BẢNG Kí HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
An ninh biên giới
ANBG
An ninh trật tự
ANTT
Biên giới quốc gia
BGQG
Bộ đội Biên phũng
BĐBP
Dân quân tự vệ
DQTV
Hội Đồng Nhân dân
HĐND
Khu vực biên giới
KVBG
Mặt trận tổ quốc
MTTQ
Uỷ ban Nhân dân
UBND
Trong sạch vững mạnh
TSVM
Vận động quần chúng
VĐQC
Vững mạnh toàn diện
VMTD
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ SỰ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG BỘ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TỈNH
HÀ GIANG VỀ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN
CHÚNG XÂY DỰNG TUYẾN BIÊN GIỚI TỪ
NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2004
Trang
3
9
1.1. Yêu cầu khách quan của công tác vận động quần chúng
xây dựng tuyến biên giới tỉnh Hà Giang trong những năm
1995-2004
1.2. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Bộ đội
Biên phòng tỉnh Hà Giang về công tác vận động
quần chúng xây dựng tuyến biên giới từ năm
1995 đến năm 2004
Chương 2 KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ
QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG
TỈNH HÀ GIANG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN
ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG TUYẾN
BIÊN GIỚI TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2004
9
17
47
2.1. Kết quả Đảng bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Giang
lãnh đạo công tác vận động quần chúng xây dựng
tuyến biên giới từ năm 1995 đến năm 2004
2.2. Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ Bộ
đội Biên phòng tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác vận
động quần chúng xây dựng tuyến biên giới từ năm
1995 đến năm 2004
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
47
61
78
80
84
1- Tính cấp thiết của đề tài
Chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia (BGQG) và tổ chức lực lượng,
phương tiện bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới (ANBG) là mối quan tâm
hàng đầu của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Đối với Việt Nam, đấu
tranh để bảo vệ BGQG, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc vừa là truyền thống, vừa là quy luật dựng nước và giữ nước
của ông cha ta.
Biên giới quốc gia là vấn đề nhạy cảm, có vị trí chiến lược quan trọng về
kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Trên tuyến biên giới đất liền
và vùng biển hiện nay đang trong xu thế hoà bình, hữu nghị, hợp tác nhưng vẫn
tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp và chịu sự tác động xâm nhập, phá hoại của các
thế lực thù địch, các loại đối tượng trong và ngoài nước. Lợi dụng đường lối đổi
mới và chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, chủ nghĩa đế quốc và các
thế lực thù địch tăng cường thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hoà bình”,
bạo loạn lật đổ với mục đích xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đang tiến hành. Đặc biệt, chúng
lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, trong đó tập trung vào đồng bào các dân tộc ở
khu vực biên giới (KVBG) để kích động, lôi kéo, phá hoại khối đại đoàn kết dân
tộc, gây mất ổn định trên các tuyến bên giới.
Vận động quần chúng, vừa là nhiệm vụ công tác cơ bản mang tính chiến
lược, nhằm thường xuyên củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với
đồng bào các dân tộc để tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững lòng
dân. Đó là nhiệm vụ chính trị và là biện pháp công tác nghiệp vụ cơ bản của
Bộ đội Biên phòng, cùng các biện pháp công tác khác nhằm giữ vững chủ
quyền ANBG quốc gia.
Trong những năm qua, nhận thức rõ vai trò của quần chúng nhân dân
và vị trí, tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng (VĐQC) tham
gia quản lý, bảo vệ chủ quyền, ANBG. Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Hà
Giang đã tiến hành tích cực công tác VĐQC và tham mưu cho cấp uỷ đảng,
chính quyền địa phương phát động phong trào quần chúng tham gia tự quản
đường biên, cột mốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở
KVBG, bước đầu trong phong trào này đã mang lại kết quả thiết thực, góp
phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh BGQG. Tuy nhiên, công tác
VĐQC xây dựng tuyến biên giới ở Tỉnh Hà Giang vẫn còn bộc lộ những hạn
chế nhất định, ảnh hưởng đến việc phát huy vai trò của nhân dân các dân tộc
ở KVBG trong sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền, ANBG.
Với lý do trên tôi lựa chọn đề tài “Đảng bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà
Giang lãnh đạo công tác vận động quần chúng xây dựng tuyến biên giới từ
năm 1995 đến năm 2004” làm luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan
Công tác vận động quần chúng xây dựng tuyến biên giới có vai trò đặc biệt
quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia của Bộ
đội Biên phòng. Do vậy, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu
của các nhà khoa học đề cập đến vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau
Nhóm các tác phẩm của các cá nhân và tập thể đã xuất bản thành sách, tiêu
biểu như:
Nguyễn Đức Châu- Nguyễn Tuấn Chung, “Ông cha ta bảo vệ biên giới”,
Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 1992. Nội dung cuốn sách đã đề cập
đến quá trình bảo vệ biên giới của đất nước trong lịch sử, qua đó đề cập đến
một số kinh nghiệm của ông cha ta trong bảo vệ biên giới, chống sự xâm lấn
của các thế lực bên ngoài.
Võ Nguyên Giáp, “Về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”, Nhà xuất bản Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 1979. Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày một cách
có hệ thống quá trình bảo vệ Tổ quốc trong 2 cuộc chiến tranh giải phóng.
Qua đó, đề cập đến một số vấn đề trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay,
đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của lực lượng vũ trang trong sự nghiệp bảo vệ
Tổ quốc hiện nay.
