Tải bản đầy đủ (.pdf) (81 trang)

nghiên cứu mô hình cloud computing, cài đặt thử nghiệm và đánh giá

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.04 MB, 81 trang )

VŨ MẠNH HƯỞNG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

VŨ MẠNH HƯỞNG

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH CLOUD COMPUTING, CÀI
ĐẶT THỬ NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGÀNH: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

2010B

Hà Nội – Năm 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------

VŨ MẠNH HƯỞNG

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH CLOUD COMPUTING,
CÀI ĐẶT THỬ NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN


LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN:

TS. PHẠM HUY HOÀNG

Hà Nội – Năm 2012


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1 
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CLOUD COMPUTING ........................................3 
1.1 Lịch sử hình thành .............................................................................................3 
1.2 Các định nghĩa ...................................................................................................4 
1.3 Mô hình tổng quan của Cloud Computing ........................................................4 
1.4 Tính chất cơ bản của Cloud Computing ............................................................7 
1.5 Lợi ích của việc sử dụng Cloud Computing ....................................................10 
1.6 Xu hướng phát triển của Cloud Computing.....................................................12 
1.7 Các khó khăn, thách thức đối với Cloud Computing ......................................14 
1.8 Hiện trạng ứng dụng Cloud Computing ở Việt Nam.......................................20 
1.9 Kết luận chương 1 ............................................................................................21 
CHƯƠNG 2: HIỆN THỰC CỦA CLOUD COMPUTING ................................23 
2.1. Các mô hình dịch vụ .......................................................................................23 
2.1.1 Dịch vụ cơ sở hạ tầng (Infrastructure as a Service – IaaS) .......................24 
2.1.2 Dịch vụ nền tảng (Platform as a Service – PaaS)......................................25 
2.1.3 Dịch vụ phần mềm (Software as a Service – SaaS). .................................27 
2.2 Các mô hình triển khai .....................................................................................28 
2.2.1 Public Cloud: .............................................................................................29 
2.2.2 Private Cloud .............................................................................................30 

2.2.3 Hybrid Cloud .............................................................................................31 
2.2.4 Community Cloud .....................................................................................33 
2.3 Tìm hiểu một vài dịch vụ điện toán đám mây .................................................33 
2.3.1 Dịch vụ của Amazon .................................................................................33 
2.3.2 Dịch vụ của Google ...................................................................................38 
2.3.3 GoGrid .......................................................................................................41 
2.3.4 Dịch vụ của Microsoft ...............................................................................44 
2.4 Một số giải pháp Private Cloud tiêu biểu ........................................................46 
2.4.1 Giải pháp của Microsoft ............................................................................46 


2.4.2 Giải pháp của IBM ....................................................................................49 
2.4.3 Giải pháp của VMware..............................................................................52 
2.5 Kết luận chương 2 ............................................................................................54 
CHƯƠNG 3: DỊCH VỤ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY CỦA AMAZON VÀ TRIỂN
KHAI ỨNG DỤNG THỬ NGHIỆM TRÊN DỊCH VỤ EC2 ..............................55 
3.1: Giới thiệu về dịch vụ điện toán đám mây của Amazon (Amazon Web
Services).................................................................................................................55 
3.2. Dịch vụ Amazon Elastic Compute Cloud (EC2) ............................................60 
3.2.1 Khái niệm Amazon Elastic Compute Cloud (EC2) ..................................60 
3.2.2 Các khả năng của Amazon EC2 ................................................................61 
3.2.3 Các điểm nổi bật của Amazon EC2 ..........................................................61 
3.2.4 Tính năng chính của Amazon EC2 ...........................................................62 
3.2.5 Các thành phần trong EC2 ........................................................................62 
3.2.3 Triển khai ứng dụng thử nghiệm sử dụng Instance dạng Windows của
dịch vụ EC2 ........................................................................................................68 
3.3 Kết luận chương 3 ............................................................................................71 
KẾT LUẬN ..............................................................................................................73 
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................75 



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực
sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát
tình hình thực tế và dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Phạm Huy Hoàng.


LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Tiến sỹ Phạm Huy Hoàng đã tận tình hướng dẫn và
quý Thầy Cô trong Viện Công nghệ thông tin và truyền thông, Viện Đào tạo sau
Đại học đã truyền dạy những kiến quý báu trong chương trình sau Đại học và giúp
đỡ kinh nghiệm cho luận văn được hoàn thành thuận lợi.
Xin chân thành cám ơn các học viên cùng khóa 2010 đã cung cấp tài liệu, gợi
ý công nghệ cũng như giải pháp giúp tôi hoàn thành luận văn.


PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, các ứng dụng trên Internet phát triển nhanh, ảnh
hưởng của nó là đã làm thay đổi nhiều đến đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của tất
cả các nước trên thế giới. Trong sự phát triển mạnh mẽ của Internet, thì các ứng
dụng dịch vụ phát triển trên nền Internet giữ vai trò đặc biệt quan trọng.Đặc biệt khi
mà các thiết bị di động ngày một phát triển, các ứng dụng dựa trên nền Internet
ngày càng trở nên quan trọng. Cloud Computing (Điện toán đám mây) ra đời giữa
năm 2007 không phải để nói về một trào lưu mới, mà để khái quát lại các hướng đi
của cơ sở hạ tầng thông tin vốn đã và đang diễn ra từ mấy năm qua. Quan niệm này
có thể được diễn giải một cách đơn giản: các nguồn điện toán khổng lồ như phần
mềm, dịch vụ... sẽ nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong
máy tính gia đình và văn phòng (trên mặt đất) để mọi người kết nối và sử dụng mỗi
khi họ cần. Với các dịch vụ sẵn có trên Internet, doanh nghiệp không phải mua và
duy trì hàng trăm, thậm chí hàng nghìn máy tính cũng như phần mềm. Họ chỉ cần

