu thuật
hính trị, là biết cách làm thế nào để ông vua điều khiển được quần thần,
khống chế được các quan. Thưởng phạt phải theo chức trách (quan lại) làm
vượt chức trách là tốt nhưng vẫn bị phạt ).
Phái trọng thế do Thận Đáo (thế kỷ |||TCN) đề ra. Trọng thế là đề
cao địa vị, quyền lực của vua. Tư tưởng này của Thận Đáo trái với quan
điểm Nho của Khổng –Mạnh, vì hai ông này cho rằng vua là người có tài
năng đức độ nhất (tư tưởng đức trị của Nho giáo ). Thận Đáo cho rằng
không cần đức lắm vì ít có người tài đức vẹn toàn (xã hội đang đại loạn)
mà chỉ cần tài đức trung bình trở lên nhưng phải cho họ có thế. Ông đưa ví
dụ: Con rồng sở dĩ là rồng vì nó ở trên cao, có mây ngũ sắc nâng đỡ, nên
nó rất oai phong và được kính nể, còn nếu bò dưới đất thì nó chỉ là con rắn
thường, không ai biết đến cũng giống con giun vậy. Tài đức như Khổng Tử
mà còn không được làm vua, trong khi đó tài đức vua nước Lỗ kém xa

Khổng Tử nhưng lại làm vua. Như vậy, thế là rất quan trọng, muốn cai trị
nước phải có quyền thế, có thực lực. Thân Tử nói Nghiêu mà là kẻ thất phu
thì không cai quản được ba người, còn Kiệt làm thiên tử thì có thể làm loạn
cả thiên hạ. Ta căn cứ vào đó thì biết cái thế và địa vị là đủ để cậy nhờ, còn
sự khôn ngoan sáng suất không đủ cho ta hâm mộ”. Hàn Phi Tử là người
kết hợp cả 3 phái: Pháp – Thuật – Thế, tìm cho nó một học thuyết triết học
(đạo đức kinh ) làm xương sống cho lý thuyết pháp trị .

4


2 Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử

Tóm tắt tiểu sử Hàn Phi Tử
Hàn Phi chết vào năm 232 TCN. Tiểu sử của Ông đã được Tư Mã
Thiên để lại chính xác trong bộ sử ký. Phi là công tử nước Hàn, là người
con (tử) của vua (công), nước Hàn nhưng không phải là người kế vị ngôi
vua. Hoàn cảnh ấy giúp Phi ngay từ bé đã nhìn thấy rõ quan hệ giữa vua tôi
và cách cai trị nước. Sau đó Phi đến học với Tuân Khanh, tức Tuân tử, nhà
học giả lớn nhất thời bấy giờ. Phi tiếp thu Nho giáo, do đó rất thông thạo về
lịch sử, văn học. Phi thừa kế của thầy quan niệm về bản tính con người là
ác, căm ghét mê tín, coi trọng giáo dục đề cao các tiên vương đời Hạ,
Thương, Chu mà xem nhẹ Nghiêu, Thuấn là mẫu mực của Khổng Tử. Cùng
học với Phi có Lí Tư sau này là thừa tướng nước Tần. Lí Tư thừa nhận Phi
giỏi hơn mình. Chủ chương của Tuân Tử là dùng lễ để trị nước, khác chủ
chương dùng Nhân để trị nước của Khổng Tử. Lễ và Pháp là rất gần nhau
nên cả Hàn Phi lẫn Lí Tư đều chuyển sang Pháp trị. Về nước, Phi thấy
nước Hàn yếu đuối, mấy lần dâng thư cho vua Hàn nhưng nhà vua không
nghe. Phi nghĩ cách xây dựng một học thuyết để lại đời sau về việc trị
nước. Phi tiếp thu lí thuyết pháp gia đã có từ trước. Nhưng lý thuyết này

qua Quản Trọng, Thương Ưởng, Thân Bất Hại v.v…mới chỉ là những phép
tắc. Nó còn thiếu một linh hồn để trở thành sinh động uyển chuyển, áp
dụng cho nó vào trường hợp khác nhau. Phi thấy nó ở đạo Lão và đưa đạo
Lão vào hoán cải cái học thuyết vốn dĩ khô khan thành một học thuyết đầy
sức sống – nếu Quản Trọng, Thương Ưởng mới chỉ thấy cái quan trọng của
phép tắc, Thân Bất Hại thấy thêm được cái thế, thì với Hàn Phi, trị nước trở
thành một cái thuật để người cai trị sử dụng mà ứng phó với mọi trường
hợp. Do đó, Hàn Phi là người lớn nhất của trường phái Pháp gia và bộ Hàn
Phi Tử trở thành tác phẩm quyết định của toàn bộ học thuyết này.
Nhìn thực trạng chính trị đương thời, Phi đau sót: các vua chúa, mà
trước hết là ở nước Hàn, chẳng lo soi sáng Pháp chế, lắm lấy cái thế để chế
ngự bầy tôi, lo cho nước giàu dân mạnh, dùng những người tài giỏi; trái lại,
5


họ nghe theo bọn sâu mọt làm hại nước. Ông có sẵn học thức vô cùng uyên
bác tiếp thu của Tuân Tử, Ông kiểm soát lại tình hình chính trị của các thời
đại, lý giải tại sao nước này mạnh, nước kia yếu, thời kì này cường thịnh ,
thời kỳ kia suy đồi. Ông thấy lí do là rất đơn giản: Những người nhà vua
cần dựa vào để bảo vệ đất nước là những người tài giỏi, binh sĩ, người cày
thì vứt bỏ, trái lại nhà vua lo nuôi bọn lừa dối, làm hại đến nước. Không ai
chịu xây dựng một kỷ cương, pháp luật để làm cho dân giàu nước mạnh và
chỉ vâng theo ham thích nhất thời. Càng hiểu được sự thực, Ông càng thất
vọng. Ông phẫn uất trong cảnh cô độc, thấy cái khó trong việc nói sự thực.
Phi là người có tật, Ông nói ngọng –không thành công trong việc nói , Ông
dốc hết tâm trí vào việc viết, mong để lại đời sau cái học thuyết mà Ông tin
là sẽ làm cho dân yên nước mạnh.
Tần Thuỷ Hoàng đọc tác phẩm, thán phục vô cùng, nói : “Ta được
làm bạn với người này thì có chết cũng không uổng”. Lý Tư lúc này làm
thừa tướng nói: Đó là tác phẩm của Hàn Phi. Hàn Phi trở thành sứ giả của

nước Hàn sang nước Tần.
Nhưng Hàn Phi sang Tần không phải để sống mà để chết. Phi được
giao nhiệm vụ cứu nước Hàn khỏi bị nước Tần tiêu diệt. Mà tình hình nước
Hàn lúc này thực tế đã tuyệt vọng. Không ai nghe Hàn Phi dâng những bài
nghị luận của mình. Bây giờ Tần sắp cất quân sang đánh, nước Hàn, sắp bị
tiêu diệt thì làm cách nào mà cứu được? Phi dâng bài Bảo tồn nước Hàn ra
sức thuyết phục vua Tần đừng đánh nước Hàn. Với bài ấy, Phi bị Lí Tư cho
là kẻ chỉ biết mưu lợi cho nước Hàn và làm hại nước Tần. Phi bị giam vào
ngục. Biết tình thế không thể nào cứu vãn nước Hàn được, Phi gửi bài lần
đầu yết kiến vua Tần, vua Tần xem xong rất khâm phục, ra lệnh thả ngay
Hàn Phi , nhưng Lý Tư vốn dĩ ghen với tài năng của người bạn và Tư hiểu
đó là con người giỏi nhất về chính trị của thời đại, nên đã bắt Phi uống
thuốc độc chết trong ngục rồi.
Phi đón nhận cái chết thế nào cũng đến với kẻ sỹ biết đề cao pháp
luật và thuật trị nước. Ông gửi tất cả tâm hồn và tinh lực vào tác phẩm Hàn
6


