Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy
học, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm đã được đặt ra
một cách bức thiết. Bởi vì yêu cầu của việc dạy học hiện đại là tăng cường hoạt động
tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh. Việc đổi mới dạy học để có được hoạt động
học tập chủ động tích cực, sáng tạo ấy, người thầy lấy học sinh làm trung tâm trong
môn Ngữ văn sẽ đem lại hứng thú cho cả thầy lẫn trò. Học trò được bộc lộ bản thân,
được đánh giá ở nhiều phía, như vậy thầy sẽ hiểu được thực chất về trò để từ đó có
phương pháp thích hợp nhằm đem lại hiệu quả cao trong dạy học. Mặt khác, chính sự
đổi mới phương pháp đó sẽ tạo cho học sinh có nề nếp làm việc khoa học, rèn luyện
được sự mạnh dạn, tự tin; bồi dưỡng năng lực giao tiếp.
Vậy để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy
người thầy cần biết lựa chọn phương pháp dạy tối ưu nhất, phù hợp với phương pháp
đổi mới, phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học. Song để đi đến thành công
giáo dục đòi hỏi người giáo viên phải biết và không ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo,
đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư thích đáng vào công việc của mình.
Việc đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu quan trọng nhằm từng bước nâng cao
chất lượng giáo dục, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, đổi
mới phải phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Để đổi
mới phương pháp dạy học có hiệu quả, học sinh và giáo viên không thể chỉ bằng lòng
với những gì có sẵn trong sách giáo khoa hoặc tài liệu hướng dẫn giảng dạy. Việc tìm
tòi, nghiên cứu, sử dụng các tư liệu trong dạy học nói chung và Ngữ văn nói riêng là
điều vô cùng cần thiết.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn nói chung và phần Tiếng
Việt nói riêng qua hơn mười năm thực hiện đổi mới và thay sách giáo khoa, tôi luôn
trăn trở làm thế nào để giúp các em học sinh THCS đặc biệt là các em khối lớp 6 dễ
hiểu, dễ nắm bắt kiến thức về các biện pháp tu từ. Vấn đề mà chắc hẳn không chỉ
riêng tôi, mà rất nhiều đồng nghiệp khác cũng đang quan tâm. Nên tôi mạnh dạn đưa
đưa ra sáng kiến: Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng Việt
cấp THCS. Hy vọng rằng với những kinh nghiệm nhỏ bé rút ra từ thực tiễn của bản
thân tôi trong hơn mười năm giảng dạy sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả
dạy môn Ngữ văn nói chung và giảng dạy kiến thức về các biện pháp tu từ nói riêng.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
2.1. Đối với học sinh:
- Giúp học sinh THCS nắm được khái niệm về các biện pháp tu từ từ vựng
bằng cách hệ thống được vốn kiến thức về các biện pháp tu từ trong chương trình
THCS.
- Trên cơ sở nắm vững khái niệm các em sẽ biết phân biệt rõ ràng điểm giống
và khác nhau giữa các biện pháp tu từ và có phương pháp phân tích các biện pháp tu
từ một cách cụ thể.
2.2. Đối với giáo viên:
-1-
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
- Đây sẽ là cuốn tài liệu quan trọng để giúp học sinh dễ nắm bắt hơn kiến thức
về các biện pháp tu từ.
- Giáo viên có thể vận dụng khi soạn bài về các biện pháp tu từ khi lên lớp.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh trường khối lớp 6, 9 trường THCS Hùng Vương
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đưa ra cách tối ưu nhất giúp học sinh THCS
đặc biệt là học sinh khối lớp 6 nắm được kiến thức về các phép tu từ từ vựng.
- Đề tài thực nghiệm trên hai lớp khối lớp 6,9 năm học 2013-2014, 2014-2015
trường THCS Hùng Vương, xã Yang Réh, huyện Krông Bông tỉnh Đắk Lắk .
5. Phương pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ lí luận, áp dụng vào thực tiễn, từ thực tiễn rút ra bài học kinh
nghiệm, dựa vào mục tiêu giảng dạy đổi mới và thực tiễn dạy bộ môn Ngữ văn ở
Trường THCS Hùng Vương, huyện Krông Bông tỉnh Đắk Lắk, tôi đã vạch ra kế
hoạch thực hiện đề tài này. Khi thực hiện tôi dùng các Phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lí luận văn học
- Phương pháp điều tra sư phạm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
-2-
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Trong quá trình dạy học môn Ngữ văn đặc biệt là dạy phân môn Tiếng Việt
phần các biện pháp tu từ, tôi nhận thấy học sinh, đặc biệt là học sinh khối 6 hiểu khái
niệm còn chung chung chưa đi sâu tìm hiểu giá trị biểu đạt và vận dụng chưa linh
hoạt các phép tu từ này vào tìm hiểu và tạo lập văn bản, trong giao tiếp… Một số học
sinh còn lẫn lộn giữa các phép tu từ với nhau dẫn đến hiểu sai, vận dụng sai.
Để học sinh nhận biết, tìm hiểu đúng giá trị nghệ thuật và vận dụng có hiệu quả
các phép tu từ này đòi hỏi người giáo viện phải hướng học sinh một cách cụ thể, tỉ mỉ
gần gũi với tư duy, nhận thức của các em về cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ
thuật cách vận dụng các phép tu từ vào nói, viết. Nghĩa là gắn với những hiểu biết từ
thực tế cuộc sống và những hiểu biết cơ bản mà các em đã phân tích tìm hiểu ở phần
văn bản. Như vậy quá trình dạy học phân môn tiếng Việt sẽ thu hút được sự chú ý
của học sinh, học sinh sẽ nhận biết chắc hơn, hiểu sâu hơn về giá trị nghệ thuật của
mỗi phép tu từ, tránh nhầm lẫn giữa phép tu từ này với phép tu từ kia. Đồng thời cũng
một lần nữa củng cố thêm kiến thức về văn học, về cuộc sống và luyện cho học sinh
cách viết lời văn trau chuốt, có hình ảnh, hàm súc, có tính biểu cảm cao.
Trong chương trình Ngữ văn THCS phần Tiếng Việt có các bài học về biện
pháp tu từ, nội dung sáng kiến này tôi chỉ đề cập đến những bài sau:
Lớp 6: Bài 19, 21: So sánh
Bài 22: Nhân hóa
Bài 23: Ẩn dụ
Bài 24: Hoán dụ
Lớp 7: Bài 13: Điệp ngữ
Bài 14: Chơi chữ
Lớp 8: Bài 28, 29: Lựa chọn trật tự từ trong câu ( Đảo ngữ).
Lớp 9: SGK lớp 9 đề cập đến việc vận dụng lại các biện pháp tu từ đã học để
phân tích biện pháp tu từ qua các đoạn văn, đoạn thơ. Trong sáng kiến này tôi chỉ lựa
chọn những biện pháp tu từ có khả năng áp dụng rộng rãi để phân tích, từ đó giúp
người đọc hiểu được thấu đáo vấn đề. Biết vận dụng các biện pháp tu từ đó để phân
tích được đoạn thơ, bài thơ.
Trong quá trình giảng dạy vận dụng sáng kiến này, tôi thấy học sinh dễ tiếp thu
kiến thức hơn, có kỹ năng hơn khi nhận diện các biện pháp tu từ.
2. Thực trạng:
2.1. Thuận lợi – khó khăn:
- Thuận lợi: Đối tượng học sinh THCS Hùng Vương đa số các em đều ngoan,
có ý thức học tập tốt. Tài liệu tham khảo, dụng cụ học tương đối đầy đủ. Đặc biệt
hiện nay có mạng In- tơ-nét rất thuận lợi cho việc tìm và tham khảo tài liệu phục vụ
cho việc dạy và học.
- Khó khăn: Một số học sinh là đồng bào dân tộc thiểu số nên việc tiếp nhận
kiến thức văn học của các em còn hạn chế. Một số em kinh tế gia đình còn khó khăn
nên một buổi đi học một buổi về phụ giúp gia đình chưa có thời gian dành cho việc
học ở nhà, vì thế ảnh hưởng đến việc nắm bắt kiến thức.
2.2. Thành công và hạn chế:
-3-
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
- Thành công: Khi áp dụng đề tài này các em dễ nắm bắt kiến thức, tạo cho các
em hứng thú học tập, tiếp thu kiến thức về các biện pháp tu từ.
- Hạn chế: một số học sinh còn mơ hồ, chưa nhận diện chính xác các biện pháp
tu từ.
2.3. Mặt mạnh – mặt yếu:
- Mặt mạnh: đề tài đã đưa ra phương pháp để dạy, để các em nhận diện tiếp thu
các biện pháp tu từ trong phân môn tiếng Việt cấp THCS. Ngoài ra còn có thể áp
dụng tích hợp với phân môn Tập làm văn và khi học các tác phẩm Văn học .
- Mặt yếu: Việc tiếp thu kiến thức ở mỗi học sinh khác nhau nên kết quả học
tập có em đạt kết quả chưa cao.
3. Giải pháp , biện pháp:
3.1. Mục tiêu của giải pháp:
- Hệ thống hóa lại kiến thức về các biện pháp tu từ, chỉ ra cách phân biệt điểm
giống và khác nhau giữa các biện pháp tu từ. Đồng thời đưa ra phương pháp giúp học
sinh phân tích được các biện pháp tu từ trong một câu, một đoạn văn, đoạn thơ.