tập trung vào kinh doanh lĩnh vực riêng của mình bởi đã có người khác lo cơ sở hạ
tầng và công nghệ thông tin thay họ. Google, theo lẽ tự nhiên, nằm trong số những
hãng ủng hộ điện toán máy chủ ảo tích cực nhất bởi hoạt động kinh doanh của họ
dựa trên việc phân phối các cloud (virtual server). Đa số người dùng Internet hiện
nay đều đã tiếp cận những dịch vụ đám mây phổ thông như e-mail, album ảnh và
bản đồ số …
Theo nghiên cứu mới nhất của IDC(1) cho thấy doanh thu từ các dịch vụ điện
toán đám mây trên toàn thế giới năm 2010 là trên 21,5 tỉ USD và dự kiến sẽ đạt
72.9 tỉ vào năm 2015, tỉ lệ tăng trưởng hàng năm của lĩnh vực này là 27,6%. Tốc độ
tăng trưởng này gấp 4 lần tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực Công nghệ thông tin trên
toàn thế giới (đạt 6,7%).Ở Việt Nam, các mô hình dịch vụ điện toán đám mây cũng
đã được hình thành để bắt kịp trào lưu mới trong thế giới công nghệ điện toán.
Với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu về loại hình công nghệ điện toán này, đưa
ra được nội dung khái quát nhất và chi tiết các mô hình dịch vụ, mô hình khai thác
1
 


dịch vụ Public Cloud, nghiên cứu đánh giá giải pháp của một số hãng phần mềm
trên thế giới, qua đó đưa ra đề xuất áp dụng thử nghiệm dịch vụ trên một nền tảng
của một hãng công nghệ nổi tiếng như là Amazon để chứng minh các đặc điểm của
mô hình điện toán đám mây.
Nội dung luận văn được trình bày thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về Cloud Computing
Chương này trình bày lịch sử hình thành của các thế hệ điện toán, một số
khái niệm đang được sử dụng để mô tả môi trường điện toán này. Nội dung của
chương cũng mô tả cấu trúc tổng thể của mô hình các lớp dịch vụ trong môi trường
điện toán đám mây.
Chương 2: Hiện thực của Điện toán đám mây
Chương này mô trả chi tiết mô hình ứng dụng điện toán đám mây, đó là các

mô hình IaaS (Infrastructure as a Service), PaaS (Platform as a service), SaaS
(Software as a service). Nội dung của chương cũng tập trung mô tả các mô hình
khai thác dịch vụ Public Cloud.
Chương 3: Áp dụng trong triển khai ứng dụng thử nghiệm trên nền tảng dịch
vụ điện toán đám mây EC2 của Amazon
Nội dung của chương này mô tả việc triển khai ứng dụng thử nghiệm trên
nền tảng dịch vụ điện toán đám mây EC2 (Elastic Compute Cloud) của hãng
Amazon.Kết luận chương là một số đánh giá kết quả đạt được.
Kết luận:
Phần cuối cùng là kết luận của toàn bộ luận văn bao gồm một vài kết luận
sau khi nghiên cứu mô hình điện toán đám mây và triển khai ứng dụng thử nghiệm,
bên cạnh đó cũng nêu lên một số vấn đề còn tồn tại trong mô hình điện toán này và
đề xuất để ứng dụng mô hình điện toán tiến tiến này vào ứng dụng sâu rộng hơn nữa
trong các lĩnh vực xã hội có áp dụng kỹ thuật công nghệ thông tin góp phần thúc
đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong nước.

2
 


Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CLOUD COMPUTING
1.1 Lịch sử hình thành
Mô hình điện toán tiến hóa qua các thời kì lịch sử khác nhau do sự phát triển
của máy tính và hạ tầng mạng truyền thông. Từ thế hệ máy tính thứ nhất đến thế hệ
thứ ba, máy tính vẫn là các máy tính cồng kềnh, đắt đỏ; các chương trình ứng dụng
được phát triển với chi phí rất cao do sự thiếu thân thiện của ngôn ngữ lập trình
cũng như điều kiện vận hành và sử dụng hệ thống khắt khe.
Thế hệ thứ 4 của máy tính xuất hiện những năm 70 đến nay với sự xuất hiện
của vi xử lí với các ngôn ngữ lập trình thân thiện, phù hợp hơn cho từng lĩnh vực
ứng dụng đặc thù. Với việc cho ra đời máy tính cá nhân đầu những năm 80 của IBM

và Apple, điện toán đã được tiếp cận rộng rãi và trở nên phổ thông. Bước sang
những năm 80 nhất là những năm 90 công nghệ và hạ tầng mạng. Truyền thông đã
có những bước phát triển vượt bậc, với sự ra đời của mạng Internet kết nối toàn cầu
và sự bùng nổ của ứng dụng Web.
Ngày nay, những năm đầu thế kỷ 21, hạ tầng máy tính, viễn thông đã hội tụ
trên nền công nghệ số. Công nghệ kết nối có dây, không dây qua cáp đồng, cáp
quang, vệ tinh, wifi, mạng 3G, 4G,… cho phép kết nối mạng toàn cầu, vươn tới cả
vùng sâu, vùng xa nghèo khó. Với hạ tầng ICT phát triển như vậy, các thiết bị tính
toán cũng hết sức đa dạng từ các siêu máy tính, máy chủ lớn, tới các máy tính cá
nhân, máy tính xách tay, các thiết bị di động thông minh hay các điện thoại di động
giá rẻ đều có thể kết nối với nhau – một thế giới đã kết nối.
Khi thế giới điện toán đã kết nối, làm thế nào để khai thác được tối đa năng
lực điện toán đó với chi phí thấp nhất và nhanh nhất?Làm thế nào để một doanh
nghiệp có hệ thông ứng dụng ERP trong vòng 24 giờ? Làm thế nào để dự án phần
mềm có môi trường phát triển với công cụ quản lý dự án sẵn sàng trong vòng 4 giờ?
Làm thế nào để cô giáo hiệu trưởng ở vùng cao có thể có ứng dụng quản lí hồ sơ,
giáo án tức thì mà không phải tìm hiểu các bước “cài đặt” hoặc “sao lưu dữ liệu”?
Không thể kể hết các nhu cầu tương tự, nhưng có thể nói điện toán đám mây là mô
3
 


hình được kỳ vọng đáp ứng các nhu cầu đó, đem sản phẩm và dịch vụ công nghệ
thông tin chất lượng cao đến mọi đối tượng theo nhu cầu, với thời gian nhanh hơn
và chi phí rẻ hơn.
1.2 Các định nghĩa
Hiện nay chưa có một định nghĩa chính thức nào cho điện toán đám mây, tuy
nhiên có nhiều tổ chức đã tự định nghĩa và đưa ra cách nhìn riêng của mình về khái
niệm này.



