1
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG PHÊ PHÁN THẾ KỶ XIX,
MỘT TRONG NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN TRỰC TIẾP CỦA
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC.
CNXHKH là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin, là một
khoa học nghiên cứu những quy luật, những vấn đề có tính quy luật về xã hội
- chính trị của quá trình phát triển xã hội từ CNTB lên CNXH, cùng những
con đường biện pháp đấu tranh của GCCN và nhân dân lao động để thực hiện
quá trình đó. Ngay từ khi ra đời đến nay, nhất là sau khi CNXH ở Liên xô và
Đông Âu sụp đổ, nó luôn bị các thế lực thù địch, phủ nhận, xuyên tạc; thậm
chí cả một số người cộng sản cũng tỏ thái độ hoài nghi đối với CNXHKH. Vì
vậy nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của CNXHKH, là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng đặc biệt trong hiện nay: nó giúp chúng ta nhận thức sâu sắc
hơn về CNXHKH, từ đó củng cố niềm tin, lý tưởng cộng sản; kiên định mục
tiêu con đường XHCN, nâng cao ý chí và năng lực thực tiễn đấu tranh, bảo vệ
và góp phần phát triển các nguyên lý của CNXHKH, thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới.
CNXHKH là một giá trị văn hoá nhân loại, ngọn cờ tư tưởng, lý luận
cách mạng, định hướng cho cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng cao cả của
GCCN và những người lao động trên thế giới. CNXHKH, ra đời là sản phẩm
tất yếu của những tiền đề khách quan và nhân tố chủ quan nhất định. Cùng
với tiền đề chủ quan là thiên tài và tư tưởng nhân văn, tiến bộ của Mác, Ăngghen, thì tiền đề khách quan: đó là kết quả chín muồi của điều kiện kinh tế,
chính trị xã hội và khoa học tự nhiên... những năm 30-40 của thế kỷ XIX và
no kế thừa toàn bộ những giá trị tư tưởng, lý luận của loài người đã đạt được,
như Lênin đã chỉ rõ: học thuyết của Mác “là kẻ kế thừa chính đáng tất cả
2
những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã sáng tạora hồi thế kỷ XIX: triết học
Đức, chính trị kinh tế học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp” (1). Trong đó CNXH
không tưởng phê phán thế kỷ XIX là một trong những tiền đề lý luận trực tiếp
của CNXHKH, hay nói cách khác CNXHKH là sự kế thừa và phát triển lên
trình độ mới, chất lượng mới của các trào lưu tư tưởng XHCN đã từng xuất
hiện và tồn tại lâu dài trong lịch sử tư tưởng nhân loại, mà trực tiếp là CNXH
không tưởng phê phán thế kỷ XIX.
CNXH không tưởng phê phán với các đại biểu tiêu biểu là Xanhxi-mông, Phu-ri-ê(người Pháp) và Ô-oen(người Anh), ra đời vào những
năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, đây là thời kỳ phương thức sản
xuất TBCN đã được hình thành, bắt đầu phát triển ở châu Âu và đây là
thời kỳ đầy biến động chính trị ở Tây Âu. Điều này được thể hiện trên
lĩnh vực kinh tế, nền sản xuất công nghiệp đã ra đời và phát triển nhanh
chóng ở nước Anh, Pháp và một phần Châu Âu, Bắc Mỹ. Sản xuất công
nghiệp đã phát triển nhanh chóng làm biến đổi bộ mặt kinh tế - xã hội
của châu Âu và thế giới.
Về xã hội: thời kỳ này, giai cấp tư sản đã củng cố và duy trì vững
chắc địa vị thống trị của mình, nhưng đồng thời cũng bắt đầu bộc lộ bản
chất bóc lột xấu xa của chúng đối với quần chúng lao động. Sự bất công,
bất bình đẳng về kinh tế, xã hội càng diễn ra gay gắt. Trong khi đó, giai
cấp công nhân đã xuất hiện, từng bước lớn mạnh và trở thành một lực
lượng xã hội đối lập với GCTS, song họ ngày càng bị bần cùng hóa và
bị bóc lột thậm tệ, vì vậy họ đã liên tục tổ chức các cuộc đấu tranh
chống lại GCTS.
1
Lênin Toàn tập, tập 23, Nxb TB. M, 1980, tr50.
