Tải bản đầy đủ (.doc) (73 trang)

Vai trò của nữ giới trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh cà mau

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.24 KB, 73 trang )

Chương trình lãnh đạo nữ Cambridge – Việt Nam
BỘ NGOẠI GIAO

“Nâng cao năng lực lãnh đạo cho phụ nữ trong khu vực
Nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2012

VAI TRÒ CỦA NỮ GIỚI TRONG KHỐI CƠ QUAN NHÀ
NƯỚC CẤP TỈNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

Cà Mau, 12/2012
1


CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Đoàn Xuân Diệp

NHÓM THAM GIA THỰC HIỆN
Lưu Mỹ Hạnh
Trần Thu Anh
Hồ Thị Nhật Hoàng

2


LỜI NÓI ĐẦU
Luật Bình đẳng giới được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua
ngày 29 tháng 11 năm 2006, quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách
nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng


giới. Luật nêu rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau,
được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của
cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển
đó.
Trong những năm qua công tác bình đẳng giới ở nước ta đã mang lại những
kết quả đáng kể. Trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đã có
sự tham gia của cả nam và nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo các cấp trong bộ
máy Nhà nước. Tuy nhiên với nhiều nguyên nhân khác nhau, công tác bình đẳng
giới vẫn còn những hạn chế, bất cập như: các nội dung cơ bản nhất của Luật
Bình đẳng giới đã được cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành,
nhưng quá trình tổ chức thực hiện chưa sâu rộng đến các giai, tầng trong xã hội;
một số quy định được ban hành nhưng thiếu biện pháp để bảo đảm thực hiện
hiệu quả; tỷ lệ nữ tham gia vị trí lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành vẫn còn
thấp; định kiến giới và công việc gia đình vẫn còn là rào cản trong quá trình
thăng tiến của nữ giới.
Trong khuôn khổ Dự án Nâng cao năng lực lãnh đạo cho phụ nữ trong khu
vực nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (EOWP), được tài trợ bởi
Bộ Ngoại giao Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), đề
tài “Vai trò của nữ giới trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh
Cà Mau” được thực hiện nhằm tìm hiểu về khả năng chuyên môn, vai trò lãnh
đạo và cơ hội phát triển của nữ giới trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh; tìm
hiểu quan điểm về bình đẳng giới và nguyện vọng đóng góp cho sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của chị em; tìm hiểu, phân tích tính phù hợp của hệ thống
cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương dành cho nữ giới trong
khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh của Cà Mau trong thời gian qua. Từ đó, cung
cấp những cơ sở khoa học phục vụ thiết thực cho quá trình điều chỉnh, xây dựng
hệ thống cơ chế, chính sách sách phù hợp cho nữ giới và chiến lược phát triển
nguồn nhân lực ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Đề tài đã thu thập được nhiều thông tin, số liệu về đặc điểm của đội ngũ cán
bộ, công chức nữ trong khối cơ quan nhà nước của tỉnh Cà Mau; những thuận

i


lợi và khó khăn khi chị em tham gia hoạt động xã hội; thực trạng triển khai thực
hiện Luật Bình đẳng giới và các văn bản có liên quan trên địa bàn Tỉnh. Trên cơ
sở đó, đề tài đưa ra các khuyến nghị nhằm góp phần phục vụ cho công tác điều
chỉnh, xây dựng các chính sách trong quá trình thực thi Luật bình giới và phát
huy vai trò của nữ giới trong thời kỳ hội nhập.
Báo cáo kết quả đề tài được trình bày gồm 5 phần:
Phần 1: Giới thiệu
Phần 2: Tổng quan về nghiên cứu
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách
Với kết quả trên, hy vọng đề tài sẽ giúp ích cho các nhà hoạch định và thực
thi chính sách có thể phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn về vấn đề giới và có
những cơ chế chính sách, chương trình phù hợp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở
địa phương.

ii


LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu “Vai trò của nữ giới trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh
trên địa bàn tỉnh Cà Mau” được thực hiện từ tháng 5/11/2012, với tài trợ bởi
Chương trình Lãnh đạo nữ Cambridge - Việt Nam, trong khuôn khổ hợp tác
giữa Bộ Ngoại giao Việt Nam và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc
(UNDP).
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành báo cáo này, nhóm nghiên cứu

nhận được sự quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi từ Ban lãnh đạo Sở Khoa
học và Công nghệ Cà Mau, đặc biệt Bà Lưu Mỹ Hạnh - Giám đốc, đã ủng hộ rất
nhiều để nghiên cứu được hoàn thành. Nhóm nghiên cứu trân trọng và gửi lời
cảm ơn đến sự quan tâm đó.
Nhóm nghiên cứu cũng xin chân thành cảm ơn đến tất cả các chị em là
cán bộ, công chức đang công tác trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh thuộc
tỉnh Cà Mau đã có sự hợp tác nhiệt tình và đầy trách nhiệm, chia sẻ những suy
nghĩ, trải nghiệm với các nghiên cứu viên, từ đó nâng cao được tính thực tiễn
của đề tài.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban quản lý Dự
án Nâng cao năng lực lãnh đạo cho phụ nữ trong khu vực nhà nước trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (EOWP) đã trao cho tác giả học bổng nghiên cứu
này, tạo điều kiện để tác giả có cơ hội phát triển và nâng cao kỹ năng nghiên cứu
khoa học. Đồng thời, tác giả trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật từ Tư
vấn quốc gia của dự án, Tiến sĩ Trần Minh Thi, đã góp phần to lớn vào sự thành
công của nghiên cứu này.
Một lần nữa, tác giả xin chân thành cảm ơn sự đóng góp của tất cả quý vị
giúp nghiên cứu được triển khai và hoàn thiện.

iii


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU...............................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN.............................................................................................................iii
MỤC LỤC................................................................................................................... iv
DANH SÁCH BẢNG..................................................................................................vi
DANH SÁCH HÌNH..................................................................................................vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT...................................................................................viii
TÓM TẮT....................................................................................................................ix