- Những kiến thức được trình bày trong sáng kiến này có nội dung cơ bản về
biện pháp tu từ về các bài từ lớp 6 đến lớp 9 đã nêu ở phần cơ sở lí luận và cả việc
hướng dẫn các bước cụ thể để phân tích biện pháp tu từ. Căn cứ vào hướng dẫn của
SGV và SGK, sáng kiến này còn có thể giúp giáo viên Ngữ văn đỡ mất thì giờ trong
việc tìm tài liệu soạn bài.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
Phương pháp dạy cụ thể:
1. So sánh:
1.1. So sánh: là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét
tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Ví dụ: Trẻ em như búp trên cành
Bao gồm: Vế A (Trẻ em) , từ so sánh ( như), vế B ( búp trên cành)
Giáo viên hỏi: Tại sao tác giả lại so sánh “Trẻ em” với “Búp trên cành”?
Trẻ em và búp trên cành cũng là các sự vật đang ở giai đoạn đầu tiên của quá
trình phát triển. Từ những đặc điểm về màu sắc, về trạng thái non tơ của “Búp trên
cành” đã giúp người đọc liên tưởng tới đặc điểm tươi trẻ, tràn trề sức sống của trẻ em.
Như vậy so sánh nghĩa là đem cái chưa biết, chưa rõ đối chiếu với cái đã biết
để qua cái đã biết mà nhận thức, hình dung được cái chưa biết. Khi dạy bài này, bước
đầu tiên giáo viên hướng dẫn học sinh phát hiện phép so sánh thông qua cấu trúc của
nó. Cấu trúc của phép so sánh bao giờ cũng có hai vế:
- Vế A là vế nêu tên sự vật, sự việc được so sánh.
- Vế B nêu tên sự vật , sự việc dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế a,
giữa hai vế thường có:
- Từ ngữ chỉ phương diện so sánh
- Từ ngữ so sánh hoặc có thể vắng từ ngữ chỉ phương diện so sánh, hoặc vắng
từ ngữ so sánh , hoặc cả hai.
Sau khi tìm hiểu giáo viên cho học sinh rút ra mô hình của phép so sánh rất đa
dạng để học sinh, đặc biệt là học sinh yếu, trung bình để nhận biết. Mỗi dạng giáo
viên lấy nhanh hoặc cho học sinh lấy nhanh một ví dụ để minh họa.
Ví dụ: Dạng đầy đủ của một phép so sánh:
-4-
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.
Rõ ràng trong ví dụ này có đầy đủ cấu tạo của phép so sánh, giáo viên cho học
sinh phát hiện các vế của một phép so sánh, phương diện so sánh, từ so sánh và điền
vào mô hình sau:
Vế A
(sự vật được so sánh)
Rừng đước
Phương diện
so sánh
dựng lên cao ngất
Từ ngữ
so sánh
như
(A)
(x)
(y)
Vế B
(dùng để so sánh)
hai dãy trường thành
vô tận
(B)
Từ mô hình trên cho ta thấy một phép so sánh đầy đủ. Nếu gọi vế A là A, vế B
là B, phương diện so sánh là x, từ ngữ so sánh là y, thì có thể diễn tả cách hiểu một
biện pháp so sánh như sau:
Ax = By
(nếu là so sánh ngang bằng)
Ax = Bx; Ax > Bx; Ax < Bx ( nếu là so sánh không ngang bằng)
Từ ngữ so sánh (yếu tố y) trong cấu tạo của so sánh là những từ xác định kiểu
so sánh: là, như, bằng, giống như, bao nhiêu … bấy nhiêu, v.v. (so sánh ngang bằng)
hay, chẳng bằng, không bằng, hơn, kém, v.v (so sánh không ngang bằng).
Như vậy dựa vào mục đích và các từ so sánh người ta chia phép so sánh thành hai
kiểu:
- So sánh ngang bằng: Phép so sánh ngang bằng thường được thể hiện bởi các
từ so sánh sau đây: là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu, bấy
nhiêu. Ví dụ ( ví dụ này tham khảo tài liệu Dạy học Tiếng Việt THCS của tác giả
Hoàng Xuân Tâm- Bùi Tất Tươm): Gió đông là chồng lúa chiêm.
Phải biết vụ lúa chiêm gieo cấy vào đầu mùa lạnh, gặt vào đầu mùa nóng mới
hiểu gió đông (phương đông chứ không phải mùa đông) vào mùa nóng quan hệ khắng
khít (x) với giai đoạn trưởng thành, sinh sôi và chín rộ của lúa chiêm. Từ đó mới hiểu
được hình ảnh so sánh là (y) chồng lúa chiêm (B) khi nói về gió đông (A).
Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác
nhau mà nhằm diễn tả một cách hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự
vật giúp người nghe, người đọc có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể sinh
động. Vì thế phép so sánh thường mang tính chất cường điệu
Ví dụ: Cao như núi, dài như sông (Tố Hữu)
- So sánh không ngang bằng (so sánh hơn kém): Trong so sánhkhông ngang
bằng từ so sánh được sử dụng là các từ : hơn, hơn là, kém, kém gì, chẳng bằng…
Ví dụ: Những ngôi sao thức ngoài kia
A: những ngôi sao thức
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
B: mẹ thức;
y: chẳng bằng: x : ?
Những ngôi sao thức ngoài kia chẳng vất vả bằng, chẳng có tình yêu như mẹ
đã thức vì chúng con.
Ngoài ra giáo viên còn chỉ cho các em muốn chuyển so sánh không ngang
bằng sang so sánh ngang bằng người ta thêm một trong các từ phủ định: Không,
chưa, chẳng... vào trong câu và ngược lại.
Ví dụ: Trò chơi dân gian quyến rũ tôi hơn những công thức toán học.
-5-
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Trò chơi dân gian quyến rũ tôi không hơn những công thức toán học.
Lưu ý: HS Khi phương diện so sánh (x) bị lược trong ngôn bản thì việc xác
định không phải lúc nào cũng dễ, nhất là khi từ so sánh là bị lược.
Ví dụ: Gió đông là chồng lúa chiêm.
Phải biết vụ lúa chiêm gieo cấy vào đầu mùa lạnh, gặt vào đầu mùa nóng mới
hiểu gió đông (phương đông chứ không phải mùa đông) vào mùa nóng quan hệ khắng
khít (x) với giai đoạn trưởng thành, sinh sôi và chín rộ của lúa chiêm. Từ đó mới hiểu
được hình ảnh so sánh là (y) chồng lúa chiêm (B) khi nói về gió đông (A).
Như vậy căn cứ vào vấn đề phân tích và dựa vào mô hình trên cũng có thể chia
ra các hình thức so sánh sau đây:
- Yếu tố y là từ như (tựa như, chừng như …)
Ví dụ:
Đôi ta làm bạn thong dong
Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng (Ca dao)
- Yếu tố y là từ hô ứng bao nhiêu … bấy nhiêu.
Ví dụ:
Qua đình ngã nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu (Ca dao)
- Yếu tố y là từ là.
Ví dụ:
Chúng chị là hòn đá tảng trên trời
Chúng em chuột nhắc cứ đòi lung lay (Ca dao)
Nếu thay là bằng như thì nội dung cơ bản không thay đổi, chỉ thay đổi về sắc
thái ý nghĩa từ sắc thái khẳng định chuyển sang giả định.
- Trong thơ ca nhờ cấu trúc cân đối và do sự cô đọng của ngôn ngữ thơ nên
nhiều khi yếu tố y cũng vắng mặt.
Ví dụ:
Người ngồi đó lớn mênh mông
Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng, nước non. (Tố Hữu)
Trước tiên cần xác định được đối tượng của so sánh:
- So sánh đồng loại:
+ So sánh người với người:
Ví dụ: Lúc ở nhà mẹ cũng là cô giáo
Khi tới trường cô giáo như mẹ hiền (Lời bài hát)
+ So sánh vật với vật:
Ví dụ: … trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường
thành vô tận. (Sông nước Cà Mau)
- So sánh khác loại:
+ So sánh vật với người:
Ví dụ:
Ngôi nhà như trẻ nhỏ
Lớn lên với trời xanh (Đồng Xuân Lan)
+ So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại:
Ví dụ:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra ( Ca dao)
-6-
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Trong bài học so sánh, SGK Ngữ văn 6 tập hai không phân biệt hai loại so
sánh: so sánh lôgic và so sánh tu từ. Định nghĩa và nội dung miêu tả trong bài là so
sánh tu từ, tức biện pháp tu từ so sánh.
Trong cấu tạo biện pháp so sánh, điều quan trọng nhất là phải hiện diện cả hai
vế: vế được so sánh và vế dùng để so sánh.
Phương diện so sánh là một mặt nào đó của đối tượng muốn miêu tả bằng so
sánh. Đó là nhận xét về hình thể, về một phẩm chất, về một hoạt động hay một trạng
thái của đối tượng. Những điều ấy hoàn toàn có thể diễn đạt bằng một vị từ (tính từ,
động từ), một ngữ vị từ hay bằng một cụm C-V.
Ví dụ ( ví dụ tham khảo tài liệu Dạy học Tiếng Việt THCS của tác giả Hoàng
Xuân Tâm- Bùi Tất Tươm):
Đứa bé như cái nấm.
= Đứa bé lùn.
Trăng như cái đĩa.
= Trăng tròn.