3
Hoàn cảnh sống và cuộc đấu tranh của GCVS là điểm xuất phát
cho sự xuất hiện các trào lưu CNXH không tưởng, mà đỉnh cao là
CNXH không tưởng phê phán thế kỷ XIX, như Ăng-ghen viết: “Tình
cảnh GCCN là cơ sở thực tế và xuất phát điểm của mọi phong trào và
xã hội hiện đại, bởi vì nó là biểu hiện sâu sắc nhất và rõ dệt nhất của
những tai hoạ xã hội của chúng ta hiện nay. Chính tứ đó mà đã trực
tiếp phát sinh chủ nghĩa cộng sản của công nhân Pháp và Đức và gián
tiếp phát sinh chủ nghĩa Phu-ri-ê”. (1)
Mặc dù thành phần xuất thân của ba đại biểu của CNXH không tưởng
phê phán thế kỷ XIX khác nhau: Xanh-xi-mông, xuất thân từ một gia đình
quý tộc lâu đời ở Pháp, Phu-ri-ê, xuất thân từ một gia đình tư sản ở Pháp và
Ô-oen, xuất thân từ một gia đình tiểu thủ công ở Anh, song do hoàn cảnh xã
hội tác động, do chứng kiến tận mắt những cảnh trái ngang của xã hội và
tường tận những thủ đoạn gian trá, tàn nhẫn của bọn tư sản trong việc bóc lột
người lao động cũng như sự cạnh tranh gay gắt giữa chúng với nhau, cho nên
tư tưởng lớn của các ông đã gặp nhau. Các ông đã thẳng thắn phê phán xã hội
tư sản đương thời, nêu lên tư tưởng về xã hội tương lai, một xã hội tốt đẹp,
tiến bộ, công bằng, bình đẳng, hạnh phúc, không còn hiện tượng áp bức,
không còn người bóc lột người... Có thể nói tuy tư tưởng của các ông không
có cơ sở khoa học và còn mang nặng tính không tưởng, nhưng các ông đã
đóng góp lớn vào sự phát triển của lịch sử tư tưởng nhân loại, đã tạo ra bước
phát triển mới về tư tưởng XHCN. Đặc biệt tư tưởng của các ông đã trở thành
một trong những tiền đề lý luận trực tiếp, quan trọng để Mác, Ăng-ghen xây
dựng lên CNXHKH – vũ khí lý luận để GCNN và các đảng cộng sản đấu
tranh xóa bỏ chế độ TBCN, xây dựng thành công CNXH và CNCS văn minh
trên phạm vi toàn thế giới.
1
C.Mác-Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H.1995,tr.179.
4
Nghiên cứu CNXH không tưởng phê phán thế kỷ XIX, với tư cách là
một trong những tiền đề lý luận trực tiếp của CNXHKH, chúng ta cần thấy rõ
không chỉ những giá trị, mà thậm chí cả những hạn chế của nó để thấy Mác,
Ăng-ghen đã phê phán, đã loại bỏ tính chất không tưởng, những sai lầm của
các ông; chắt lọc, kế thừa, phát triển giá trị tiến bộ để xây dựng thành
CNXHKH – học thuyết khoa học, cách mạng.
Trước hết những giá trị mà các đại biểu của CNXH không tưởng phê
phán Thế kỷ XIX đã để lại, thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau:
Một là các ông đã phê phánsâu sắc xã hội tư sản đương thời:
Chứng kiến những tiêu cực của chế độ tư bản chủ nghĩa, cũng như tình
cảnh khốn cùng của người lao động, các ông đã phê phán sâu sắc xã hôi tư
sản, tiêu biểu là Phu-ri-ê. Phu-ri-ê đã phê phán một cách thâm thúy và chua
cay xã hội tư sản; ông đã: “Thẳng tay lột trần cảnh khốn cùng về vật chất và
tinh thần của người lao động; đem đối chiếu với hiện thực xấu xa của xã hội
tư sản và những lời hứa hẹn tốt đẹp đầy cám dỗ, nhưng rỗng tuếch của những
nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đương thời về việc xây dựng một xã hội chỉ
có lý tính chi phối”(1). Ông còn mô tả chi tiết những mánh khóe lường gạt,
những thủ đoạn xấu xã của bọn con buôn tư sản. Ông cho rằng, xã hội tư sản
vận động trong vòng luẩn quẩn, đó là một "trạng thái vô chính phủ của công
nghiệp", trong đó người lao động được hưởng quá ít còn các tầng lớp ăn bám
thì được hưởng quá nhiều. Vì vậy nó không thể khắc phục được những mâu
thuẫn luôn tái sinh, nên nó luôn đạt được kết quả trái ngược với cái mà nó
mong muốn. Theo ông chính xã hội tư sản đã biến mọi thói hư tật xấu đã có
từ “thời đại dã man” dưới hình thức đơn giản thành hình thức tồn tại phức tạp,
mập mờ, hai mặt và giả dối. Đặc biệt ông đã chỉ ra một cách tài tình nguồn
1
C.Mác-Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb CTQG.H, 1995, tr.285-286.
