Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

TIỂU LUẬN CHUYÊN NGÀNH đi lên CHỦ NGHĨA xã hội sự lựa CHỌN ĐÚNG đắn của ĐẢNG và NHÂN dân TA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (181.82 KB, 22 trang )

1

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI - SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA
ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA
Nắm vững ngọn cờ Ðộc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội là bài học kinh
nghiệm xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta từ khi có Ðảng, là nguồn gốc
thắng lợi của Cách mạng Việt Nam. Thực tiễn lịch sử Việt Nam trong vòng
85 năm qua đã khẳng định điều đó.
Tuy nhiên, sau sự suy sụp của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở
Liên Xô và Ðông Âu cuối những năm 80 đầu những năm 90 thế kỷ XX, một
chiến dịch công kích, phê phán, xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa Mác - Lê-nin được dấy lên trên khắp thế giới bởi các thế lực thù địch
với chủ nghĩa xã hội; cộng với những thách thức khó khăn trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta, đã và đang tác động đến tư
tưởng, tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng
tới công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Vì vậy làm rõ tính tất yếu của việc
lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta là vấn đề có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đặc điểm nổi bật trong giai
đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển
khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi
ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc
lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách
thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử,
loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” 1. Trong xu thế vận động
chung đó của thế giới, thì việc Việt Nam “đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng
của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và
1

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà



Nội, 2011, tr. 69, 70


2

Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” 2 (2). Điều
đó được lý giải bởi những lẽ sau:
Thứ nhất, Lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta là sự lựa
chọn phù hợp với quy luật vận động và phát triển tất yếu của lịch sử xã hội
loài người, phù hợp với xu thế chung của thời đại.
Với quan điểm duy vật lịch sử, Mác – Ăngghen chỉ ra: Lịch sử phát
triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển tự nhiên thông qua sự thay thế
(từ thấp đến cao) của các hình thái kinh tế - xã hội, từ CSNT, CHNL, PK,
TBCN đến CSCN. C.Mác khẳng định: “…Tôi coi sự phát triển của những
hình thái KT - XH là một quá trình lịch sử tự nhiên”3
Điều này có nghĩa là: Xã hội vận động và phát triển của xã hội loài người
không tuân theo ý chí chủ quan của con người mà tuân theo những quy luật
khách quan vốn có của nó. Đó chính là quy luật của chính bản thân cấu trúc hình
thái kinh tế xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các lĩnh vực: KT, CT,
XH, KH, VH…Mà trước hết và cơ bản nhất là quy luật QHSX phù hợp với trình
độ phát triển của LLSX; Quy luật KTTT phù hợp với CSHT.
Nguyên nhân dẫn đến sự thay thế đó là do vai trò của lực lượng sản
xuất yếu tố suy đến cùng quyết định sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội
loài người.
Theo C.Mác - Ph.Ăngghen, trong ba yếu tố hợp thành một hình thái
kinh tế - xã hội, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng
thì lực lượng sản xuất là yếu tố động luôn vận động và phát triển không
ngừng (do có con người), sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất
tới một trình độ nhất định sẽ phá vỡ quan hệ sản xuất sinh ra nó, đến thời kỳ

trói buộc nó, thay vào đó là một quan hệ sản xuất mới và một hình thái kinh
tế - xã hội mới ra đời. Và cứ như vậy, theo quy luật, lịch sử xã hội loài người

2

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia –

Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 69, 70
3

M-A, Toàn tập, Tập 2, Nxb CTQG, H 1993, Tr 21


3

đã vận động và phát triển qua bốn hình thái kinh tế - xã hội: công xã nguyên
thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, tất yếu lịch sử xã hội
loài người sẽ vận động và phát triển lên một hình thái kinh tế - xã hội cao
hơn, đó là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Học thuyết Mác - Lê-nin chứng minh rằng, loài người với tính cách
một chỉnh thể nhất thiết phải trải qua 5 HTKT-XH. Nhưng, do đặc điểm lịch
sử - cụ thể về không gian và thời gian, do những điều kiện đặc thù khách quan
và chủ quan, bên ngoài và bên trong chi phối, không phải quốc gia nào cũng
tuần tự trải qua tất cả các HTKT-XH từ thấp đến cao theo một trình tự sơ đồ
chung. Mà có những nước có thể bỏ qua một hoặc vài HTKT-XH nào đó
trong tiến trình phát triển của mình. Sự bỏ qua này đã và đang diễn ra trong
lịch sử.
Từ thực tiễn lịch sử xã hội loài người có thể rút ra ba nhận xét: Một là,
khi vạch ra một sơ đồ tiến hóa xã hội từ HTKT-XH thấp lên HTKT-XH cao
hơn là chúng ta đã trật tự hóa theo thời gian các trình độ phát triển của các

nền văn minh nhân loại nằm rải rác trong không gian. Hai là, khi một HTKTXH đi đến chỗ kết thúc, thì xã hội có thể tiến lên một trong nhiều HTKT-XH
cao hơn, chứ không nhất thiết chỉ tiến lên một HTKT-XH cao hơn. Ba là,
nhận xét có tính chất khái quát: loài người nói chung thì nhất định phải trải
qua cả năm HTKT-XH, nhưng từng nước cụ thể thì không nhất thiết phải tuần
tự trải qua cả năm HTKTXH, mà có thể bỏ qua một hoặc vài HTKT-XH, đi
tắt để tiến lên HTKT-XH cao hơn, tùy thuộc điều kiện lịch sử - cụ thể đặc thù
của từng nước. Điều đó hoàn toàn phù hợp quy luật khách quan. Lê-nin viết
"... tính quy luật chung của sự phát triển trong lịch sử toàn thế giới đã không
loại trừ, mà trái lại, còn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang những đặc
điểm hoặc về hình thức, hoặc về trình tự của sự phát triển đó".
Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười
Nga năm 1917, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa đã trở thành hiện
thực trên thế giới đã mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư


4

bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới và sau 1945, chủ nghĩa xã
hội, chủ nghĩa cộng sản phát triển thành một hệ thống thế giới đã tạo ra những
điều kiện cho các nước chưa phát triển qua chủ nghĩa tư bản thực hiện sự
chuyển biến quá độ, bỏ qua chủ nghĩa tư bản tiến thẳng lên chủ nghã xã hội
và chủ nghĩa cộng sản. Tính tất yếu của thời đại mới đã tạo khả năng và điều
kiện để các dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội, đem lại những nhận thức mới
trong quan niệm và giải pháp giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc một cách
triệt để.
Lênin đã khẳng định: "Một kỷ nguyên mới đã mở ra trong lịch sử thế
giới. Nhân loại đang vứt bỏ những hình thức cuối cùng của chế độ nô lệ làm
thuê. Thoát khỏi chế độ nô lệ đó, lần đầu tiên nhân loại sẽ bước vào chế độ tự
do chân chính ".
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “CM tháng Mười đã mở ra con đường

giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong
lịch sử - TĐQĐ từ CNTB lên CNXH trên toàn thế giới”.
Nhưng lịch sử loài người đã không đi theo con đường thẳng tắp và
phong trào cách mạng cũng không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm, thậm chí
có những thất bại hoặc thoái trào. Nhưng quan trọng hơn là từ trong sai lầm,
khuyết điểm đó, tìm ra những nguyên nhân, rút kinh nghiệm để đưa phong
trào cách mạng tiến lên. Đó mới là một thái độ nghiêm túc, đúng mực.
Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ do
nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân trực tiếp là Đảng Cộng sản phạm những
sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức bắt đầu từ sự
phản bội của người lãnh đạo chủ chốt; chủ nghĩa đế quốc can thiệp vừa tinh
vi, vừa trắng trợn, thực hiện "diễn biến hòa bình" ở Liên Xô và các nước
Đông Âu. Sự đổ vỡ đó không có nghĩa là sự sụp đổ của học thuyết về chủ
nghĩa xã hội, không phải là sự sụp đổ của phong trào xã hội chủ nghĩa thế
giới, bởi vì hiện nay một số nước xã hội chủ nghĩa vẫn đang tiếp tục đứng
vững và phát triển. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của


5

Đảng đã chỉ rõ: "Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song
loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là qui luật
tiến hóa của lịch sử".
Cũng như lịch sử xã hội loài người nói chung, trong thời đại ngày
nay, việc bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN quá độ lên CNXH ở Việt Nam
là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế. Điều đó
được quy định bởi:
Một là, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể hiện nay nước ta có những điều
kiện khách quan bên ngoài và bên trong để quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ
TBCN. Điều kiện bên ngoài là sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng

khoa học và công nghệ làm cho lực lượng sản xuất thế giới phát triển đã đạt
đến trình độ cao, đã mở đầu giai đoạn mới của quá trình xã hội hóa sản xuất,
tạo ra cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế, tạo điều kiện hiện thực để nước
ta có thể tranh thủ vốn, cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của thế
giới cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nếu chúng ta thực
hiện hiệu quả phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ hợp tác kinh
tế quốc tế. Trong điều kiện kinh tế thế giới có bước nhảy vọt về cơ sở vật chất
- kỹ thuật, xã hội loài người đòi hỏi phát triển lên một xã hội mới của nền văn
minh cao hơn - đó là nền văn minh của kinh tế tri thức. Do đó, quá độ lên
CNXH là con đường phát triển hợp quy luật khách quan. Sau CNTB nhất
định phải là một chế độ xã hội tốt đẹp hơn - chế độ XHCN. Bối cảnh, điều
kiện quốc tế mới nêu trên đã tạo khả năng để Việt Nam chúng ta thực hiện
quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN. Điều kiện bên trong là nước ta đã
giành được độc lập dân tộc, có chính quyền của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Với những thắng lợi đã
giành được trong hơn 80 năm qua, đặc biệt là những thành tựu to lớn và có ý
nghĩa lịch sử của 25 năm đổi mới, đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước
nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung
bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng


6

rãi, có vị thế quốc tế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Đây
là điều kiện tiên quyết, quyết định con đường quá độ lên CNXH ở nước ta.
Hai là, hai xu hướng phát triển khách quan của nền kinh tế nước ta và
sự lựa chọn một trong hai xu hướng đó. Sau khi giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước, từ nền nông nghiệp lạc hậu, mang nặng tính chất tự cung tự
cấp, nền kinh tế nước ta nảy sinh một yêu cầu khách quan là: chuyển kinh tế
tự nhiên lên kinh tế hàng hóa và thúc đẩy sản xuất hàng hóa nhỏ phát triển lên

thành sản xuất lớn dựa trên cơ sở kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Để đáp ứng
yêu cầu khách quan đó, nền kinh tế nước ta chứa đựng trong mình hai khả
năng phát triển, hai xu hướng vận động. Và nền kinh tế nước ta có thể lựa
chọn một trong hai hướng sau đây: Hướng thứ nhất, để nền kinh tế phát triển
tự phát chuyển thành nền kinh tế TBCN, trên cơ sở phân hóa những người sản
xuất hàng hóa nhỏ, do tác động của quy luật giá trị. Nhưng, đi theo hướng
này, CNTB ra đời, sẽ dẫn đến những hậu quả sau: Chính quyền do chính nhân
dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải tốn bao xương
máu mới giành được, sẽ bị mất; và chính nhân dân lao động lại rơi xuống địa
vị người làm thuê và bị bóc lột. Đi theo con đường TBCN thì không thể thực
hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Chúng ta không đi theo con đường TBCN vì thời đại ngày nay không phải là
thời đại của CNTB, mặc dù CNTB đang có sự điều chỉnh để thích nghi với
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhưng CNTB vẫn không thể khắc
phục được những mâu thuẫn, bất công xã hội thuộc về bản chất của chế độ
TBCN. Theo quy luật phát triển của lịch sử thì CNTB không thể không bị phủ
định. Đó là xu thế khách quan. CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch
sử, sớm hay muộn cũng phải được thay thế bằng một chế độ xã hội mới, phát
triển ở trình độ cao hơn, với giai đoạn đầu là CNXH. Với sự phát triển mạnh
mẽ của toàn cầu hóa, chính CNTB cũng đã và đang tạo ra những tiền đề vật
chất - kỹ thuật để chuyển sang CNXH. Hướng thứ hai, là thực hiện quá độ lên
CNXH bỏ qua chế độ TBCN dựa trên cơ sở củng cố chính quyền của nhân


7

dân, do nhân dân và vì nhân dân; dựa vào khối liên minh công - nông - trí
thức để tổ chức và huy động mọi tiềm lực của các tầng lớp nhân dân, tiến
hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH. Con đường

này hoàn toàn mới mẻ và không ít khó khăn, nhưng giảm bớt được đau khổ
cho nhân dân lao động. "Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn
kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do
Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy
mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội..."(5).
Những thành tựu đã đạt được qua 25 năm đổi mới đã chứng tỏ: chọn con
đường thứ hai này là đúng hướng, phù hợp với lợi ích của cả dân tộc và hoàn
cảnh lịch sử - cụ thể của nước ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Bởi lẽ, chỉ có CNXH mới giải phóng được nhân dân lao động khỏi mọi áp
bức, bất công, mới đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh: quy luật của cách mạng
Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Chỉ có đi lên CNXH mới
giữ được độc lập, tự do cho dân tộc, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con
đường cách mạng vô sản. Chỉ có CNXH mới giải phóng được các dân tộc bị
áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Và trong thực
tiễn, CNXH không những đã trở thành động lực tinh thần, mà còn là sức
mạnh vật chất to lớn góp phần đưa sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân ở nước ta đến thắng lợi. Quá trình cách mạng do Đảng ta lãnh đạo đã tạo
những tiền đề cả vật chất và tinh thần để có thể "rút ngắn" tiến trình phát triển
lịch sử - tự nhiên của xã hội. Vì thế, trong sự lựa chọn con đường đi lên cho
mình, dân tộc ta đã chọn con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN.
Đó là con đường phù hợp cả về lý luận và thực tiễn, cả về đặc điểm lịch sử cụ thể trong nước và hoàn cảnh quốc tế.


8

Nói "nước ta quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN" chỉ có nghĩa là
trong lịch sử nước ta không có một giai đoạn, trong đó giai cấp tư sản nắm
chính quyền và quan hệ sản xuất TBCN giữ địa vị thống trị trong nền kinh tế

quốc dân. "Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ
qua chế độ TBCN, tức là bỏ qua việc xác lập vị thế thống trị của quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu
mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công
nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại" 4.
Con đường đi lên CNXH ở nước ta, gọi là thời kỳ quá độ (TKQĐ)với ý nghĩa
là đất nước ta phải trải qua một trạng thái xã hội mang tính trung gian, chuyển
tiếp giữa HTKT-XH cũ và HTKT-XH mới, trong đó nền kinh tế là nền kinh tế
quá độ gồm nhiều thành phần kinh tế. TKQĐ lên CNXH bỏ qua chế độ
TBCN thực chất là Nhà nước ta tự đảm nhận nhiệm vụ lịch sử phát triển sức
sản xuất của xã hội, tự tạo lập những điều kiện vật chất của sản xuất và những
quan hệ xã hội tương ứng với điều kiện vật chất ấy, làm cơ sở hiện thực cho
CNXH. Nghĩa là, dù nước ta không qua giai đoạn phát triển TBCN với tư
cách là một HTKT-XH thống trị, nhưng, về phương diện kinh tế phải tôn
trọng quá trình phát triển tự nhiên của nền kinh tế, không thể bỏ qua việc phát
triển sức sản xuất xã hội, xã hội hóa sản xuất trong thực tế. Song, những thành
tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, sự hợp tác kinh tế
quốc tế đa phương, đa dạng cho phép chúng ta tận dụng đại công nghiệp của
cả thế giới để có thể "rút ngắn" quá trình phát triển kinh tế đất nước. Sự phát
triển "rút ngắn" chỉ có nghĩa là đẩy nhanh tương đối quá trình phát triển lịch
sử tự nhiên, bằng những khâu trung gian, những hình thức, bước đi quá độ được coi là cực kỳ cần thiết và có tác dụng sắc bén đối với những nước mà
sản xuất nhỏ là phổ biến đi lên CNXH. Hình thức kinh tế trung gian, quá độ
điển hình - đó là CNTB nhà nước. Đồng thời, phải tôn trọng và vận dụng sáng