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
= Non xanh nước biếc đẹp.
Tay tre như những sợi tóc.
= Tay tre nhiều và rối.
Sông ngòi, kênh rạch như mạng nhện.
= Sông ngòi, kênh rạch bủa
giăng chi chít.
Dế Choắt như một gã nghiện.
= Dế Choắt người gầy gò và dài
lêu nghêu.
Giá trị của những ví dụ về so sánh trên là ở cách chọn các đối tượng dùng để so
sánh: cái nấm, cái đĩa, tranh họa đồ, những sợi tóc, mạng nhện, một gã nghiện. Các
đối tượng ấy đã gợi tả rất hiệu quả tính chất, hình thể của đối tượng được so sánh:
lùn, tròn, đẹp, nhiều và rối, bủa giăng chi chít, người gầy gò và dài lêu nghêu.
1.2. Tác dụng của so sánh
- So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể sinh động. Phần lớn các phép so sánh
đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người
hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả.
Ví dụ: Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. (Ca dao)
- So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc gợi trí tưởng tượng của ta bay bổng.
Vì thế trong thơ thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.
Ví dụ: Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh
Cách so sánh ở đây thật bất ngờ, thật gợi cảm. Yếu tố (3) bị lược bỏ. Người
đọc người nghe tha hồ mà tưởng tượng ra các mặt so sánh khác nhau làm cho hình
tượng so sánh được nhân lên nhiều lần.
1.3. Bài tập bổ sung: Sau khi cho học sinh nắm vững các kiến thức ta có thể
cho các em làm thêm các bài tập bổ sung để giúp các em nhận diện kiểm tra được
kiến thức của các em một cách chính xác hơn vì các bài tập trong SGK có thể các em
dựa vào sách giải mà không nắm kiến thức.
Bài 1. Phép so sánh sau đây có gì đặc biệt:
Mẹ già như chuối và hương
Như xôi nếp một, như đường mía lau.
(Ca dao)
* Gợi ý: Chú ý những chỗ đặc biệt sau đây:
- Từ ngữ chỉ phương diện so sánh bị lược bỏ
-7-
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Vế (B) là chuẩn so sánh không phải có một mà có ba: chuối và hương – xôi
nếp mật - đường mía lau là nhằm mục đích ca ngợi người mẹ về nhiều mặt, mặt nào
cũng có nhiều ưu điểm đáng quý.
Bài 2. Tìm và phân tích phép so sánh (theo mô hình của so sánh) trong các câu
thơ sau:
a) Ngoài thềm rơi chiếc la đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.
(Trần Đăng Khoa)
b) Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con chèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay.
(Đỗ Trung Quân)
Gợi ý: Chú ý đến các so sánh
a) Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
b) Quê hương là chùm khế ngọt
Quê hương là đường đi học
2. Nhân hóa:
2.1. Nhân hóa: là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, … bằng những từ ngữ
vốn được dùng để gọi hoặc tả con người.
Ví dụ: Cây dừa
Sải tay
Bơi
Ngọn mùng tơi
Nhảy múa
(Trần Đăng Khoa)
2.2. Tác dụng của phép nhân hoá
Phép nhân hoá làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh động, gợi cảm; làm
cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật, … trở nên gần gũi với con người, biểu thị được
những suy nghĩ, tình cảm của con người.
Ví dụ: Bác giun đào đất suốt ngày
Hôm qua chết dưới bóng cây sau nhà.
(Trần Đăng Khoa)
2.3. Các kiểu nhân hóa: Có các kiểu nhân hóa sau:
- Dùng từ ngữ vốn gọi người ( chú, chị, cô,…) để gọi sự vật:
Ví dụ: Chú gà trống nhà em thật đáng yêu.
Hoặc: Dế Choắt ra cửa, hé mắt nhìn chị Cốc. Rồi hỏi tôi :
- Chị Cốc béo xù đứng trước cửa nhà ta đấy hả ?
(Tô Hoài)
- Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính
chất của vật:
Ví dụ:
+ Dùng các động từ thuộc về hoạt động của con người để miêu tả sự tồn tại và
vận động của trời – núi – trăng – hoa:
Vì mây cho núi lên trời
-8-
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Vì chưng gió thổi hoa cười với trăng
+ Dùng các tính từ miêu tả, các động từ hành vi của người, khoác lên cho các
đối tượng không phải người:
Lúa đã chen vai đứng cả dậy – Trần Đăng
Hoặc: Súng vẫn thức. Vui mới giành một nửa,
Nên bâng khuâng sương biếc nhớ người đi (Tố Hữu)
- Trò chuyện, xưng hô với vật như đối với người:
Ví dụ:
+ Coi các đối tượng không phải là người mà như là người và tâm tình nói
chuyện với chúng.
… Buồn trông con nhện giăng tơ
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ? (Ca dao)
+ Trò chuyện với sự vật, hô-gọi sự vật như trò chuyện với con người, hô gọi
con người:
Núi cao chi lắm núi ơi?
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương. (Ca dao)
Tuy nhiên khi phân tích một biện pháp nhân hóa, học sinh thường lúng túng
khi xác định vế nhân hóa và vế được nhân hóa. Vế nhân hóa là vế tạo nên hiện tượng
nhân hóa, đó là các từ ngữ vốn được dùng để nói về (gọi, tả, kể, nhận định) con
người. Vế nhân hoá thường làm vị ngữ hay phụ ngữ miêu tả (định ngữ trang trí) cho
vế được nhân hóa.
Ví dụ:
Muôn nghìn cây mía múa gươm
Kiến hành quân đầy đường (Trần Đăng Khoa)
Vế nhân hóa là các từ ngữ: múa gươm, hành quân.
Vế được nhân hóa là: muôn nghìn cây mía và kiến.
Nhờ cách dùng múa gươm và hành quân (là các từ ngữ miêu tả hoạt động của
người) mà muôn nghìn cây mía và kiến được nhân hóa.
Do có chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm-cảm xúc cho nên nhân hóa
được sử dụng rộng rãi.
Trong sinh hoạt hàng ngày ta thường nghe nói: điếu cày kêu (sòng sọc), con
đường lượn vòng, cái bụng muốn đi (mà) cái chân không muốn bước…
Trong lời nói nghệ thuật ta thường gặp nhân hóa: gió khóc, gió rền rĩ, trăng
chiếu mơ màng, sông thì thầm mấy khúc hùng ca xưa cũ, khăn thương nhớ ai, đèn
thương nhớ ai…
Ngoài ra nhân hoá chỉ có thể được hiện thực hóa trong một ngữ cảnh nhất định:
Ví dụ:
Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù, tre xung phong vào xe
tăng, đại bác, tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hy sinh
để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!
(Thép Mới)
2.4. Bài tập bổ sung: Tương tự như ở biện pháp so sánh ta cho các em làm
những bài tập bổ sung để kiểm tra kiến thức.
-9-
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Bài 1. Tìm phép nhân hoá và nêu tác dụng của chúng trong những câu thơ sau:
Trong gió trong mưa
Ngọn đèn đứng gác
Cho thắng lợi, nối theo nhau
Đang hành quân đi lên phía trước
(Ngọn đèn đứng gác- Chính Hữu)
Gợi ý:
Chú ý cách dùng các từ vốn chỉ hoạt động của người như: Đứng gác, nối theo
nhau, hành quân, đi lên phía trước.
Bài 2: Xác định phép nhân hóa và cho biết nó thuộc kiểu nhân hóa nào?
Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất ?
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt trên vai
(Ca dao)
Em hỏi cây kơ nia
Gió mày thổi về đâu
Về phương mặt trời mọc...
(Bóng cây kơ nia)
Gợi ý: Trò chuyện tâm sự với vật như đối với người
3. Ẩn dụ:
3.1. Ẩn dụ: là gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác có
nét tương đồng với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Khi dạy bài này, giáo viên cần phân tích làm rõ mối quan hệ gữa ẩn dụ và so
sánh đã học ở tiết trước để học sinh dễ hình dung. Ẩn dụ thực chất là một kiểu so
sánh ngầm trong đó yếu tố so sánh giảm đi chỉ còn yếu tố làm chuẩn so sánh được
nêu lên. Muốn có phép ẩn dụ thì giữa hai sự vật hiện tượng được so sánh ngầm phải
có nét tương đồng quen thuộc nếu không sẽ trở nên khó hiểu.
Ẩn dụ là một loại so sánh ngầm, trong đó ẩn đi sự vật, sự việc được so sánh
(Vế A) , phương diện so sánh, từ so sánh chỉ còn sự vật, sự việc được dùng so sánh
(Vế B) Vậy muốn tìm được phép ẩn dụ và hiểu được cái hay, hàm súc của ẩn dụ thì
phải xuất phát từ từ ngữ ẩn dụ (Vế B) để tìm đến vế A (Sự vật, sự việc được so
sánh) . Thông thường học sinh chỉ tìm được phép ẩn dụ mà ít tìm được giá trị nghệ
thuật của nó, nếu tìm được cũng chỉ sơ sài, chung chung, nhiều khi còn sai lệch về
nội dung. Để khắc phục được điều đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh hiểu được
các phép ẩn dụ.
Ví dụ: Thuyền về có nhớ bến chăng ?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
Bến được lấy làm ẩn dụ để lâm thời biểu thị người có tấm lòng thuỷ chung chờ
đợi, bởi những hình ảnh cây đa, bến nước thường gắn với những gì không thay đổi là
đặc điểm quen thuộc ở những có người có tấm lòng thuỷ chung.