5
gốc của những bất công trong xã hội tư sản: "Sự nghèo khổ sinh ra từ chính
bản thân sự thừa thãi"(1). Ngoài ra ông cũng hết sức phê phán quan hệ hôn
nhân tư sản, ông viết: chế định hôn nhân tư sản đã bị biến dạng thành những
giao kèo buôn bán và nó đã hợp thức hóa sự xa đọa làm cho phụ nữ bị vô
quyền... Từ đó ông chủ trương đấu tranh cho sự bình đẳng của người phụ nữ
trong xã hội và ông là người đầu tiên tuyên bố: “Trình độ giải phóng phụ nữ
là thước đo tự nhiên của sự giải phóng xã hội”.
Không kịch liệt như Phu-ri-ê, nhưng Xanh-xi-mông cũng đã chỉ rõ
những mặt bất hợp lý của xã hội đương thời: đó là tình trạng vô chính phủ dẫn
đến các cuộc tàn phá sức sản xuất và cơ sở xã hội, làm cho các dân tộc phải
chịu nhiều hậu quả tiêu cực. Theo ông xã hội tư sản đầy dẫy những đặc
quyền, đặc lợi sinh ra từ sự bất bình đẳng trong sở hữu và đó là một tình trạng
xã hội lộn ngược. Còn Ô-oen cũng đã thẳng thừng lên án xã hội tư sản. Theo
Ô-oen: chế độ tư hữu, tôn giáo, hôn nhân tư sản là ba cái ác cần phải xoá bỏ.
Đặc biệt việc phê phán kịch liệt chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa và kêu gọi
xây dựng một xã hội mới dựa trên chế độ công hữu là một điểm nổi bật, một
công lao to lớn của Ô-oen. Ông viết: “Chế độ tư hữu đã và đang là nguyên
nhân của vô số tội phạm và tai họa mà con người phải chịu đựng”. Theo Ôoen: chế độ tư hữu đã làm cho những người sở hữu tài sản trở thành ngu
muội, ích kỷ và tính ích kỷ đó thường tỷ lệ thuận với số lượng tài sản mà họ
sở hữu. Chế độ tư hữu đã biến những kẻ giàu có thành động vật hai chân và
bó hẹp ý thức, tình cảm của con người trong phạm vi lợi ích riêng tư với
những lo toan vụn vặt; nó làm con người xa cách nhau, thù hằn nhau, tàn sát
nhau...Nó là nguyên nhân gây ra mọi sự lừa đảo, gian lận, nạn mại dâm và các
tệ nạn xã hội khác. Do đó ông có thái độ dứt khoát là khẳng định sự cần thiết
phải xóa bỏ chế độ tư hữu.
1
Sđd, tr. 287.
6
Như vậy các nhà CHXH không tưởng phê phán thế kỷ XIX đã đứng về
phía những người lao động nghèo khổ, bênh vực họ; phê phán, lên án gay gắt
xã hội tư sản, điều đó không chỉ thể hiện tư tưởng nhân văn, nhân đạo của các
ông, mà còn giúp Mác, Ăng-ghen có thêm tư liệu quý giá để đi sâu nghiên
cứu, từ đó bóc trần bản chất và khẳng định sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa
tư bản.