4

Văn kiện Đại hội XI đã dẫn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.21


9


tạo những tính quy luật của quá trình phát triển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất
lớn XHCN.
Hai là: Lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sự
lựa chọn từ bản chất ưu việt và tốt đẹp của CNXH, CNCS.
CNXH là một xã hội được xây dựng dựa trên chế độ công hữu về tư
liệu sản xuất. Do đó tạo ra tiền đề để lực lượng sản xuất phát triển không
ngừng. Đó cũng là một xã hội thực sự vì con người, ở xã hội đó con người
được phát triển toàn diện, được cống hiến tài năng, sức lực cho sự phát triển
của xã hội, con người có cuộc sống tự do, hạnh phúc...Thực tế cho thấy, trong
hơn 7 thập kỷ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa đã đạt thành tựu quan trọng: Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xây
dựng cơ sở vật chất với quy mô và trình độ hiện đại, đảm bảo ngày càng tốt
hơn về vật chất và tinh thần của nhân dân. Từ một nước Nga nghèo nàn và lạc
hậu, sau một thời gian xây dựng đã trở thành một cường quốc của thế giới, đạt
được bước tiến lớn trong nghiên cứu khoa học, chinh phục vũ trụ, có tiềm lực
quân sự và quốc phòng hùng mạnh… tạo điều kiện cho phong trào giải phóng
dân tộc phát triển. Hàng trăm nước đã giành được độc lập dân tộc góp phần
quyết định vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới và hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sức mạnh và thành tựu của chủ nghĩa xã hội,
tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa đã thức tỉnh nhân loại, tạo khả năng
đoàn kết các dân tộc để giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh huỷ diệt,
buộc chủ nghĩa tư bản phải điều chỉnh chính sách có lợi cho người lao động;
tạo khả năng hiện thực cho các nước lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, Lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sự
lựa chọn duy nhất đúng, là con đường do chính lịch sử dân tộc, do Bác Hồ,
Đảng Cộng sản và nhân dân ta lựa chọn.
Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân của nước
ta chứng minh rằng, quá độ lên CNXH là con đường duy nhất để nước ta



10

thoát khỏi ách đô hộ của thực dân đế quốc, để thực hiện thành công cách
mạng giải phóng dân tộc.
Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dân tộc Việt Nam, nhất là
nhân dân lao động bị chủ nghĩa tư bản thực dân Pháp và chế độ phong kiến
thống trị, bị áp bức và bóc lột nặng nề. Các phong trào yêu nước, kháng chiến
chống Pháp của nhân dân ta diễn ra sôi nổi, không ngừng khắp Bắc, Trung,
Nam. Các phong ấy thấm đượm tinh thần yêu nước, bất khuất, song đều thất
bại và đều bị dìm trong bể máu. Nước mất, nhà tan vì không có đường lối cứu
nước, cứu nhà đúng đắn. Đó là sự bế tắc và thất bại về đường lối chiến lược.
Và như vậy, tất cả các phương án chính trị của các giai cấp, từ đường lối cứu
nước theo hệ tư tưởng phong kiến, đến những đường lối theo lập trường nông
dân, lập trường tiểu tư sản, lập trường tư sản, đều đã áp dụng và trải qua khảo
nghiệm của lịch sử, rốt cuộc đều thất bại.
Trong bối cảnh khủng hoảng về đường lối cứu nước và giải phóng dân
tộc khỏi ách thực dân đế quốc ở Việt Nam thì chính Nguyễn Ái Quốc đã đáp
ứng trúng nhu cầu lịch sử dân tộc, đưa đất nước đi vào đúng quỹ đạo thời đại
mới. Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước. Sau khi
bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, Người tìm thấy cơ sở lý luận chắc chắn cho
con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Đó là con đường cách mạng vô sản.
Từ thực tiễn bôn ba tìm đường cứu nước, lăn lộn trong phong trào đấu tranh
cách mạng, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: "Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản". Chỉ có
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp
bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ: "Cách mạng giải
phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành
được thắng lợi hoàn toàn". Chủ nghĩa Mác - Lênin như Hồ Chí Minh đã từng
nói là "cái cẩm nang thần kỳ", là "kim chỉ nam" giúp Người tìm ra con đường

đó. Người vui sướng và xúc động cho rằng: "Đây là cái cần thiết cho chúng
ta, đây là con đường giải phóng chúng ta"


