Trang Văn Học Việt Nam
Trong trang này:
Nguyễn Trãi Nguyễn Công Trứ Nguyễn Khuyến Hồ Dzếnh
Phan Khôi Nguyễn Nhược Pháp Thế Lữ Quách Tấn
Hàn Mặc Tử Đồ Phồn TTKh Vũ Đình Liên
Vũ Hoàng Chương Nguyễn Bính Huy Cận Hữu Loan
Đinh Hùng Cung Trầm Tưởng Thanh Tâm Tuyền Nguyên Sa
Nguyễn Trãi
(1380-1442)
Ông hiệu là Ức Trai, người xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (nay là Thường Tín) tỉnh
Hà Đông, đậu Thái Học Sinh năm 21 tuổi (1400 Hồ Quí Ly, Thánh-nguyên năm đầu) làm
Ngự Sử Đài Chánh Chưởng. Sau khi nhà Minh đánh bại họ Hồ và bắt cha ông là Nguyễn
Phi Khanh đem về Tàu, ông theo vua Lê Lợi và trong 10 năm bình định, ông giúp mưu
hoạch và giữ việc từ mệnh. Khi bình định xong, ông được đổi lấy họ vua (Lê Trãi), phong
tước hầu và giữ chức Nhập Nội Đại Hành Khiển (tương đương thủ-tướng). Năm 60 tuổi
(1439), ông về trí sĩ ở Côn Sơn (thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Năm 1442, vì
cái án Thị Lộ, ông bị giết cùng với cả họ, thọ 63 tuổi.
Ông để lại nhiều tác phẩm bằng cả Hán-văn lẫn Việt-văn nhưng hầu hết đã thất truyền
chỉ còn lại những tác phẩm sau:
- Hán-văn: Ức Trai Thi Tập gồm có 6 truyện
- Việt-văn: Gia Huấn Ca gồm có 6 bài ca:
(1) Dạy vợ con;
(2) Dạy con ở cho có đức;
(3) Dạy con gái;
(4) Vợ khuyên chồng;
(5) Dạy học trò ở cho có đạo; và
(6) Khuyên học trò phải chăm học.
Phép Dạy Con
221 Ngày con đã biết chơi biết chạy
Đừng cho chơi cầm gậy, trèo cao
Đừng cho chơi búa chơi dao
Chơi vôi, chơi lửa, chơi ao có ngày
Lau cho sạch, không hay dầm nước
Ăn cho vừa, đừng ước cao lương (1)
Mùa đông, tháng hạ thích thường (2)
Đừng ôm ấp quá, đừng suồng sã con
Dạy từ thuở hãy còn trứng nước
Yêu cho đòn (3), bắt chước lấy người
Trình, thưa, vâng, dạ, đứng ngồi
Gái trong kim chỉ, trai ngoài bút nghiên
Gần mực đen, gần đèn thì sáng
Ở bầu tròn, ở ống thì dài
235 Lạ gì con có giống ai
Phúc đức tại mẫu là lời thế gian
Làm mẹ chớ ăn càn, ở dữ
Với con đừng chửi rủa quá lời
Hay chi thô tục những người
Hôm nay cụ cụ, ngày mai bà bà
Gieo tiếng ra gẫy cây gẫy cối (5)
Mở miệng, nào có ngọn có ngành (6)
Đến tai bụt cũng không lành
Chồng con khinh dể thế tình mỉa mai
245 Ấy những thói trên đời ngoa dại
Khôn thời chừa mới phải đứng người
Sinh con thời dạy thời nuôi
Biết câu phải trái, lựa lời khuyên răn
Chú thích:
(1) Cao là thịt béo, lương là gạo ngon: nói chung về thức ăn ngon và quí
(2) Thích thường: hợp với mực thường: vừa phải
(3) Yêu cho đòn: tục ngữ có câu "yêu cho vọt, ghét cho chơi"
(4) Phúc đức tại mẫu: phúc ở mẹ, ý nói người mẹ mà nhân từ và có đức độ thì người
con cũng bắt chước
(5) Gẫy cây gẫy cối: ý nói lời nói nặng nề, hung tợn
(6) Có ngọn có ngành: ý nói thâm độc
Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ
Nguyễn Công Trứ (1778-1858)
Ông Nguyễn Công Trứ hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, người làng Uy Viễn, huyện Nghi
Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Thân sinh ông là Nguyễn Tần, đỗ Hương
Cống đời nhà Lê.
Lúc thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi
đỗ ra làm quan giúp dân giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông đậu Tú-tài năm 1813 và
Giải Nguyên năm 1819.
Hoạn lộ của ông nhiều bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi
làm đến chức Binh Bộ Thượng Thư nhưng cũng có lắm lúc bị dèm pha giáng chức. Ông
giúp triều đình nhà Nguyễn dẹp được các cuộc nổi dậy của Lê Duy Lương, Nông Văn
Vân, Phan Bá Vành. Ông cũng từng giữ chức Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất
hoang (1828).
Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chánh quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh
Bình Hầu.
Ông Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm bằng Hán Văn cũng như Quốc Văn.
Chí Làm Trai
Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh (1)
Đã chắc rằng ai nhục ai vinh
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ
Đường mây rộng thênh thang cử bộ
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu
(1) Đây là hai câu thơ trong bài Quá Linh Đinh Dương của Văn Thiên Tường đời Tống:
người ở đời ai mà không chết, phải làm sao lưu lại tấm lòng son soi trong sử xanh.