Trường Đại học Biên phòng, “Lý luận chung về lãnh thổ biên giới quốc
gia”, Hà Nội, 1996. Đây là cuốn sách gồm nhiều tác giả, được lưu hành nội bộ ở
Trường Đại học Biên phòng. Trong cuốn sách, các tác giả đã trình bày một cách
có hệ thống những vấn đề về lý luận chung về biên giới và lãnh thổ quốc gia, và
những yêu cầu chung về nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia hiện nay đối với lực
lượng Biên phòng Việt Nam.
Đặng Vũ Liêm, “Bộ đội Biên phòng đổi mới công tác vận động quần
chúng, tham gia quản lý, bảo vệ chính quyền, an ninh biên giới theo quan điểm
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam ”, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2001. Cuốn sách đã trình bày một cách có hệ thống các
quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta đối với công tác vận động quần chúng,
bảo vệ chính quyền, an ninh biên giới. Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến một
số nội dung, biện pháp nhằm đổi mới công tác vận động quần chúng, bảo vệ an
ninh biên giới hiện nay.
Nhóm các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học, tiêu biểu như:
Cao Thượng Lương . “Mấy vấn đề kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh
trong việc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới” , Thông tin Khoa
học kỹ thuật (số 7), Hà Nội, 1999. Bài viết đã trình bày mối quan hệ giữa phát
triển kinh tế với quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biên giới; kiến nghị một
số giải pháp nhằm bảo đảm việc kết hợp giữa phát triển kinh tế với quốc phòng,
an ninh, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới đạt hiệu quả.
Đặng Vũ Liêm , “Bộ đội Biên phòng với công tác vận động quần chúng phát
triển kinh tế- xã hội trên địa bàn biên giới”, Tạp chí Cộng sản, (số21) Hà Nội,
1998. Trong bài viết, tác giả đã nêu bật vị trí, vai trò của Bộ độ Biên phòng trong
nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội ở địa bàn biên giới, qua đó trình bày một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác vận động quần chúng của Bộ đội
Biên phòng trên địa bàn biên giới
Tăng Huệ, “Quán triệt quan điểm Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt
Nam, xây dựng thế trận biên phòng, quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới
quốc gia trong tình hình mới”, Thông tin Khoa học kỹ thuật (số 12), Hà Nội, 2001.
Bài viết đã nêu bật một số quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt
Nam trong nhiệm vụ xây dựng thế trận biên phòng, quản lý, bảo vệ chủ quyền an
ninh biên giới. Trong bài viết tác giả đề xuất một số giải pháp, nhằm xây dựng thế
trận biên phòng, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới trong giai đoạn mới.
Nhóm các luận văn, luận án, tiêu biểu như:
Đỗ Ích Báu, Bộ đội Biên phòng trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên
giới quốc gia hiện nay, luận án tiến sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2000. Nội dung luận án đã trình bày một cách có hệ thống vị trí, vai
trò của Bộ đội Biên phòng trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc
gia. Tác giả cũng đề cập đến một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Bộ đội Biên
phòng trong sự nghiệp bảo vệ an ninh biên giới quốc gia hiện nay.
Đặng Vũ Liêm, “Nhân dân các dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền
an ninh biên giới phía bắc”, luận án tiến sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh , Hà Nội, 1996. Trong phạm vi luận án, tác giả đã trình bày một
cách có hệ thống vị trí, vai trò của nhân dân các dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ
chủ quyền an ninh biên giới; Tác giả đã kiến nghị một số giải pháp nhằm phát huy
vai trò của nhân dân các dân tộc vùng biên giới trong việc bảo vệ chủ quyền quốc
gia.
Trịnh Hoàng Hiệp, Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng cơ sở vùng biên
giới phía Bắc vững mạnh, luận văn thạc sỹ, Học viện Quốc phòng, Hà Nội,
2000. Nội dung luận văn đã trình bày chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội Biên
phòng trong việc xây dựng cơ sở vùng biên giới vững mạnh, qua đó nêu lên
một số biện pháp nhằm phát huy vai trò của Bộ đội Biên phòng trong việc tham
gia xây dựng cơ sở vùng biên giới.
Tăng Huệ, Nghiên cứu phương pháp đấu tranh của Bộ đội biên phòng
tỉnh phòng và chống lấn chiếm biên giới đất liền phía Bắc, luận án tiến sỹ,
Học viện Quốc phòng, Hà Nội, 1996. Nội dung luận án đã trình bày một cách
có hệ thống các hình thức, phương pháp đấu tranh của Bộ đội Biên phòng ở
các tỉnh biên giới phía Bắc trong việc phòng, chống lấn chiếm biên giới, qua
đó kiến nghị một số phương pháp đấu tranh cơ bản nhằm bảo vệ biên giới
trong tình hình hiện nay.
Tất cả các công trình khoa học trên là tài liệu quý để tác giả tham khảo nhằm
thực hiện luận văn này.
3- Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Giang lãnh đạo
công tác vận động quần chúng xây dựng tuyến biên giới từ năm 1995 đến năm
2004. Trên cơ sở đó, rút ra một số kinh nghiệm góp phần nâng cao hiệu quả công
tác vận động quần chúng, bảo vệ an ninh biên giới, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ
Quốc trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích, làm rõ yêu cầu khách quan của công tác VĐQC xây dựng
tuyến biên giới ở tỉnh Hà Giang từ năm 1995 đến năm 2004.
Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Biên phòng tỉnh Hà Giang
về công tác VĐQC xây dựng tuyến biên giới từ năm 1995 đến năm 2004.
Đánh giá những thành tựu, hạn chế, rút ra một số kinh nghiệm lịch sử từ
quá trình Đảng bộ bộ đội biên phòng tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác VĐQC
xây dựng tuyến biên giới (1995-2004), vận dụng vào sự nghiệp BVTQ trong
tình hình mới trên địa bàn của Tỉnh.
* Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ BĐBP tỉnh Hà Giang đối với công tác
VĐQC xây dựng tuyến biên giới.
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ BĐBP
tỉnh Hà Giang đối với công tác VĐQC xây dựng tuyến biên giới.
Về thời gian: Nghiên cứu từ năm 1995 đến năm 2004.
Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn biên giới tỉnh Hà Giang.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
- Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở và phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của
Đảng về công tác VĐQC trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu để thực hiện luận văn là phương pháp lịch sử,
phương pháp lôgíc và sự kết hợp giữa hai phương pháp đó. Ngoài ra luận văn
còn sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn và
phương pháp chuyên gia để làm sáng tỏ nội dung của luận văn.
5. Ý nghĩa của luận văn
Thành công của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm về những vấn đề
lý luận và thực tiễn về vai trò của bộ đội Biên phòng trong công tác VĐQC
xây dựng tuyến biên giới.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp những luận cứ để
xây dựng chủ trương, biện pháp của BĐBP tỉnh Hà Giang nói riêng, của bộ
đội Biên phòng nói trung trong công tác vận động quần chúng xây dựng tuyến
biên giới…
6- Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn được kết cấu thành 2 chương, (4 tiết).
Chương 1
YÊU CẦU KHÁCH QUAN VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG TỈNH HÀ GIANG TRONG LÃNH ĐẠO CÔNG
TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG XÂY DỰNG TUYẾN BIÊN GIỚI
TỪ NĂM 1995 ĐẾN NĂM 2004
1.1 Yêu cầu khách quan của công tác vận động quần chúng xây dựng
tuyến biên giới tỉnh Hà Giang trong những năm 1995 - 2004
1.1.1 Đặc điểm về tự nhiên
* Vị trí địa lý và địa hình của tỉnh Hà Giang.
Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới phía Bắc của Tổ quốc, phía Bắc đối
diện với các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc), phía Tây giáp tỉnh Lào
Cai, phía Đông giáp với tỉnh Cao Bằng, phía Nam giáp với tỉnh Tuyên Quang.
Là Tỉnh có cấu trúc địa lý rất phức tạp, dọc theo biên giới chủ yếu là núi
cao, khe sâu, vách đứng có nhiều sông suối chia cắt. Trong đó KVBG được
chia thành phía Tây và phía Bắc, phía Bắc chủ yếu là núi đá, do vậy diện tích
canh tác, sản xuất của nhân dân ít, chỉ thuận lợi cho việc chăn thả và trồng cây
công nghiệp; phía Tây là đồi núi đất, thuận tiện cho việc phát triển trồng trọt
cây lương thực, song ở KVBG đường nhỏ hẹp, nhiều nơi chưa có đường dân
sinh, vận chuyển chủ yếu theo các đường mòn do người gùi, ngựa thồ, vào
mùa mưa lũ giao thông nhiều xã, bản bị ách tắc. Đây cũng là những trở ngại
lớn nhất trong việc phát triển kinh tế- xã hội cũng như các hoạt động quốc
phòng- an ninh ở KVBG. Vì vậy, công tác tiếp cận, VĐQC thực hiện đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, xây dựng tuyến
biên giới của BĐBP tỉnh là hết sức khó khăn.
* Tình hình khí hậu thời tiết
Khí hậu, thời tiết ở KVBG tỉnh Hà Giang chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa
mưa từ tháng 5 đến tháng 9, lượng mưa lớn, tạo ra lũ ống, lũ quét trên các
sông suối, gây sụt lở đường, ảnh hưởng đến việc cơ động lực lượng, triển khai
các hoạt động tuần tra kiểm soát vận động nhân dân. Mùa khô từ tháng 10 đến
tháng 4 năm sau, sương mù rét đậm, thậm chí có cả băng tuyết. Thời tiết, khí
hậu, môi trường, nguồn nước, độ ẩm sinh ra nhiều dịch bệnh ảnh hưởng
không nhỏ đến lao động, sản xuất của nhân dân và quá trình tham gia phát
triển kinh tế- xã hội và công tác VĐQC bảo vệ biên giới của BĐBP tỉnh Hà
Giang.
1.1.2 Đặc điểm về kinh tế xó hội địa phương
* Đặc điểm dân cư
Khu vực biên giới tỉnh Hà Giang gồm 7 huyện, 33 xã, 1 thị trấn với diện
tích tự nhiên là 1165km2. Các xã, thị trấn ở KVBG đều thuộc vùng III, vùng
đặc biệt khó khăn. Toàn tuyến có 345 xóm, bản giáp biên với tổng số 16140
hộ/ 84153 khẩu thuộc 20 thành phần dân tộc thiểu số sinh sống đan xen, trong
đó dân tộc Mông chiếm 61,68% dân số, còn lại là các dân tộc khác như: Tày,
Nùng, Dao, Hoa, Cao Lan, Pu Péo...
Qua nghiên cứu cho thấy, đại bộ phận đời sống nhân dân ở KVBG sinh
sống bằng nghề nương rẫy, chủ yếu là tự cung, tự cấp, tình trạng du canh, du
cư vẫn còn tồn tại ở một số xã. Đời sống đồng bào còn gặp nhiều khó khăn,
cơ sở hạ tầng chậm phát triển, các tập tục lạc hậu còn nặng nề, trình độ dân trí
còn thấp. Hậu quả của chiến tranh biên giới chưa được khắc phục triệt để, cơ
sở vật chất của đồng bào còn nghèo nàn lạc hậu. Số hộ đói nghèo còn khá
nhiều, khả năng ổn định và phát triển chủ yếu nhờ vào cơ chế chính sách của
Nhà nước. Song, đa số quần chúng nhân dân luôn tin tưởng vào chế độ, có ý
thức chấp hành đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của
Nhà nước. Trong những năm qua Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành ở Trung
ương đã đầu tư có hiệu quả thông qua các chương trình dự án kinh tế vào Hà
Giang. Do vậy, đời sống đồng bào các dân tộc đã được cải thiện, niềm tin của
quần chúng đối với Đảng được củng cố. Nhân dân các dân tộc đã tích cực
cùng BĐBP tham gia quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền ANBG quốc gia.