Ẩn dụ chính là một phép chuyển nghĩa lâm thời khác với phép chuyển nghĩa
thường xuyên trong từ vựng. Trong phép ẩn dụ, từ chỉ được chuyển nghĩa lâm thời
mà thôi.
Ví dụ:
- 10 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Giá đành trong nguyệt trên mây
Hoa sao hoa khéo đọa đày thân hoa.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Hoa (B) mang ý nghĩa ẩn dụ, chỉ người phụ nữ có nhan sắc (A).
3.2. Tác dụng của ẩn dụ
Ẩn dụ làm cho câu văn thêm giàu hình ảnh và mang tính hàm súc. Sức mạnh
của ẩn dụ chính là mặt biểu cảm. Cùng một đối tượng nhưng ta có nhiều cách thức
diễn đạt khác nhau. (thuyền – biển, mận - đào, thuyền – bến, biển – bờ) cho nên một
ẩn dụ có thể dùng cho nhiều đối tượng khác nhau. Ẩn dụ luôn biểu hiện những hàm ý
mà phải suy ra mới hiểu. Chính vì thế mà ẩn dụ làm cho câu văn giàu hình ảnh và
hàm súc, lôi cuốn người đọc người nghe.
Ví dụ: Trong câu : Người Cha mái tóc bạc.
Nếu thay Bác Hồ mái tóc bạc thì tính biểu cảm sẽ mất đi.
3.3. Các kiểu ẩn dụ: Vì ẩn dụ có ý nghĩa hàm súc nên có thể phân 4 kiểu,
dạng ẩn dụ thường gặp:
- Ẩn dụ hình thức được hình thành trên cơ sở nét tương đồng về hình thức giữa
các đối tượng. Con đường hình thành ẩn dụ hình thức có thể xuất phát từ nét tương
đồng giữa hình thức của sự vật, hiện tượng và con người
Ví dụ: Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Ở đây, tất nhiên không có ngọn lửa nào. Chữ lửa (B) trong văn cảnh dùng để
biểu thị màu đỏ của hoa lựu (A). Có thể chưa trông thấy hoa lựu bao giờ, chưa biết
hoa lựu màu đỏ, nhưng đọc câu thơ trên vẫn có thể suy ra như vậy, vì có thành ngữ
quen thuộc “đỏ như lửa”. Câu thơ gợi được một cảnh thật rực rỡ: đầu tường, màu đỏ
của hoa lựu tạo nên những bông hoa lửa lập lòe! Chính cách dùng ẩn dụ lửa lựu của
Nguyễn Du làm cho ta cảm nhận những bông hoa lửa từ màu đỏ của hoa lựu.
- Ẩn dụ cách thức được hình thành trên cơ sở nét tương đồng về cách thức hành
động giữa các đối tượng. Ẩn dụ cách thức đã đem lại cho người đọc bao cảm xúc sâu
xa.
Ví dụ: Về thăm nhà Bác làng sen,
Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng
(Nguyễn Đức Mậu)
Nhìn “hàng râm bụt” với những bông hoa đỏ rực tác giả tưởng như những
ngọn đèn “thắp lên lửa hồng”. Hành động thắp ở đây ý chỉ hoa nở.
- Ẩn dụ phẩm chất (dựa vào sự tương đồng về phẩm chất giữa các sự vật hiện
tượng). Hay nói cách khác: có thể được dùng theo lối chuyển nghĩa lấy tên gọi chung
thay tên riêng hoặc lấy tên riêng thay tên chung.
Ví dụ: Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm
( Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ)
Lấy hình tượng Người Cha để gọi tên Bác Hồ.
- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác (dựa vào sự tương đồng về cảm giác). Hay nói
cách khác là những ẩn dụ trong đó B là một cảm giác vốn thuộc một loại giác quan
- 11 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
dùng để chỉ những cảm giác A vốn thuộc các loại giác quan khác hoặc cảm xúc nội
tâm. Nói gọn là lấy cảm giác A để chỉ cảm giác B.
Ví dụ: Đoạn văn “…Chao ôi, trông con sông, vui sướng thấy nắng giòn tan.
Sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quảng…”
Giáo viên có thể hỏi HS: Trong cuộc sống, từ “giòn tan” thường dùng chỉ đặc
điểm cụ thể của những vật nào?
Giòn tan: Dùng chỉ đặc điểm của những vật cứng cụ thể khi bị gãy, vỡ như
bánh, gỗ, kính… Chứ không dùng để chỉ hiện tượng tự nhiên như “Nắng”.
Giáo viên lại hỏi tiếp: Theo em, Cụm từ: “ nắng giòn tan” có gì đặc biệt so với
cách nói thông thường?
- Đây là một ẩn dụ chuyển đổi cám giác của nhà văn Nguyễn Tuân (Từ vị giác,
thính giác sang thị giác).
Hoặc Ví dụ: bài tập 3 trang 70 Ngữ văn 6 tập hai cho chúng ta những ví dụ rất
tốt về ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.
Câu a) và câu b): Chảy là hoạt động của dòng chất lỏng (tiêu biểu là nước). Đối
với hiện tượng chảy, ta cảm nhận bằng các giác quan: thị giác, xúc giác, thính giác
(nếu dòng chảy gây tiếng động đủ nghe thấy). Trong các câu “Mùi hồi chín chảy qua
mặt”, “Ánh nắng chảy đầy vai”, mùi hồi và ánh nắng, qua ẩn dụ, được cảm nhận như
những dòng chất lỏng chảy mơn man trên da thịt. Mùi hồi được cảm giác chảy rất rõ
với động tác ngẩng mặt lên để dòng hương chảy qua và nhất là khi có một làn gió nhẹ
thổi qua cánh rừng hồi.
* Lưu ý: Khi dạy phép ẩn dụ, giáo viên cũng nhấn mạnh thêm: Ẩn dụ được
dùng nhiều trong lời ăn tiếng nói hàng ngày làm cho lời nói hội thoại mang đậm đà
màu sắc biểu cảm, cảm xúc. Ví dụ: Khi mẹ nựng con thường hay nói : cún con, cục
vàng…Hoặc sử dụng nhiều ẩn dụ chuyển đổi cảm giác như: Ví dụ: Giọng chua, nói
đau, màu nóng… Cho học sinh tìm thành ngữ ẩn dụ để khi cần các em biết vận dụng
vào trong giao tiếp hàng ngày, trong lập văn bản để tăng thêm giá trị hàm súc cho lời
nói. Ví dụ: Nuôi ong tay áo, gậy ông đập lưng ông, chuột sa chỉnh gạo, con nhà lính
tính nhà quan.
3.4. Bài tập bổ sung:
Bài 1: Phân tích nghệ thuật ẩn dụ trong câu thơ sau:
"Thân em vừa trắng lại vừa tròn" (Bánh trôi nước - Hồ Xuân Hương)
* Gợi ý:
- Nghĩa đen: Bánh trôi nước về màu sắc và hình dáng
- Nghĩa bóng : Hình ảnh về vẻ đẹp người phụ nữ có làn da trắng và thân hình
đầy đặn .
Khi phân tích ta làm như sau : Cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ thật
tài tình vì qua hình ảnh cái bánh nhà thơ đã gợi cho người đọc hình dung được một
hình ảnh khác thật sâu săc kín đáo đó là hình ảnh ... (nghĩa bóng). Từ đó gợi cảm xúc
cho người đọc về người phụ nữ xưa ...
Bài 2: Chỉ ra biện pháp tu từ và phân tích giá trị biểu cảm trong hai câu thơ
sau:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ (Viễn Phương - Viếng lăng Bác)
* Gợi ý:
- 12 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
- Phép tu từ ẩn dụ: Mượn hình ảnh mặt trời để chỉ Bác Hồ
- Cách sử dụng nghệ thuật ẩn dụ của nhà thơ thật tài tình vì qua hình ảnh “mặt
trời” là một vầng thái dương “nghĩa đen”, tác giả tạo ra một hình ảnh so sánh ngầm
sâu sắc, tế nhị làm cho người đoc suy nghĩ và hình dung ra được hình ảnh của Bác Hồ
(nghĩa bóng) một con người rực rỡ và ấm áp như mặt trời dẫn dắt dân tộc ta trên con
đường giành tự do và độc lập xây dựng tổ quốc công bằng dân chủ văn minh từ đó
tạo cho người đọc một tình cảm yêu mến khâm phục vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc
chúng ta.
4. Hoán dụ:
4.1. Hoán dụ: là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của một sự vật,
hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm tăng sức gợi hình, gợi
cảm cho sự diễn đạt. Ví dụ: Đầu bạc tiễn đầu xanh (Người già tiễn người trẻ: dựa vào
dấu hiệu bên ngoài).
Trong SGK chỉ ra bốn kiểu hoán dụ, tuy nhiên trong thực tế ta phải hiểu rằng
có hai kiểu hoán dụ lớn là hoán dụ từ vựng và hoán dụ tu từ (trong đó hoán dụ tu từ
được phân ra thành nhiều loại nhỏ), các kiểu hoán dụ trong SGK là hoán dụ tu từ.
Trong quá trình dạy giáo viên có thể chú ý thêm cho học sinh về điều này hoặc
có thể nắm kĩ hơn để khỏi nhầm lẫn.