Theo Wikipedia: “Điện toán đám mây (cloud computing) là một mô

hình điện toán có khả năng co giãn (scalable) linh động và các tài nguyên thường
được ảo hóa được cung cấp như một dịch vụ trên mạng Internet”.


Theo Gartner (): “Một mô hình

điện toán nơi mà khả năng mở rộng và linh hoạt về công nghệ thông tin được cung
cấp như một dịch vụ cho nhiều khách hàng đang sử dụng các công nghệ trên
Internet”.
• Theo Ian Foster: “Một mô hình điện toán phân tán có tính co giãn lớn
mà hướng theo co giãn về mặt kinh tế, là nơi chứa các sức mạnh tính toán, kho lưu
trữ, các nền tảng (platform) và các dịch vụ được trực quan, ảo hóa và co giãn linh
động, sẽ được phân phối theo nhu cầu cho các khách hàng bên ngoài thông qua
Internet (A large-scale distributed computing paradigm that is driven by economies
of scale, in which a pool of abstracted, virtualized, dynamically scalable, managed
computing power, storage, platforms, and services are delivered on demand to
external customers over the Internet)”.


Theo NIST (National Institute of Standards and Technology): “Điện

toán đám mây là mô hình điện toán cho phép truy cập qua mạng để lựa chọn và sử
dụng tài nguyên tính toán (ví dụ: mạng, máy chủ, lưu trữ, ứng dụng và dịch vụ) theo
nhu cầu một cách thuận tiện và nhanh chóng, đồng thời cho phép kết thúc sử dụng
dịch vụ, giải phóng tài nguyên dễ dàng, giảm thiểu các giao tiếp với nhà cung cấp”.
1.3 Mô hình tổng quan của Cloud Computing


4
 


 

Hình 1: Mọi thứ đều tập trung vào đám mây
Theo định nghĩa, các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm, dịch vụ ... sẽ
nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong máy tính gia đình và
văn phòng (trên mặt đất) để mọi người kết nối và sử dụng mỗi khi họ cần.
Theo đó, mô hình chính là cho phép sử dụng dịch vụ theo yêu cầu (on-deman
service); cung cấp khả năng truy cập dịch vụ qua mạng rộng rãi từ máy tính để bàn,
máy tính xách tay tới thiết bị di động (broad net-work access); với tài nguyên tính
toán động, phục vụ nhiều người (resource pooling for multi-tenanci), năng lực tính
toán phần mềm dẻo, đáp ứng nhanh với nhu cầu thấp tới cao (rapid elasticity). Mô
hình điện toán đám mây đảm bảo việc sử dụng các tài nguyên được “đo” để nhà
cung cấp dịch vụ quản trị và tối ưu được tài nguyên, đồng thời người dùng chỉ phải
trả chi phí cho phần tài nguyên đã sử dụng (pay-by-use).
Hiện nay, các nhà cung cấp đưa ra nhiều dịch vụ của cloud computing theo
nhiều hướng khác nhau, đưa ra các chuẩn riêng cũng như cách thức hoạt động khác
nhau. Do đó, việc tích hợp các cloud để giải quyết một bài toán lớn của khách hàng
vẫn còn là một vấn đề khó khăn. Chính vì vậy, các nhà cung cấp dịch vụ đang có xu

5
 


hướng tích hợp các cloud lại với nhau thành “sky computing”, đưa ra các chuẩn
chung để giải quyết các bài toán lớn của khách hàng.


Hình 2: Liên kết giữa các dịch vụ Cloud Computing
Các đặc điểm của Cloud computing bao gồm như sau:
- Qui mô lớn: Hệ thống cloud computing của Google có hơn 1 triệu server,
cloud của Amazon, IBM, Microsoft hay Yahoo đều có hàng trăm nghìn server. Do
đó tập trung hóa cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực với chi phí thấp hơn (chẳng hạn
như bất động sản, điện, v.v.); Khả năng chịu tải nâng cao; Cải thiện việc sử dụng và
hiệu quả cho các hệ thống mà thường chỉ 10-20% được sử dụng
- Ảo hóa: Người dùng hoàn toàn không biết việc tính toán diễn ra tại đâu, chỉ
cần gửi request và nhận kết quả.
- Độ tin cậy cao: Cloud thường lưu dữ liệu thành nhiều bản và ứng dụng
nhiều cơ chế đảm bảo hệ thống vẫn an toàn khi bất kì server nào bị hỏng. Độ tin cậy
cải thiện thông qua việc sử dụng các site có nhiều dư thừa, làm nó thích hợp cho
tính liên tục trong kinh doanh và khôi phục thất bại…
- Thông dụng: Thích hợp với nhiều ứng dụng khác nhau. Sự độc lập giữa
thiết bị và vị trí làm cho người dùng có thể truy cập hệ thống bằng cách sử dụng
trình duyệt web mà không quan tâm đến vị trí của họ hay thiết bị nào mà họ đang
dùng, ví dụ như PC, mobile. Vì cơ sở hạ tầng off-site (được cung cấp bởi đối tác thứ

6
 


3) và được truy cập thông qua Internet, do đó người dùng có thể kết nối từ bất kỳ
nơi nào.
- Linh hoạt: Số lượng server trong Cloud không cố định, tùy theo mức độ sử
dụng có thể tăng thêm hoặc giảm bớt server.
- Phục vụ theo yêu cầu: Người dùng thông qua mức độ sử dụng của mình
để trả tiền.Tính co giãn linh động (“theo nhu cầu”) cung cấp tài nguyên trên một cơ
sở.
- Giá rẻ: Google mỗi năm đầu tư 1,6 tỉ USD để xây dựng trung tâm dữ liệu

dạng cloud, năng lực tương đương với bỏ ra 64 tỉ USD để xây dựng theo kĩ thuật
truyền thống. Hơn nữa thời gian xử lí còn rút ngắn đi nhiều. Do chi phí được giảm
đáng kể và chi phí vốn đầu tư được chuyển sang hoạt động chi tiêu. Điều này làm
giảm rào cản cho việc tiếp nhận, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng được cung cấp bởi
đối tác thứ 3 và không cần phải mua để dùng cho các tác vụ tính toán thực hiện 1
lần hay chuyên sâu mà không thường xuyên. Việc định giá dựa trên cơ sở tính toán
theo nhu cầu thì tốt đối với những tùy chọn dựa trên việc sử dụng và các kỹ năng IT
được đòi hỏi tối thiểu (hay không được đòi hỏi) cho việc thực thi.
- Bảo mật: Việc bảo mật cải thiện nhờ vào tập trung hóa dữ liệu, các tài
nguyên chú trọng bảo mật, v.v… nhưng cũng nâng cao mối quan tâm về việc mất
quyền điều khiển dữ liệu nhạy cảm. Bảo mật thường thì tốt hay tốt hơn các hệ thống
truyền thống, một phần bởi các nhà cung cấp có thể dành nhiều nguồn lực cho việc
giải quyết các vấn đề bảo mật mà nhiều khách hàng không có đủ chi phí để thực
hiện
1.4 Tính chất cơ bản của Cloud Computing
Năm tính chất nổi bật của Cloud Computing so với mô hình truyền thống.