Tuy nhiên, bị chi phối nhiều bởi mối quan hệ thân tộc, dân tộc, dòng họ,
phân bố dân cư không đều, giao thông đi lại khó khăn, trình độ nhận thức và
giác ngộ chính trị của một bộ phận quần chúng nhân dân ở KVBG vẫn còn
nhiều bất cập đã ảnh hưởng lớn đến công tác tuyên truyền vận động, giác ngộ
quần chúng. Thêm vào đó kẻ xấu thường lợi dụng kích động, tuyên truyền
gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân càng làm cho tình hình chính trị xã hội
trên địa bàn có nhiều diễn biến phức tạp.
* Tình hình cơ sở đảng, chính quyền
Những năm qua, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang đã tập trung
lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp thiết thực nhằm củng
cố, xây dựng, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở các xã
trong toàn Tỉnh nói chung, đặc biệt ở KVBG nói riêng; coi đây là nhiệm vụ
trọng tâm, hàng đầu tạo tiền đề cho việc phát triển kinh tế- xã hội , củng cố
quốc phòng- an ninh, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền ANBG quốc gia.
Vì vậy, cơ sở chính trị ở các xã biên giới, nhất là đội ngũ cán bộ đã từng bước
được củng cố tăng cường cả về số lượng và chất lượng.
Qua khảo sát thực tế, năm 1995 mới có 18/34 xã, thị trấn biên giới có
đảng bộ, còn lại là chi bộ xã, đến nay đã có 100% tổ chức đảng ở các xã, thị
trấn biên giới được nâng cấp lên thành đảng bộ. Các tổ chức đoàn thể như:
Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Mặt trận
Tổ quốc đã từng bước được xây dựng, củng cố đi vào hoạt động có hiệu quả.
Tuy nhiên, hệ thống cơ sở chính trị ở các xã biên giới đã được củng cố
nhưng nhìn chung năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập chưa
thực sự đáp ứng được yêu cầu trong thời kì mới. Một số cấp uỷ, chi bộ chậm
đổi mới về công tác tuyên truyền VĐQC nhân dân, tác phong làm việc ở một
số cán bộ chính quyền xã, thôn, bản còn giản đơn mang phong cách gia đình,
dòng họ. Một số nơi còn tình trạng thiếu dân chủ, gây mâu thuẫn trong nội bộ
và mâu thuẫn giữa nhân dân với cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương.
Về kinh tế: Khu vực biên giới tỉnh Hà Giang tập trung nhiều tài nguyên
thiên nhiên nhưng chưa được khai thác và sử dụng. Điều kiện địa lý, khí hậu
thời tiết phù hợp, thích nghi với nhiều loại cây ăn quả, cây đặc sản, dược liệu
quý, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế vườn – rừng và chăn nuôi gia súc, Hà
Giang có điều kiện thuận lợi để chuyển đổi nền kinh tế tự cung, tự cấp sang
phát triển kinh tế hàng hoá, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình.
Tuy nhiên, do điểm xuất phát thấp cùng với những khó khăn về địa hình,
vị trí địa lý khiến trình độ phát triển kinh tế ở nơi này còn thấp so với nhiều
vùng trong cả nước. Tỉ lệ đói nghèo còn cao so với cả nước. Qua kết quả khảo
sát tỉ lệ đói nghèo còn 16%, theo tiêu chí mới khảo sát (tỉ lệ đói nghèo theo
dự kiến: phương án 1=70,75%, phương án 2=74,44%, phương án 3=76,58%)
tập quán canh tác còn lạc hậu, một số hộ thiếu đất sản xuất; theo kết quả khảo
sát năm 1998, sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt 251kg, đến nay
đạt 357 kg lương thực/đầu người/năm .
Về xã hội:
Được sự quan tâm của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, sự cố gắng
của các cơ quan chức năng và sự tham mưu tích cực của BĐBP tỉnh Hà
Giang, trong những năm qua, tình hình văn hoá, xã hội ở KVBG đã có những
chuyển biến tích cực. Các chương trình phối kết hợp trong thực hiện các dự
án phổ cập giáo dục tiểu học được triển khai tích cực đã thu hút nhiều trẻ em
ở độ tuổi tới trường. Các hoạt động truyền thông, phương tiện nghe nhìn, hoạt
động văn hoá, văn nghệ, thể thao đã đến với đồng bào ở KVBG. Cơ sở hạ
tầng đã được cải thiện như 29/34 xã đã có điện lưới quốc gia, 100% các xã có
trạm y tế chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Trình độ dân trí của nhân dân
KVBG tỉnh Hà Giang đã được từng bước nâng cao; y tế được cải thiện cả về
cơ sở vật chất và cán bộ y tế. Do vậy, tình hình bệnh tật giảm dần, văn hoá
được coi trọng và đầu tư đúng mức đã làm cho các hủ tục lạc hậu như ma
chay, cưới xin, mê tín dị đoan giảm dần. Đại đa số nhân dân ở KVBG Tỉnh
Hà Giang đã tự nguyện phá bỏ cây thuốc phiện, hiện tượng nghiện hút, tệ nạn
xã hội trong thanh thiếu niên đã giảm đáng kể.