Hoán dụ từ vựng: là trường hợp đơn giản nhất của hoán dụ, trong đó tên gọi
của một khách thể thường là tên riêng, được chuyển sang chỉ một khách thể khác.
Hoán dụ tu từ thường được cấu tạo dựa vào những mối liên hệ lôgic khách
quan.
4.2. Các kiểu hoán dụ: Có bốn kiểu hoán dụ thường gặp:
- Lấy một bộ phận để gọi toàn thể:
Ví dụ: Liên hệ giữa công cụ lao động và bản thân sức lao động hoặc kết quả
của lao động:
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
(Hoàng Trung Thông)
Bàn tay ( công cụ kì diệu của lao động) làm liên tưởng đến sức sáng tạo phi
thường của sức lao động.
Hoặc:
Đầu xanh đã tội tình gì?
Má hồng đến quá nữa thì chưa thôi
(Nguyễn Du)
Đầu xanh (bộ phận cơ thể) biểu thị con người ở độ tuổi trẻ trung, mới bước vào
đời (toàn thể). Má hồng (bộ phận cơ thể) biểu thị người đàn bà sống kiếp lầu xanh
(toàn thể)
- Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng:
Ví dụ: Áo nâu liền với áo xanh
Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.
(Tố Hữu)
Hai câu thơ này nhà thơ Tố Hữu viết về người lao động của nước ta thời kì
Cách mạng tháng 8. Thời ấy, y phục đặc trưng của người nông dân là áo nâu, của
người công nhân là áo xanh.
Khi phân tích ví dụ giáo viên có thể hỏi: Các từ in đậm trong câu thơ chỉ ai ?
- 13 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Dùng áo nâu để chỉ người nông dân, áo xanh chỉ người công nhân, nông thôn
chỉ những người sống ở nông thôn , thị thành chỉ những người sống ở thành thị.
Giáo viên hỏi tiếp: Giữa áo nâu, áo xanh, nông thôn, thị thành với sự vật được
chỉ có mối quan hệ như thề nào ?
Dùng dấu hiệu, vật chứa đựng của sự vật để gọi sự vật.
Hoặc: Vì sao trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh
(Tố Hữu)
Trái đất (vật chứa đựng) biểu thị đông đảo nhân dân (vật được chứa đựng).
Liên hệ giữa vật chứa đựng và vật bị chứa đựng. Trong đời sống hằng ngày ta
sử dụng rất nhiều như: cả hội trường đứng dậy vỗ tay, cả làng đổ ra xem …
- Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:
Ví dụ: Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Một, Ba chỉ số lượng cụ thể nhưng trong trường hợp này được dùng thay cho
số ít và số nhiều.
Hoặc: Kháng chiến ba ngày đêm không nghỉ
Bắp chân đầu gối vẫn săn gân
(Tố Hữu)
Bắp chân đầu gối vẫn săn gân (cụ thể) biểu thị tinh thần kháng chiến dẻo dai.
Mục đích chủ yếu của hoán dụ là nhấn mạnh vào một dấu hiệu, một thuộc tính
nào đó của đối tượng được nói đến (dấu hiệu hoặc thuộc tính được dùng làm cái đại
diện, cái thay thế cho đối tượng). Còn chức năng chủ yếu của hoán dụ là nhận thức và
biểu cảm – cảm xúc. Nó khắc sâu đặc điểm tiêu biểu cho đối tượng được miêu tả. Nó
được dùng rộng rãi trong lời nói nghệ thuật và trong nhiều phong cách.
- Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật:
Ngày Huế đổ máu
Chú Hà nội về
Tình cờ chú cháu
Gặp nhau Hàng Bè.
( Tố Hữu)
Đổ máu là dấu hiệu của chiến tranh". Có thể hiểu Ngày Huế đổ máu là ngày
Huế nổ ra chiến sự.
Hoặc: Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...
Áo chàm ( y phục) ở đây dùng để chỉ người Việt Bắc.
4.3. Bài tập bổ sung: Tìm và phân tích các hoán dụ trong các ví dụ sau:
- Chồng ta áo rách ta thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
(Ca dao)
- Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá... (Chế Lan Viên)
- “ áo rách” là hoán dụ lấy quần áo (áo rách) để thay cho con người (người
nghèo khổ). Còn“áo gấm” cũng là hoán dụ lấy quần áo (áo gấm) để thay cho con
người( người giàu sang, quyền quí).
- 14 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
- “Viên gạch hồng” là hoán dụ lấy đồ vật (viên gạch hồng) để biểu trưng cho
nghị lực thép, ý chí thép của con người. (Bác Hồ vĩ đại). Còn “ Băng giá” là hoán dụ
lấy hiện tượng tiêu biểu (cái lạnh ở Pa-ri) để gọi thay cho mùa (mùa đông).
* Lưu ý: Khi dạy các biện pháp tu từ ở lớp 6, tôi thấy các em đa số còn chưa
phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa các biện pháp tu từ. Sau đây là một số kỹ
năng giúp các em phân biệt các biện pháp tu từ này:
So sánh và ẩn dụ: Cả hai đều dựa vào sự giống nhau giữa hai đối tượng
nhưng:
- Một đằng thì đặt cả hai đối tượng ra để đối chiếu (so sánh)
- Một đằng thì dùng ngay tên cái đối tượng dùng để so sánh kia mà gọi tên đối
tượng được so sánh, tên thật của đối tượng được so sánh thì ẩn đi (ẩn dụ).
Ví dụ:
So sánh
Ẩn dụ
Cô giáo như mẹ hiền
Mẹ hiền ở trường của tôi [...]
Tay tre như những sợi tóc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre.
( Tế Hanh)
Hoa lựu màu đỏ như lửa
Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông
(Nguyễn Du)
Ẩn dụ và Hoán dụ: Giữa ẩn dụ và Hoán dụ có điểm chung căn bản là chuyển
đổi tên gọi: gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên gọi sự vật hiện tượng khác.
Điểm khác biệt giữa hai phương thức là: sự chuyển đổi tên gọi ấy:
- Trong ẩn dụ thì dựa trên cơ sở hai đối tượng giống nhau ở một phương diện
nào đó. Ví dụ: Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông. (Nguyễn Du) Chữ lửa trong văn
cảnh dùng để biểu thị màu đỏ của hoa lựu.
- Còn trong hoán dụ thì dựa trên cơ sở hai đối tượng gần nhau.
Ví dụ: Áo nâu liền với áo xanh
Nông thôn cùng với thị thành đứng lên.
(Tố Hữu)
Hoặc: Đầu bạc tiễn đầu xanh (Người già tiễn người trẻ: dựa vào dấu hiệu bên
ngoài).
Tác dụng của ẩn dụ và hoán dụ đều là nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho nội
dung diễn đạt. Tuy vậy, trong các biện pháp nghệ thuật này, đối tượng là chủ thể của
sự tình được diễn đạt lại vắng mặt và được thay thế nên sự tiếp thu cũng đòi hỏi một
ý thức, một sự gia công nhất định.
5. Điệp ngữ:
5.1. Điệp ngữ là khi nói hoặc viết, người ta có thể dùng biện pháp lặp lại từ
ngữ (hoặc cả một câu) để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh. Cách lặp lại như vậy gọi
là phép điệp ngữ; từ ngữ được lặp lại gọi là điệp ngữ.
* Lưu ý: Chúng ta cần phân biệt giữa điệp ngữ và lỗi lặp từ:
- Lặp do kém năng lực tổ chức câu: lỗi diễn đạt.
- Lặp do có dụng ý tăng hiệu quả biểu đạt của câu: tu từ cú pháp.
- Lặp do bệnh lí của cơ quan phát âm: nói lắp.
- Điệp ngữ vừa để nhấn mạnh ý vừa tạo cho câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn
thơ giàu âm điệu, giọng văn trở nên tha thiết, nhịp nhàng hoặc hào hùng mạnh mẽ.
Ví dụ:
- 15 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Trời xanh đây là của chúng ta
Núi rừng đây là của chúng ta
Những cánh đồng thơm ngát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Hoặc:
Ta muốn ôm cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say với cánh bướm tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều.
Tác dụng: Điệp từ "Ta" được lập lại 4 lần nhấn mạnh khát vọng cháy bỏng
muốn mở lòng mình và để ôm trọn, tận hưởng cuộc sống này.
5.2. Các loại điệp ngữ:
+ Điệp ngữ cách quãng.
+ Điệp ngữ nối tiếp.
+ Điệp ngữ chuyển tiếp (điệp ngữ vòng)
Ta có thể căn cứ vào vị trí của các yếu tố lặp, có thể phân biệt:
- Điệp ngữ cách quãng là dạng điệp ngữ trong đó những từ ngữ được lặp lại
đứng cách xa nhau nhằm gây một ấn tượng nổi bật và có nhạc tính rất cao.
Ví dụ: Anh đã tìm em rất lâu, rất lâu
Cô gái ở Thạch Kim, Thạch Nhọn
Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm
Sách giấy mở tung trắng cả rừng chiều.
Đôi khi có những kiểu cách quãng chỉ một lần xuất hiện ở câu đầu văn bản và
lần lặp lại ở câu cuối văn bản. Điệp cách quãng kiểu này là phương tiện để thực hiện
kiểu cấu trúc văn bản có tên gọi là đầu cuối tương ứng.
Ví dụ:
Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi!
Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Chôn chặt văn chương ba thước đất,
Tung hô hồ thỉ bốn phương trời
.....................................................
Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi!
(Hồ Xuân Hương)
- Điệp ngữ tiếp nối tiếp: là dạng điệp ngữ trong đó những từ ngữ được lặp lại
trực tiếp đứng bên nhau nhằm tạo nên ấn tượng mới mẻ, có tính chất tăng tiến.
Ví dụ:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công
(Hồ Chí Minh)
- Điệp ngữ chuyển tiếp (điệp ngữ vòng) là một dạng điệp ngữ có tác dụng tu từ
lớn. Chữ cuối câu trước được láy lại thành chữ đầu câu sau và cứ thế, làm cho câu
văn, câu thơ liền nhau như đợt sóng. Người ta thường dùng nó trong thơ trữ tình để
diễn tả một cảm giác triền miên.
Ví dụ:
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
- 16 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai.
(Đoàn Thị Điểm)
Với tư cách là một phương tiện tu từ cú pháp, điệp ngữ được sử dụng rộng rãi
trong tất cả các phạm vi của lời nói: hành chính-công vụ, khoa học, chính luận, sinh
hoạt hằng ngày và văn nghệ thuật.
6. Chơi chữ:
6.1. Chơi chữ: là cách lợi dụng đặc sắc về âm, nghĩa nhằm tạo sắc thái dí dỏm
hài hước.
Ví dụ: Mênh mông muôn mẫu màu mưa
Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ
6.2. Một số kiểu chơi chữ thường gặp:
- Dùng từ đồng âm:
Ví dụ: Bà già đi chợ Cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói xem quẻ nói rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn!
Hoặc:
Hỡi cô cắt cỏ bên sông
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây (Ca dao)
Từ tên một loại nhãn nổi tiếng ngon, ngọt, mát bổ (nhãn lồng) thế mà chàng
trai lém lỉnh nọ đã khéo léo vận dụng để trêu chọc cô bạn gái rằng hãy chạy tế sang
đây (lồng sang sông!) anh mới cho ăn nhãn... Ca dao xưa thật hóm hỉnh.
- Dùng từ gần nghĩa, đồng nghĩa để chơi chữ...
Nửa đêm, giờ tí, canh ba
Vợ tôi, con gái, đàn bà, nữ nhi
- Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa: Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non.
- Dùng lối nói lái: Mang theo một cái phong bì
Trong đựng cái gì, đựng cái đầu tiên.
Hay: Con gái là cái bòn...
Các lối chơi chữ: Văn thơ trào phúng, ca dao, chèo cổ (vai hề) thường sử dụng
nhiều lối chơi chữ rất độc đáo.
7. Lựa chọn trật tự từ trong câu ( đảo ngữ):
7.1. Lựa chọn trật tự từ trong câu ( đảo ngữ) Là biện pháp thay đổi trật tự cú
pháp thông thường của câu văn.
Ví dụ: Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Tác dụng: nghệ thuật đảo ngữ đưa danh từ "củi" lên đầu câu đứng trước số từ
"một" để nhấn mạnh sự lẻ loi, trơ trọi của sự vật.
7.2. Lưu ý ( tác dụng): Trong một câu có thể có nhiều cách sắp xếp trật tự từ,
mỗi cách đem lại hiệu quả diễn đạt riêng. Người nói (người viết) cần biết lựa chọn
trật tự từ thích hợp với yêu cầu giao tiếp.
Việc lựa chọn trật tự từ ngữ trong câu, trước hết là do yêu cầu cú pháp. Chỉ khi
tổ chức để trật tự từ thể hiện thứ tự nhất định của sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc
- 17 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
điểm như thứ bậc quan trọng của sự vật, thứ tự trước sau của hoạt động, trình tự quan
sát của người nói.
Ví dụ: Trong đoạn văn (Trích Tinh thần yêu nước của nhân dân ta) của Hồ Chí
Minh, có đoạn “…những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng
Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, …”. Tên các vị anh hùng dân tộc kể trên phải sắp xếp
như vậy, không thể khác được vì phải theo trật tự thời gian lịch sử. Nhưng nếu ở một
đoạn văn khác, người viết kể ngược dòng lịch sử, thì trật tự lại phải ngược lại.
Đôi khi cách lựa chọn trật tự từ ngữ trong câu còn nhằm mục đích liên kết câu
với những câu khác trong văn bản.
Ví dụ: Trong vở “Trưởng giả học làm sang”, nhân vật ông Giuốc-đanh đã rất
mãn nguyện khi được thầy triết học dạy rằng câu ông ta dự định tán tỉnh người đàn bà
quý tộc có nhiều cách nói nhưng cách hay nhất và hợp lí và có tính liên kết nhất vẫn
là cách ông ta đã nói ban đầu: “ (1) Thưa hầu tước phu nhân xinh đẹp, (2) đôi mắt đẹp
của nàng (3) làm tôi chết mệt vì tình!”. Moliere đã giễu ông Giốc- đanh bằng việc
thay đổi đủ kiểu trật tự từ ngữ trong câu: (2) Đôi mắt đẹp của nàng, (1) thưa hầu tước
phu nhân xinh đẹp, (3) làm tôi chết mệt vì tình; (3) Làm tôi chết mệt vì tình, (1) thưa
hầu tước phu nhân xinh đẹp, (2) đôi mắt đẹp của nàng …
Vị trí đầu câu là vị trí tối ưu dành cho sự nêu đề tài (khởi ngữ), nêu tình huống
(trạng ngữ), nêu chủ thể (chủ ngữ của câu). Khi các thành phần khác được đảo lên
đầu câu thì người ta cảm thấy ngay một sự nhấn mạnh hình ảnh, đặc điểm của sự vật
hiện tượng.
Ví dụ:
Những cuộc vui ấy, chị còn nhớ rành rành (Ngô Tất Tố)
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều (Tố Hữu); (vị ngữ - chủ ngữ)
Nếu đã xác định là có biện pháp tu từ đảo trật tự thành phần câu thì việc xếp lại
trật tự bình thường vẫn phải giữ nguyên được ý nghĩa miêu tả của câu (chỉ mất đi
những ý nghĩa bổ sung do tu từ mà có). Nhưng nếu có ai đảo lộn trật tự bình thường
của các thành phần câu làm cho câu diễn đạt kém hẳn đi, thì việc xếp lại các thành
phần như bình thường sẽ là thao tác có giá trị tu từ.
Ví dụ: Lom khom dưới núi tiều vài chú
Vài chú tiều lom khom dưới núi.
Câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan có thể được phân tích là có đảo vị ngữ lên
đầu câu để khắc sâu ấn tượng về hình ảnh lom khom (do đang vác hay gánh củi trên
lưng) của mấy người đi kiếm củi. Nhưng câu thơ sau của Nguyễn Khuyến thì không
thể phân tích như thế được:
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái ( Mấy chùm hoa năm ngoái trước giậu)
Một tiếng trên không ngỗng nước nào (Một tiếng ngỗng nước nào trên không).
Câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan thì coi như là có “đảo ngữ” được, còn câu
thơ của Nguyễn Khuyến thì không.
Trật tự từ ngữ trong câu là sự tổ chức từ ngữ sao cho câu không những đúng
ngữ pháp mà còn có nhạc tính phù hợp, đảm bảo sự hài hòa về ngữ âm của lời nói.
Có nhạc tính phù hợp nghĩa là khi thì phải êm ái, nhịp nhàng, khi thì phải trúc trắc
gập ghềnh tùy theo nội dung ý nghĩa của câu. Như vậy gọi là hài thanh.
Ví dụ bài " Cây tre Việt Nam" của Thép Mới.
- 18 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
8. Trong SGK Ngữ văn 9 đề cập đến việc vận dụng các biện pháp tu từ từ
vựng để phân tích những câu văn, câu thơ:
Việc vận dụng các biện pháp tu từ để phân tích một đoạn thơ hoặc một văn bản
nào đó tương đối khó. Nhưng nếu nắm vững được các biện pháp nghệ thuật trên thì
việc vận dụng để phân tích các đoạn thơ bài thơ là một bước khá dễ dàng. Tuy nhiên
trong quá trình vận dụng vào phân tích đoạn thơ, bài thơ yêu cầu học sinh phải đọc kĩ
đoạn thơ, bài thơ đó, xác định đúng biện pháp tu từ, nhận thấy được giá trị, ý nghĩa,
hiệu quả, dụng ý diễn đạt thông qua phép tu từ mà tác giả sử dụng ở trong đoạn thơ,
bài thơ đó.
Dạng bài tìm, phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong thơ văn vốn rất quen
thuộc, thường được sử dụng trong kiểm tra, thi cử. Để làm tốt dạng bài này, học sinh
cần nhớ và vận dụng các bước như sau:
Bước 1:
+ Đọc kĩ đề, gạch chân các từ ngữ quan trọng để xác định rõ yêu cầu của đề
bài.
+ Tìm nội dung chính của câu, đoạn văn thơ chứa phép tu từ.
Bước 2:
+ Tìm những phép tu từ được sử dụng trong câu, đoạn thơ văn.
+ Xác định từ ngữ có phép tu từ đó.
( Ví dụ: ẩn dụ được thể hiện ở từ, cụm từ nào? Nhân hoá thể hiện ở từ ngữ nào?)
Bước 3:
+ Chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của
đoạn văn, thơ.
+ Trong đó, phân tích kĩ biện pháp nào là hay, đặc sắc nhất, gợi nhiều ấn
tượng, cảm xúc cho người đọc.