11

Tìm ra con đường cứu nước theo phương hướng xã hội chủ nghĩa là
công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chí Minh. Kể từ đây Người thực hiện quá
trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học về Việt
Nam, tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930. Có thể
nói, Hồ Chí Minh là người đầu tiên lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam . Chủ nghĩa xã hội là con đường đúng đắn, là sự lựa chọn sáng suốt
có ý nghĩa thời đại, thể hiện trí tuệ anh minh, linh khiếu chính trị tuyệt vời,
một tình cảm giai cấp và dân tộc sâu sắc của Hồ Chí Minh. Ngay trong Chính
cương vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng tháng 2 năm 1930,
Người đã nêu: "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi
tới xã hội cộng sản", tức là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Nêu lại những điểm trên đây để khẳng định tính đúng đắn và nhất quán
của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chỉ có chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản
mới triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải
phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, đem lại cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, đem lại vị trí làm chủ chân chính cho người lao động. Chủ nghĩa
xã hội xóa bỏ triệt để chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu
sản xuất, là nguồn gốc sinh ra tình trạng người bóc lột người, xác lập chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, cơ sở kinh tế đảm bảo cho nhân dân lao
động thoát khỏi đói nghèo, hướng tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tạo điều kiện giải phóng và phát triển
con người toàn diện. Có thể nói, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

được đặt ra ngay từ đầu và trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối
của Đảng, là quy luật của cách mạng Việt Nam . Độc lập dân tộc là điều kiện
tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm
vững chắc cho độc lập dân tộc


12

Trung thành với mục tiêu và con đường mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lựa
chọn, Đảng ta chủ động vận dụng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể với
những nhiệm vụ và phương pháp cụ thể. Cương lĩnh chính trị tháng 10 năm
1930 của Đảng nêu rõ: "Tiến hành cách mạng dân chủ nhân dân do giai cấp
công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ
nghĩa". Chính cương Đảng Lao động Việt Nam được thông qua tại Đại hội
lần thứ II của Đảng tháng 2 năm 1951 cũng nêu rõ: "Cách mạng Việt Nam
hiện nay là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã
hội". Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(năm 1991) kết luận: "Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
đó là bài học xuyên suốt cách mạng nước ta". Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển
năm 2011) một lần nữa khẳng định: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của
nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử".
Như vậy, đi lên XHCN là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng đã lựa chọn ngay từ đầu cho dân tộc Việt Nam. Và đó cũng chính là
mục tiêu duy nhất, không thay đổi của cách mạng nước ta từ đó đến nay và
mãi mãi về sau.
Xác định được hướng đi đúng và kiên định, kiên trì đi theo con đường
đã lựa chọn, cách mạng Việt Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi to
lớn, vẻ vang trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược cũng như trong xây dựng
phát triển đất nước trong suốt 82 năm qua, nhất là sau hơn 25 năm thực hiện

công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân đồng tình
ủng hộ.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả
nước đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta và nhân dân ta thiết tha mong muốn
hòa bình để xây dựng đất nước, song bọn thực dân đế quốc đã đem quân
xâm lược nước ta một lần nữa. Vì độc lập tự do của Tổ quốc, nhân dân ta


13

buộc phải tiến hành 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, 20 năm chống
đế quốc Mỹ. Với chiến thắng oanh liệt mùa Xuân năm 1975, cả nước độc
lập, thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng, từng bước quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Từ năm 1975 đến 1985, sự nghiệp xây dựng đạt những thành tựu
nhất định. Song cũng trong thời gian này, Đảng ta đã phạm sai lầm về chỉ
đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, nguyên nhân do thiếu kinh nghiệm và
nhất là do chủ quan duy ý chí, vi phạm những quy luật khách quan, dẫn đến
khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Tại Đại hội VI, Đảng ta đã tự phê
bình nghiêm túc, rút ra những bài học sâu sắc, từ đó đề ra đường lối đổi mới.
Đại hội VI là mốc lịch sử rất quan trọng trên con đường xây dựng và phát
triển Đảng ta và đất nước ta.
Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ X, năm 2006 đánh giá
công cuộc đổi mới đã giành “những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử”.
Tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2001 - 2010, năm năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của
Đảng, Đại hội XI của Đảng ta đánh giá: “Nhìn tổng quát, 5 năm qua (2010 2015)… toàn Đảng, toàn dân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu
quan trọng… Mười năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001
- 2010… đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng…. Những

thành tựu đạt được trong 20 năm thực hiện Cương lĩnh là to lớn và có ý nghĩa
lịch sử”. Nhờ có đường lối cách mạng đúng đắn, được xây dựng trên cơ sở
khoa học là chủ nghĩa Mác- Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh
đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản, với sự nỗ lực vượt bậc của toàn Đảng, toàn
dân và toàn quân, “đất nước bước đầu thực hiện thành công công cuộc đổi
mới, ra khỏi tình trạng kém phát triển, bộ mặt của đất nước và đời sống của
nhân dân có nhiều thay đổi; sức mạnh về mọi mặt được tăng cường, độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ


14

vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; tạo
tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn mới”.
Trong bối cảnh hiện nay, khi mà chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát
triển và đang tận dụng cơ hộ của quốc tế hóa, toàn cầu hóa về kinh tế để phát
triển và không từ bỏ mưu đồ thống trị toàn cầu; khi chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, phong trào cách mạng thế giới đứng trước
những thử thách đầy cam go... Chớp lấy cơ hội này các thế lực chống chủ
nghĩa xã hội đã lớn tiếng bác bỏ học thuyết Mác – Lê Nin về hình thái kinh tế
- xã hội. Sự bác bỏ đó đồng nghĩa với sự phủ định con đường phát triển xã hội
chủ nghĩa của các dân tộc, họ coi sự tan rã của Liên Xô và Đông Âu là hồi
chuông cảnh báo về sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội. Những người hoang
mang, dao động về lý tưởng đã “khuyến cáo” Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng
và nhân dân ta đã lựa chọn, bởi theo họ, đến thành trì của chủ nghĩa xã hội
hùng mạnh như Liên bang Xô Viết mà còn không đứng vững, thì một đất
nước nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam chúng ta làm sao có thể đi lên
chủ nghĩa xã hội được(?). Nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi mà CNTB có
sự điều chỉnh thích nghi và tạm thời đạt được những sự phát triển nhất định;