Phi Tử mà Ông tin là sẽ sống mãi với đời. Trong sử ký, Tư Mã Thiên đã
nói gốc của học thuyết “Hình danh’’ “Pháp thuật’’ của Hàn Phi có cơ sở
triết học ở Hoàng Đế, Lão Tử . Phi muốn làm cho nước Hàn cường thịnh
nhưng không được : “Phi thấy nước Hàn bị suy yếu, mấy lần viết thư nên
can vua Hàn, nhưng vua Hàn không dùng. Hàn Phi ghét những người trị
nước không trau rồi làm cho pháp chế sáng rõ, mà muốn dùng cái thế của
mình để chế ngự bầy tôi, không lo làm cho nước giầu , binh mạnh bằng
cách tìm người xứng đáng, dùng người hiền; trái lại dùng những bọn tham
nhũng, dâm loạn, sâu mọt, đặt chúng ở địa vị cao hơn những người có công
lao và có thực tài …”
Tư tưởng coi trọng pháp luật là nguyên tắc cao nhất trong đường
lối trị nước

Hàn Phi Tử luôn luôn đề cao và khẳng định tầm quan trọng của
pháp luật . “Bỏ pháp luật mà dùng cái tâm để trị thì Nghiêu cũng không
chỉnh đốn ( được ) một nước. Bỏ cái quy, cái củ mà cứ ước đại bừa thì Hề
Trọng cũng không thể làm xong một bánh xe. Bỏ thước tấc mà đoán dài
ngắn thì Vương Nhĩ cũng không thể biết điểm giữa. Khiến ông vua bậc
trung giữ pháp thuật, người thợ vụng giữ cái quy, cái củ, cái thước cái tấc,
thì vạn điều không sai một. Kẻ làm vua người ta nếu có thể bỏ cái mà
người hiền, người khéo không làm được, lắm lấy cái mà người bình thường
mà vụng làm vạn điều không sai thì làm hết sức người mà lập nên công
danh”. Quy là cái compa, củ là cái ê ke, nếu thợ mộc mà không có thước,
dây bật mực và hai thứ kể trên thì không thể làm gì được. Hàn Phi luận về
việc làm của người làm vua, không thể cai trị theo cảm tính mà phải dùng
pháp luật làm tiêu chí phân định đúng sai. Khổng Tử thì tuyệt đối hoá nhà
vua phải giỏi, phải có tâm sáng, đức cao thì mới lãnh đạo được-đức trị. Còn
trong quan điểm trên, Hàn Phi khẳng định khi đã có pháp luật rõ ràng thì
ông vua chỉ cần có tài đức bình thường cũng lãnh đạo được đất nước.

7


Thiên Hữu độ (có phép tắc )
Bằng lối nói ví von hình tượng, chứng minh quy nạp sắc sảo Ông
nhấn mạnh tác dụng của pháp luật. “Không có nước nào luôn luôn mạnh,
cũng không có nước nào luôn luôn yếu. Hễ những người thi hành pháp luật
mạnh thì nước mạnh, còn hễ những người thi hành pháp luật yếu thì nước
yếu”. Thật đáng khâm phục, quan điểm luôn luôn giữ vững và thi hành
pháp luật một cách triệt để này của Ông đến nay vẫn còn nguyên giá trị,
quan điểm này cho đến nay chưa hề lạc hậu chút nào.
Ông còn khuyên các bậc đế vương có quyền sinh quyền sát không
nên làm việc theo cảm tính của mình. “…Nếu có ông vua biết bỏ được điều

riêng tư cong queo, và theo phép công thì dân sẽ được yên mà nước sẽ
được trị. Nếu có ông vua bỏ được điều riêng tư, thi hành phép công thì
quân đội mạnh mà kẻ địch yếu. Nhờ vậy ông vua rõ được việc nên việc
không nên, có sự quy định theo phép tắc. Lấy phép tắc để thi hành với bầy
tôi, thì người ta không thể dùng lối dối trá dể lừa nhà vua, nhà vua xét kỹ
việc nên chăng, cầm cân nảy mực đẻ cân nhắc, để nghe những việc ở xa thì
người ta không thể lừa nhà vua”.
Không chỉ chúng ta hiện nay mới coi trọng công tác cán bộ, Bác Hồ
kính yeu của chúng ta đã nói: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn
việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay xấu”, ngày nay chúng ta
coi đó là nguồn lực quan trọng nhất. Từ ngày ấy Hàn Phi đã nhấn mạnh
việc bổ nhiệm quan lại phải khoa học và công tâm thì Pháp luật mới được
thi hành tốt. “Nay nếu căn cứ vào danh tiếng để tiến cử người có tài thì bầy
tôi thế nào cũng rời bỏ bề trên và người ở dưới lập bè phái. Nếu dựa vào
phe đảng mà được làm quan thì dân lo chơi bời với nhau mà không mong
được dùng theo phép tắc.
Cho nên các quan làm việc không có năng lực thì nước loạn. Nếu
nhờ được khen mà được thưởng, bị chê bai mà bị phạt thì những người ham
thưởng sợ phạt sẽ bỏ phép công, thi hành cái thuật riêng tư, kết bè với nhau

8


để làm bậy. Người dưới quên chủ, giao du với nước ngoài để tiến cử người
cùng bè với mình, như thế là họ ít lo cho bề trên vậy. Khi họ đã giao du với
nhiều người, bè đảng đông, trong ngoài bè đảng với họ thì dù họ có phạm
tội nặng cũng có nhiều người che đậy cho họ.
Kết quả, bậc trung thần có cái nguy là không có tội mà chết. Kẻ
gian thần có cái yên là không có công mà hưởng lợi. Khi bậc tôi trung có
cái nguy không có tội mà chết thì những bầy tôi khỏi rút lui. Kẻ tôi gian tà

có cái yên không có công và hưởng lợi thì bọn gian thần tiến lên. Đó là cái
gốc của sự mất nước.
Như vậy thì bầy tôi bỏ Pháp luật, thi hành việc giêng, coi nhẹ phép
công. Khi phần lớn đến cửa những kẻ có thể giúp mình, thì không ai đến
triều đình nhà vua. Thuộc hạ nhà vua tuy đông nhưng không phải để đảm
nhiệm việc nước. Như vậy thì ông vua tuy có được cái tiếng là vua nhưng
thực ra là dựa vào các nhà riêng của bầy tôi”.
Ông đã chỉ ra tác hại của bệnh (cha chung không ai khóc ), thiếu
tinh thần trách nhiệm trong công việc của các quan lại sẽ dẫn đến hậu quả
tồi tệ: “Triều đình của một nước sắp mất không có người”. Triều đình
không có người không phải là triều đình vắng người. Đó là họ lo vun đắp
cho nhau mà không lo vun đắp cho đất nước. Các quan đại thần lo đề cao
lẫn nhau mà không lo đề cao nhà vua. Các quan nhỏ lấy bổng lộc để giao
du với nhau cho thân thiết mà không lo đến việc công. Sở dĩ có tình hình
như vậy là do nhà vua ở trên không dựa theo pháp luật mà quyết định; trái
lại tin những điều người dưới làm.”
Ông khuyên những người làm vua tuyển dụng nhân tài và phong
chức tước cho họ căn cứ vào công lao theo pháp luật : “các bậc vua sáng
khiến pháp luật chọn người chứ không tự mình tiến cử ; Khiến pháp luật đo
lường công lao chứ không tự mình tính toán. Kẻ có tài năng không thể bị
che đậy; kẻ kém không thể tô vẽ; kẻ được khen không thể tiến chức; kẻ bị
chê không bị đẩy lui. Như thế giữa vua với tôi phân biệt rõ ràng và nước dễ