7
 


 

Hình 3. NIST Visual Model of Cloud Computing Definition
• Tự phục vụ theo nhu cầu (On-demand self-service):
Mỗi khi có nhu cầu, người dùng chỉ cần gửi yêu cầu thông qua trang web
cung cấp dịch vụ, hệ thống của nhà cung cấp sẽ đáp ứng yêu cầu của người dùng.
Người dùng có thể tự phục vụ yêu cầu của mình như tăng thời gian sử dụng server,
tăng dung lượng lưu trữ… mà không cần phải tương tác trực tiếp với nhà cung cấp
dịch vụ, mọi nhu cầu về dịch vụ đều được xử lý trên môi trường web (internet).

• Truy xuất diện rộng (Broad network access)
Cloud Computing cung cấp các dịch vụ thông qua môi trường internet. Do
đó, người dùng có kết nối internet là có thể sử dụng dịch vụ. Hơn nữa, Cloud
Computing ở dạng dịch vụ nên không đòi hỏi khả năng xử lý cao ở phía client, vì
vậy người dùng có thể truy xuất bằng các thiết bị di dộng như điện thoại, PDA,
laptop… Với Cloud Computing người dùng không còn bị phụ thuộc vị trí nữa, họ
có thể truy xuất dịch vụ từ bất kỳ nơi nào, vào bất kỳ lúc nào có kết nối internet.
• Dùng chung tài nguyên (Resource pooling)
Tài nguyên của nhà cung cấp dịch vụ được dùng chung, phục vụ cho nhiều
người dùng dựa trên mô hình “multi-tenant”. Trong mô hình “multi-tenant”, tài

8
 


nguyên sẽ được phân phát động tùy theo nhu cầu của người dùng. Khi nhu cầu của
một khách hàng giảm xuống, thì phần tài nguyên dư thừa sẽ được tận dụng để phục
vụ cho một khách hàng khác. Ví dụ như khách hàng A thuê 10 CPU mỗi ngày từ 7
giờ đến 11 giờ, một khách hàng B thuê 10 CPU tương tự mỗi ngày từ 13 giờ đến 17
giờ thì hai khách hàng này có thể dùng chung 10 CPU đó.
Cloud Computing dựa trên công nghệ ảo hóa, nên các tài nguyên da phần là
tài nguyên ảo. Các tài nguyên ảo này sẽ được cấp phát động theo sự thay đổi nhu
cầu của từng khách hàng khác nhau. Nhờ đó nhà cung cấp dịch vụ có thể phục vụ
nhiều khách hàng hơn so với cách cấp phát tài nguyên tĩnh truyền thống.
• Khả năng co giãn (Rapid elasticity)
Đây là tích chất đặc biệt nhất, nổi bật nhất và quan trọng nhất của Cloud
Computing. Đó là khả năng tự động mở rộng hoặc thu nhỏ hệ thống tùy theo nhu
cầu của người dùng. Khi nhu cầu tăng cao, hệ thống sẽ tự mở rộng bằng cách thêm
tài nguyên vào.Khi nhu cầu giảm xuống, hệ thống sẽ tự giảm bớt tài nguyên.
Ví dụ: khách hàng thuê một Server gồm 10 CPU. Thông thường do có ít truy

cập nên chỉ cần 5 CPU là đủ, khi đó hệ thống quản lý của nhà cung cấp dịch vụ sẽ
tự ngắt bớt 5 CPU dư thừa, khách hàng không phải trả phí cho những CPU dư thừa
này (những CPU này sẽ được cấp phát cho các khách hàng khác có nhu cầu). Khi
lượng truy cập tăng cao, nhu cầu tăng lên thì hệ thống quản lý của nhà cung cấp
dịch vụ sẽ tự “gắn” thêm CPU vào, nếu nhu cầu tăng vượt quá 10 CPU thì khách
hàng phải trả phí cho phần vượt mức theo thỏa thuận với nhà cung cấp.
Khả năng co giãn giúp cho nhà cung cấp sử dụng tài nguyên hiệu quả, tận
dụng triệt để tài nguyên dư thừa, phục vụ được nhiều khách hàng. Đối với người sử
dụng dịch vụ, khả năng co giãn giúp họ giảm chi phí do họ chỉ trả phí cho những tài
nguyên thực sự dùng.
• Điều tiết dịch vụ (Measured service)
Hệ thống Cloud Computing tự động kiểm soát và tối ưu hóa việc sử dụng tài
nguyên (dung lượng lưu trữ, đơn vị xử lý, băng thông…). Lượng tài nguyên sử