khi mà xã hội nước ta vấn còn những tệ nạn tham nhũng, nhũng nhiễu hách
dịch... một số người thậm chí cho rằng sự lựa chọn con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội đã “sai ngay từ đầu”, rằng giá như vào nửa đầu thế kỷ XX, đi
con đường khác thì biết đâu nước ta vẫn giành được độc lập, kinh tế, văn hóa
vẫn phát triển, lại tránh được mấy cuộc kháng chiến gian khổ, hao tổn biết
bao xương máu. v.v..
Phải khẳng định ngay rằng, đó là những quan điểm hoàn toàn sai trái.
Những quan điểm này chỉ nhìn thấy, thậm trí tuyệt đối hoá những mặt tích
cực của CNTB cũng như những hạn chế của TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam
mà cố tình lờ đi những khuyết tật không thể nào khắc phục được của CNTB;
không nhìn thấy thậm trí cố tình xuyên tạc, bóp méo những thành tịu mà


15

Đảng lãnh đạo nhân dân ta đã đạt được trong hơn 80 năm qua.. Lịch sử vận
động và phát triển của cách mạng Việt Nam, thực tiễn phát triển của thế giới
suốt thế kỷ XX, cũng như thập niên đầu thế kỷ XXI đã bác bỏ hoàn toàn
những luận điệu xuyên tạc nêu trên, đồng thời chứng minh rằng, nước ta quá
độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách
quan, phù hợp với xu thế vận động tiến bộ của thời đại và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.
Song thực tiễn công cuộc cải cách và đổi mới ở các nước xã hội chủ
nghĩa còn lại thời gian qua cho thấy, đó chỉ là sự sụp đổ của một kiểu mô hình
của chủ nghĩa xã hội. Sự sụp đổ đó không hề nói lên tính lỗi thời của học
thuyết Mác – Lê Nin về hình thái kinh tế-xã hội mà đến nay chưa có học
thuyết nào thay thế được.
Ví dụ như, thay vì nhìn nhận quy luật phát triển của xã hội loài người là
sự phát triển và thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội bởi sự vận
động và tác động biện chứng giữa các yếu tố lực lượng sản xuất, quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng, thì lý thuyết về "ba làn sóng văn minh" lại chỉ

bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế. Điều này không nói lên tính mới mẻ bởi nó đã
được C.Mác và Ph.Ăng-ghen phân tích chặt chẽ, khoa học trong học thuyết
hình thái kinh tế - xã hội. Al-vin Tốp-phơ cũng đã đưa ra một khối lượng
thông tin có vẻ như "đa dạng và mới mẻ", dường như là "sự bổ sung, làm sáng
tỏ" những dự báo của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về bước
ngoặt trong phát triển của khoa học và công nghệ. Song cả điều đó cũng
không có gì mới. Hơn một trăm năm trước đây, chính C.Mác là người đã đưa
ra dự báo rằng khoa học và công nghệ sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, và điều đó đã trở thành hiện thực trong thời đại ngày nay. Tất cả những
điều trên đây cho thấy, chưa có lý thuyết khoa học nào có thể thay thế được
học thuyết hình thái kinh tế - xã hội mác-xít khi lý giải về quy luật vận động
phát triển của xã hội loài người, cho dù nhân loại đã bước vào kỷ nguyên của


16

kinh tế tri thức. Vậy những người bác bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, họ sẽ
lựa chọn con đường nào, hẳn mọi người đều đã rõ.
Còn về sự lựa chọn con đường "quá độ rút ngắn", bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội, phải chăng chúng ta cũng đã sai lầm?
Cần thấy rằng, trong lịch sử phát triển nhân loại, việc bỏ qua một hình thái
kinh tế - xã hội để đi đến một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn không phải là
không có tiền lệ. Do đó, việc chúng ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để xây
dựng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa không phải là điều không
thể làm được. Đây chính là sự vận dụng tư tưởng của C.Mác "có thể rút ngắn
và giảm bớt những cơn đau đẻ" trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia.
Sau khi cách mạng giải phóng dân tộc thành công, nhân dân ta xây
dựng nhà nước của mình và thực hiện bước quá độ đi lên xây dựng CNXH,
thực hiện những nhiệm vụ của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hơn nửa thế
kỷ, 20 năm kể từ khi miền bắc được giải phóng và hơn 35 năm cả nước thống

nhất, công cuộc xây dựng đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã
giành được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Sau 25 năm đổi mới,
với sự tìm tòi đầy sáng tạo, con đường đi lên CNXH ở đất nước ta ngày càng
rõ hơn cả về nhận thức và thực tế.
Nếu bất kỳ ai có hiểu biết về CNXH và mô hình CNXH kiểu cũ (mà
như họ nói là Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu trước đây) thì không thể
nói một cách hồ đồ, rằng chúng ta "nhắm mắt đi theo con đường cũ".
Nhân đây, cũng nêu lên một thực tế khách quan là, khi Liên Xô và các
nước XHCN Ðông Âu tan vỡ, trong Ðảng và xã hội ta có những người băn
khoăn, dao động về con đường đi lên CNXH và mục tiêu của cách mạng Việt
Nam. Nỗi lo lớn nhất là cách mạng Việt Nam làm gì và làm như thế nào để
trụ được trong cơn thử thách nghiệt ngã, hiểm nghèo này. Thành quả cách
mạng của nhân dân ta, do Ðảng lãnh đạo trong hơn nửa thế kỷ, với bao hy
sinh xương máu, mồ hôi, nước mắt sẽ ra sao. Liệu Ðảng Cộng sản Việt Nam
có thể tự bảo vệ mình để lãnh đạo nhân dân ta xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