Tuy nhiên, tình hình xã hội ở KVBG Hà Giang vẫn còn nhiều khó khăn,
trình độ dân trí thấp. Đến năm 2000, còn có 1427 người trong độ tuổi từ 15
đến 35 mù chữ, trẻ em bỏ học có 601 em chiếm tỉ lệ 5,8%. Cơ sở vật chất
phục vụ cho y tế, giáo dục còn nghèo nàn lạc hậu. Trên tuyến biên giới Hà
Giang hiện nay có 16140 hộ gồm 87153 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào các
dân tộc thiểu số sinh sống. Diện tích các xã lớn song dân cư phân bố không
đều, các bản dân cư ở rất xa nhau, thậm chí trong một xã, bản đầu xã cách bản
cuối xã hàng chục km. Nhân dân sinh sống ở môi trường rừng núi, canh tác
nương rẫy và cư trú ở các vùng sinh thái khắc nghiệt. Mọi hoạt động sản xuất
của từng gia đình hầu như dựa chủ yếu vào cơ bắp và sự cần cù của con
người. Nhiều phong tục, tập quán lạc hậu trong đồng bào các dân tộc chưa
được xoá bỏ. Trình độ dân trí thấp cản trở đến việc tiếp thu chủ trương, chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Do điều kiện địa lý và lịch sử để lại, các dân tộc thiểu số KVBG tỉnh Hà
Giang hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn về đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội,
cần được sự hỗ trợ tích cực hơn của Đảng, Nhà nước và các cơ quan ban
ngành của Trung ương, địa phương, sự nỗ lực vươn lên của nhân dân các dân
tộc và chính quyền các cấp tỉnh Hà Giang.
1.1.3 Những vấn đề đặt ra về công tác vận động quần chúng trong giai
đoạn mới (1995-2004)
* Tình hình hoạt động của các đối tượng
Khu vực biên giới tỉnh Hà Giang có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng
về kinh tế- xã hội , quốc phòng- an ninh và đối ngoại, nơi tập trung nhiều tài
nguyên thiên nhiên nhưng chưa được khai thác, vấn đề đường biên, mốc giới
còn nhiều phức tạp... Chính vì vậy, ở KVBG vẫn còn thường xuyên xảy ra
các hoạt động vi phạm pháp luật, đối tượng vi phạm đa dạng phức tạp với
nhiều hình thức vi phạm khác nhau; quy mô tính chất các vụ việc, âm mưu
phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Kết quả đấu tranh trong
những năm qua cho thấy chủ yếu nổi lên các hoạt động sau: Mỹ và các nước
thù địch vẫn đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ quyết
tâm thực hiện âm mưu xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bọn
phản động trong và ngoài nước câu kết móc nối dưới sự tiếp tay của chủ
nghĩa đế quốc đã tăng cường lợi dụng tâm lý “xưng vua” để kích động, lừa
bịp quần chúng trong phát triển đạo trái phép.
Từ tháng 11/1995 đến năm 2004, Trung Quốc và Việt Nam đã bình
thường hoá quan hệ, Chính phủ hai nước đã kí Hiệp định tạm thời về giải
quyết các công việc trên biên giới. Song, tình hình xâm nhập vũ trang, xâm
canh mở đường, vi phạm chủ quyền lãnh thổ, nhất là KVBG, vành đai biên
giới nhằm tạo thế có lợi cho họ trong quá trình phân giới cắm mốc vẫn
không giảm. Cơ quan đặc biệt TH (cơ quan tình báo Trung Quốc) vẫn tăng
cường các hoạt động câu móc, lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc nhân dân, cán bộ
ta nhằm đánh cắp, thu thập tài liệu.
Mặt khác, bọn tội phạm hình sự và các tệ nạn xã hội trên địa bàn vẫn có
xu hướng gia tăng. Với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, chúng
tăng cường cấu kết móc nối với các đối tượng bên kia biên giới và đối tượng
trong nội địa để tiến hành các hoạt động: trấn cướp, trộm cắp tài sản, gia súc
của nhân dân. Lợi dụng biên giới mở và giao lưu kinh tế ngày một phát triển
để buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán vận chuyển ma tuý, vũ khí, buôn
bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới. Các hoạt động vi phạm quy chế biên giới có
những diễn biến phức tạp.
Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng sự khó khăn về đời sống,
trình độ dân trí của đồng bào và những sai sót của các cấp, các ngành trong
việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta để
kích động, chia rẽ các dân tộc nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân.
Hoạt động của địch và đối tượng đã tác động không nhỏ tới nhiệm vụ
VĐQC bảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia và tham gia phát triển kinh tế- xã
hội của BĐBP tỉnh Hà Giang.
* Tình hình bộ đội biên phòng tỉnh Hà Giang
Bộ đội biên phòng tỉnh Hà Giang được cấp trên giao nhiệm vụ quản lý,
bảo vệ tuyến biên giới dài 270km. Tiếp giáp với 2 tỉnh Vân Nam và tỉnh
Quảng Tây, Trung Quốc.
Tổ chức biên chế: Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Hà Giang biên chế 5
phòng: Tham mưu, Chính trị, Trinh sát, Phòng, chống tội phạm ma tuý, Hậu
cần – Kỹ thuật và 2 ban trực thuộc là: Ban Tài chính và Ban Hành chính; 12
đồn biên phòng, trong đó có một Đồn cửa khẩu, 1 Đội Cơ động, 1 Tiểu đoàn
Huấn luyện.