9
 


dụng có thể được theo dõi, kiểm soát và báo cáo một cách minh bạch cho cả hai
phía nhà cung cấp dịch vụ và người sử dụng. 
1.5 Lợi ích của việc sử dụng Cloud Computing
• Tính linh động: Người dùng có thể thoải mái lựa chọn các dịch vụ phù hợp
với nhu cầu của mình, cũng như có thể bỏ bớt những thành phần mà mình không
muốn. (Thay vì phải bỏ ra hàng trăm USD cho 1 bộ MS Office, ta có thể mua riêng
lẻ từng phần hoặc chỉ trả 1 khoản phí rất nhỏ mỗi khi sử dụng 1 phần nào đó của nó)
Nhờ khả năng co giãn mà Cloud Computing cung cấp, hệ thống của khách hàng
có khả năng mở rộng hoặc thu nhở một cách linh hoạt tùy theo nhu cầu cụ thể.
Doanh ghiệp có thể khởi đầu với quy mô nhỏ, nhu cầu thấp nhưng sau đó phát triển
mở rộng quy mô với nhu cầu tăng cao.
Các dịch vụ Cloud Computing có thể được truy xuất ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào

thông qua mạng internet.Khách hàng có thể lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ nào đáp
ứng tốt nhất cho nhu cầu của mình với giá cả và chất lượng dịch vụ hợp lý nhất.
Với Cloud Computing, doanh nghiệp sẽ chuyển hầu hết trách nhiệm về kiểm
soát hệ thống, quản lý hạ tầng, bảo mật, đảm bảo chất lượng dịch vụ… cho nhà
cung cấp dịch vụ. Khi đó doanh nghiệp sẽ giảm rất nhiều chi phí và chỉ tập trung
vào nhiệm vụ chính là kinh doanh, không phải bận tâm nhiều đến việc quản lý,
kiểm soát hệ thống.
• Giảm bớt phí: Người dùng không chỉ giảm bớt chi phí bản quyền mà còn
giảm phần lớn chi phí cho việc mua và bảo dưỡng máy chủ. Việc tập hợp ứng dụng
của nhiều tổ chức lại 1 chỗ sẽ giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu, cũng như tăng hiệu
năng sử dụng các thiết bị này một cách tối đa.
Khi đối tượng áp dụng là doanh nghiệp sử dụng dịch vụ Cloud Computing, đặc
biệt là Public Cloud, thì chi phí đầu tư ban đầu rất thấp. Nếu doanh nghiệp tự xây
dựng một hệ thống quy mô lớn cho mình thì chi phí đầu tư rất lớn (mua phần cứng,
quản lý nguồn điện, hệ thống làm mát, nguồn nhân lực vận hành hệ thống…). Và
các dự án tốn kém như vậy thường cần rất nhiều thời gian để được phê chuẩn. Việc
xây dựng một hệ thống như vậy cũng đòi hỏi nhiều thời gian. Giờ đây, nhờ Cloud
10
 


Computing, mọi thứ đã được nhà cung cấp dịch vụ chuẩn bị sẵn sàng, doanh nghiệp
chỉ cần thuê là có thể sử dụng được ngay mà không phải tốn chi phí đầu tư ban đầu.
Một yếu tố giúp giảm chi phí nữa là khách hàng chỉ trả phí cho những gì họ thật
sự dùng (Usage-based costing).Với những tài nguyên đã thuê nhưng chưa dùng đến
(do nhu cầu thấp) thì khách hàng không phải trả tiền.Đây thật sự là một lợi ích rất
lớn đối với doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ Cloud Computing.
• Tạo nên sự độc lập: Người dùng sẽ không còn bị bó hẹp với 1 thiết bị hay 1
vị trí cụ thể nào nữa. Với điện toán đám mây, phần mềm, dữ liệu có thể được truy
cập và sử dụng từ bất kì đâu, trên bất kì thiết bị nào mà không cần phải quan tâm

đến giới hạn phần cứng cũng như địa lý. (Bạn có thể chơi Call of Duty 6 trên iPad
hoặc iPhone mà không cần quan tâm đến cấu hình của nó)
• Tăng cường độ tin cậy: Dữ liệu trong mô hình điện toán đám mây được lưu
trữ 1 cách phân tán tại nhiều cụm máy chủ tại nhiều vị trí khác nhau. Điều này giúp
tăng độ tin cậy, độ an toàn của dữ liệu mỗi khi có sự cố hoặc thảm họa xảy ra.
• Sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn: Nhờ khả năng co giãn (elasticity) nên tài
nguyên luôn được sử dụng một cách hợp lý nhất, theo đúng nhu cầu của khách
hàng, không bị lãng phí hay dư thừa. Đối với nhà cung cấp dịch vụ, công nghệ ảo
hóa giúp cho việc khai thác tài nguyên vật lý hiệu quả hơn, phục vụ nhiều khách
hàng hơn. Một yếu tố khác ảnh hưởng đến việc sử dụng tài nguyên đó là cách “gán”
(cấp phát) tài nguyên cho khách hàng. Các mô hình truyền thống hiện thực cấp phát
tài nguyên theo kiểu single-tenant: một tài nguyên được cấp phát “tĩnh” trực tiếp
cho một khách hàng, như vậy một tài nguyên chỉ có thể phục vụ cho một khách
hàng dù cho khách hàng đó có những lúc không có nhu cầu sử dụng thì tài nguyên
đó sẽ ở trạng thái rảnh, dư thừa chứ không được thu hồi lại.
Cloud Computing hiện thực việc phân phối tài nguyên theo kiểu multi-tenant:
một tài nguyên có thể được cấp phát “động” cho nhiều khách hàng khác nhau, các
khách hàng này sẽ luân phiên sử dụng tài nguyên được cấp phát chung. Với mô
hình multi-tenant, một tài nguyên có thể phục vụ cho nhiều khách hàng khác

11
 


nhau.Như vậy khi khách hàng không có nhu cầu, tài nguyên rảnh sẽ được hệ thống
thu hồi lại và cấp phát cho khách hàng khác có nhu cầu.
• Bảo mật: Việc tập trung dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau sẽ giúp các
chuyên gia bảo mật tăng cường khả năng bảo vệ dữ liệu của người dùng, cũng như
giảm thiểu rủi ro bị mất cắp toàn bộ dữ liệu. (Dữ liệu được đặt tại 6 máy chủ khác
nhau nếu trong trường hợp hacker tấn công, bạn cũng sẽ chỉ bị lộ 1/6. Đây là 1 cách

chia sẻ rủi ro giữa các tổ chức với nhau)
• Bảo trì dễ dàng: Mọi phần mềm đều nằm trên server, lúc này, người dùng sẽ
không cần lo lắng cập nhật hay sửa lỗi phần mềm nữa. Và các lập trình viên cũng dễ
dàng hơn trong việc cài đặt, nâng cấp ững dụng của mình.
1.6 Xu hướng phát triển của Cloud Computing
Cloud computing ra đời từ giữa năm 2007, cho đến nay đã không ngừng phát
triển mạnh mẽ và được hiện thực bởi nhiều công ty lớn trên thế giới như IBM, Sun,
Amazon, Google, Microsoft, Yahoo, SalesForce, …
Với mục tiêu giải quyết các bài toán về dữ liệu, tính toán, dịch vụ, … cho
khách hàng, cloud computing đã và đang mang lại lợi nhuận lớn, đem đến một sân
chơi, một thị trường rộng lớn cho các nhà cung cấp dịch vụ, nên sự phát triển nhanh
chóng của nó có thể được tính bằng từng ngày.