17

Tuy nhiên, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, được tôi luyện trong đấu tranh cách mạng, gắn bó máu thịt với nhân
dân, Ðảng ta kiên định tiến hành công cuộc đổi mới vì mục tiêu độc lập dân
tộc và CNXH, làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng hơn và được
xây dựng có hiệu quả hơn để đi tới thắng lợi.
Thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước hơn 25 năm qua là bằng
chứng sống động bác bỏ những toan tính của các phần tử chống đối, thù địch
muốn Ðảng và dân tộc ta rời bỏ con đường đi lên CNXH, chia rẽ sự gắn bó
giữa Ðảng, Nhà nước và nhân dân trong quá trình thực hiện mục tiêu độc lập
dân tộc và CNXH. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 80 năm qua
dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định tính đúng đắn của sự lựa chọn đó.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã thực hiện thành công công cuộc
đổi mới; những nhiệm vụ cơ bản của chặng đường đầu của thời kỳ quá độ đã
được hoàn thành: đất nước đã thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, ra khỏi khủng
hoảng, bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đầy tiềm năng. Các mục tiêu
của xã hội XHCN: dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do
nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất
hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp đỡ nhau cùng phát triển... được thực hiện có hiệu quả. Con đường đi
lên CNXH ngày càng rõ nét hơn.
Thực tế cũng chứng minh rằng, kiên định và phát triển con đường xã
hội chủ nghĩa, "những thành tựu trong việc cụ thể hóa một con đường thích
hợp quá độ lên CNXH không chỉ là tài sản vô giá của những người Cộng sản
Việt Nam mà còn là nguồn cảm hứng và tin tưởng đối với những người Cộng
sản và cách mạng trên toàn thế giới". (A-li-lốp - Việt Nam là biểu tượng của
thế kỷ XX, báo Nhân Dân, ngày 20/9/2000, tr 5).


18

Mỗi khi Ðảng ta tiến hành Ðại hội toàn quốc bàn việc nước, việc dân,
việc Ðảng thì những phần tử cơ hội, chống đối, được sự tiếp tay, giật dây của
các thế lực thù địch ở bên ngoài, trắng trợn đòi Ðảng ta, nhân dân ta nên từ bỏ
con đường đi lên CNXH. Dù cung bậc khác nhau, nhưng thủ đoạn, luận điệu
của họ đều rất xảo quyệt, lắt léo.
Tuy nhiên, họ không đưa ra được mô hình xã hội mới mà chung quy
chỉ cóp nhặt hình mẫu của các nước phương Tây mà họ gọi là "các nước dân
chủ tự do". Xin dẫn ra đây ý kiến nhà khoa học người Mỹ Armen Baydoyan
nói về tình hình các nước "dân chủ tự do" mà có người đã nói ở trên: "Chủ

nghĩa tự do mới đã đánh vào trung tâm cũng như ngoại vi của các xã hội. Ở
một nước giàu có như Mỹ có tới 32 triệu người có tuổi thọ trung bình dưới 60
tuổi; 40 triệu người không được chăm sóc về y tế, 45 triệu người đang sống
dưới mức nghèo khổ; số người mù chữ lên tới 52 triệu người. Tương tự như
vậy, ngay trong lòng châu Âu giàu có, có tới 50 triệu người nghèo và 18 triệu
người thất nghiệp... Theo ước tính của Liên hợp quốc, có khoảng 80 triệu
người (trong đó có 10 triệu người ở trung tâm các nước công nghiệp) bị suy
dinh dưỡng trong 2 năm 1999-2001. Như vậy, các nước ở ngoại vi hoàn toàn
bị tước đoạt quyền để phát triển và duy trì nền văn hóa dân tộc... ở trung tâm
các nước công nghiệp, việc tư nhân hóa nhiều khu vực kinh tế công cộng
cũng như tập trung về vốn và tài chính, trong số những người hưởng lợi đang
ngày càng ít đi đã dẫn đến tình trạng không thể bảo vệ được về mặt xã hội".
Armen Baydoyan nhận xét: "Mặc dù đã có những giọt nước mắt cá sấu của
những người theo chủ nghĩa tự do mới, nhưng CNTB cũng không thể tạo ra
một xã hội công bằng và bình đẳng mà không đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại
của nó. Vì vậy, tất cả những lời nói của các nhà tư bản về việc thỏa mãn mọi
nhu cầu cơ bản của con người và giải quyết các vấn đề muôn thuở liên quan
đến nhân đạo, thực chất không có gì ngoại trừ đạo đức giả. Ðây cũng chính là
lý do tại sao CNTB chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ giúp một nước
khác phát triển". (Tạp chí Lý luận chính trị, số 3/2006, tr 85-86).