9


cai trị. Chỉ cần vua theo pháp luật là có thể làm được thế”. “Không dựa
theo phép tắc mà lại dựa vào con mắt để tỏ ra sáng thì những điều mình
thấy sẽ rất ít”.
Chứng minh cho nạn quan ô lại, những kẻ kéo bè kéo cánh để bẻ

cong pháp luật, hãm hại người hiền tài, trong thiên Ngoại trữ thuyết tả hạ,
ông trích dẫn ví dụ sinh động trong lịch sử “Tây Môn Báo làm quan huyện
lệnh đất Nghiệp. Trong sạch, chăm chỉ, trung thực, không mảy may lo lợi
riêng, nhưng lại rất coi nhẹ những người chung quanh nhà vua. những
người chung quanh nhà vua vào hùa chê bai Ông. làm được một năm, nộp
thuế lên, nhà vua thu ấn của ông ta. Báo xin” Thần trước đây không biết
cách cai trị đất Nghiệp nay thần đã biết. Xin được nhân ấn để cai trị đất
Nghiệp một lần nữa. Nếu không được xin chịu tội búa rìu “.Nguỵ Văn Hầu
không nỡ, lại để cho ông ta làm. Báo thu vét nhiều của cải của trăm họ, gia
sức phục vụ những người chung quanh nhà vua. được một năm, nộp thuế
nên nhà vua. Nguỵ Văn Hầu đón và vái chào, Báo nói:” Năm ngoái thần vì
nhà vua mà cai trị đất Nghiệp, nhưng nhà vua lại đoạt lại ấn của thần. Năm
nay, thần vì những người chung quanh nhà vua mà cai trị đất Nghiệp , vua
lại vái chào thần. Thần không thể cai trị nữa “.Bèn nộp ấn mà xin đi. Nguỵ
Văn Hầu không nhận ấn nói: ”Trước đây quả nhân không biết ông, nhưng
đến nay thì đã biết. Xin ông cố gắng vì quả nhân và cai trị đất ấy “,nên
không cho Báo từ chức”. Đoạn này ta liên tưởng đến xã hội của chúng ta
hiện nay có cái gì đó cần xem xét.
Thực tế từ cổ chí kim những người có đủ bản lĩnh như Tây Môn
Báo để vạch mặt bọn bậu xậu quanh vua rất ít. Nên nếu tồn tại bọn chúng
thì tiêu cực xã hội tất yếu xảy ra. Thông qua câu chuyện Tề Hoàn Công bổ
nhiệm Quản Trọng và Thắp Bằng, Hàn Phi khuyên nên lập các cơ quan
giám sát công việc của nhau để hạn chế sự lộng quyền: “Tề Hoàn Công sắp
lập Quản Trọng gia lệnh cho các quan :”Quả nhân sắp lập Quản Trọng
thành Trọng Phụ .. Người nào tán thành thì bước vào cửa rồi rẽ qua bên
trái; Người nào không tán thành thì bước qua cửa rồi rẽ bên phải”. Đông

10



Quách Nha đứng ở giữa cửa. Hoàn Công hỏi: “Quả nhân lập Quản Trọng
làm Trọng Phụ, ra lệnh người nào tán thành thì đứng bên trái, người nào
không tán thành thì đứng bên phải. Nay nhà ngươi lại đứng giữa cửa?”
Nha nói “Bệ hạ cho cái khôn của Quản Trọng có thể lo được việc thiên hạ
sao?”. Hoàn Công nói: “Lo được” Nha hỏi: “Bệ hạ cho ông ta dám làm
việc lớn sao?” Hoàn Công nói: “Dám làm”. Nha hỏi: “Bệ hạ biết cái khôn
của ông ta có thể lo việc thiên hạ, cái quyết đoán của ông ta có thể làm việc
lớn, bệ hạ vì thế giao hết quyền cả nước vào tay ông ta. Có cái tài của Quản
Trọng lại có cái thế của bệ hạ mà cai trị nước Tề, có thể khong nguy sao? “.
Hoần Công nói: “ Phải lắm” bèn sai Thắp Bằng lo việc bên trong , Quản
Trọng lo việc bên ngoài để dòm ngó nhau”.
Phải nói rằng thuật chính trị của Hàn Phi qua ẩn ý của câu chuyện
trên đạt tới mức đỉnh cao.

Thiên Nhị bính : (2 cái cân).
Ông khuyên người cầm quyền phải luôn luôn giữ thế của mình,
không bao giờ được buông lơi pháp luật : “Bậc vua sáng suất sở dĩ lãnh đạo
và chế ngự được bầy tôi chẳng qua chỉ nhờ hai cái cân mà thôi. Hai cái cân
ấy là ; Hình và Đức.
Hình và Đức là gì? Xin thưa giết chóc gọi là hình phạt; khen thưởng
gọi là ân đức. Kẻ làm tôi sợ bị giết bị phạt mà có lợi ở chỗ được khen
thưởng. Cho nên kẻ làm vua nếu tự mình dùng hình phạt và ân đức thì bề
tôi sợ cái uy của nhà vua mà chạy theo cái lợi của họ”.
Ông cảnh báo các vị vua cẩn thận nếu không sẽ bị bọn gian thần lợi
dụng nhà vua để thanh trừng lẫn nhau và kiém lợi : “Bọn gian thần ở đời
thì lại không thế. Ai họ ghét thì họ lợi dụng nhà vua để làm tội. Ai họ yêu
thì họ lợi dụng nhà vua để họ thưởng. Nếu ông vua không thể kiến cho
quyền uy và cái lợi của thưởng phạt xuất phát từ tay mình, mà thi hành việc
thưởng phạt theo bọn bầy tôi thì những người trong nước sẽ sợ bọn bầy tôi
mà coi thường nhà vua , sẽ theo bọn bầy tôi mà bỏ vua. Cái lo của tình