Trong những năm qua, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh BĐBP, Đảng uỷ Bộ Chỉ
huy Biên phòng Hà Giang đã rất chú trọng xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ,
chiến sĩ BĐBP. Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ đã từng bước trưởng
thành về phẩm chất, chính trị, năng lực chỉ huy và trình độ về chuyên môn
nghiệp vụ. Tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ mặc dù trước biến động phức tạp
của tình hình, trước khó khăn thử thách của xã hội, nhưng vẫn tỏ rõ trách
nhiệm, có bản lĩnh chính trị vững vàng, yên tâm gắn bó với biên giới. Đội ngũ
sĩ quan về cơ bản được đào tạo chính quy có trình độ học vấn cao, chuyên
môn nghiệp vụ giỏi, tính năng động trong công tác phù hợp với yêu cầu cao
của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ANBG quốc gia trong thời kì mới. Cán bộ,
chiến sĩ các đơn vị biên phòng đã thực sự là chỗ dựa của cấp uỷ, chính quyền
địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội ở KVBG. Đồng thời, có
khả năng và điều kiện tham gia thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và
Nhà nước mà trọng tâm hiện nay là huy động cao mọi nguồn lực để tham gia
xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế- xã hội góp phần xoá đói, giảm
nghèo cho đồng bào các dân tộc ở KVBG.
* Tình hình các lực lượng có liên quan, phối hợp trong khu vực biên giới
tỉnh Hà Giang.
Trên KVBG tỉnh Hà Giang, ngoài BĐBP đóng quân còn có các lực
lượng như: công an, đoàn kinh tế 313 của Bộ Quốc phòng, hải quan, kiểm
lâm, y tế, giáo dục, bưu điện, các trung tâm giống cây trồng, lực lượng bộ
đội địa phương, dân quân tự vệ, các xí nghiệp, các cơ quan của nông
nghiệp và các ban ngành.
Chỉ thị số 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Tăng cường xây
dựng và phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh ở các xã,
phường biên giới, hải đảo, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đã xác định nhiệm
vụ cả trước mắt và lâu dài, đồng thời chỉ rõ nhiệm vụ của các cấp, các ngành
trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với
việc xây dựng, phát triển KT- XH ở KVBG.
Trong những năm qua, Bộ Tư lệnh BĐBP đã tích cực chủ động ký
kết các chương trình phối hợp hoạt động với Bộ Giáo dục - đào tạo, Bộ
Văn hoá - Thông tin, Bộ Y tế, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam để khai thác thế mạnh của các cấp, các ngành trong xây dựng kinh
tế- xã hội ở KVBG. Trên cơ sở đó, Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Hà Giang
đã chủ động phối hợp với các cấp, các ngành như Sở Giáo dục - đào tạo,
Sở văn hoá - Thông tin, Sở Y tế, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Hà Giang bàn
bạc thống nhất nội dung, kế hoạch triển khai thực hiện ở các xã, bản biên
giới đẩy mạnh hoạt động phát triển kinh tế- xã hội ở KVBG. Đặc biệt,
BĐBP đã làm tốt công tác tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương
tổ chức quán triệt và triển khai rộng rãi trong các ngành, đoàn thể quần
chúng có liên quan trong Tỉnh, huyện, xã nhằm huy động cao nhất khả
năng của mỗi ngành, mỗi lực lượng cùng xây dựng nội dung, chương
trình, phân công trách nhiệm cụ thể trong quá trình tổ chức, thực hiện
hiệu quả công tác phối hợp hiệp đồng.
1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh
Hà Giang trong công tác vận động quần chúng xây dựng tuyến biên giới
từ năm 1995 đến năm 2004
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Giang về công
tác vận động quần chúng xây dựng tuyến biên giới từ năm 1995 đến năm 2004
1.2.1.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vai trò quần chúng
nhân dân và công tác vận động quần chúng.
Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và
toàn dân, là quy luật chung của cuộc đấu tranh cách mạng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn
nhận thức rằng, để giành thắng lợi trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, tất yếu phải dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh
của nhân dân. Bởi vì, quần chúng nhân dân là lực lượng đông đảo của xã
hội, quyết định sự thành bại của mọi cuộc cách mạng, là nền tảng của một
quốc gia, là gốc rễ của dân tộc, là người làm nên lịch sử và quyết định sự
phát triển của lịch sử.
Nhận thức đúng vị trí, vai trò của quần chúng nhân dân, kế thừa quan
điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và truyền thống dựng nước của ông cha ta,
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định vai trò
to lớn của quần chúng nhân dân đối với tiến trình cách mạng, cũng như sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dễ
trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” [29, tr.543].
Yêu dân, tin dân, dựa vào dân, đấu tranh vì dân là nguyên tắc tối cao, xuyên
suốt trong tư duy chiến lược và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Người
đã nói những câu ngắn gọn nhưng vô cùng sâu sắc: “Trong bầu trời không có
gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết
của nhân dân” và “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân
dân” [30, tr.544].
Thực tiễn, trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã biết
khơi dậy sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ
quốc. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn dân kháng chiến là
toàn dân ai cũng đánh giặc. Bất kỳ đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ, ai
cũng tham gia kháng chiến. Tổ quốc là Tổ quốc chung, Tổ quốc độc lập thì ai
cũng được tự do, nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ” [31, tr.212]. Với tư
tưởng đó, trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Người viết “Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ,
không phân biệt tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải
đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có
gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng
phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước” [32, tr.231]. Khi đế quốc Mỹ mở
rộng chiến tranh cục bộ ở miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền
Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi quân dân cả nước: “31 triệu đồng bào
ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt
Mỹ cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng” [32, tr.483].