19

Có lẽ không cần bình luận thêm. Ðộng cơ và ý đồ xấu xa của các "nhà
dân chủ" đó là, lợi dụng việc Ðảng ta lấy ý kiến toàn dân góp ý kiến xây
dựng, bổ sung, hoàn thiện các Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Ðại hội của
Ðảng, để bài bác, vu cáo và đòi Ðảng ta, nhân dân ta từ bỏ con đường đi lên
CNXH. Sâu xa hơn, họ nhằm phủ định vai trò lãnh đạo của Ðảng ta, xóa bỏ
thành tựu cách mạng của nhân dân ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Ðảng

trong hơn 80 năm qua.
Phải nói ngay rằng, Ðảng Cộng sản Việt Nam tồn tại và phát triển
không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân và toàn dân
tộc Việt Nam. Trong sự nghiệp cách mạng, nhân dân cần có Ðảng Cộng sản
Việt Nam dẫn đường đi lên CNXH là tất yếu, khách quan mà 82 năm qua,
thực tiễn lịch sử đã chứng minh.
Sau hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc ngoại xâm và giành
được độc lập, đất nước ta tiếp tục con đường mình đã lựa chọn đó là con
đường đi lên CNXH, chúng ta đang vững bước tiến vào thế kỷ mới với những
thách thức và khó khăn mới với con đường mà chúng ta đã chọn, nhưng
không vì thế mà ta chịu lùi bước,chịu khuất phục trước khó khăn. Chúng ta sẽ
vẫn tiếp tục đi theo con đường mà chúng ta đã lựa chọn, chúng ta đề ra nhiệm
vụ để hoàn thành nó và những phương hướng để dẫn chúng ta tới thắng lợi
trên con đường mà chúng ta đã chon. Tuy nhiên để tiến đến được CNXH
chúng ta còn phải trải qua nhiều chặng đường đầy gian lao và thử thách, đó là
bước quá độ để Tổ quốc Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc hùng
mạnh trên thế giới, đó là bước quá độ để chúng ta tiến đến chế độ mới, chế độ
Cộng sản chủ nghĩa, chế độ mà mọi người đều được hưởng hạnh phúc, ấm no
và công bằng. Tuy nhiên từ giờ đến đó chúng ta còn bao nhiêu công việc phải
làm, bao nhiệm vụ phải hoàn tất. Con đường mà chúng ta đang đi đầy chông
gai, đòi hỏi chúng ta phải có được phương hướng đúng đắn.


20

Tóm lại, đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn
đúng đắn của Đảng ta. Như vậy, đi lên XHCN là con đường mà Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Đảng đã lựa chọn ngay từ đầu cho dân tộc Việt Nam. Và đó
cũng chính là mục tiêu duy nhất, không thay đổi của cách mạng nước ta từ đó
đến nay và mãi mãi về sau.

Công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta tất phải là một quá trình cách
mạng lâu dài, sâu sắc, triệt để, là cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái mới và cái
cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu; giữa những nhân tố XHCN và không phải
XHCN còn tồn tại, đan xen nhau. Song chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản.
Đó là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng CSVN, có dân tộc anh hùng, có nhân
dân anh hùng, cần cù và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo
của Đảng, và bên cạnh đó là sức mạnh của thời đại... Nên nhất định sẽ thành
công. Chính vì lẽ đó, Đảng ta đã khẳng định: chỉ có CHXN mới bảo đảm cho
dân tộc có độc lập, tự do thực sự, đất nước phát triển phồn vinh, nhân dân có
cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Xác định được hướng đi đúng và kiên định, kiên trì đi theo con đường
đã lựa chọn, cách mạng Việt Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi to
lớn, vẻ vang trong chiến đấu chống kẻ thù xâm lược cũng như trong xây dựng
phát triển đất nước trong suốt 81 năm qua, nhất là 25 năm thực hiện công
cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Ở vào thời khắc ngặt
nghèo, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, XHCN rơi vào khủng
hoảng, Đảng ta đã sáng suốt và kiên quyết thực hiện đường lối đổi mới,
nhưng là sự đổi mới có nguyên tắc để vừa không xa rời định hướng XHCN,
vừa có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm bổ sung cho lý luận về
CNXH và con đường đi lên CHXN trong thời đại toàn cầu hóa. Sự vững vàng
vượt qua cơn “động đất lịch sử” của CNXH ở nước ta và một số nước XHCN
khác như Trung Quốc, Cu Ba đã khẳng định tính tất yếu và sức sống mãnh
liệt của CNXH trong thời đại ngày nay.


21

Xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn, cả tình hình trong nước và kinh
nghiệm quốc tế, muốn thay đổi căn bản cuộc sống của người lao động từ kiếp
nô lệ làm thuê trở thành người làm chủ, không có con đường nào khác ngoài

con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Mọi con đường khác đều không được nhân
dân ta chấp nhận. Vì vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta cần kiên định vững vàng
với mục tiêu, lý tưởng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn là con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội.


22

(1), (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb.
Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 69, 70
(3) C. Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà
Nội, 1995, t. 19, tr. 47
(4) V. I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, t. 45, tr.431.
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2001, tr.23
(6) Văn kiện Đại hội IX đã dẫn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001,
tr.21.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, bên cạnh những
thành tựu, chúng ta cũng còn có khuyết điểm, yếu kém, những vấp váp sai
lầm.



×