Vận dụng vốn sống, vốn cảm thụ của bản thân về Ngữ văn liên quan đến nội
dung văn bản và kiến thức về biện pháp tu từ để phân tích, trình bày những suy nghĩ,
liên tưởng cảm nhận của riêng mình về giá trị biểu đạt, biểu cảm....của biện pháp tu
từ, hiệu quả việc sử dụng các phép tu từ của tác giả để diễn đạt thành công một nội
dung cụ thể nào đó trong văn bản.
Bước 4: Viết đoạn văn, hoặc bài văn ngắn phân tích tác dụng của biện pháp tu
từ. Hình thức: Trình bày thành một đoạn văn hay bài văn tùy theo yêu cầu của đề.
Nếu viết đoạn văn: Đoạn văn có thể được triển khai theo một trong các cách
mà các em đã học: diễn dịch, qui nạp, tổng- phân - hợp...
Nếu viết bài văn ngắn: Bài văn ngắn có bố cục ba phần: Mở bài, thân bài, kết
bài.
Ví dụ: Phân tích tác dụng của các phép tu từ được sử dụng trong đoạn thơ sau:
"Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ:
“ Cục…cục tác cục ta”
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ”
( Tiếng gà trưa – Xuân Quỳnh)
- 19 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Bước 1:
Đọc, xác định nội dung chính của đoạn thơ: Tâm trạng của người chiến sĩ khi
nghe âm thanh tiếng gà trên đường hành quân.
Bước 2: Xác định phép tu từ:
- Điệp ngữ: “Nghe”
- Liệt kê: “Nghe xao động nắng trưa, Nghe bàn chân đỡ mỏi, Nghe gọi về tuổi
thơ”.
- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: “Nghe xao động nắng trưa, Nghe bàn chân đỡ
mỏi, Nghe gọi về tuổi thơ”
Bước 3: Phân tích tác dụng:
- Điệp ngữ cách quãng: “ nghe” lặp lại 3 lần ở đầu câu thơ liên tiếp thể hiện nỗi
xúc động từng đợt trào dâng trong lòng người chiến sĩ khi nghe âm thanh quen thuộc
của quê hương.
- Liệt kê + ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Nghe...Người chiến sĩ không chỉ nghe
âm thanh tiếng gà bằng thính giác mà còn lắng nghe cảm nhận bằng thị giác, bằng
cảm giác, cảm xúc của tâm hồn, bằng hồi ức. Tiếng gà đánh thức những kỉ niệm tuổi
thơ với bà, gia đình, quê hương. Tiếng gà như sợi dây vô hình nối liền quá khứ với
hiện tại.
- Đoạn thơ ngắn nhưng khắc họa được tâm hồn nhạy cảm cùng tình cảm làng
quê thắm thiết sâu nặng, tình yêu quê hương đất nước của người lính.
Bước 4: Căn cứ vào các ý đã tìm HS viết thành đoạn văn, hay bài văn.
Thông thường khi vận dụng một số biện pháp tu từ để phân tích đoạn thơ, bài
thơ học sinh có thể vận dụng phương pháp trình bày sau để viết:
- Mở đoạn (hoặc mở bài): giới thiệu văn bản và biện pháp tu từ được sử dụng
trong đoạn thơ, bài thơ đó.
- Phát triển đoạn( hoặc thân bài): phân tích giá trị tu từ:
+ Chỉ ra tên của phép tu từ đó (có thể gồm nhiều phép được sử dụng trong đó)
+ Tìm ra những từ ngữ thể hiện phép tu từ đó; cấu trúc, cấu tạo của phép tu từ
(kiểu, cách, công thức, ý nghĩa biểu thị, mối liên hệ cụ thể của nó).
+ Nêu tác dụng, hiệu quả của việc sử dụng phép tu từ trong văn bản đó: nêu
những giá trị biểu cảm mà phép tu từ mang lại thể hiện trong văn bản. Vận dụng vốn
sống, cảm thụ của bản thân về Ngữ - văn liên quan đến nội dung văn bản và kiến thức
về biện pháp tu từ để phân tích, trình bày những suy nghĩ liên tưởng cảm nhận của
riêng mình về giá trị biểu cảm, hiệu quả việc sử dụng của phép tu từ của tác giả làm
nên sự thành công về mặt nghệ thuật nhằm diễn đạt thành công về một nội dung nào
đó cụ thể trong văn bản.
Cần bám sát những nội dung kiến thức về lí thuyết, về các biện pháp tu từ mà
bài học đã cung cấp. Thường là ở phần ghi nhớ. Đồng thời căn cứ vào thực tế cụ thể
nội dung biện pháp tu từ trong văn bản đang xem xét.
- Kết đoạn(hoặc kết bài): khẳng định lại giá trị tu từ trong văn bản. Nếu được
thì có thể so sánh, liên tưởng thêm với những trường hợp tương tự khác để thấy được
nét riêng độc đáo, sáng tạo của tác giả trong văn bản đó thì càng tốt.
Tham khảo một số bài phân tích sau:
Bài 1: Phân tích nét nghệ thuật ẩn dụ độc đáo trong câu thơ sau:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
- 20 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.
(Nguyễn Khoa Điềm)
Bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của nhà thơ Nguyễn
Khoa Điềm có câu thơ ẩn chứa một hình ảnh ẩn dụ thật độc đáo.
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.
“Mặt trời” trong câu thơ thứ nhất là mặt trời của cõi tự nhiên vĩnh hằng đem
ánh sáng nuôi sống muôn loài trên trái đất. Còn "Mặt trời" trong câu thơ thứ hai chính
là em bé trên lưng mẹ. Em bé là mặt trời của mẹ cũng giống như mặt trời của cõi tự
nhiên vĩnh hằng vô cùng cần thiết đối với muôn loài vậy. Đó là một ẩn dụ độc đáo. Ở
đây, Cu Tai, đứa con tuy còn nhỏ đang nằm trên lưng mẹ như là linh hồn của người
mẹ Tà Ôi. Đứa con là nguồn sống, là nguồn động viên lớn lao đối với người mẹ, là
ánh sáng của đời mẹ, đem lại cho người mẹ tất cả bao hy vọng ước mơ và sức mạnh
vượt gian nan, cực nhọc nguy hiểm, làm cho người mẹ có một nghị lực phi thường
tìm đến với cách mạng, phát rẫy, trỉa bắp, nuôi con, nuôi bộ đội, phục vụ kháng
chiến…. Nguyễn Khoa Điềm đã dùng hình ảnh mặt trời để so sánh ngầm, coi đứa con
là mặt trời trong tâm hồn của người mẹ.
Đây cũng là một ẩn dụ độc đáo mới lạ đã thể hiện được tình cảm, sự gắn bó
không rời giữa hai mẹ con, là tấm lòng của người mẹ, là tình mẹ đối với con, là niềm
hạnh phúc của người mẹ được sống vì con…chính nghệ thuật này góp phần tạo nên
giá trị của bài thơ.
Bài 2: Phân tích biện pháp tu từ từ vựng qua khổ thơ sau:
“Lũ chúng ta ngủ trên giường chiếu hẹp
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con
Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp
Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn”
(Người đi tìm hình cuả nước – Chế Lan Viên)
Khát khao được sống trong cuộc sống hòa bình đã trở thành tâm niệm của
những người sống trong thời chiến. Nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã thể hiện cái khát
vọng ấy qua tác phẩm “Người đi tìm hình của nước” với lời thơ tha thiết, sâu lắng và
cả những biện pháp nghệ thuật độc đáo. Có thể nói, Chế Lan Viên sử dụng khá thành
công nghệ thuật tu từ từ vựng như nghệ thuật ẩn dụ, tượng trưng, điệp từ “còn”,
“một” và tính đa thanh trong giọng điệu (thể hiện ở các từ ngữ “ngủ”, “đè nát”,
“đựng”, “yên rủ”) tất cả đã góp phần tạo nên giá trị cho đoạn thơ.
Mở đầu đoạn thơ Chế Lan Viên viết: “Lũ chúng ta ngủ trên giường chiếu hẹp”
“Lũ chúng ta” là lớp thi sĩ tiền chiến (nhà thơ, trí thức …), “Lũ chúng ta” được nhắc
đến nhiều trong thơ ca, nhân vật trữ tình xuất hiện nhằm diễn đạt một tâm sự, nỗi
niềm chân thành, sâu kín, cũng là lối nói tâm tình cuả tác giả mang hiệu quả nghệ
thuật tạo nên giọng điệu đa thanh cho chất thơ. Biện pháp ẩn dụ “giường chiếu hẹp”
chỉ cuộc sống chật chội, tầm thường. Một cuộc sống hạn hẹp của nhân dân Việt trước
cách mạng tháng Tám hiện lên chân thật qua ngòi bút tài hoa của Chế Lan Viên.
Cùng với việc sử dụng hàm nghĩa một cách sâu sắc: “ngủ” chỉ sự đắm chìm trong u
mê.
Tiếp theo nguồn cảm xúc, tác giả tái hiện lại giấc mơ của nhân dân về cuộc
sống hạnh phúc, tốt đẹp hơn.
- 21 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
“Giấc mơ con đè nát cuộc đời con
Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp”
Lại một lần nữa biện pháp nghệ thuật ẩn dụ được sử dụng khá độc đáo, chính
nghệ thuật ẩn dụ này đã làm cho khổ thơ trở nên đặc sắc hơn. “Giấc mơ con” là cuộc
sống nhỏ nhoi, “cuộc đời con” là cuộc đời nhạt nhẽo, tầm thường đến nỗi đáng buồn.