Phần 1: GIỚI THIỆU..................................................................................................1
1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu................................................................................... 1
1.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu..............................................................................1
1.2.1. Mục đích tổng quát......................................................................................... 1
1.2.2. Mục tiêu cụ thể.................................................................................................1
Phần 2: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU............................................................... 3
2.1 Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử phát triển của đất nước..................3
2.2. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng và phát huy bình đẳng giới............... 4
2.3. Các nghiên cứu về vai trò và vị thế của phụ nữ........................................................8
Phần 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...............................................................13
3.1. Phương pháp luận/lý thuyết áp dụng.......................................................................13
3.2. Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu......................................................................16
3.2.1. Lựa chọn địa bàn nghiên cứu.........................................................................16
3.2.2. Chọn mẫu.......................................................................................................16
3.2.3. Thông tin thu thập..........................................................................................17
3.2.4. Phương pháp xử lý số liệu.............................................................................18
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..........................................................................19
4.1. Khả năng chuyên môn, vai trò lãnh đạo và cơ hội phát triển của nữ giới trong khối
cơ quan nhà nước cấp tỉnh của tỉnh Cà Mau..................................................................19
4.1.1. Mô tả chung về lực lượng công chức nam và nữ trong khối cơ quan nhà
nước cấp tỉnh của tỉnh Cà Mau.......................................................................................19
4.1.1.1. Tỷ lệ công chức nam và nữ....................................................................19
4.1.1.2. So sánh trình độ chuyên môn và ngoại ngữ ..........................................20
4.1.1.3. So sánh trình độ lý luận chính trị và vai trò lãnh đạo............................21
4.1.2. Đặc điểm đội ngũ công chức nữ trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh của
Cà Mau............................................................................................................................22
4.1.2.1. Về dân tộc...............................................................................................23
4.1.2.2. Về độ tuổi................................................................................................23
4.1.2.3. Về phẩm chất, năng lực..........................................................................23
4.1.2.4. Về vị trí công tác.....................................................................................25

4.1.2.5. Nguyên nhân ảnh hưởng đến tỷ lệ nữ tham gia công tác lãnh đạo, quản
lý còn ít............................................................................................................................27
iv


4.1.2.6. Những khó khăn, trở ngại đối với quá trình thăng tiến và phát triển sự
nghiệp của cán bộ, công chức nữ....................................................................................28
4.1.2.7. Mong muốn của công chức nữ về môi trường làm việc và sự hỗ trợ cho
quá trình thăng tiến của họ..............................................................................................31
4.2. Quan điểm về bình đẳng giới và nguyện vọng đóng góp cho xã hội của nữ giới
trong khối cơ nhà nước cấp tỉnh thuộc tỉnh Cà Mau......................................................34
4.2.1. Quan điểm về bình đẳng giới.........................................................................34
4.2.2. Nguyện vọng đóng góp cho xã hội của công chức nữ..................................35
4.3. Kết quả tìm hiểu về tình hình triển khai các văn bản pháp luật về bình đẳng giới ở
tỉnh Cà Mau.....................................................................................................................40
4.3.1 Tổ chức bộ máy...............................................................................................40
4.3.2. Tình hình triển khai các văn bản pháp luật về bình đẳng giới......................40
4.3.3. Đánh giá về công tác triển khai văn bản pháp luật về bình đẳng giới của địa
phương.............................................................................................................................41
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ..............................................................50
5.1. Kết luận....................................................................................................................50
5.2. Khuyến nghị.............................................................................................................51
5.2.1. Khuyến nghị về định hướng và mục tiêu trong thời gian tới........................51
5.2.2. Khuyến nghị về cơ chế chính sách và chương trình hành động...................53
5.2.2.1. Cấp Trung ương......................................................................................53
5.2.2.2. Cấp tỉnh...................................................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................58

v



DANH SÁCH BẢNG

Bảng 4.1: So sánh trình độ chuyên môn giữa công chức nam và nữ..........................20
Bảng 4.2: So sánh trình độ ngoại ngữ giữa công chức nam và nữ..............................21
Bảng 4.3: So sánh trình độ lý luận chính trị giữa công chức nam và nữ...................22
Bảng 4.4: So sánh vai trò lãnh đạo giữa công chức nam và nữ...................................22
Bảng 4.5: So sánh về phẩm chất năng lực của công chức nam và nữ.........................24
Bảng 4.6: Ý kiến đánh giá về tỷ lệ nam và nữ tham gia lãnh đạo, quản lý.................26
Bảng 4.7. Đánh giá khả năng lực công tác của cán bộ, công chức nữ........................35
Bảng 4.8: Các chỉ tiêu chị em không đồng tình...........................................................36

vi


DANH SÁCH HÌNH

Hình 4.1: Tỷ lệ công chức nam và nữ trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh của Cà
Mau..................................................................................................................................19
Hình 4.2: Độ tuổi công chức nữ trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Cà Mau......23
Hình 4.3: Vị trí của công chức nữ trong chính quyền....................................................26
Hình 4.4: Vị trí của công chức nữ trong tổ chức Đảng..................................................26
Hình 4.5: Đánh giá nguyên nhân tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo còn ít...............................28
Hình 4.6: Yếu tố trở ngại từ bản thân.............................................................................29
Hình 4.7: Yếu tố trở ngại từ môi trường làm việc..........................................................30
Hình 4.8: Mong muốn của công chức nữ về môi trường làm việc................................32
Hình 4.9: Mong muốn của công chức nữ về sự hỗ trợ trong quá trình thăng tiến.......32
Hình 4.10: Tỷ lệ đồng thuận quan điểm “Bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực”.............35
Hình 4.11: Mức độ đồng tình về vai trò của nữ giới khi tham gia lãnh đạo, quản lý....36
Hình 4.12: Mức độ đánh giá tầm quan trọng của cán bộ nữ..........................................37

Hình 4.13: Thuận lợi của công chức nữ khi thực hiện nhiệm vụ...................................38
Hình 4.14: Sự hỗ trợ cho quá trỉnh thăng tiến của công chúc nữ..................................42
Hình 4.15: Đánh giá về chương trình thúc đẩy bình đẳng giới......................................43
Hình 4.16: Đánh giá các giải pháp thực hiện bình đẳng giới.........................................43
Hình 4.17: Đánh giá về chính sách tuyển dụng công chức............................................44
Hình 4.18: Đánh giá về công tác cán bộ.........................................................................45
Hình 4.19: Nhận xét về chính sách dành cho phụ nữ hiện nay......................................46
Hình 4.20: Điều kiện để nâng cao năng lực lãnh đạo của phụ nữ.................................46
Hình 4.21: Điều kiện để tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo........................47

vii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AusAID

: Cơ quan Phát triển Quốc tế Ốxtrâylia

CHXHCNVN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
CNH

: Công nghiệp hoá

HĐH

: Hiện đại hoá

EOWP


: Dự án Nâng cao năng lực lãnh đạo cho phụ nữ
trong khu vực nhà nước trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế

HĐND

: Hội đồng nhân dân

UBND

: Ủy ban nhân dân

BVSTBPN

: Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ

viii


TÓM TẮT
Nghiên cứu này với mục tiêu tìm hiểu thực trạng về khả năng chuyên môn,
vai trò lãnh đạo, quan điểm về bình đẳng giới và nguyện vọng đóng góp cho sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cán bộ, công chức nữ trong khối cơ quan
nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau; tìm hiểu, phân tích tính phù hợp của hệ
thống cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước và của địa phương dành cho cán
bộ, công chức nữ trong thời gian qua. Từ đó, cung cấp những cơ sở khoa học
phục vụ thiết thực cho quá trình điều chỉnh, xây dựng hệ thống cơ chế, chính
sách phù hợp cho nữ giới và chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập.
Bằng phương pháp kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính, kết quả cho

thấy trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh của tỉnh Cà Mau hiện nay, lực lượng
cán bộ, công chức nữ chiếm 26,1%, phần lớn thuộc nhóm tuổi từ 30 - 40, là
nhóm tuổi nòng cốt, có nhiều khả năng về sức lực, trí tuệ và tinh thần đóng góp
cho xã hội, có trình độ chuyên môn khá tốt, từ bậc đại học trở lên chiếm 87,9%.
Cán bộ, công chức nữ của tỉnh Cà Mau khẳng định phẩm chất, năng lực của bản
thân mình, có ý chí phấn đấu và khát khao được tham gia đóng góp vào hoạt
động xã hội, có niềm tin vào các chủ trương bình đẳng giới của nước ta cũng
như các nước trên thế giới. Tuy nhiên, tỷ lệ nữ tham gia vị trí lãnh đạo, quản lý
trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Cà Mau còn rất thấp. Tỷ lệ nam giới giữ
vị trí lãnh đạo từ cấp phó, trưởng phòng đến cấp Sở (88,4%), cao gấp 7 lần so
với tỷ lệ này ở nữ giới (11,6%). Trong quá trình tham gia hoạt động xã hội, cán
bộ, công chức nữ vẫn còn gặp không ít những khó khăn như: (i) áp lực công
việc gia đình khiến công chức nữ ít có thời gian để học tập, nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ và các kỹ năng lãnh đạo, quản lý; (ii) việc thể chế hóa
và tổ chức thực hiện các quan điểm, chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà
nước về công tác phụ nữ, công tác cán bộ nữ chưa đồng bộ và hiệu qủa; chính
sách chăm lo, bảo vệ sức khỏe cho cán bộ, công chức nữ còn nhiều bất cập;
việc triển khai học tập nâng cao kiến thức, trình độ cho chị em chưa mang lại
hiệu quả cao, còn nặng hình thức; (iii) nhiều cấp ủy Đảng, chính quyền chưa
quan tâm chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chủ trương của Ðảng về
công tác vận động phụ nữ, chưa chủ động nghiên cứu, dự báo và giải quyết kịp
thời các vấn đề xã hội phát sinh liên quan tới phụ nữ; (iv) tính chủ động tham
mưu của Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp đối với các cấp ủy Ðảng, chính quyền về
công tác phụ nữ, công tác cán bộ nữ trong từng thời kỳ còn hạn chế; (v) tâm lý
tự ty, mặc cảm, an phận hoặc đức tính nhường nhịn, hy sinh, thậm chí cam chịu,
ix


… của phụ nữ còn là rào cản vô hình đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo
của đội ngũ cán bộ, công chức nữ tỉnh Cà Mau,… Từ thực tiễn trên đòi hỏi có

những cơ chế, chính sách phù hợp của Đảng, Nhà nước để tạo điều kiện cho họ
có thể phát huy hết khả năng cống hiến của mình cho xã hội.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra gợi ý về những chính sách và biện pháp
hỗ trợ, góp phần giảm bớt những khó khăn mà cán bộ, công chức nữ đang gặp
phải trong quá trình phát triển sự nghiệp của mình. Các nhóm chính sách bao
gồm: (i) xóa bỏ định kiến giới và giảm áp lực gánh nặng gia đình để nữ giới
tham gia công tác xã hội tốt hơn; (ii) bình đẳng về tuổi nghỉ hưu, tuổi đào tạo
để nữ giới có cơ hội nhiều hơn trong việc tham gia đào tạo, qui hoạch và bổ
nhiệm, từ đó có nhiều đóng góp hơn cho xã hội; (iii) tạo cơ hội đào tạo nâng
cao trình độ và tạo môi trường làm việc thuận lợi để cán bộ, công chức nữ phát
huy tối đa năng lực của mình.

x


Phần 1: GIỚI THIỆU
1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu
Bình đẳng giới và nâng cao vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội là vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm. Năm 2010, Liên
hợp quốc xác định bình đẳng giới là một trong tám lĩnh vực ưu tiên trong
“Chương trình hành động của Liên hợp quốc vì một thế giới tốt đẹp hơn”.
Ở Việt Nam, Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát huy vai trò của phụ
nữ trong xã hội. Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930 của Đảng cho đến
nay đã có rất nhiều văn bản pháp luật và công trình nghiên cứu quan tâm đến
chủ đề giới và phát huy vai trò xã hội của phụ nữ. Sự ra đời của Luật Bình đẳng
giới (2006) đã đánh dấu một bước tiến mới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp
luật của nước ta về bình đẳng giới, thể hiện sự cam kết của Việt Nam trong thúc
đẩy bình đẳng giới và coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sau thời gian thực hiện, các
quy định của Luật đã được triển khai tương đối đồng bộ từ Trung ương đến địa