Hai là tư tưởng của các ông về sự vận động và phát triển của xã hội
loài người:
Nhìn chung các ông đều có những tư tưởng khá tiến bộ về sự vận động
và phát triển của xã hội loài người. Xanh-xi-mông thừa nhận sự phát triển
của xã hội loài người là có tính chất quy luật khách quan, từ thấp đến cao;
ông cho rằng mỗi chế độ xã hội đều là một bước tiến trong lịch sử. Ông còn
chỉ rõ vai trò của khoa học và sản xuất đối với chủ nghĩa tư bản và chỉ rõ vai
trò cũng như mối quan hệ của cách mạng khoa học và cách mạng chính trị;
ông viết: “Lịch sử cho thấy rằng, các cuộc cách mạng khoa học và cách
mạng chính trị xen kẽ nhau, rằng chúng lần lượt khi là nguyên nhân, khi là
kết quả của nhau”. Còn đối với Phu-ri-ê, khi đề cập đến sự vận động, phát
triển của xã hội thì ông là một nhà biện chứng tài năng. Ông đã vạch ra bức
tranh lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua bốn giai đoạn khác
nhau: Mông muội, dã man, gia trưởng và văn minh. Ông quan niệm mỗi giai
đoạn ấy là một nấc thang trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Đặc
biệt khi đánh giá về chế độ tư bản đương thời ông viết: “Chế độ văn minh
giữ một vai trò quan trọng trong dãy liên tiếp các nấc thang vận động, bởi vì
chính nó đã tạo ra động lực cần thiết để bước theo con đường đi tới sự liên
hiệp, nó tạo ra nền sản xuất lớn, các khoa học, mỹ thuật cao”. Ông dự đoán
rằng, văn minh tư sản nhất định sẽ được thay thế bằng chế độ xã hội mới mà
7
ông gọi là : "Chế độ xã hội được đảm bảo" hay "xã hội hài hoà". Theo ông
nước Pháp và Nước Anh đương thời ở vào giai đoạn thứ ba và đang ngả mạnh
sang giai đoạn thứ tư. Nhưng vì nó không biết phải hành động như thế nào nên
đã lâm vào tình trạng đình trệ nặng nề. Do đó nó phải chuyển sang giai đoạn
cuối cùng và đi nốt đoạn đường đó để rồi vượt qua khỏi giới hạn của chính nó
và bước vào một thời kỳ mới: "Chế độ xã hội được đảm bảo". Chính từ đó ông
cũng thể hiện thái độ nhất quán của mình là: “Mục đích của tôi không phải là
cải tiến chế độ văn minh, mà là tiêu diệt nó và gây nên sự mong muốn sáng tạo
một cơ chế xã hội tốt đẹp hơn bằng cách chứng minh rằng, chế độ văn minh là
vô lý trong các chi tiết cũng như trong toàn bộ”. Đối với Ô-oen, ông cũng cho
rằng lịch sử xã hội luôn vận động phát triển từ thấp đến cao và đã đi gần tới tư
tưởng cho rằng sự phát triển của lịch sử gắn liền với những thay đổi của phương
thức sản xuất. Khi nghiên cứu xã hội đương thời, Ô-oen cho rằng: lực lượng vật
chất đang chín muồi trong lòng xã hội, cuối cùng sẽ dẫn đến sự thay đổi xã hội;
sự thay đổi đó là nấc thang cần thiết chuẩn bị dẫn đến cuộc cách mạng xã hội vĩ
đại và quan trọng. Trong quá trình lịch sử xã hội, ông đã đề cao giá trị và tính
cách của con người, đây cũng là một nội dung nổi bật trong lý luận của ông.
Theo ông bản tính của con người được hình thành thông qua sự tác động qua lại
giữa con người và môi trường bên ngoài, trong đó những ảnh hưởng, tác độnh
của khách quan có ý nghĩa quan trọng nhất. Chính những quan niệm này làm
cho ông vượt hẳn những nhà CNXH không tưởng của các thế kỷ trước cũng
như nhiều nhà CNXH không tưởng cùng thời. Có thể nói trong thế giới quan
của ông đã le lói những yếu tố duy vật về lịch sử.
Ba là tư tưởng của các ông về giai cấp và đấu tranh giai cấp:
Có thể nói, cùng với tư tưởng về sự vận động và phát triển của xã hội
thì tư tưởng của các đại biểu của CNXH không tưởng phê phán Thế kỷ XIX
8
về giai cấp cũng chứa đựng những giá trị to lớn và là một điều mới mẻ so với
tất cả các nhà không tưởng trước các ông. Xanh-xi-mông, con đẻ của cuộc đại
cách mạng tư sản Pháp, vì vậy khi nghiên cứu những người tham gia cuộc
cách mạng và thành quả mà họ được hưởng, trong tác phẩm: “Những bức thư
của một người ở Giơ-ne-vơ gửi những người cùng thời”, ông đã phân chia xã
hội thành hai giai cấp: “Những kẻ ăn không ngồi rồi” và “những nhà công
nghiệp – những người lao động”. “Những kẻ ăn không ngồi rồi” bao gồm
bọn quý tộc, thầy tu, những kẻ có đặc quyền trước kia và tất cả những kẻ
không tham gia sản xuất và buôn bán sống bằng lợi tức mới phất lên. Còn
“những nhà công nghiệp – những người lao động” gồm: công nhân, nông dân,
chủ xưởng, nhà buôn, nhà ngân hàng; ông gộp các nhà khoa học, các nghệ sỹ
vào thành phần nhà công nghiệp. Theo ông giai cấp này phải giữ địa vị hàng
đầu, vì nó quan trọng hơn tất cả, nó là một lực lượng vật chất to lớn và chiếm
đa số so với các giai cấp khác. Đối với cuộc cách mạng tư sản Pháp, theo
Xanh-xi-mông không chỉ là cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp
quý tộc mà là cuộc đấu tranh giữa giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản với giai
cấp những người không có của. Mặc dù Xanh-xi-mông chưa chỉ ra được
nguồn gốc kinh tế, xã hội của giai cấp và đấu tranh giai cấp, nhưng tư tưởng
của ông vẫn được đánh giá: “Đó là một phát hiện hết sức thiên tài”. Khác với
Xanh-xi-mông, Phu-ri-ê, chưa có quan niệm rạch ròi về giai cấp và đẳng cấp,
nên thậm chí có lúc ông đã chia xã hội thành mười sáu giai cấp khác nhau.