Thấm nhuần những quan diểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, ngày nay
Đảng và Nhà nước ta luôn kế thừa, phát triển và cụ thể hoá những quan điểm
đó, để giữ vững chủ quyền quốc gia nói chung và bảo vệ chủ quyền, ANBG
nói riêng. Điều đó thể hiện rõ nét và nhất quán trong các văn kiện, nghị quyết
của Đảng, trong các chủ trương, chính sách của Nhà nước ta, trong cả thực
tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta suốt mấy thập kỷ vừa qua.
Xuất phát từ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu một cách có chọn lọc kinh nghiệm lịch sử của
ông cha ta trong dựng nước và giữ nước, đồng thời từ tổng kết công cuộc bảo
vệ Tổ quốc qua các thời kỳ, Đảng ta đã xây dựng và ngày càng hoàn thiện
đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân có bước phát triển mới và
có yêu cầu mới, nhưng vai trò của nhân dân vẫn là nền tảng, đó là nền quốc
phòng, nền an ninh của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Đại hội lần thứ VI của Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, đã tổng kết và khẳng định một bài học lớn, một trong
những quan điểm cơ bản chỉ đạo xuyên suốt quá trình đổi mới ở nước ta là
“lấy dân làm gốc”. “Các văn kiện Đại hội lần thứ VII, Hội nghị đại biểu giữa
nhiệm kỳ, Nghị quyết 8B (3-1990) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khoá VI) về tăng cường công tác quần chúng trong tình hình mới”...đều tiếp
tục nhấn mạnh quan điểm cơ bản đó.
Ngay từ khi mới thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang (nay là
BĐBP), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm nhắc nhở cán bộ, chiến sỹ BĐBP
phải tin tưởng vào sức mạnh vô tận của nhân dân, phải gắn bó với nhân dân
các dân tộc vùng biên giới, biển đảo để làm tốt công tác biên phòng, Bác nói:
“Chúng ta phải biết dựa vào dân, nhất là Công an Biên phòng. Ở những nơi
đồng bào thiểu số, phải chú ý đến phong tục tập quán của đồng bào, luôn giúp
đỡ giáo dục đồng bào, làm cho đồng bào tin yêu, phục cán bộ, thì đồng bào sẽ
hết sức giúp đỡ, có khi hy sinh cả cho ta” [33, tr.388]. Người còn căn dặn:
“Nếu không coi trọng, bồi dưỡng, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc, thì
không những không bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới mà còn để
các thế lực phản động lợi dụng, lôi kéo đồng bào các dân tộc vào những âm
mưu, hành động chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [33,
tr.387].
Xuất phát từ quan điểm trên, để bảo vệ vững chắc chủ quyền, ANBG. Bộ
đội Biên phòng tất yếu phải dựa vào dân, phải coi trọng sức mạnh của dân và
đoàn kết quân dân. Trong buổi lễ thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ
trang, nay là BĐBP. Bác đã ân cần nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ: “Khi tổ chức
được dân, đoàn kết được dân thì việc gì cũng làm được. Công an luôn giúp
đỡ, tổ chức giáo dục nhân dân, làm cho mọi người dân là người giúp việc
của mình, làm thành mạng lưới công an nhân dân, như thế công tác mới có
hiệu quả” [34, tr,382].
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi
trọng công tác quần chúng, coi đó là nhiệm vụ chiến lược trong toàn bộ sự
nghiệp cách mạng của mình. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong
giai đoạn mới. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 8 (khoá VI) đã ra Nghị
quyết “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa
Đảng với quần chúng” thể hiện ở những nội dung sau đây:
*Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động. Vì vậy, sự nghiệp cách mạng
của Đảng là sự nghiệp của nhân dân. Đảng ta đã thấy được vai trò to lớn của
quần chúng và luôn tin tưởng vào sức mạnh tài năng, trí sáng tạo của nhân
dân, nên không chỉ dưạ vào dân trong quá trình tổ chức thực hiện chủ trương,
chính sách mà ngay trong việc chuẩn bị xây dựng chủ trương, chính sách đến
quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát, sửa đổi chính sách, Đảng luôn lấy ý
kiến xây dựng của nhân dân.
Quan điểm cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân, là cơ sở để
Đảng ta định ra chủ trương, đường lối, chính sách sát hợp với quần chúng.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Trong toàn bộ
hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, xây dựng
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Chính vì vậy, quần chúng
ngày càng tin yêu Đảng, sẵn sàng tự nguyện đi theo Đảng để bảo vệ Đảng,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng mà Đảng và
nhân dân ta đã giành được.
Quan điểm cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân còn là cơ
sở nền tảng, để xây dựng khối đoàn kết toàn dân với hạt nhân trung tâm là
Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó, tạo ra ý thức tự giác của quần chúng trong
thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước là nhằm thực hiện và bảo
đảm quyền làm chủ của nhân dân, mục tiêu phấn đấu của Đảng ta là làm dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
* Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực
của nhân dân, kết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ
công dân.
Lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã chứng minh dù
trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào, nhân dân ta cũng một lòng đi theo
Đảng. Điều đó chứng tỏ mọi chủ trương, chính sách của Đảng đều xuất
phát từ nguyện vọng đời sống của quần chúng. Tập hợp được đông đảo
quần chúng, đó chính là động lực thúc đẩy phong trào cách mạng và
quần chúng đã nhận thức rõ, đi theo Đảng mới thực sự được giải phóng
cho chính mình.
Mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng là yếu tố quyết định đến sự tồn
tại và phát triển của Đảng, vì Đảng ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục
vụ. Lợi ích của quần chúng cũng chính là lợi ích của Đảng và mục tiêu phấn
đấu của Đảng. Trong mọi hoạt động của mình, Đảng luôn dựa vào quần
chúng, VĐQC thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chính sách của Đảng.