trạng nhà vua bỏ mất hình phạt là thế.
11


Nói chung, sở dĩ con hổ có thể khiến cho con chó phục tùng là nhờ
có nanh, có vuốt. Nếu con hổ bỏ nanh vuốt của nó đi mà trao cho con chó
dùng thì con hổ ngược lại phải phục tùng con chó. Ông đã dùng hình ảnh
rất cụ thể, dễ hiểu để nói lên triết lý cuộc sống. Ông vua dùng hình phạt và
ân đức để khống chế bầy tôi, nay ông vua bỏ hình phạt và ân đức của mình
để trao cho bầy tôi sử dụng thì ông vua sẽ bị bầy tôi khống chế. Ông đưa ra
hai ví dụ trong lịch sử để khẳng định hình và đức phải đi đôi với nhau,
người cầm quyền phải giữ được tôn hai quyền ấy, nếu không thì sẽ bị mất
quyền lực .
Ví dụ thứ nhất là vua để cho người khác lấn mình việc khen thưởng
dẫn đến thân bại danh liệt. “Điền Thường ở trên thì xin tước lộc để ban cho
quân thần , ở dưới làm những đấu hộc lớn hơn đấu hộc thường để làm ơn
với trăm họ (Điền Thường cho vay thì dùng thứ đấu lớn , người ta trả thì
đong bằng thứ đấu nhỏ nên người Tề quý ông ta). Thế là Tề Giản Công đã
bỏ mất ân đức mà Điền Thường lậi dùng cái ân đức ấy . Cho nên Tề Gỉan
Công bị giết.
Ví dụ thứ hai là một ông vua buông lơi việc kỷ luật, trao vào tay
người khác quyền này mà bị cướp mất ngôi báu : “Tử Hãn nói với vua
Tống : “Việc khen thưởng và tăng cấp là điều dân chúng thích xin bệ hạ tự
làm lấy. Việc giết chóc và dùng hình phạt là điều dân chúng vẫn ghét , thần
xin nhận làm “. Do đó , vua nước Tống bỏ mất hình phạt để trao cho Tử
Hán sử dụng . Kết quả vua Tống bị cướp ngôi. Điền Thường chỉ dùng ân
đức mà Gỉan Công bị giết. Tử Hãn chỉ dùng hình phạt mà vua Tống bị
cướp ngôi”.
Cách thức xác định công tội của quân thần ; Hàn Phi khuyên: “Bầy
tôi trình bày lời nói của mình , nhà vua căn cứ vào lời nói mà giao công

việc, rồi căn cứ vào công việc mà xét kết quả. Nếu kết quả phù hợp với
việc làm, việc làm phù hợp với lời nói thì thưởng. Nếu kết quả không phù
hợp với việc làm, việc làm không phù hợp với lời nói thì phải bị phạt
không phải vì kết quả ít mà vì kết quả không phù hợp với lời nói…”.
12


Ông phân tích bản chất của bọn gian thần và phương thức mà chúng
sử dụng để thao túng nhà vua.
Thiên gian kiếp thí thần (bọn bầy tôi gian dối, ức hiếp và giết nhà
vua)
“Nói chung bọn gian thần đều làm theo bụng nhà vua để được nhà
vua than và yêu quý. Do đó nhà vua thích điều gì thì bọn bầy tôi cứ theo đó
mà khen, nhà vua ghét điều gì thì bọn này cứ theo thế mà chê. Phàm bản
chất của con người khi những điều thích và ghét giống nhau thì thích nhau,
những điều thích và ghét khác nhau thì ghét nhau. Bọn bầy tôi ngày nay
khen điều gì thì đó là điều nhà vua thích. Như vậy gọi là cùng ghét như
nhau. Việc yêu ghét như nhau mà lại chống đối nhau đó là điều chưa hề
ghe. Đó là con đường khiến bọn bầy tôi được tin yêu”. Có đoạn Hàn Phi kể
lại khi vua sắp băng hà có nói lại cho người kế vị rằng mình làm vua thịt gì
cũng được ăn chỉ có thịt người là chưa được ăn thế là có viên quan chặt đầu
con nấu cháo cho vua ăn. Viên quan khác lại thiến để vào phục vụ vua,
viên quan khác thì không về thăm mẹ mà thường xuyên về thăm nhà vua.
Vua nói phải cách chức ngay những người đó vì con nó nó còn không coi
ra gì, bản thân nó nó cũng không coi ra gì, mẹ nó nó cũng không coi ra gì
thì mình nó cũng không coi ra gì.
Bọn gian thần cảm tình của nhà vua không phải để giúp vua giúp
nước mà để lũng đoạn thiên hạ. “Bọn bầy tôi gian tà đã lợi dụng cái thế
được nhà vua tin yêu để dùng lời khen chê mà tiến cử hay xua đuổi những
người khác. Nhà vua không có thuật gì để chế ngự họ, không có cách gì để

kiểm tra xem xết xem họ thì thế nào cũng sẽ căn cứ vào chỗ trước đây lời
của họ hợp với mình cho nên tin những lời của họ hiện nay. Đó là lý do
khiến cho bọn bầy tôi được nuông chiều có thể lừa dồi nhà vua mà thực
hiên những điêù riêng tư của họ”.
Khi bọn gian thần lũng đoạn thiên hạ thì các viên quan trung thành
không thể bày tỏ lòng trung thành với nhà vua. “cho nên nhà vua thế nào

13


cũng bị lừa và bọn bầy tôi ở dưới thế nào cũng được trọng vọng. Đó là bọn
bầy tôi khống chế nhà vua thì các quan ở dưới không thể bày tỏ hết khôn
ngoan, sức lực để tỏ rõ lòng trung, các viên lại kông thể thi hành pháp luật
để thực hiện cái công của mình.
Nói chung, thích điều lợi và tìm nó, gét cái hại mà tránh nó, đó là
tình cảm của con người. Nay bọn bầy tôi nếu dốc sức để làm được công
lao, nếu đem hết sự khôn ngoan đẻ trình bày lòng trung thành của mình thì
thân mình bị khốn khổ, nhà mình nghèo, cha và con đều mấc phải cái hại.
Trái lại những bọn làm điều gian dối kiếm lợi để che giấu nhà vua, dùng
của cải để phụng sự bọn bầy tôi được quý trọng thì thân họ lại ở địa vị cao.
Nhà lại giàu, cha và con lại được ân huệ. Như thế ai lại có thể bỏ con
đường yên ổn và có lợi để đi theo con đường nguy hiểm và có hại .Việc trị
nước đã sai lầm như thế mà nhà vua lại muốn người dưới không gian dối,
các quan lại thi hành pháp luật thì rõ ràng không thể làm được’’.

Thiên ngũ đồ (năm bọn sâu mọt ):
Hàn Phi tuy có cái nhìn cực đoan với thương nhân, thợ thủ công và
học sinh nhưng phê phán những người vi phạm pháp luật và cái mâu thuẫn
của xã hôị nước Hàn thủa ấy: “…Người có công thì ban tước nhưng lại cho
chức quan là thấp hèn ; người ta cày cấy giỏi thì thưởng nhưng lại coi

khinh việc ruộng vườn của người ta. Những người nhà vua không dùng
được thì bỏ người ta, nhưng lại đề cao thái độ khinh đời của họ. Những
người phạm điều ngăn cấm thì trị tội người ta, nhưng khen người ta là dũng
cảm. Việc thi hành thưởng phạt mâu thuẫn traí ngược nhau cho nên pháp
luật cấm đoán bị hư hỏng và dân càng loạn. Ngày nay kể thấy anh em bị
xâm phạm thế nào cũng đánh thì được xem là liêm, kể thấy bạn bị nhục mà
căm thù người làm nhục thì được xem là trinh. Nếu cái hạnh kiểm liêm
trinh này mà được thi hành thì pháp luật của nhà vua bị vi phạm. Nếu nhà
vua đề cao hạnh kiểm và liêm trinh như thế mà quên mất cái tội phạm điều
ngăn cấm thì đân chúng sẽ khoe cái dũng cảm của họ mà quan lại sẽ không
thắng được họ. Những kẻ không lo lao động mà có cơm ăn áo mặc thì gọi
14