Tuy nhiên ông thường chia xã hội ra làm hai giai cấp cơ bản: giai cấp những
người ăn không ngồi rồi và giai cấp những người lao động; đồng thời ông còn
chỉ rõ sự đối lập và thù địch nhau giữa các giai cấp trong xã hội văn minh.
Bốn là tư tưởng của các ông về mô hình xã hội tương lai:
9
Mặc dù còn mang nặng yếu tố không tưởng, nhưng những quan niệm
của các ông về mô hình xã hội tương lai chứa đựng nhiều yếu tố hợp lý và
những dự đoán thiên tài. Trước hết Xanh-xi-mông cho rằng sự ra đời của xã
hội mới là kết quả tất yếu, hợp quy luật của sự phát triển của lịch sử. Theo
ông xã hội tương lai xây dựng trên nền đại công nghiệp có tổ chức khoa học
và có kế hoạch. Trong xã hội tương lai việc quản lý con người sẽ bị thay thế
bằng việc chi phối tài vật và chỉ đạo sản xuất. Ông cũng chỉ ra rằng: “Chính
trị chỉ là khoa học về sản xuất và sớm muộn chính trị cũng hoàn toàn bị kinh
tế nuốt mất”. Chính từ những dự báo đó, mà Ăng-ghen đã nhận xét: “Nếu ở
đây ý kiến cho rằng tình hình kinh tế là cơ sở của các thiết chế chính trị chỉ
mới biểu hiện dưới hình thức mần mống, thì trái lại, tư tưởng cho rằng, việc
quản lý người về chính trị phải biến thành việc quản lý vật và thành việc chỉ
đạo quá trình sản xuất, nghĩa là tư tưởng xóa bỏ nhà nước... ở đây đã được
nêu lên một cách hoàn toàn rõ rệt.” (1) Đặc biệt trong xã hội tương lai theo
Xanh-xi-mông: mọi người đều phải lao động, xã hội phải bảo đảm cho mọi
người được quyền lao động; mỗi người lao động theo khả năng của mình.
Ông ví xã hội như một xưởng lớn và không có người lao động không có ích.
Chỗ khác nhau giữa những người lao động là người này làm việc bằng tay,
người kia lao động bằng trí óc. Còn địa vị của con người trong xã hội tương
lai, thì theo Xanh-xi-mông, không phải do sự ngẫu nhiên của nguồn gốc xuất
thân, mà do năng lực quyết định. Đồng thời vị thế xã hội và thu nhập của mỗi
người phải tỷ lệ với năng lực và cống hiến của người đó cho xã hội.
Đối với Phu-ri-ê, ông là người đầu tiên chỉ rõ tính ưu việt của việc tổ
chức làm ăn tập thể trong các hiệp hội. Vì vậy ông chủ trương tổ chức các
hiệp hội sản xuất, tức các Phalănggiơ, theo ông đó là các tế bào của xã hội
tương lai. Ông đòi hỏi các hiệp hội được tổ chức một cách tự nguyện, không
1
C.Mác-Ph.Ăngghen Tuyển tập, tập 2, Nxb Sự thật.H, 1971, tr.147.
10
chịu sự kiểm soát của nhà nước, là cơ sở để đi tới xã hội hài hòa. Trong các
hiệp hội mọi người đều phải được lao động, việc tổ chức phải bảo đảm phù
hợp cả về hình thức và thời gian lao động và vì thế mà năng xuất lao động sẽ
cao, sản phẩm lao động sẽ dồi dào. Ở giai đoạn đầu khi đã “bảo đảm” đầy đủ
điều kiện để sinh sống thì chuyển sang giai đoạn “hài hòa”. Lúc đó mọi người
sẽ lao động hoàn toàn tự nguyện, sẽ thật sự tự do và đời sống sẽ vui tươi hạnh
phúc.