Đường lối, chính sách của Đảng xuất phát từ nguyện vọng, đời sống của
quần chúng. Nhưng đường lối, chính sách có đi vào cuộc sống hay không
phải dựa vào dân và VĐQC nhân dân thực hiện.
Trong chế độ XHCN, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội và cá nhân luôn
gắn bó chặt chẽ và thống nhất với nhau, trong đó lợi ích cá nhân là động lực
trực tiếp. Công tác VĐQC và tổ chức quần chúng chỉ có thể thành công, nếu
biết bảo vệ và đáp ứng được lợi ích thiết thực của nhân dân, kết hợp hài hoà
các lợi ích, gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ công dân.
Các lợi ích có tính độc lập tương đối, song về căn bản thống nhất chặt
chẽ với nhau, trong đó lợi ích cá nhân là động lực thúc đẩy phong trào quần
chúng. Gắn chặt quyền lợi và nghĩa vụ là nội dung cụ thể của quyền làm chủ
tập thể của nhân dân. Nói đến quyền làm chủ của nhân dân, không thể không
nói đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, với nội dung thiết thực phải thực
hiện đúng các chính sách và pháp luật của Nhà nước. Quyền lợi và nghĩa vụ
của công dân là hai mặt của quyền làm chủ, hai mặt đó không tách rời nhau,
không đối lập nhau, không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ và không
có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi. Sự thống nhất giữa mọi quyền lợi và
nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tập thể tăng cường tính ưu việt của chế độ XHCN.
* Các hình thức tập hợp quần chúng phải đa dạng
Đảng liên hệ với quần chúng nhân dân không phải chỉ qua đường lối,
chính sách, mà còn qua các tổ chức quần chúng. Các tổ chức quần chúng là sự
kết hợp các lợi ích của mỗi thành viên, với lợi ích xã hội nói chung. Đảng
quan hệ gắn bó với quần chúng, phải thông qua các tổ chức quần chúng. Quần
chúng muốn thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, phải hoạt động trong
các tổ chức, mới phát huy được sức mạnh. Các tổ chức quần chúng là cầu nối
giữa Đảng với quần chúng.
Trong chế độ XHCN, mọi người dân đều có thể tham gia vào mọi loại
hình tổ chức, trước hết là ở các tập thể lao động, các đơn vị dân cư và các
đoàn thể chính trị cũng như các tổ chức xã hội, văn hoá, khoa học - kỹ thuật.
Xã hội ngày càng phát triển, trình độ nhận thức ngày càng cao, nhu cầu hoạt
động xã hội và nghề nghiệp ngày càng lớn. Cần phát triển các hình thức tập
hợp quần chúng rộng rãi do các đoàn thể chính trị làm nòng cốt, để tập hợp
quần chúng thành khối thống nhất tạo nên sức mạnh tổng hợp đáp ứng được
nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần cho quần chúng. Cần thành lập các tổ
chức quần chúng, đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống
nhân dân, hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái. Các
tổ chức quần chúng được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự
trang trải về tài chính. Quy mô tổ chức quần chúng tuỳ theo đặc điểm từng
nơi, mà tổ chức cho phù hợp.
* Công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể
Công tác quần chúng được tiến hành bằng sức mạnh tổng hợp của Đảng,
chính quyền, các đoàn thể theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ,
Nhà nước quản lý”. Chức năng của Đảng là định ra chủ trương, chính sách,
động viên đảng viên, quần chúng thực hiện, kiểm tra giám sát việc thực hiện.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng thể hiện: Thường
xuyên nắm chắc tình hình, tâm tư và đời sống của các tầng lớp nhân dân, kịp
thời giải quyết những vấn đề quần chúng đặt ra bằng các chủ trương, chính
sách, cụ thể động viên đảng viên tham gia công tác đoàn thể, công tác xã hội
ở nơi công tác và nơi cư trú. Phân công cán bộ của Đảng làm công tác quần
chúng. Thực hiện chế độ kiểm tra, chỉ đạo các cơ quan chính quyền, đoàn thể
về mặt quán triệt và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về
công tác quần chúng.
Chức năng của Nhà nước là thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng
thành chính sách, pháp luật, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của đông đảo quần
chúng. Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội phải thường xuyên
tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân, để phản ánh
với chính quyền các cấp, đồng thời trực tiếp VĐQC thực hiện nghiêm đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Trong hệ thống chính trị ở nước ta, các tổ chức quần chúng giữ vai trò
hết sức to lớn. Công tác quần chúng không chỉ là trách nhiệm của các đoàn
thể, mà còn là trách nhiệm của các tổ chức khác nhau dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên phải làm tốt công tác VĐQC trong
nhiệm vụ của mình. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng là tạo điều
kiện để các tổ chức, đoàn thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong
việc tuyên truyền, hướng dẫn, động viên quần chúng thực hiện mọi đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tham gia quản lý
nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng cơ sở đảng, chính quyền vững mạnh.
Đảng ta cho rằng phải làm sao trên đất nước ta, ở đất liền cũng như hải
đảo, ở bờ biển cũng như ở biên giới, đâu đâu cũng có mạng lưới rộng khắp và
chặt chẽ của nhân dân phối hợp với các lực lượng vũ trang. Đặc biệt là BĐBP
để ngày đêm giữ vững chủ quyền, ANBG, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và
hành động phá hoại gây rối, gây bạo loạn của bọn phản động, sẵn sàng đánh
bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Làm được như vậy, thì bất kì kẻ thù xâm