là có năng lực, những kẻ khong có chiến công mà được địa vị cao thì gọi là
người hiền. Cái tôi hiền và năng lực này mà được thi hành thì quân đội sẽ
yếu đi mà đất đai bị bỏ hoang. Kết quả là hành động riêng tư được thiết lập,
trái lại cái lợi chung bị tiêu diệt vậy”.
Như thế, Hàn Phi đòi hỏi phải có dư luận tiến bộ hỗ trợ cho pháp
luật. Cái gì sai pháp luật thì phải được lên án. Dư luận tiến bộ xã hội sẽ tạo
thành nếp sống pháp luật lành mạnh, ông coi bọn bồi bút làm rối loạn luật
pháp cũng tác hại không kém gì bọn đâm thuê chém mướn. “Nhà nho lấy
cái văn làm rối loạn pháp luật, bọn du hiệp lấy vũ lực vi phạm những điều
ngăn cấm. Thế nhưng nhà vua lại lấy chữ lễ để đối sử với cả hai loại ngươi
này. Do đó mà sinh ra loạn.
Nói chung, rời khỏi pháp luật là phải tội. Thế nhưng các tiên sinh
kia lại nhờ văn học mà được dùng. Vi phạm điều ngăn cấm thì bị giết thề
nhưng bọn du hiệp lại nhờ thanh kiếm riêng mà được nuôi dưỡng. Cho nên
những người mà pháp luật chê bai thì lại là những người mà nhà vua dùng,
người mà quan lại trừng phạt là những người bề trên nuôi dưỡng và những

người quan dưới trừng phạt, bốn cái này trái ngược nhau và không có cái gì
xác định cả”.
Bằng ví dụ cực đoan, Phi phê phán Quan lệnh doãn nước Sở và phê
phán luôn cả Khổng Tử “nước Sở có con người chính trực, cha anh ta ăn
trộm con dê, anh ta đi tố giác với quan lại. Quan lẹnh doãn nói “Giết hăn
đi!”. Ông ta cho rằng anh ta thẳng thắn đối với vua nhưng lại gian tà đối
với cha nên anh ta có tội. Có người nước Lỗ theo vua đánh giặc, ba lần giao
chiến, ba lần anh ta bỏ chạy. Trọng Ni hỏi tại sao, anh ta đáp: Tôi có cha
già, tôi chết không ai nuôi cha”. Trọng Ni coi là có hiếu tiến cử anh ta chức
cao, theo đó mà xét thì đừa con hiếu với cha là bầy tôi phản lại nhà vua.
Cho nên quan lệnh doãn giết mà nhà vua không nghe nối đến bọn gian ở
nước Sở. Trọng Ni thưởng mà những người nước Lỗ dễ bỏ chạy và đầu
hàng. Cái lợi của người trên và kẻ dưới khác nhau là như thế đấy. Nhà vua

15


vừa muốn khen hành động của kể thất phu lại vừa có hạnh phúc của nước
nhà, làm như thế nhất định không được”.
Phi phê phán xã hội nước Hàn thời ấy nói nhiều mà không chịu
làm, các mưu sĩ chỉ giỏi đánh giặc mồm mà quân đội yếu “ Nay nhân dân
đều nói đến chuyên trị nước, nhà nào cũng có sách pháp luật của Thương
Quân, Quản Trọng, nhưng nước ngày càng nghèo. Người nói chuyện cày
thì đông nhưng kể cầm cày thì ít. Trong nước ai cũng nói đến việc binh,
sách binh thư của Tôn Vũ Tử, Ngô Khởi nhà nào cũng có, nhưng quân đội
ngày một yếu đi, và người nói chuyên chiến đấu thì nhiều mà người mang
áo giáp thì ít. Cho nên bậc vua sáng dùng cái sức của người ta chứ không
nghe lời người ta nói. Thưởng công lao của người ta, nhưng nhất định cấm
điều vô dụng. Cho nên dân dốc hết sức mình để theo bề trên”.
Thực tế vua nước hàn lúc ấy không sáng suốt lại không biết dùng

quốc sách của Hàn Phi cho nên không dùng hết sức mình để theo bề trên.
“Cái mưu kế có sẫn của dân chúng đó là đến chỗ yên ổn và có lợi mà tránh
xa điều nguy hiểm khốn cùng. Nay nếu ta khiến họ tấn công và giao chiến,
tiến lên thì chết vì quân địch, thoái lui chết vì bị trừng phạt, thì dân nguy
vậy. Bỏ cong việc của nhà riêng mà dốc sức vào việc chiến đấu, nhà cùng
khốn mà ở trên không lo đến thì bị cùng khốn. Khi đã lâm vào cảnh nguy
hiểm và cùng khốn thì dân làm sao khỏi trốn tránh. Cho nên họ thờ những
nhà riêng để được xây dựng nhà cửa. Xây dựng nhà cửa thì ở xa chiến trận,
xa chiến trận thì được yên thân. Làm việc đút lót, cầu cạnh những người
quyền thế thì có được cái mình cầu xin, có được cái mình cầu xin thì có
được cái lợi riêng và yên thân. Được lợi rieng và yên thân thì tại sao người
ta lại không đến? Cho nên dân lo việc chung thì ít mà lo việc riêng thì nhiều”.

Thiên Bát Gian (tám đường gian dối)
Tổng kết xã hội Trung Quốc thời đó với con mắt của những nhà
chính trị chuyên nghiệp, Phi đã chỉ ra tám việc làm hại cho nhà nước, làm
tha hoá nhà vua. Nói chung sở dĩ bầy tôi thành kể gian có 8 cách:

16


Một là cùng giường. Phu nhân được tôn quý, vua yêu những đứa
con nhỏ, nuông chiều những người thiếp có sắc đẹp. Họ khiến cho nhà vua
bị mê hoặc … Những kẻ làm tôi đút vàng ngọc cho họ để họ thao túng nhà
vua .
Hai là, bọn kép hài, bọn hề bọn lùn, là những người chung quanh
gần gũi nhà vua …Chúng đón ý lựa chiều, ngắm nhìn sấc mặt mà biết bụng
dạ vua. Bọn này cùng tiến, cùng thoái, cùng đáp cung đối như nhau, nói
năng cùng theo một lối để làm thay đổi bụng nhà vua. Bọn bầy tôi bên
trong lấy vàng ngọc đồ chơi cho chúng, bên ngoài vì chúng làm những điều