Khác với Xanh-xi-mông và Phu-ri-ê, Ô-oen không chỉ nêu lên quan
điểm của mình về xã hội mới, xã hội tương lai; mà ông còn bỏ sức lực, toàn
bộ tiền bạc và của cải của mình ra để thực nghiệm tổ chức xã hội đó, không
chỉ ở Anh mà cả ở Mỹ. Mặc dù cuối cùng đều thất bại, song Ô-oen đã bỏ cả
cuộc đời của mình ra để thực nghiệm xây xã hội lý tưởng trong công xưởng
của mình, điều đó chứng tỏ tinh thần nhân văn nhân đạo cao cả, hết lòng vì
giai cấp những người lao động, những người nghèo khổ của ông. Tư tưởng
của Ô-oen về xã hội tương lai được thể hiện thông qua chủ trương thành lập
các công xã lao động, coi đó là các đơn vị cơ sở của xã hội tương lai. Theo
ông trong xã hội tương lai không có giai cấp, nó là một liên minh tự do của
các công xã tự quản và ông đòi hỏi phải chú ý kết hợp lao động trí óc với lao
động chân tay, phải chú ý đến sự phát triển toàn diện của các cá nhân, đến sự
bình đẳng về quyền lợi của mọi người. Đặc biệt trong công xã, ông có thái độ
dứt khoát là phải xoá bỏ chế độ tư hữu, thực hiện chế độ công hữu; vì theo
ông nếu trước đây chế độ tư hữu đã từng là một nhu cầu tất yếu, hoặc ít nhất
cũng có ích đối với sự phát triển của xã hội; thì ngày nay khi máy móc đã ra
đời, chế độ tư hữu hoàn toàn không cần thiết nữa, thậm chí là một tệ nạn
không gì có thể biện bạch được. Bởi theo ông nếu một chế độ xã hội được tổ
chức hợp lý, có khoa học, có máy móc thì chế độ tư hữu hoàn toàn không cần
11
thiết nữa. Về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của công xã, Ô-oen chủ trương
xây dựng trên cơ sở lao động tập thể, cộng đồng sở hữu, bình đẳng về quyền
lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên trong công xã. Theo ông chính lợi ích
chung của công xã sẽ gắn kết các thành viên, tạo động lực để làm ra nhiều của
cải và tạo điều kiện cho con người được phát triển tự do và phát huy được
những năng khiếu của mình. Những việc làm có tính nhân đạo của ông trong
nhà máy ít nhiều đã mang lại những kết quả nhất định trong cải thiện đời sống
của công nhân trong công xưởng của ông, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến
nước Anh, cũng như xã hội tư bản đương thời. Chính từ công lao của Ô-oen,
Ăng-ghen đã đánh giá: “Mọi phong trào xã hội, mọi thành tựu thực sự đã
diễn ra ở Anh vì GCCN, đều gắn liền với tên tuổi của Rô-bớc Ô-oen"(1).
Như vậy có thể nói, mặc dù còn mang nặng yếu tố không tưởng,
nhưng tư tưởng của các nhà xã hội không tưởng Thế kỷ XIX về sự vận động
của lịch sử xã hội, về giai cấp, đấu tranh giai cấp và về mô hình xã hội tương
lai... là rất có giá trị. Chính sự phát triển của CNXH không tưởng phê
phán đã góp phần quan trọng vào sự phát triển nhận thức tư tưởng loài
người, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của quần chúng lao động, góp phần
thúc đẩy lịch sử phát triển. Đặc biệt những dự báo thiên tài của các ông sau
này đã được Mác, Ăng-ghen chứng minh bằng khoa học, kế thừa và xây dựng
nên học thuyết khoa học cách mạng của mình. Tuy nhiên khi bàn đến CNXH
không tưởng phê phán thế kỷ XIX, với tính cách là tiến đề lý luận trực tiếp
của CNXHKH, mà không đề cập đến tính chất không tưởng, đến những hạn
chế của nó là không khách quan, thiếu toàn diện và không thấy hết được vai
trò to lớn, mang tính vượt thời đại của Mác, Ăng-ghen, trong việc sáng tạo ra
CNXHKH.
1
C.Mác-Ph.Ăngghen Toàn tập, Tập 19, Nxb CTQG, H.1994, tr.365.