phương, có tác động tích cực đến việc nâng cao nhận và ý thức bảo đảm bình
đẳng giới trong cộng đồng xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện Luật Bình đẳng giới
vẫn còn gặp không ít những khó khăn, nên vẫn còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến
mục tiêu bình đẳng giới. Vì thế, việc triển khai các nghiên cứu thực tiễn từ các
địa phương, nhằm cung cấp cơ sở cho quá trình điều chỉnh, bổ sung cơ chế
chính sách và giải pháp thực hiện thiết thực hơn, để Luật Bình đẳng giới thật sự
đi vào cuộc sống là rất cần thiết và luôn được các cơ quan, tổ chức chuyên
ngành trong nước và quốc tế quan tâm.
1.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục đích tổng thể
Góp phần cung cấp hệ thống số liệu và cơ sở khoa khọc cho việc xây dựng
chiến lược phát triển nguồn nhân lực nữ và thực hiện bình đẳng giới trong thời
kỳ Hội nhập.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu, so sánh về khả năng chuyên môn, vai trò lãnh đạo và cơ hội
phát triển giữa giới nam và nữ trong khối cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên địa bàn
tỉnh Cà Mau.
1


- Tìm hiểu quan điểm về bình đẳng giới và nguyện vọng đóng góp cho sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của chị em trong khối cơ quan nhà nước cấp
tỉnh trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
- Tìm hiểu, phân tích tính phù hợp của hệ thống cơ chế chính sách của Nhà
nước dành cho phụ nữ trong thời gian qua. Từ đó cung cấp những cơ sở khoa
học phục vụ thiết thực cho quá trình điều chỉnh, bổ sung và xây dựng hệ thống
cơ chế chính sách phù hợp cho nữ giới và chiến lược phát triển nguồn nhân lực
ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.


2


Phần 2: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử phát triển của đất
nước
Vai trò, vị thế của người phụ nữ Việt Nam luôn gắn liền với chiều dài lịch
sử của đất nước. Từ ngàn xưa, hình ảnh của Quốc mẫu Âu Cơ theo truyền thuyết
đã sinh ra nòi giống con rồng cháu tiên cho đất Việt, đến Hai Bà Trưng xưng
Vương, phất cờ khởi nghĩa làm vẻ vang truyền thống của phụ nữ Việt Nam
trong thời kỳ đầu giữ nước. Lịch sử lại tiếp tục ghi danh những vị nữ anh hùng
dân tộc, có ý chí quật cường chống giặc ngoại xăm như: Bà Triệu Thị Trinh,
Thái hậu Dương Vân Nga, Nguyên phi Ỷ Lan, Huyền Trân Công chúa, Công
chúa An Tư, Ngọc Hân Công chúa, Công chúa Ngọc Vạn, nữ tướng Bùi Thị
Xuân, Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Thái hậu Từ Dũ, …
Trong các thời kỳ đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược, nhiều vị nữ anh hùng lại tiếp tục oanh liệt ngã xuống vì tinh thần “quyết tử
cho tổ quốc quyết sinh”. Trong hai thời kỳ lịch sử hiển hách này, hẵn trong mỗi
chúng ta không ai quên được những tấm gương sáng ngời của các nữ liệt sĩ
Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Hoàng Ngân, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Thị
Chiên, Nguyễn Thị Lét, Tạ Thị Kiều, Kan Lịch, Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Thị
Út (Út Tịch),... Họ rất xứng đáng với tám chữ vàng “Anh hùng, Bất khuất,
Trung hậu, Đảm đang” mà Bác Hồ trao tặng. Đặc biệt trong thời kỳ chống Mỹ
cứu nước còn có một nữ tướng, phó tư lệnh Nguyễn Thị Định và nhà chính trị,
nhà ngoại giao lỗi lạc trên trường quốc tế Nguyễn Thị Bình đã góp phần quan
trọng cho hòa bình, độc lập dân tộc, làm rạng danh phụ nữ nước nhà.
Đất nước phát triển được như ngày hôm nay là có sự đóng góp quan trọng
và hy sinh thầm lặng cả cuộc đời mình của những người mẹ, người chị. Phát huy
truyền thống đó trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phụ nữ Việt Nam
ngày nay không chỉ với vai trò là người vợ, người mẹ, người con trong gia đình,

mà đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của xã hội. Trong báo cáo gần
đây nhất của Dự án EOWP (2009) đã ghi nhận những số liệu đáng khích lệ như:
Tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động xã hội chiếm đến 78,2% so với nam giới là
86%. Có nhiều lĩnh vực trước đây chỉ dành riêng cho nam giới như nghiên cứu,
ứng dụng khoa học kỹ thuật, các ngành công nghệ mới thì ngày nay lĩnh vực này
đã có phụ nữ tham gia. Phụ nữ đã và đang tham gia một cách tích cực vào đời
sống xã hội trên những phương diện khác nhau. Theo số liệu tổng kết của
EOWP (2012), nước ta có 2 nữ Bộ trưởng trong tổng số 22 Bộ trưởng, chiếm
3


9%; có 10 nữ Thứ trưởng trong tổng số 128 Thứ trưởng, chiếm 8% và có 7% Vụ
trưởng, 12% Phó Vụ trưởng là nữ. Tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí Bộ trưởng,
Thứ trưởng của nước ta đứng thứ 124 trên tổng số 129 quốc gia. Việt Nam phấn
đấu đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95% Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Đảm
bảo tỷ lệ nữ tham gia các khóa đào tạo tại các trường lý luận chính trị, quản lý
hành chính nhà nước từ 30% trở lên.
Như vậy, trong giai đoạn đất nước ta đang đẩy mạnh tiến trình CNH- HĐH
và hội nhập kinh tế quốc tế, phụ nữ tiếp tục là động lực thúc đẩy sự phát triển
chung của xã hội.
2.2. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng và phát huy bình đẳng
giới
Trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn xác định và coi trọng vai trò đặc biệt quan trọng của phụ nữ. Từ văn kiện
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ
của cách mạng không chỉ giành lại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho nông dân
nghèo, các sản nghiệp lớn cho công nhân mà còn nhằm “thực hiện nam nữ bình
quyền”.
Ngay từ ngày đầu mới lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong phần

mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945, Người tuyên bố:“Tất cả mọi
người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do
và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người cũng đã tuyên bố với thế giới và quốc
dân rằng “Phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được
hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”. Phát biểu tại lễ kỷ niệm lần
thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam ngày 19/10/1966, Chủ
tịch Hồ Chí Minh ôn lại truyền thống yêu nước của phụ nữ Việt Nam và tự hào
rằng “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu
dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng
hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc”.
Theo Người, nữ cũng nam, đều có thể đảm nhận và hoàn thành tốt những công
việc lớn của cách mạng, của nhân dân. Người luôn quan tâm đến vị trí của phụ
nữ trong các tổ chức của hệ thống chính trị, mong muốn ngày càng có nhiều chị
em tham gia công tác trong các cấp ủy Đảng, chính quyền cũng như trong các tổ
chức quần chúng nhân dân do Đảng tổ chức, lãnh đạo. Người còn thấy rõ khả
năng làm việc không thua kém nam giới của phụ nữ và yêu cầu đối với chị em
4


phụ nữ rằng: “Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hang hái nhận trách nhiệm
của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua sản xuất và thực hành
tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng xã hội chủ nghĩa. Muốn làm tròn
nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ phải xóa bỏ tâm lý tự ti và ỷ lại, phải có ý chí tự
cường tự lập, phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật”.
Khi nói về vai trò của phụ nữ đóng góp vào thắng lợi của sự nghiệp cách
mạng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng và khẳng định: “Sự tham
gia của phụ nữ là nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng Việt
Nam”. Trong Di chúc năm 1969 để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người đã căn
dặn: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ đảm đang đã góp phần

xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có
kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ
nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải
cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự
cho phụ nữ”.
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên suốt từ Cương
lĩnh chính trị năm 1930 đến Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Nghị
quyết 153/NQ-TW năm 1967 và nhiều văn bản, Nghị quyết của Đảng và Nhà
nước ta, quyền bình đẳng của phụ nữ không ngừng khẳng định và thể chế hoá.
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 quy định: “Tất cả
quyền bình đẳng trong nước là của toàn thể nhân dân Việt nam không phân biệt
nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; “Đàn bà ngang quyền với
đàn ông về mọi phương diện”. Sau Hiến pháp này, Đảng và Nhà nước ta đã ban
hành các văn bản có tính chất định hướng và chỉ đạo nhằm bảo đảm cho phụ nữ
ngang quyền với nam giới như: Nghị quyết số 152-NQ/TW ngày 10/01/1967 về
“một số vấn đề về tổ chức công tác phụ vận”, trong đó nhấn mạnh một số nhiệm
vụ như “phân bố, sử dụng hợp lý sức lao động phụ nữ trong nông nghiệp, hướng
dẫn thực hiện quyết định của Chính phủ về sử dụng lao động phụ nữ trong công
nghiệp”, “tăng cường việc tổ chức đời sống, bảo vệ sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ
em”; Nghị quyết số 153/NQ-TW, 10/01/1967 “công tác cán bộ nữ”; Chỉ thị số
44/CT-TW, 07-6-1984, về “một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ”.
Một bước đánh dấu quan trọng trong quá trình thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh
về bình đẳng giới là Việt Nam đã phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về
xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1981. Công
ước là công cụ quan trọng góp phần cải thiện địa vị pháp lý của phụ nữ ở các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội.
5


Phát huy tinh thần đó, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam 1992 quy định: Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm mọi hành vi phân
biệt đối xử với phụ nữ. Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương
ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức
Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ
mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật. Nhà nước và xã hội
tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai
trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ
và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều
kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác,học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn
bổn phận của người mẹ”. Nội dung về bình đẳng giới của Hiến pháp 1992 được
Đảng ta cụ thể hóa và chỉ đạo bàng Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của
Bộ Chính trị về “đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình
hình mới”, Nghị quyết đã xác định vai trò quan trọng đặc biệt của phụ nữ là
“người thầy đầu tiên” của mỗi đời người, “nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ là thật sự
thực hiện quyền bình đẳng và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ”; Chỉ thị số 28CT/TW ngày 29/9/1993 củ Ban Bí thư Trung ương Đảng về “thực hiện nghị
quyết của Bộ Chính trị về đổi mới, tăng cườngcông tác vận động phụ nữ trong
tình hình mới”; Chỉ thị số 37/CT-TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung
ương về “một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”, nội dung Chỉ
thị khẳng định: “Cần xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao
động nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng…Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ
nữ làm công tác khoa học- kỹ thuật, kinh tế, pháp luật, hành chính, quản lý nhà
nước,...cán bộ nữ dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa. Các trường lớp
đào tạo, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể khi chiêu sinh cần có
quy định tỷ lệ nữ một cách thoả đáng, đưa vào chương trình đào tạo những kiến
thức về giới...”.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX năm 2001 của Đảng chỉ
rõ: “Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi
dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ
tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các

ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ
thực hiện tốt thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc”. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục
khẳng định: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần thực
hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người
6


công dân, người lao động, người mẹ, người thày đầu tiên của con người. Bồi
dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội,
các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp. Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà
mẹ, trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm
xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ
nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”.
Trong Nghị quyết này, Đảng đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ cụ thể:
“Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực
hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công
dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng,
đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ
quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp”.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng X, tiếp tục cụ thể hóa quan điểm của
Đảng đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong thời kỳ mới,
ngày 27/4/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-TW về “công
tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, và
“Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010” cũng
được Chính phủ công bố ngày 4/10/1997.
Để củng cố và quán triệt thêm tinh thần đó, ngày 29/11/2006 Quốc hội
khoá XI, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Bình đẳng giới; ngày 21/11/2007
Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua Luật Phòng chống bạo lực gia đình.
Đây là những văn bản pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống chính trị,

xã hội, góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về bình đẳng giới, là công
cụ để thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình phấn đấu thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở
nước ta. Tất cả các văn bản trên đều nhất quán một quan điểm: “thực hiện tốt
chính sách, pháp luật về bình đẳng giới, bồi dưỡng đào tạo nghề nghiệp, nâng
cao trình độ học vấn, có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều
vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp ”.
Bên cạnh những thành tựu về chủ trương, đường lối và luật pháp, nước ta
cũng đã có một bộ máy quản lý nhà nước về thực hiện bình đẳng giới từ Trung
ương đến các địa phương. Chính phủ có văn bản chính thức giao cho UBND các
cấp thực hiện các vấn đề về bình đẳng giới. Hằng năm Chính phủ có báo cáo với
Quốc Hội về thực hiện các mục tiêu quốc gia về Bình đẳng giới. Những kết quả
đó đã ngày càng tạo điều kiện cho phụ nữ bình đẳng về quyền và cơ hội phát
triển. Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật của đất nước, sự