trái phép để cho chúng thay đổi bụng vua.
Ba là, các công tử con các bà thiếp là những người được nhà vua
yêu quý. Các quan đại thần và các quan laị ở triều đình là những người nhà
vua cùng bàn bạc. Những người này ra sức bàn thì nhà vua thế nào cung
phải nghe theo. Bọn làm tôi lấy âm nhạc, gái đẹp thờ các công tử con các
bà vợ bé, dùng lời nói mua lòng các quan đaị thần và các quan lại triều
đình, giao ước với nhau chuyện này chuyện nọ nếu việc có kết quả thì các
quan đại thần sẽ thêm bổng lộc chức tước đẻ khuyến khích bụng họ, khiến
họ can thiệp với nhà vua.
Bốn là, bọn bầy tôi dốc hết sức lực của dân để làm cung thất, ao hồ,
đài tạ đẹp, đánh thuế nặng để cho con trai, con gái, chó, ngựa trang sức đẹp
đặng làm thoả lòng nhà vua và làm hỏng cái tâm của nhà vua, họ cứ làm
theo ham muốn của nhà vua để nhờ đó mưu lợi riêng của họ.
Năm là, kẻ làm tôi phân tán tài sản nhà nước đẻ lấy lòng dân chúng,
thi hành ân đức nhỏ để thu phục trăm họ. Khiến cho triều đình, chợ búa đều
khen ngợi họ, để che mắt nhà vua và thực hiện điều họ muốn.
Sáu là, kẻ làm vua vốn dĩ đã bị che đậy trong việc nói năng bàn
luận, ít khi nghe bàn luận nên dễ bị những lời du thuyết lôi cuốn. Những
bọn làm tôi tìm những biện sĩ ở các nước chư hầu, nuôi dưỡng người giỏi ở
trong nước, khiến bọn này nói chuyện riêng của mình, dùng lời khéo tô vẽ,

17


nói năng lưu loát làm cho nhà vua thấy cái thế có lợi, nới lời lo lắng tai hoạ
để đe doạ nhà vua, dùng lời nói suông để đe doạ nhà vua.
Bảy là, nhà vua lấy trăm họ và cac quan làm uy lực của mình…Bọn
là tội, tụ tập những kẻ đeo gươm, nuôi dưỡng những kẻ liều chết để nêu cái
uy của họ, nêu rõ ai theo họ thì có lợi, ai không theo họ thì thế nào cũng
chết để đe doạ các quan, trăm họ để thi hành điều riêng tư của họ.

Tám là, kẻ làm bầy tôi đánh thuế nặng, vơ vét kho lúa kho tiền, lấy
hết của cải trong nước để thờ nước lớn. Rồi lại lợi dụng cái uy của nước
lớn để dụ dỗ nhà vua. Người làm dữ thì cử binh nước lớn đang ở biên giới
để khống chế ở trong nước. Kẻ làm nhẹ thì năng dùng sứ thần của nước lớn
để đe doạ nhà vua của nước mình.
Tất cả tám cách trên đây là những điều khiến cho bầy tôi trở thành
kẻ gian, và vua bị che đậy, bị cướp đoạt mất cái mình có.
Đứng trước hiện tượng lộn xộn phổ biến của xã hội Trung Quốc
thời ấy như đã phân tích ở thiên Ngũ đồ và thiên Bát gian, Phi khuyên các
vua dùng thuật và luật để lãnh đạo đất nước.
“Vị vua sáng ở bên trong vui về sắc đẹp, nhưng không nghe lời xin
xỏ, không làm theo lời cầu xin. Đối với bọn xung quanh, khi sai khiến thì
thế nào cũng căn cứ vào những lời của họ để kiểm tra, không chúng nói
nhiều lời. Đối với cha anh và các quan đại thần thì khi nghe lời thế nào
cũng khiến họ chịu trách nhiệm về kết quả sau này, không cho phép họ cử
người bừa bãi. Đối với những trò vui chơi giải trí thì khiến cho nó đưa ra có
căn cứ, không cho phép tự tiện đưa đến hay tự trên cất đi để bầy tôi đoán
được ý nhà vua. Đối với việc thi hành ân đức, phát của phát thóc trong kho
để làm lợi cho dân thì nhất thiết phải do nhà vua làm, không để bầy tôi thi
hành ân đức riêng. Đôi vói việc bàn bạc thì nhà vua xem xết năng lực, khảo
sát lỗi lầm những người được người ta khen và những người bị người ta
chê, không để cho bầy tôi nói tốt hay nối xấu nhau. Đối với những kẻ sĩ
dũng cảm và có sức mạnh, nếu có họ trong quân lữ thì không thưởng vượt

18


bậc, còn nếu họ đánh nhau trong làng xóm thì trừng trị không tha. Không
cho bầy tôi làm thành riêng của mình. Đối với những kẻ yêu sách của Chư
hầu, cái nào hợp với pháp luật thì nghe, caí nào không hợp với pháp luật thì

cự tuyệt.
Gọi là ông vua mất nước không phải ông ta không có nước, mà đó
là tuy có nước nhưng không phải nước của ông ta. Khi bầy tôi lấy áp lực
bên ngoài để chi phối bên trong thì lúc đó ông vua đã là ông vua mất nước
rồi. Nếu rằng nước lớn là chỗ dựa để cứu cảnh mất nước thì cảnh mất nước
còn đến nhanh hơn là không nghe lời nước lớn.”
Đây đúng là quan điểm phát huy nội lực để xây dựng và bảo vệ đất
nước. Nếu Liên Xô và các nước XHCN Đông Au vẫn không buông lơi luật
pháp, không dựa vào tư bản Phương Tây để xây dựng đất nước thì đâu đến
nỗi đấnh mất chế độ XHCN một cách nhẹ nhàng như vậy.
Phi yêu cầu thuật trị nước phải đạt đến kết quả toàn xã hội từ dân
đến quan chỉ có thể vui vẻ mà thực hiên theo pháp luật. “Phàm kẻ có thuật
trị nước đã làm bầy tôi sẽ dựa theo pháp luật giải quyết. Trên soi sáng pháp
luật nhà vua, dưới làm cho bọn gian thần nguy khốn để cho nhà vua được
tôn quý, nước được yên. Do đó, những lời hợp phép tắc được đưa ra ở
trước thì việc khen thưởng và trừng phạt sẽ được thi hành ngay sau đó.
Nếu ông vua quả thực hiếu rõ cái thuật trị nước của bậc thánh nhân
và không bị câu nệ vào những lơì nói của thế tục, cứ căn cứ vào cái danh và
cái thực để quyết định việc đúng và việc sai, dựa vào điều tra, xem xét và
thẩm định những lời nói năng thì các quan chung quanh, những bầy tôi gần
gũi biết là không thể dùng dối trá để được yên thân. Thế nào họ cũng nói:
“Nếu không vứt bỏ những hành vi gian trá riêng tư để dốc sức đem trí khôn
ra thờ vua, mà lại cứ lo kéo bè kéo đảng, dùng lời khen chê bừa bãi để
được yên thân thì cũng chẳng khác gì mang vật nặng ngàn cân, mà đứng ở
nơi vực thẳm khôn lường mà muốn sống vậy. Nhất định là không thể
được”.