12
Hạn chế trước hết đó là các ông chưa khái quát được đúng đắn quy luật
vận động của lịch sử, xã hội. Tuy các ông đã có như dự báo thiên tài về sự
vận động phát triển của xã hội, tiêu biểu như Phu-ri-ê, nhưng suy cho cùng
các ông vẫn đứng trên lập trường duy tâm, với phương pháp siêu hình vì vậy
những khái quát của các ông chỉ là những dự báo mang tính chủ quan, mà
không có cơ sở khoa học. Cũng chính vì vậy mà dẫn đến hạn chế tiếp theo là
các ông đã không chỉ được rõ bản chất cũng như sự diệt vong tất yếu của
CNTB. Mặc dù các ông đều phê phán sâu sắc xã hội tư sản, lột trần những
tiêu cực, bất công, những xấu xa của CNTB, nhưng đó chỉ là những phê phán
dựa trên cảm tính trực quan, dựa trên tình cảm đối với GCCN, với người lao
động, chứ không phải dựa trên cơ sở khoa học, trên cơ sở kinh tế xã hội của
CNTB; vì vậy mà chưa vạch ra được đúng bản chất, cũng như sự diệt vong
tất yếu của CNTB, như V.I.Lênin đã khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội
không tưởng không giải thích được bản chất chế độ làm thuê trong chủ
nghĩa tư bản, cũng không phát hiện ra được quy luật phát triển của chủ
nghĩa tư bản” (1) . Trong khi chưa khái quát đúng quy luật vận động phát
triển của lịch sử xã hội, chưa chỉ ra được bản chất cũng như sự diệt vong
tất yếu của CNTB, thì các ông lại mô tả xã hội tương lai một cách hết sức
chi tiết, tỉ mỉ. Vì vậy mô hình xã hội tương lai mà các ông dự báo còn mang
nặng tính chủ quan, không tưởng và không có điều kiện để thực hiện trên
thực tiễn.
Đặc biệt sai lầm, hạn chế rất lớn của các ông là đã không nhìn thấy lực
lượng có sứ mệnh lịch sử là tiến hành cuộc cách mạng xã hội xóa bỏ xã hội
tư sản, xây dựng xã hội mới đó là GCCN. Mặc dù họ luôn đứng về phía
GCCN, những người lao động nghèo khổ, đấu tranh bênh vực họ nhưng:
“Đối với họ-Những nhà không tưởng phê phán thế kỷ XIX-thì GCVS chỉ tồn
1
Lê-nin, To àn t ập, Nxb TB.M, 1980, tr 56 - 57.
13
tại với tư cách là giai cấp đau khổ nhất”. (2) Chỉ đến sau này, Mác và
Ăngghen đi từ nghiên cứu địa vị kinh tế xã hội khách quan, đã kết luận rằng
chính GCCN là giai cấp có sứ mệnh lịch sử toàn thế giới. Một hạn chế của
các nhà không tưởng phê phán thế kỷ XIX không thể không đề cập, đó là sự
sai lầm trong việc lựa chọn con đường, phương pháp cách mạng để đi đến xã
hội tương lai, đó là con đường hòa bình, đấu tranh nghị trường, bằng phương
pháp nêu gương, thậm chí trông chờ vào sự rủ lòng thương của GCTS; như
sau này Mác đã chỉ ra: “Họ đã cự tuyệt mọi hành động chính trị và nhất là
mọi hành động cách mạng. Họ tìm cách đạt mục đích của mình bằng những
phương pháp hòa bình và thử mở một con đường đi tới kinh phúc âm xã hội
mới bằng hiệu lực của sự nêu gương, bằng những thí nghiệm nhỏ, cố nhiên
những thí nghiệm này luôn luôn thất bại”(2).
Trên đây là những hạn chế cơ bản của các nhà CNXH không tưởng
phê phán thế kỷ XIX, chính những hạn chế này nên chủ nghĩa của các ông
chỉ có thể gọi là thơ ca xã hội mà thôi. Những hạn chế trên là một tất yếu
khách quan bởi trước hết các ông vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của thành
phần xuất thân; đặc biệt do yếu tố thời đại, do điều kiện khách quan quy
định, như Mác đã chỉ rõ: “Hoàn cảnh lịch sử ấy cũng đã quyết định quan
điểm của những người sáng tạo ra CNXH không tưởng. Tương ứng với một
nền sản xuất TBCN chưa thành thục, với những quan hệ giai cấp chưa thành
thục, thì có một lý luận chưa thành thục. Biện pháp giải quyết những vấn đề
xã hội còn nằm kín trong quan hệ kinh tế chưa phát triển, nên phải được sản
sinh ra từ đầu óc con người”(3). Cho nên: “Họ lấy tài ba cá nhân thay thế
cho hoạt động xã hội, lấy những điều kiện tưởng tượng thay thế cho những
C.Mac-Ăngghen Toàn tập, tập 4. Nxb CTQG. H, 1995, tr.640.