“Tà áo đẹp” chính là ước mơ về cuộc sống vật chất tốt đẹp hơn. Từ đa thanh “đè nát”
– sự quằn quại, đau thương. “đựng” – châm biếm lối sống tầm thường, giả dối, hạn
hẹp trong phạm vi nhỏ. Họ sống trong cuộc sống thiếu thốn, nhạt nhẽo, vô vị, chỉ có
ước mơ nhỏ nhoi về cuộc sống đầy đủ vật chất. Chính caí “giấc mơ con” kia đã đè nát
“cuộc đời con” làm họ phải quằn quại, vật vã trong đau thương. Hạnh phúc quá mong
manh được đựng trong “một tà áo đẹp” thế nhưng chính chiến tranh loạn lạc đã cướp
đi hạnh phúc ấy. Điều mà họ muốn chỉ là một cuộc sống tương đối đầy đủ về vật chất
nhưng nó lại đựng trong một hạnh phúc ảo tưởng, đây như lời châm biếm, chế giễu
lối sống tầm thường. Và cuối cùng họ đồng ý chấp nhận một cuộc sống an phận.
“Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn”
Lại một lần nữa biện pháp nghệ thuật ẩn dụ được sử dụng và khai thác triệt để.
“Một mái nhà yên” chính là lối sống yên phận, “rủ” – an phận thủ thường. Thật hiếm
khi “đội quân” ẩn dụ được huy động “đông đảo” đến vậy. Bốn câu thơ là bốn phép ẩn
dụ, ngoài ra tính đa thanh của từ ngữ càng làm cho khổ thơ tăng thêm sức gợi hình.
Bên cạnh việc vận dụng khá thành công biện pháp ẩn dụ, đoạn thơ còn hay bởi sự
kết hợp hài hòa của biện pháp điệp từ “con”, “một”, tất cả đều tạo cảm giác nhỏ bé, ít
ỏi. Điều này giúp ý thơ được nhấn mạnh hơn, gợi ra niềm xót xa về một quá khứ nhạt
nhẽo, vô vị.
Đây là đoạn thơ hay, đặc sắc với sự kết hợp các biện pháp nghệ thuật mà nổi
trội là nghệ thuật ẩn dụ, ngôn từ chọn lọc, tinh tế vừa biểu cảm vừa giàu hình ảnh trí
tuệ. Chính biện pháp tu từ được vận dụng sáng tạo đã tạo nên tính đa thanh cho đoạn
thơ. Ngoài ra còn có dụng ý so sánh: đặt cái “tôi” nhỏ bé, tầm thường tương phản với
những chiến sĩ đi tìm đường cứu nước qua đó khắc họa thành công cốt cách vĩ đại,
phi thường của Bác – con người giàu lòng yêu nước, có chí lớn và lí tưởng cao đẹp…
( Bài làm tham khảo)
Qua việc áp dụng phương pháp này vào hướng dẫn học sinh viết đoạn văn
phân tích tác dụng của biện pháp tu từ. Ngoài việc cảm thụ văn học các em còn có kĩ
năng khai thác hiệu quả thẩm mỹ của các biện pháp tu từ được sử dụng trong trong
tác phẩm; làm cho bài văn nghị luận sâu sắc hơn với việc bày tỏ quan điểm, lập
trường, cách nhìn nhận, đánh gía...
Việc áp dụng phương pháp trên vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 9
đã giúp học sinh biết cách làm và rèn được kĩ năng viết đoạn văn phân tích tác dụng
của biện pháp tu từ. Nâng cao kĩ năng viết văn nghị luận cho học sinh, đặc biệt là đối
tượng học sinh trung bình - yếu.
- 22 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
III. PHẦN KẾT LUẬN
1. Kết luận:
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn trăn trở làm sao tìm ra phương pháp tối ưu
nhất để tạo hứng thú cho học sinh học tập. Làm sao để nâng cao chất lượng hiệu quả
dạy học, làm sao để qua mỗi tiết dạy học sinh lĩnh hội được một lượng kiến thức cần
đạt. Vì vậy nội dung sáng kiến kinh nghiệm này giúp các em thêm hứng thú học tập
và nắm vững kiến thức về các biện pháp tu từ. Chính các biện pháp tu từ đã tạo nên
những câu văn, câu thơ hay, những tác phẩm hay. Bởi vì cái hay ở đây không chỉ ở
nội dung hay mà còn hay về hình thức, hình thức diễn đạt ngôn ngữ mới mẻ, đặc sắc.
Đó là đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật, khác với ngôn ngữ tự nhiên.
2. Kết quả của nội dung nghiên cứu
Qua thời gian thử nghiệm và sử dụng sang kiến trong dạy học, bản thân tôi
thấy có nhiều tác dụng:
- Phát huy được tính tích cực của học sinh trong quá trình hoạt động trên lớp
cũng như việc nghiên cứu bài mới và học bài cũ ở nhà.
- Việc nắm kiến thức về các biện pháp tu từ của học sinh vững chắc hơn, có hệ
thống hơn và xóa được lỗ hổng kiến thức bộ môn.
- Giúp các em dần dần biết vận dụng kĩ năng tu từ vào việc phân tích cái hay,
cái đẹp của thơ văn.
KẾT QUẢ BÀI KIỂM TRA KIẾN THỨC VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ
Ở CÁC LỚP TIẾN HÀNH KHẢO SÁT THU ĐƯỢC SAU ÁP DỤNG
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
Lớp TSHS
6A
6B
6C
9A
9B
32 em
33 em
32 em
30 em
32 em
Lớp TSHS
6A
9A
9B
33 em
29 em
26 em
Số lượng bài dưới trung TSHS
bình (Năm học: 2013-2014)
Khi chưa áp dụng đề tài
27 em
84,4%
32 em
25 em
75,7%
33 em
25 em
78,1%
32 em
18 em
60%
30 em
20 em
62,5%
32 em
Số lượng bài dưới trung
bình (Năm học: 2014-2015)
Khi chưa áp dụng đề tài
20 em
60,6%
18 em
60,1%
20 em
76,9%
Số lượng bài dưới trung bình
(Năm học: 2013-2014)
Khi đã áp dụng đề tài
10 em
31,2 %
10 em
30,3 %
8 em
25 %
8 em
26,7%
10 em
31,2%
TSHS
Số lượng bài dưới trung bình
(Năm học: 2014-2015)
Khi đã áp dụng đề tài
33 em
9 em
27,3 %
29 em
8 em
27,6%
26 em
6 em
23,1%
Qua bảng kết quả khảo sát ta thấy có sự khác biệt rõ rệt. Số học sinh dưới trung
bình giảm đáng kể. Trên đây là một số phương pháp giúp học sinh THCS nắm vững
kiến thức về các biện pháp tu từ từ vựng. Đề tài này được thực hiện chủ yếu mang
tính chủ quan của cá nhân tôi được tích luỹ trong quá trình giảng dạy ở đơn vị trường
- 23 -
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
đặc biệt khó khăn. Tuy kết quả bước đầu chưa cao lắm, nhưng với nhiệt tình và nổ
lực theo khả năng, tôi cũng đã tích lũy được một số bài học thực tiễn. Rất mong được
nhận ý kiến đóng góp của Ban giám hiệu cùng các bạn đồng nghiệp, để việc giảng
dạy bộ môn Ngữ văn nói chung và dạy các biện pháp tu từ từ vựng ở phần Tiếng việt
nói riêng cho học sinh nói riêng trong nhà trường chất lượng ngày càng nâng cao,
giúp học sinh học tốt hơn.
3. Kiến nghị:
* Đối với giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn cần phải phát huy hết tinh thần
trách nhiệm, yêu nghề, tích cực tự học tự rèn, đọc nhiều tư liệu để nâng cao tay nghề,
tích luỹ chuyên môn cho bản thân.
* Đối với nhà trường: Cần trang bị cho giáo viên những tài liệu tham khảo cần
thiết để bổ sung, hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.
Hội đồng chấm SKKN
....................................................................
...................................................................
....................................................................
.....................................................................
.....................................................................
......................................................................
- 24 -
Yang Réh, ngày 10/3/2015
Người viết
Văn Thị Thúy Vân
Phương pháp dạy học các biện pháp tu từ phân môn Tiếng việt cấp THCS
MỤC LỤC
MỤC
NỘI DUNG
TRANG
I
PHẦN MỞ ĐẦU: 1. Lý do chọn đề tài
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
1-2
II
PHẦN NỘI DUNG: 1. Cơ sở lý luận
2. Thực trạng
2.1. Thuận lợi – khó khăn
2.2. Thành công và hạn chế
2.3. Mặt mạnh – mặt yếu
3. Giải pháp, biện pháp
3.1. Mục tiêu của giải pháp
3.2. Nội dung và cách thức thực....
3-22
III
PHẦN KẾT LUẬN: 1. Kết luận
2. Kết quả của nội dung nghiên cứu.
3. Kiến nghị
23-24
MỤC LỤC, TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
SGK Ngữ văn 6, 7, 8, 9
SGV Ngữ văn 6, 7, 8, 9
Lí luận dạy học tiếng Việt THCS.
Tài liệu tham khảo về các biện pháp tu từ.
- 25 -
25