19



Bọn lại của trăm quan cũng biết ràng nếu làm việc gian dối để mưu
lợi thì không thể yên được. Thế nào họ cũng sẽ nói: “Nếu ta không liêm
khiết, ngay thẳng, chính trực đề cao pháp luật mà lại mang cái bụng tham ô,
bẻ cong pháp luật để mưu lợi riêng thì cũng chẳng khác gì trèo lên đỉnh gò
cao, rơi xuống cái khe dốc mà lại muốn sống vậy. Nhất định là không thể
được. Khi con đường yên và con đường nguy là rõ ràng như thế thì những
người xung quanh đâu dám dùng lời nói xuong để lừa dối nhà vua, và trăm
quan đâu dám bòn rút kẻ dưới. Như vậy thì đám bầy tôi có thể trình bày
điều trung mà không bị che đậy, người dưới có thể giữ chức vụ của mình
và không bị oán ghét. Đó là điều làm cho Quản Trọng làm cho nước Tề
được trị yên và Thương Quân làm cho nước Tần mạnh.
Theo vào đó mà bậc thánh nhân khi trị nước vốn có cái đạo làm cho
người ta không thể nào yêu mình, chứ không bao giờ chờ cậy người ta vì
yêu mình mà làm. Nhờ cậy người ta vì yêu mình mà làm thì nguy. Nhưng
dựa vào chỗ họ không thể không làm thì yên.
Nói chung vua và tôi không có tình thân của người cốt nhục. Nếu
cứ theo con đường chính trực mà không thể được yên thì bầy tôi sẽ làm
việc riêng của họ để che dấu nhà vua. Vị vua sáng biết điều đó nên đặt ra
con đường lợi và hại để thiên hạ thấy”.
Theo mà thấy, Hàn Phi đã dùng phép biện chứng để xem xét xã hội,
cặp phạm trù Vua-Tôi liên quan mật thiết tác động tương hỗ lẫn nhau, vua
sáng sẽ có tôi hiền, Vua tối sẽ có bầy tôi gian dối. Con trung thiên Ngũ đồ,
bọn tôi sâu mọt sẽ làm tha hoá vua, bầy tôi trung thành sẽ làm cho vua sáng
suốt hơn.
Toàn bộ tác phẩm đồ sộ của mình, Phi viết bằng tâm huyết vì dân
đen, không sợ cường quyền. Thiên hỏi họ Điền kể lại một câu chuyện đáng
lưu ý. Đường Khê Công lo sợ việc viết sách của Hàn Phi nhấc đến chuyện
Ngô Khởi bị xé xác, Thương Quân bị phanh thây, khuyên Hàn Phi bỏ công
việc này. Hàn Phi đáp “ Tôi rất hiểu những lời nói của Tiên Sinh. Phàm


20


nắm lấy cái quyền cai trị thiên hạ, dùng pháp trị để cai trị dân là điều không
phải dễ. Nhưng sở dĩ tôi gạt bỏ lời dạy của Tiên Sinh làm theo những điều
riêng tôi cho là phải vì tôi nghĩ rằng: lập ra phép tắc và thuật cai trị, lập ra
quy củ đó là cái làm lợi cho dân và tiện cho thứ dân. Cho nên tôi không sợ
cái hoạ và bị chúa hôn ám, vua loạn, mà nhất định nghĩ đến cái lợi của việc
trị dân, cái hành động của kẻ có nhân và có trí. Sợ cái lo và mối hoạ do bị
chúa hôn ám, vua loạn gây nên mà tránh cái hoạ bị giết, bị chết, hiểu rõ cái
lợi của mình mà không biết cái lợi của dân hèn, là hành vi của kẻ tham lam
bỉ ổi. Không dám làm cái hành vi có hại đến chữ nhân và chữ trị. Tiên Sinh
có bụng thương tôi. Nhưng thực ra làm thương tổn đến tôi rất nhiều”.

Một số hạn chế trong tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi.
Theo giáo sư Phan Ngọc, học thuyết Hàn Phi có những sai lầm căn
bản:
“Một là ông chỉ thấy những con người ở góc độ vụ lợi. Điều đó không
đúng, con người có những lý tưởng cao đẹp và sẵn sàng quên mình cho
những lý tưởng ấy dù cho các quyền lợi cá nhân bị vi phạm đến mức độ
nào đó. Không cần một dẫn chứng xa xôi, chính Hàn phi là một người như
thế.
Hai là, không thể xây dựng một lý thuyết pháp trị vững chắc dựa
trên quyền lợi của một ông vua. Lịch sử cho thấy rằng không một ông vua
nào không bị chế độ quan liêu tha hoá. Trong những hoàn cảnh nhất định
để đạt được mục đích trả thù, bá chủ thiên hạ…Ông vua có thể tạm thời
làm theo, nhưng sau khi đạt được mục đích ông vua nào cũng hư hỏng. Do
đó, trong thời đại quân chủ, cái mơ ước của Hàn Phi là không bao giờ đạt
được.
Ba là, do chỗ bị hạn chế vào chế độ quân chủ, Hàn Phi không tìm

được cơ chế bắt nhà vua phải đề phòng tất cả những cái hoạ mà ông đã thấy
từ trước.

21


Theo tôi trong thiên Ngũ đồ Hàn Phi còn bộc lộ nhiều hạn chế trong
cách nhìn nhận con người trong xã hội.
Thứ nhất làm sao có thể liệt những người thợ thủ công và bon buôn
bán là bọn sâu mọt. Nếu không có thợ thủ công thì lấy đâu ra công cụ sản
xuất và chiến đấu, khi đã không có công cụ sản xuất và chiến đấu thì sản
suất không phát triển và quân đội không thể mạnh được. Không thể xây
dựng được đất nước hùng mạnh. Trong thời điểm Phi viết tác phẩm này thì
Lã Bất Vi đã cải cách kinh tế ở nước Tần, phát triển công thương, khiến
cho khinh tế nướcTần rất mạnh, vũ khí tác chiến của quân Tần cũng rất tinh
xảo, gon nhẹ sắc bén. Giả sử lúc ấy hàn phi được phong làm thừa tướng
nước Hàn, mà với chính sách kinh tế này thì nước Hàn cũng không thể phát
triển được.
Thứ hai, ông liệt kê các nhà nho và những người đi học cũng là sâu
mọt, phải chăng Phi muốn dùng chính sách ngu dân để dễ bề cai trị.
Xã hội Trung Quốc thời đó là xã hội nô lệ toàn dân. Chỉ có một ông
chủ là ông vua, mọi tài sản đều của ông ta, mọi bgười dân đều trong hoàn
cảnh ấy. Pháp luật đặt ra là để phục vụ quyền lợi một người, chứ không
phải mọi giai cấp. Sự bình đẳng mà pháp luật ra chử trương là sự bình đẳng
của nô lệ trước pháp luật đối với nhau. Nó xoá bỏ đẳng cấp để làm nổi bật
lên thân phận nô lệ của con người. Nó không phải là lý thuyết pháp trị hiện
đại dựa trên quyền lợi của nhân dân lao động khẩng định sự bình đẳng
trước lao động, và giá trị cá nhân người lao động.

3. Một số triều đại phong kiến Trung Quốc và Việt nam đã

áp dụng thành công tư tưởng Pháp trị.
3.1. Ở Trung Quốc.
Nước Tần là nước điển hình áp dụng thành công tư tởng pháp trị
trong viẹc thông nhất đất nước.
Thời chiến quốc còn 7 nước là: Tần, Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu,
Nguỵ. Chỉ có tập đoàn chính trị đủ mạnh thì mới khuất phục được các nước
22


khac thống nhất Trung Quốc. Nước Tần không phải là vùng đất trù phú,
không phải ở vị trí trung tâm, không phải là nơi có văn hoá phát triển.
Nhưng liền trong mấy thế kỷ từ thời Tần Hiếu Công cho tới cuối thời chiến
quốc. Nhà Tần lại hội đủ các điều kiện để chuyển lên chế độ phong kiến
trung ương tập quyền. Về kinh tế nhà Tần phát triển chế độ tư hữu về sản
suất, thống nhất đo lường, đặt ra nghạch thuế khoá thích hợp, do đó kích
thích được sản suất. Về chính trị thực hiện hai lần biến pháp, tổ chức hành
chính theo chế độ quận huyện, chủ trương mọi quyền tạp trung vào ông
vua, thực hành chế độ pháp trị nghiêm ngặt, làm cho trong nước có kỷ
cương, trật tự hiệu lực của chính quyền có hiệu lực. Về văn hoá tư tưởng,
chủ trương quán triệt văn hoá tư tưởng thực dụng và bá quyền của phái
Pháp Gia làm cho ai đó cũng thấy chỉ có nỗ lực thì mới có quyền lợi và địa
vị. Chính điều đó đã khiến cho nhà Tần có sức mạnh và chuyển lên chế độ
phong kiến trung ương tập quyền sớm nhất và thôn tính được 6 nước còn
lại, thống nhất Trung Quốc về một mối. Nhà Tần độc tôn tư tưởng của phái
Pháp Gia. Nhưng quốc gia Tần thóng nhất chỉ tồn tại được 15 năm (221206 TCN).