12
 


Hình 4: Xu hướng phát triển của Cloud Computing (Nguồn: Google Trend)
Theo một khảo sát mới đây của hãng nghiên cứu Gartner, tốc độ phát triển
"đám mây" trên toàn thế giới đã đạt mức 17% hàng năm trong khi hơn 50% doanh
nghiệp, tổ chức tham gia đều triển khai điện toán đám mây dưới hình thức này hay
hình thức khác.Điện toán đám mây là xu thế hiện đại.Xu hướng này được cả thế
giới đón nhận và đang chuyển dần về dịch vụ này nhằm tồn tại, bắt kịp và phát triển
bền vững. Các doanh nghiệp phần mềm, hòa nhịp với xu hướng toàn cầu hóa, cần
đầu tư và chuyển đổi theo xu thế hiện đại, phát triển dịch vụ điện toán đám mây.
Các xu hướng phát triển của Cloud Computing được nêu ra như sau:


Sự phát triển của đám mây di động (mobile cloud): Apple iCloud,


Amazon Cloud và dịch cụ điện toán đám mây đang giúp công nghệ này trở nên đại
trà. Nhu cầu lưu trữ thông tin trên đám mây và khả năng truy cập bất cứ khi nào họ
cần sẽ giảm bớt "gánh nặng" cho thiết bị. Nỗi lo mất điện thoại vì "mọi dữ liệu quan
trọng như số liên lạc, ảnh, video… nằm cả trong đó" sẽ không còn bởi thông tin đã
được tự động sao lưu lên đám mây và người sử dụng có thể thoải mái xóa dữ liệu từ
xa để tránh tình trạng dữ liệu bí mật, riêng tư rơi vào tay kẻ xấu.


Sự nở rộ của đám mây lai (hybrid cloud): Đám mây lai là sự giao

thoa của hai hay nhiều mô hình đám mây, như như kết hợp giữa public cloud (các
dịch vụ cloud được cung cấp cho mọi người sử dụng rộng rãi và private cloud (cơ
sở hạ tầng và các dịch vụ được xây dựng để phục vụ cho một tổ chức, doanh nghiệp
duy nhất). Điều này sẽ giúp khai thác những điểm mạnh nhất của từng mô hình,
mang đến khả năng bảo vệ dữ liệu an toàn hơn, nhưng cũng linh động và gần gũi
hơn với người sử dụng. Năm tới sẽ có ngày càng nhiều doanh nghiệp vừa và lớn sẽ
chuyển sang mô hình này. Theo Gartner, tổng giá trị cho các dịch vụ đám mây hiện
thời là gần 2,4 tỷ USD và đến năm 2013 sẽ đạt gần 8,1 tỷ USD.


Sự tiến hóa của bảo mật đám mây: Bảo mật luôn là đề tài nóng và

là một trong những nguyên nhân chính khiến các tổ chức có liên quan đến các dữ
liệu nhạy cảm lưỡng lự trong việc đón nhận. Họ lo ngại hacker tìm cách xâm nhập

13
 


vào kho thông tin nằm trên đám mây, do đó việc liên tục tạo ra những phương pháp

bảo mật kiểu mới, an toàn và hiệu quả là mục tiêu hàng đầu của các chuyên gia phát
triển trong năm 2012.


Cuộc cách mạng môi trường làm việc di động: Tương tự e-mail

thay đổi cách con người liên lạc với bạn bè và đồng nghiệp, cloud được cho là đang
tạo ra con đường gửi và lưu trưc thông tin nhanh chóng và thông suốt hơn bao giờ
hết. Với khả năng truy cập và làm việc từ xa, công việc sẽ được giải quyết dễ dàng
hơn mà không bị ngắt quãng.


Dịch vụ phần mềm (SaaS) mở rộng thành dịch vụ IT (ITaaS):

SaaS sẽ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực CRM mà dần có tầm ảnh hưởng đến cả
cơ sở hạ tầng IT. "Một lĩnh vực mới đang nổi lên trên thị trường là IT as a Service
(dịch vụ IT), trong đó các doanh nghiệp sẽ 'tiêu thụ' IT, biến nó trở thành một dịch
vụ trong doanh nghiệp. Từ đó hình thành một thế giới mà ở đó việc triển khai các
ứng dụng trên toàn cầu chỉ mất 2 tiếng thay vì 2 tháng, các chuyên gia phát triển sẽ
sử dụng một nền tảng tự phục vụ (a self-service platform) để cung cấp và triển khai
ứng dụng thay vì phải thông qua một quá trình thủ công tốn kém nào đó, hoặc một
người có thể quản lý 10.000 server thay vì chỉ 100 server.
1.7 Các khó khăn, thách thức đối với Cloud Computing
Cloud không hoàn toàn là giải pháp tối ưu cho các doanh nghiệp, điều này
phụ thuộc vào quy mô của công ty, và tính chất kinh doanh mà doanh nghiệp đó
theo đuổi. Đối với các doanh nghiệp hoạt động mà dữ liệu của công ty mang tính
chất là sống còn trong việc kinh doanh thì công ty đó sẽ xây dựng nên một hệ thống
riêng trong công ty của mình vận hành như hệ thống lưu trữ của các ngân hàng.
Nhưng đối với các doanh nghiệp nhỏ thì Cloud có lẽ là giải pháp tối ưu do họ không
phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng và cũng không cần phải có phòng để quản lý, bảo trì

vận hành hệ thống (như vấn đề về việc thay thế các thiết bị lưu trữ, phải bảo đảm
nhiệt độ của hệ thống làm việc tốt, ngoài ra còn vấn đề về năng lượng tiêu thụ của
hệ thống), và dữ liệu của công ty thì có lẽ không quan trọng lắm.