7


nghiệp “giải phóng phụ nữ”, “nam, nữ bình quyền”, vì sự tiến bộ của phụ nữ
Việt Nam ngày càng càng được phát huy mạnh mẽ.
2.3. Các nghiên cứu về vai trò và vị thế của phụ nữ
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những khía cạnh khác
nhau về vai trò của phụ nữ Việt Nam trong gia đình và xã hội. Trước hết có thể
kể đến tác phẩm "Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại" của tác giả Lê Thị Nhâm
Tuyết (1975), là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam ghi dấu ấn quan trọng
khởi đầu lĩnh vực nghiên cứu về phụ nữ và giới. Tác phẩm đã làm nổi bật vai
trò phụ nữ Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Qua tác phẩm, tác
giả đã phân tích sâu sắc những nét cơ bản về các truyền thống của phụ nữ Việt
Nam trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội và đã trình bày nhiều tư liệu dân tộc
học - lịch sử có giá trị khoa học, gây tiếng vang trong giới nghiên cứu. Tiếp theo
đó, nhiều tác phẩm viết về quyền của phụ nữ được ra đời như “Công ước về việc

loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ” của tác giả Ngô Bá
Thành (1982); “Quyền Chính trị của phụ nữ trong Công ước về xóa bỏ mọi hình
thức phân biệt đối xử với phụ nữ và trong pháp luật Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Văn Mạnh (2000); “Phụ nữ -Giới và phát triển” của hai tác giả Trần
Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (2000); “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi
mới ở Việt Nam” (1998) của Giáo sư Lê Thi; “Luận cứ về khoa học cho việc đổi
mới chính sách xã hội đối với phụ nữ và gia đình” do PGS. Trần Thị Vân Anh
(1995) làm chủ nhiệm,…
Trong tác phẩm “Định kiến giới và các hình thức khắc phục” của tác giả
Trần Thị Vân Anh (2000) đã tập trung phản ánh sự thiên lệch trong nhận thức,
thái độ và đánh giá về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ. Qua
đó, tác giả đề xuất các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, nhằm bảo phát huy
năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển của nữ giới trong xã hội ngày
nay. Tác phẩm “Xã hội học về giới và phát triển” của hai tác giả Lê Ngọc Hùng
và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2000) đã đưa ra những phân tích khoa học về tình hình
phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước bao những vấn
đề rất thú vị và cần thiết, đó là (i) công bằng xã hội và hội nhập xã hội của phụ
nữ; (ii) chính sách xã hội đối với phụ nữ; (iii) dân số và phụ nữ; (iv) xóa đói,
giảm nghèo và phụ nữ; (v) giáo dục, truyền thông đại chúng và phụ nữ;... Thông
qua những vấn đề trên, một mặt tác phẩm thể hiện những khía cạnh của giới và
phát triển xã hội của cuộc sống phụ nữ, vai trò và vị thế của họ trong xu thế phát
triển chung, mặt khác thấy được tình hình và thực trạng của bình đẳng nam-nữ
nước ta trước hàng loạt những vấn đề cần được hoạch định chính sách nhằm
8


giúp phụ nữ và nam giới có thể làm tốt hơn nhiệm vụ xã hội của họ, thực hiện
tốt hơn nữa chức năng của họ trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Nghiên cứu “Vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công nghiệp hóa
nông nghiệp nông thôn” của tác giả Bá Thịnh Hoàng (2002) đã đề cập tới vai trò

của người phụ nữ nông thôn trong lịch sử và trong thời kỳ đổi mới, qua đó tác
giả cũng đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ
và tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ nông thôn phát huy được những tiềm năng
để họ có thể đảm nhận tốt vai trò trong quá trình CNH nông nông nghiệp, nông
thôn. Tất cả những công trình trên đều phản ánh những thay đổi về vai trò của
phụ nữ trong gia đình và bước đầu đã có một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò
của phụ nữ trong gia đình và trong công cuộc đổi mới.
Nhiều tác phẩm viết về vai trò, sứ mệnh và cách nhìn nhận từ xã hội đối
với nữ giới tiếp tục lần lượt được ra đời như tác phẩm “Học thuyết Mác - Lênin
về phụ nữ và liên hệ với thực tiễn hiện nay ở nước ta” của tác giả Lê Ngọc Hùng
(2002); “Phụ nữ: những ưu ái và thiệt thòi - nhìn từ góc độ xã hội, pháp lý” của
tác giả Hoàng Thị Kim Quế (2003); “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” của tác giả
Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm, (2003); “Vai trò của nữ cán bộ quản lý
nhà nước trong quá trình CNH, HĐH” của tác giả Võ Thị Mai (2003); “Vai trò
của phụ nữ trong hệ thống chính trị cơ sở” của tác giả Phạm Thị Thúy (2004);
“Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình hiện nay” của tác
giả Dương Thị Minh (2004); “Nâng cao năng lực phát triển bền vững: giới và
giảm nghèo” của Nguyễn Thị Hiên và Lê Ngọc Hùng (2005),…
Song theo đó, vấn đề về nguồn lực phụ nữ và vai trò của nữ giới trong bộ
máy chính trị cũng được nhiều tác giả quan tâm. Nguồn nhân lực nữ là bộ phận
quan trọng trong chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân lực. Tiêu biểu là
tác phẩm “Quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước” của PGS Bùi Thị Kim Quỳ (1996); “Cơ sở khoa
học và thực tiễn để xác định nghề đào tạo dự phòng cho phụ nữ” của Tiến sĩ
Nguyễn Tín Nhiệm và Tiến sĩ Phan Thị Thanh (2002); “Việc làm của phụ nữ
Hà Nội” của Tiến sĩ Trần Thị Vân Anh (2003).
Tác phẩm “Phụ nữ tham gia lãnh đạo quản lý” của Trung tâm nghiên cứu
khoa học về lao động nữ (1997) đã phân tích về địa vị của phụ nữ Việt Nam
trong bộ máy chính trị hiện tại. Tác giả Trần Xuân Sầm (1998) với tác phẩm

“Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính
trị”. Trong năm này, tác giả Nguyễn Kim Thành (1998) hoàn thành phẩm “Giải
9


pháp đào tạo cán bộ lãnh đạo nữ người dân tộc thiếu số”,…Ban Tổ chức Trung
ương (2006) thực hiện nghiên cứu “Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ
trong hệ thống chính trị” trong các cơ quan của bộ máy chính trị của nước ta từ
trung ương đến địa phương. Nội dung cơ bản trong nghiên cứu này nhằm đánh
giá thực trạng năng lực lãnh đạo và từ đó khuyến nghị giải pháp để nâng cao
năng lực lãnh đạo cho đội ngũ cán bộ nữ trong lĩnh vực chính trị. Kết quả
nghiên cứu này đã đưa ra những nhận định quan trọng về năng lực làm việc của
phụ nữ so nam giới, về quan điểm của cán bộ nữ về bình đẳng giới và hiện
tượng bất bình đẳng giới trong đời sống chính trị của đất nước. Báo cáo nghiên
cứu đã tìm thấy một số nguyên nhân làm hạn chế sự tham gia lãnh đạo trong lĩnh
vực chính trị của phụ nữ Việt Nam.
Tác phẩm “Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống
chính trị” của tác giả Nguyễn Đức Hạt (2007) đã quan tâm đến những vấn đề lý
luận về năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị; thực trạng về
năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị; các quan điểm, giải
pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống
chính trị trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước. Trong tác phẩm này tác
giả nhận định rằng “ngày nay phụ nữ và nam giới cùng được hưởng các quyền,
đồng thời chia sẻ lợi ích, trách nhiệm và hưởng thụ các giá trị chân, thiện, mỹ”.
Về nguyên nhân hạn chế năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính
trị, các tác giả nhấn mạnh: “thứ nhất, do nhận thức về giới và bình đẳng giới
trong hệ thống chính trị chưa đầy đủ và sâu sắc về mặt lý luận và khoa học; thứ
hai, cơ chế, chính sách tạo nguồn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử
dụng cán bộ nữ chưa có tính chiến lược lâu dài, thiếu tính đột phá; thứ ba,
chúng ta còn thiếu một hệ thống chính sách kinh tế - xã hội đồng bộ về công tác

cán bộ nữ; thứ tư, tình trạng tự ti hoặc níu kéo lẫn nhau trong giới nữ… Ngoài
ra, phụ nữ cũng có nhiều khó khăn trong cộng việc quản lý như công việc gia
đình, định kiến giới, dư luận xã hội, phong tục tập quán, văn hóa dân tộc…”.
Tác phẩm còn khuyến nghị “cần tăng quyền và mở rộng cơ hội lựa chọn cho cả
hai giới một cách hợp lý, để hai giới có thể phát huy mọi tiềm năng, sức lực của
mình đóng góp cho sự phát triển bền vững của xã hội, của đất nước”. Nghiên
cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2008) về “Định kiến giới đối với nữ trong
lãnh đạo, quản lý” đã đưa ra được phần điểm luận tương đối chi tiết về khái
niệm định kiến giới.
“Nghiên cứu định lượng về phụ nữ làm lãnh đạo trong khu vực công ở
Việt Nam” của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2009) chỉ ra rằng (i) phụ nữ có
rất ít đại diện trong lãnh đạo, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đến mức
10


người ta có thể nghĩ rằng rằng có những rào cản có hệ thống cản trở sự vươn lên
vị trí lãnh đạo của phụ nữ; (ii) sự tham gia các vị trí lãnh đạo của phụ nữ không
đều khắp các ngành và các lĩnh vực của đời sống xã hội. Họ có xu hướng có sự
tham gia nhiều hơn trong các lĩnh vực như văn hóa, giáo dục và chăm sóc sức
khỏe, và họ có sự tham gia ít hơn trong xây dựng, giao thông vận tải, và các lĩnh
vực đòi hỏi công nghệ cao, và họ không có/rất ít đại diện lãnh đạo trong lĩnh
vực quốc phòng và an ninh; (iii) nơi có nhiều sự tham gia của phụ nữ thì họ
cũng thường không giữ những vị trí lãnh đạo cao nhất; (iv) việc có ít phụ nữ
tham gia lãnh đạo là điều rất phổ biến ở tất cả các tỉnh và mọi vùng địa lý.
Không có khác biệt nào về vấn đề này giữa các vùng, nhưng đồng bằng sông
Hồng tỏ ra là nơi có sự tham gia rất hạn chế của phụ nữ, và vùng Đông Nam bộ
là nơi có sự tham gia tương đối cao hơn. Điều này cho thấy định kiến văn hóa
đối với việc phụ nữ làm lãnh đạo là rất phổ biến; (v) không có bằng chứng
thuyết phục nào cho thấy có sự tiến bộ theo thời gian về tỷ lệ nữ làm lãnh đạo
(như thể hiện ở sự dao động tỷ lệ nữ trong Quốc hội theo thời gian); (vi) Những

bằng chứng rời rạc từ Tổng điều tra nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản năm
2006 cho thấy để đạt được vị trí như nam giới, phụ nữ phải làm việc vất vả hơn
và phải có học vấn cao hơn.
Trần Thị Vân Anh (2010) với nghiên cứu “Những trở ngại đối với sự phấn
đấu của nữ lãnh đạo”, tác giả đã cung cấp những bằng chứng định tính khá thú
vị về những trở ngại chính đối với sự phấn đấu của nữ cán bộ lãnh đạo, bao gồm
ảnh hưởng của người có trách nhiệm, việc tạo nguồn và kiểm tra, đánh giá công
tác cán bộ nữ, trở ngại từ các quy định chính sách, và ảnh hưởng của định kiến
và chuẩn mực cũ.
Nghiên cứu gần đây nhất về “Sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh
đạo và quản lý ở Việt Nam” của Jean Munro (2012) đã đi sâu phân tích các xu
hướng tham gia của phụ nữ trong các cơ quan chính phủ của Việt Nam; mô tả
tổng quan khung pháp lý liên quan đến vai trò lãnh đạo của phụ nữ; đồng thời
thảo luận các thách thức và rào cản đối với phụ nữ trong khu vực nhà nước. Báo
cáo nhấn mạnh rằng: “mặc dù Việt Nam đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong
thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, vẫn còn khoảng cách giữa
mục tiêu và kỳ vọng được đề cập trong các văn bản của chính phủ với con số
thực tế về sự tham gia của phụ nữ”; “Mặc dù chỉ số Phát triển giới của Việt
Nam cho thấy, Việt Nam đạt được tiến triển trong thu hẹp khoảng cách bất bình
đẳng giới, nhưng trong lĩnh vực tham gia và lãnh đạo của phụ nữ nữ, tỷ lệ lãnh
đạo nữ trong khu vực nhà nước còn thấp. Về tham gia của phụ nữ trong Quốc
hội, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội hiện nay thấp nhất kể từ năm 1997. Tỷ lệ đại
11