C.Mac-Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 4. Nxb CTQG. H, 1995, tr.641.
3
C.Mac-Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 19. Nxb CTQG. H, 1995, tr.641282.
1
2
14
điều kiện lịch sử của sự giải phóng, đem một tổ chức xã hội do bản thân họ
nhoàn toàn tạo ra thay thế cho sự tổ chức một cách tuần tự”(4).
Như vậy có thể nói, mặc dù còn có những hạn chế nhất định, nhưng
chúng ta không thể phủ nhận được những giá trị to lớn của CNXH không
tưởng nói chung, CNXH không tưởng phê phán thế kỷ XIX nói riêng. Mác
và Ăng-ghen, xuất phát từ yêu cầu của hoàn cảnh lịch sử châu Âu những năm
30-40 thế kỷ XIX, nhất là từ sự phát triển của phong trào công nhân cũng
như những thất bại của nó đòi hỏi phải có một lý luận cách mạng soi đường;
các ông đã phê phán, loại bỏ những hạn chế, khiếm khuyết, kế thừa, phát
triển những hạt nhân hợp lý của CNXH không tưởng phê phán thế kỷ XIX,
cũng như các giá trị tư tưởng lý luận khác, đặt nó trên mảnh đất hiện thực,
biến CNXH từ không tưởng trở thành khoa học, thành vũ khí tư tưởng lý
luận của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Vì vậy CNXH không
tưởng phê phán thế kỷ XIX là một trong những tiền đề lý luận trực tiếp của
CNXHKH.
Nghiên cứu CNXH không tưởng nói chung, CNXH không tưởng
phê phán thế kỷ XIX nói riêng, giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn cả những
giá trị và những hạn chế của nó. Từ đó đánh đúng đắn những giá trị lịch
sử to lớn của CNXHKT, nhất là ý nghĩa đói với sự phát triển lịch sử tư tưởng
nhân loại và sự ra đời của CNXHKH.
Nghiên cứu CNXH không tưởng nói chung, CNXH không tưởng
phê phán thế kỷ XIX nói riêng, giúp chúng ta có cơ sở để khẳng định: sự
ra đời của CNXHKH không phải là sản phẩm thuần túy tư tưởng của
Mác, Ăng-ghen, mà là sản phẩm tất yếu của điều kiện khách quan và
nhân tố chủ quan và nó là sự kế thừa, sự phát triển hợp quy luật của lịch
4
C.Mac-Ph.Ăngghen Toàn tập, tập 4. Nxb CTQG. H, 1995, tr.640.
15
sử tư tưởng nhân loại. Cũng từ đó giúp chúng ta có cơ sở khoa học để
phân biệt sự khác nhau căn bản về chất giữa CNXH không tưởng và
CNXHKH, cũng như đấu tranh chống những quan điểm phản động sai trái
của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ và phát triển lý luận chủ nghĩa
Mác-Lênin nói chung và CNXHKH nói riêng.
Nghiên cứu CNXH không tưởng nói chung, CNXH không
tưởng phê phán thế kỷ XIX nói riêng, còn giúp chúng ta rút ra bài
học kinh nghiệm bổ ích trong nghiên cứu, phát triển lý luận, đó là
phải có quan điểm thực tiễn và biết tiếp thu kế thừa những tư tưởng tiến
bộ nhân loại. Trước hết nghiên cứu lý luận phải hướng vào giải đáp
những vẫn đề thực tiễn bức xúc đặt ra, đặt vấn đề nghiên cứu trong hoàn
cảnh cụ thể để nghiên cứu; kết quả nghiên cứu phải đưa vào thực tiễn để
kiểm nghiệm tính đúng đắn. Đồng thời quá trình nghiên cứu phải biết kế
thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, thậm chí tiếp thu
cả những thất bại của họ để tránh những sai lầm tương tự.
Tóm lại: CNXH không tưởng nói chung, CNXH không tưởng phê
phán thế kỷ XIX nói riêng đã phản ánh khát vọng của nhân loại cần lao về
một xã hội tương lai tốt đẹp, ở đó con người được sống trong tự do, ấm no,
hạnh phúc, bình đẳng, công bằng và văn minh. Đồng thời, thức tỉnh tinh thần
đấu tranh của quần chúng lao khổ. Do những điều kiện lịch sử khách quan,
dẫn đến ở họ còn nhiều hạn chế khó có thể khắc phục được. Tuy nhiên chủ
nghĩa xã hội không tưởng phê phán thế kỷ XIX đã có những đóng góp to lớn
cho lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại và nó là một trong những tiền đề
lý luận trực tiếp của chủ nghĩa xã hội khoa học.
16