14
 


Ngoài ra với các dịch vụ PaaS, thì vấn đề phụ thuộc vào nền tảng của nhà
cung cấp dịch vụ là rất nhiều. Ví dụ với Google và dịch vụ Google App Engine thì
khi khách hành phát triển một ứng dụng trên đó thì sẽ phụ thuộc vào Google, vì
hiện nay vấn đề API chưa được chuẩn hóa giữa các nhà cung cấp dịch vụ theo dạng
này trong Cloud Computing. Vì vậy nếu hệ thống của Google có trục trặc hay có
vấn đề khác. Nếu những điều đó làm ứng dụng của mình không chạy được thì ứng
dụng của mình cũng không thể chạy ở nơi khác vì nền tảng bên dưới mà nhà cung
cấp dịch vụ đã che dấu và cũng không phải là mã nguồn mở.
Trong quá trình hiện thực cloud computing, người ta nhận thấy một số khó
khăn, thách thức sau:
• Tính sẵn sàng
Hiện nay, việc sử dụng các dịch vụ của cloud computing làm cho người sử
dụng lo lắng đến tính sẵn sàng của dịch vụ mà họ sử dụng. Nên đây là một lý do có
thể làm cho người sử dụng ngại sử dụng các dịch vụ của Cloud Computing. Nhưng
hiện tại, những người sử dụng dịch vụ của Cloud Computing có thể an tâm về chất
lượng dịch vụ. Ví dụ như trong SaaS có dịch vụ tìm kiếm của Google, hiện tại khi
người dùng truy cập vào trang web sử dụng dịch vụ tìm kiếm này thì có thể an tâm
rằng mình luôn được đáp ứng nếu mình truy cập không được thì có thể đó là vấn đề
do kết nối đường truyền mạng. Năm 2008, có một cuộc khảo sát về chất lượng dịch
vụ thì có hai hãng hàng đầu đạt chất lượng phục vụ tốt về tích sẵn sàng của dịch vụ.

Hình 5. Bảng khảo sát chất lượng dịch vụ

Ngoài ra sự đe dọa đến tính sẵn sàng của dịch vụ còn nằm ở chỗ, khi dịch vụ
bị tấn công bằng cách DDOS (distributed denial of service attacks).Với kiểu tấn
công này làm cho các nhà cung cấp dịch vụ tốn một khoảng chi phí lớn để đối phó
với cách tấn công này.
• Data lock-in
15
 


Hiện nay các phần mềm đã được cải thiện khả năng tương tác giữa các nền
tảng khác nhau, nhưng các hàm API của Cloud Computing vẫn còn mang tính đôc
quyền, chưa được chuẩn hóa. Do đó khi một khách hàng viết một ứng dụng trên
một nền tảng do một nhà cung cấp dịch vụ thì ứng dụng đó sẽ chỉ được sử dụng trên
các dịch đó, nếu đem ứng dụng đó qua một nền tảng khác do một nhà cung cấp dịch
vụ khác cung cấp thì có thể không chạy được.Điều này dẫn đến người sử dụng phụ
thuộc vào nhà cung cấp dịch vụ.Ngoài ra nhà cung cấp dịch vụ cũng sẽ tập trung
hơn để phát triển dịch vụ của mình để phục vụ nhu cầu người sử dụng tốt hơn.
Ngoài ra việc sử dụng các dịch vụ của cloud computing cũng gây ra một vấn
đề, khi dữ liệu của người sử dụng dịch vụ lưu trữ trên hệ thống của nhà cung cấp
dịch vụ thì có điều gì đảm bảo cho người sử dụng là dữ liệu của mình sẽ an toàn,
không bị rò rỉ ra bên ngoài. Hiện nay, về mặt kỹ thuật thì vẫn chưa có cách nào hiệu
quả để giải quyết vấn đề trên. Điều này dẫn đến việc thực hiện hay sử dụng thường
xảy ra đối với các nhà cung cấp dịch vụ có tiếng, uy tín.
Ví dụ: tháng 8 năm 2008 khi dịch vụ lưu trữ dữ liệu trực tuyến của Linkup bị
hỏng, sau khi phục hồi lại hệ thống thì phát hiện ra mất 45% dữ liệu của khách
hàng. Sau sự cố này thì uy tín và doanh thu của công ty hạ xuống. Khoãng 20.000
người dùng dịch vụ của Linkup đã từ bỏ nhà cung cấp nay để tìm đến một nhà cung
cấp dịch vụ mới.Và sau đó dịch vụ này phải dựa trên một dịch vụ lưu trữ trực tuyến
khác để tồn tại là Nirvanix, và hiện nay hai công ty này đã kết hợp với nhau trong
việc cung cấp dịch vụ lưu trữ trực tuyến.

Từ ví dụ trên ta thấy nếu các các nhà cung cấp dịch vụ có cơ chế chuẩn hóa
các API thì các nhà phát triển dịch vụ có thể triển khai dịch vụ trên nhiều nhà cung
cấp dịch vụ, khi đó một nhà cung cấp dịch vụ nào đó bị hỏng, thì dữ liệu của các
nhà phát triển không mất hết mà có thể nằm đâu đó trên các nhà cung cấp dịch vụ
khác. Nếu như cách này được các nhà cung cấp dịch vụ thể hiện thì sẽ dẫn đến cuộc
cạnh tranh về giá của nhà cung cấp. Hai tham số ảnh hưởng đến việc lựa chọn một
dịch vụ lúc đó là:

16
 


Tham số thứ nhất là chất lượng dịch vụ tương xứng với giá mà người sử
dụng trả cho nhà cung cấp dịch vụ. Hiện nay có một số nhà cung cấp dịch vụ có giá
cao gấp 10 lần so với các nhà cung cấp khác, nhưng nếu nó có chất lượng tốt cộng
thêm các tính năng hỗ trợ người dùng như: tính dễ dùng, một số tính năng phụ
khác…
Tham số thứ hai, ngoài việc giảm nhẹ data lock – in, thì việc chuẩn hóa các
API sẽ dẫn đến một mô hình mới: cơ sở hạ tầng cùng phần mềm có thể chạy trên
private cloud hay public cloud.
• Bảo mật và kiểm tra dữ liệu
Khi đưa dữ liệu lên cloud thì một câu hỏi đặt ra là: dữ liệu của mình có an
toàn không? Do đó các dữ liệu nhạy cảm của các công ty thường không để lên
Cloud lưu trữ. Việc để dữ liệu lên đó sẽ làm cho khả năng bị nhiều khác truy xuất
hơn.Và vấn đề này đang là một thách thức thực sự đối với công nghệ hiện đại trong
việc việc bảo mật dữ liệu.Hiện nay có một giải phát là những người dùng dịch vụ
Cloud phải mã hóa dữ liệu trước khi đưa lên hệ thống Cloud, và khi muốn sử dụng
dữ liệu này thì phải thực hiện công việc giải mã này ở máy local. Ví dụ việc mã hóa
dữ liệu trước khi đưa lên Cloud sẽ bảo mật hơn so với đem dữ liệu lên cloud mà
không có mã hóa. Mô hình này đã có những thành công nhất định đối với đối với