3.2 Ở Việt Nam.
Sau khi đuổi giặc Minh, lấy lại được nền độc lập dân tộc, triều Lê
trọng đãi công thần. Các công thần này đại đa số là những người thiếu học,
hay ít học, họ nấm giữ trọng trách, mâu thuẫn gay gắt giữa phái dân sự và

phái quân sự, họ lộng hành và tàn sát lẫn nhau. Các vị vau Thái Tông,
Nhân Tông không đủ khả năng kiềm chế tệ hưởng thụ, tham ô, hối lộ, lợi
dụng chức quyền để trục lợi riêng diễn ra khá phổ biến trong cả trăm quan
cả quan lại cao cấp phong kiến. Trong bối cảnh đó vua Lê Thánh Tông lên
ngôi năm 1460. Ông là bậc vua anh hùnh tài lược, Ông chủ trương và dày
công xây dựng một nhà nước quân chủ chuyên chế, đề cao uy quyền và
quyền hành thực tế của ông vua, tăng cường sự chi phối quyền lực của triều
đình xuống địa phương, thực chất đường lối mà Lê Thánh Tông thực hiện
là “Ngoại Nho, Nội Pháp”. Để củng cố chính quyền, mở mang bờ cõi thì

23


ông dùng Pháp trị để có lợi cho sự thông trị và ổn định trật tự xã hội ông
dùng Nho giáo.
Sau mười năm trị vì ngôi báu (1460-1470), bằng những biện pháp
trong đó có những biện pháp mang tính cải cách của mình, Lê thánh Tông
đã từng bước tập trung được quyền hành, tạo nên sự thay đổi lớn cho đất
nước. Năm 1471 Lê Thánh Tông ban hành hiệu định quan chế, thực hiện
cái cách hành chính triệt để. Cuộc cải cách hành chính này nhầm mục đích:
Tăng cường quyền lực và hữu hiệu hoá chính quyền trung ương, xây dựng
hệ thống quyền lực ở các cấp tăng cường quản lý nhà nước đối với làng xã.
Lê Thánh Tông đề cao tư tưởng Pháp trị, thể chế hoá lễ trị. đi đôi
với việc củng cố bộ máy nhà nước, ông rất coi trọng thể chế pháp luật, ông
chủ trương dùng luật để cai trị đất nứơc và quản lý xã hội. Năm 1464 ông
dụ các quan: “Pháp luật là phép công của nhà nước, ta cùng các ngươi phải
tuân theo”. Về điểm này tư tưởng của ông đã vượt xa tưởng của Hàn Phi,
Phi cho ràng vua là người điều hành pháp luật, sống trên pháp luật, Lê
Thánh Tông cho rằng vua cũng phải tuân theo pháp luật.
Năm 1471 khi ban hành cải cách hành chính, ông có lời dụ: “để cho

lớn nhỏ cùng giàng buộc với nhau, kính trọng cùng kiềm chế nhau, uy
quyền không bị lợi dụng, thế nước vậy là khó lay. Thành thói quen theo
đạo giữ phép, không có lỗi trái nghĩa phạm hình”.
Năm 1474 Vua lại khẳng định “ Đặt luật là để trừ gian, sao dung
được bọn coi thường pháp luật”.
Trong 38 năm cầm quyền của Ông là 38 năm “Triệu dân vỗ yên,
trăm việc chấn chỉnh, văn háo rộmg ban, vũ công đại định” “mở mamg đất
đai” “sáng lập chế độ” như các sử gia phong kiến đã đánh giá trong Đại
Việt sử ký toàn thư. Lê Thánh tông đã ban hành 83 sắc chỉ, chỉ dụ liên quan
đến việc hành chính và thể chế quan chức, mười sắc chỉ về quy định khiếu
kiện, tám sắc chỉ liên quan đến quyền, nghĩa vụ của quan lại chông coi
pháp luật, 11 sắc chỉ về chống tham nhũng, buôn lậu, hối lộ và móc ngoặc.

24


Năm 1942 đúng vào dịp 500 năm sinh Lê Thánh Tông Bác Hồ viết cuốn
lịch sử nước ta đã ca ngợi Ông:
“Vua hiền có Lê Thánh Tông.
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành”
Đỉnh cao nhất là năm 1483, bộ Quốc triều hinh luật mà ta quen gọi
là bộ luật Hồng Đức được chính thức ban hành. Đây là bộ luật tổng hợp
nhiều loại luật (hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, tố tụng), nhưng hầu
hết các quy phạm trong bộ luật dù có thuộc lĩnh vực nào cũng được xây
dựng dưới dạng các quy phạm pháp luật hình sự và áp dụng chế tài hình sự.
Bộ luật này có giá trị điều chỉnh các quan hệ xã hội căn bản nhất, trụ cột
nhất tạo nên cơ sở chính trị -xã hội , kinh tế và văn hoá của chế độ nhà Lê
trong một thời gian dài suốt 3 thế kỷ sau đó. đôi với thời Lê Thánh Tông bộ
luật tạo ra sự ổn định trật tự xã hội, tăng cường lỷ cương phép nước, bảo
đảm an dân, tạo điều kiện cho sự phát triển đất nước.

III. KẾT LUẬN
Học tập nghiên cứu tác phẩm Hàn Phi chúng ta thấy có nhiều tác
nhân hợp lý có thể vận dụng trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hôm
nay. Trong nhiều tác phẩm của ông vẫn còn một số hạn chế do điều kiện
lịch sử lúc đó quy định. Đánh giá một cách khách quan những tác nhân hợp
lý đó, nó đã đóng góp to lớn cho tư tưởng nhiều loại. Tư tưởng "trọng thế"
nhắc chúng ta trong việc giành giữ, thực thi quyền lực chính trị, "trọng
thuật" nhắc chúng ta phải khôn khéo, linh hoạt, mềm dẻo trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, cũng như trong đối ngoại, đó là một chiến lược
cũng như sách lược trong ứng xử, trong quan hệ. "Trọng pháp" là mọi
người phải được sống trong mọi xã hội điều hành bằng pháp luật, đó là xã
hội văn minh là mục tiêu cao cả của con người, mọi người phải được sống
và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Pháp luật càng đầy đủ, rõ ràng thì
đất nước đó càng văn minh và người dân ở đó càng được tự do phát huy
những quyền cá nhân và lợi ích hợp pháp của mình. Hiện nay chúng ta

25


×