biểu nữ cao hơn ở cấp địa phương, tuy nhiên ít có tiến triển giữa các nhiệm kỳ
và chỉ tiêu 30% đại diện nữ vào năm 2011 chưa đạt được. Trong Đảng Cộng
sản Việt Nam, tỷ lệ đảng viên nữ tăng chậm và đạt 33% vào năm 2010. Tuy
nhiên, số lượng lãnh đạo nữ ở các vị trí chủ chốt như Bộ Chính trị, Ban Chấp
hành Trung ương Đảng và Ban Bí thư còn thấp.

Từ hệ thống văn bản và kết quả của những nghiên cứu được tổng quan trên
đây cho thấy, trước khi Quốc hội thông qua Luật Bình đẳng giới, nhìn chung, hệ
thống pháp luật về bình đẳng giới còn những hạn chế, bất cập nhất định: (i)
quyền bình đẳng giới được quy định tản mạn, rải rác trong nhiều văn bản quy
phạm pháp luật khác nhau, chưa được tập hợp, hệ thống hoá trong một văn bản
quy phạm pháp luật chuyên về bình đẳng giới; (ii) quy định quyền công dân của
nam và nữ trong một số văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý hành
chính còn chưa thống nhất, chưa quán triệt đầy đủ về nguyên tắc bình đẳng giữa
nam và nữ; (iii) Nhiều văn bản chuyên ngành quy định về bình đẳng giới nhưng
cũng chỉ lặp lại những quy định chung (mang tính chất khung), chính sách, giải
pháp thực thi chưa được cụ thể hoá; (iv) nhiều quy định mang tính “ưu tiên” cho
nữ nhưng đồng thời hạn chế không ít quyền bình đẳng với nam giới (về công tác
đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng... khi nữ cán bộ, công
chức, viên chức, công nhân lao động thực hiện thai sản, sinh con, nuôi con nhỏ;
(v) hệ thống pháp luật hiện hành nhìn chung còn thiếu quy định chế tài xử lý các
hành vi vi phạm về bình đẳng giới, một số văn bản có quy định nhưng chưa đủ
mạnh để ngăn chặn, xử lý các vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.
Mặc dù Luật Bình đẳng giới được ban hành vào năm 2006, nhằm khắc
phục những bất cập trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực thi
pháp luật, thể hiện sự quyết tâm của Việt Nam trong thực hiện các cam kết với
quốc tế về quyền con người, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ. Tuy
nhiên cho đến nay ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương Luật Bình đẳng giới
vẫn chưa thật sự đi vào cuộc sống. Cần có nhiều nghiên cứu, đặc biệt là ở các
địa phương để làm cơ sở xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về bình đẳng giới
ngày càng hoàn thiện hơn.

12


Phần 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp luận/lý thuyết áp dụng
Các lý thuyết về phụ nữ và giới sau đây được chúng tôi sử dụng để lý giải
những vấn đề nghiên cứu:
- Giới là khái niệm về mối quan hệ xã hội - văn hoá giữa nam giới và nữ
giới. Phạm trù "Giới" chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các
mối quan hệ xã hội. Các đặc điểm giới là các đặc điểm xã hội của nữ và nam, do
đó, chúng có thể thay đổi dưới tác động của các yếu tố xã hội. Ví dụ, ở nơi này
phụ nữ có đặc điểm là phụ thuộc vào nam giới về mặt kinh tế và chỉ là người
thực hiện các quyết định do nam giới đưa ra. Nhưng ở nơi khác phụ nữ là người
quyết định cùng với nam giới các vấn đề của cuộc sống. Chẳng hạn ở nơi này
phần lớn phụ nữ có thể làm ruộng, trồng trọt; nhưng ở nơi khác phần lớn nam
giới làm ruộng, trồng trọt.
- Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ. Các đặc điểm giới tính
chủ yếu gắn với quá trình tái sản xuất ra con người, mà trực tiếp nhất là các đặc
điểm của hệ thống sinh sản của nam và nữ. Các đặc điểm giới tính, tức là đặc
điểm sinh học của nữ và nam khó thay đổi do chúng là sản phẩm của quá trình
di truyền, tiến hoá sinh học rất lâu dài. Ví dụ, phụ nữ khắp nơi trên thế giới và từ
xưa đến nay đều có khả năng sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ. Còn nam giới
từ xưa đến nay và ở mọi nơi trên thế giới đều có thể làm cho người phụ nữ thụ
thai.
- Vai trò giới là khái niệm dùng để chỉ kiểu hành vi, hoạt động với các
nhiệm vụ, quyền lợi, trách nhiệm nhất định mà xã hội mong chờ nữ giới và nam
giới thực hiện.
- Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về
đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ. Trong Xã hội hiện nay,
định kiến giới thường là định kiến theo hướng trọng nam khinh nữ. Định kiến
giới vừa phản ánh sự bất bình đẳng giới vừa củng cố, duy trì thực trạng bất bình
đẳng giới trong xã hội.
- Bất bình đẳng giới là sự không ngang bằng nhau giữa cá nhân nam giới
và nữ giới, giữa các nhóm phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp cận các

nguồn lực và thụ hưởng những thành quả xã hội. Bất bình đẳng giới cũng có thể
được coi là hệ quả của sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới, nghĩa là nam giới hay
nữ giới bị đối xử khác nhau, do các định kiến giới, dẫn đến cơ hội phát huy năng
13


×