việc sử dụng TC3, đây là công ty về chăm sóc sức khỏe (công ty này sử dụng hệ
thống TC3), dữ liệu của họ là những thông tin nhạy cảm (dữ liệu của họ chủ yếu là
về các thông tin bệnh của các bệnh nhân).
Ngoài ra, còn có thể thêm vào việc ghi nhận lại các thộng tin mà hệ thống đã
làm, và sử dụng các hệ điều hành ảo khi cung cấp dịch vụ IaaS sẽ làm cho ứng dụng
của mình khó bị tấn công hơn.
Việc bảo mật dữ liệu ngoài các vấn đề về kỹ thuật thì nó còn liên quan đến
các vấn đề khác như con người, các đạo luật… Việc sử dụng các luật bảo vệ người
sử dụng dịch vụ cloud khi họ đưa dữ liệu của mình lưu trữ trên Cloud, thì các nhà
cung cấp dịch vụ phải bảo đảm dữ liệu của khách hàng không bị rò rỉ ra bên ngoài.

17
 


Thêm vào đó các nhà cung cấp dịch vụ SaaS còn cung cấp cho người dùng
cơ chế lựa chọn vị trí mà người dùng muốn lưu trữ dữ liệu cũa mình. Ví dụ:
Amazon cung cấp dịch S3, khi sử dụng dịch vụ này người dùng có thể lưu trữ dữ
liệu vật lý của mình ở châu Âu hay ở Mỹ.
• Việc gây ra ngẽn cổ chai trong việc truyền dữ liệu
Đối với các ứng dụng, mà lúc đầu ứng dụng bắt đầu chạy thường thì dữ liệu
ít, và càng về sau thì dữ liệu càng nhiều.Và ngoài ra có thể có ứng dụng chạy trên
Cloud mà dữ liệu có thể lưu ở các vị trí khác nhau.Khi lúc ứng dụng này chạy có
thể dẫn đến việc vận chuyển giữa các dữ liệu (việc vận chuyển dữ liệu giữa các data
center).Hiện nay giá của việc vận chuyển dữ liệu là 100$ đến 150$ cho mỗi terabyte
vận chuyển. Khi ứng dụng chạy càng về sau thì chi phí này có thể càng tăng lên,
làm cho chi phí truyền tải dữ liệu là một vấn đề quan trọng trong chi phí vận hành
ứng dụng. Và vấn đề này cũng đã được các nhà cung cấp dịch vụ Cloud và những
người sử dụng Cloud suy nghĩ đến.Và vấn đề này đã được giải quyết trong dịch vụ
Cloudfront mà công ty Amazon đã phát triển.

• Khó tiên đoán trong hiệu suất thực thi của máy tính
Khi nhiều máy ảo chạy cùng chạy, thì vấn đề chia sẽ về CPU hay bộ nhớ đạt
hiệu quả cao, nhưng vấn đề giao tiếp IO của các máy ảo này gây ra nhiều vấn đề về
hiệu suất.

18
 


Hình 6. Biểu đồ so sánh hiệu xuất chạy 72 máy ảo trên EC2 giữa các máy
chia sẻ bộ nhớ (a) và máy chia sẻ ổ cứng (b)
• Đáp ứng nhu cầu khả năng lưu trữ của người dùng
Đây là một tính năng khá tốt của Cloud Computing, phục vụ theo nhu cầu
người dùng: khi người dùng muốn mở rộng khả năng lưu trữ do nhu cầu tăng lên thì
hệ thống có nhiệm vụ cung cấp đủ dung lượng cho người sử dụng, khi người dùng
muốn giảm khả năng lưu trữ thì hệ thống có nhiệm vụ thu hồi dung lượng đã cấp
cho người sử dụng.
Điều này gây ra khó khăn trong việc quản lý hệ thống lưu trữ (khi một người
sử dụng mua một khoảng dung lượng thì phải cung cấp cho người đó bao nhiêu?
vừa đủ cho người sử dụng yêu cầu hay nhiều hơn yêu cầu?), tăng độ phức tạp cấu
trúc dữ liệu (cấu trúc dữ liệu làm sao hổ trợ vấn đề lưu trữ, vấn đề duyệt, vấn đề mở
rộng...), hiệu suất truy xuất dữ liệu trong ổ cứng không cao (nếu phục vụ nhu cầu
của người sử dụng thì hệ thống lưu trữ của mình có thể dễ bị hiện tượng phân mảnh
trong lưu trữ). Điều này dẫn đến vần đề nghiên cứu tạo ra một hệ thống lưu trữ sao
cho tiện lợi trong phục vụ nhu cầu khả năng lưu trữ của người sử dụng.
• Khả năng tự co giãn của hệ thống
Hiện nay, Google triển khai platform Google App Engine giúp đỡ các
developer phát triển web application. Khi người sử dụng dùng dịch vụ này của
Google khi triển khai ứng dụng, nếu ứng dụng của mình sử dụng hết tài nguyên
mua của Google nếu mình chọn ở mức mua dữ liệu (Google còn cung cấp thêm một

mức là sử dụng miễn phí không có chức năng này) thì khi đó google tự động cung
cấp thêm tài nguyên (dung lượng lưu trữ, số clock mà CPU chạy cho ứng dụng) cho
ứng dụng ta chạy đồng thời tính thêm tiền cần. Đây cũng là một thách thức trong
việc nhận ra khi nào tài nguyên người sử dụng đã dùng ở mức quá hạn và cung cấp
thêm tài nguyên người dùng (đây là vấn đề cần thiết nếu nhà cung cấp dịch vụ
không cung cấp kịp tài nguyên thì hệ thống người dùng triển khai trên nên tảng của
nhà cung cấp dịch vụ có thể gây ra tình trạng hỏng).

19
 


×