Chữ Nhàn
Thị tại môn tiền: náo
Nguyệt tại môn hạ: nhàn
So lao tâm lao lực cũng một đàn
Người trần thế muốn nhàn sao được
Nên phải giữ lấy nhàn làm trước
Dẫu trời cho có tiếc cũng xin nài
Cuộc nhân sinh từng bảy tám chín mười mươi
Mười lăm trẻ, năm mươi già không kể
Thoát sinh ra thì đà khóc choé
Trần có vui sao chẳng cười khì?
Khi hỉ lạc, khi ái ố, lúc sầu bi,
Chứa chi lắm một bầu nhân đức
Tri túc, tiện túc, đại túc, hà thời túc
Tri nhàn tiện nhàn, đại nhàn, hà thời nhàn? (1)
Cầm kỳ thi tửu với giang sơn
Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế
Ngã kim nhật tại toạ chi địa
Cổ chi nhân tàng tiên ngã toạ chi (2)
Ngàn muôn năm âu cũng thế ni
Ai hay hát mà ai hay nghe hát
Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất
Để ông Tô riêng một thú thanh cao (3)
Chữ nhàn là chữ làm sao?
(1) Biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì bao giờ mới đủ. Biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn thì bao
giờ mới nhàn?
(2) Hai câu này ở bài tựa truyện Tây Sương Ký của Vương Thục Phủ đời Nguyên. Ý nói:
chỗ ta đang ngồi ngày nay đây, người xưa đã từng ngồi trước ta rồi.
(3) Tô Thức tức Tô Đông Pha đời nhà Tống thường hay cùng bạn thả thuyền chơi trên
sông Xích Bích.
Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ
Nguyễn Khuyến
Cụ tên thật là Nguyễn Văn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Minh Chi, sinh ngày 15 tháng 2 năm
1835 tại quê ngoại làng Văn Khế, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam (quê nội của
cụ là làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam).
Thân sinh cụ là Nguyễn Tông Khởi (1796-1853), thường gọi là Cụ Mền Khởi, đỗ ba khoá
tú tài và làm nghề dạy học. Thân mẫu cụ là Trần Thị Thoan (1799-1874), con cụ Trần
Công Trạc, từng đỗ sinh đồ (Tú-tài) thời Lê Mạt.
Thuở nhỏ, cụ cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ Tam Nguyên 1864-1865) là
bạn học ở trường cụ Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị. Năm 1864, cụ đỗ đầu Cử Nhân (tức
Hương Nguyên) trường Hà Nội. Năm sau cụ trượt thi Hội và thi Đình nên phẫn chí ở lại
kinh đô học trường Quốc Tử Giám. Đến năm 1871 cụ mới đỗ Hội Nguyên và Đình
Nguyên. Từ đó, cụ thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ.
Năm 1873, cụ được bổ làm Đốc Học rồi thăng Án Sát tỉnh Thanh Hoá. Năm 1877 được
thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Sang năm sau, cụ bị giáng chức và điều về Huế, giữ
một chức quan nhỏ với nhiệm vụ toàn tu Quốc Sử Quán.
Cụ cáo quan về ở ẩn tại Yên Đổ vào mùa thu 1884 và qua đời tại đấy ngày 5 tháng 2
năm 1909.
Cụ để lại cho hậu thế các tập thơ văn Quế Sơn Thi-tập, Yên Đổ Thi-tập, Bách Liêu Thi-
văn-tập, Cẩm Ngữ và nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế và câu đối.
Thu Vịnh
Trời thu xanh ngát mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc ánh trăng vào
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào
Nhân hứng cũng vừa toan cầm bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào (1)
(1) Đào Tiềm
Thu Điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Gió vàng trước gió sẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
Thu Ẩm
Năm gian nhà cỏ thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè
Lưng dậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
Da trời ai nhuộm mà xanh ngát
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe
Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy
Độ năm ba chén đã say nhè
Khóc Bạn
Bác Dương (1) thôi đã thôi rồi
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta
Nhớ từ thuở đăng khoa (2) ngày trước
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau
Kính yêu từ trước đến sau:
Trong khi gặp gỡ, khác đâu duyên trời.
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo
Có khi từng gác cheo leo
Khúc vui con hát lựa chiều cầm xoang
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhấp
Chén quỳnh tương (3) ăm ắp bầu xuân
Có khi bàn soạn câu văn
Biết bao đông bích điển phần (4) trước sau
Buổi dương cửu (5) cùng nhau hoạn nạn
Miếng đẩu thăng (6) chẳng dám than trời
Tôi già, bác cũng già rồi
Biết thôi, thôi thế thời thôi mới là.
Đường đi lại tuổi già thêm nhác
Trước ba năm, gặp bác một lần
Cầm tay, hỏi hết xa gần
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can
Tuổi tôi kể còn hơn tuổi bác
Tôi lại đau trước bác mấy ngày
Làm sao bác vội về ngay
Chợt nghe tôi những chân tay rụng rời!
Ai chẳng biết chán đời là phải
Vội vàng chi đã mải lên tiên
Rượu ngon, không có bạn hiền
Không mua, không phải không tiền không mua
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa
Giường kia treo những hững hờ (7)
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn!
Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương
Tuổi già, hạt lệ như sương
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan?
Bản chép khác:
Câu 2: ...ngậm ngùi lòng ta. Câu 7: ...cùng nơi dặm khác. Câu 10: Thú vui... Câu 15-16:
Bước ly loạn gặp đâu sơ cố. Miếng đẩu thăng ai có tham trời. Câu 19: Muốn đi lại...
Hoặc: Những đi lại... Câu 20: Gặp nhau ba năm trước... Câu 22: bác cũng... Câu 23: Kể
tuổi tôi... Câu 24: Mà tôi đau... Câu 25: Sao mà... Câu 26: ... tôi bỗng... Câu 31: Thơ
muốn viết, đắn đo chẳng viết. Câu 33: ... treo cũng... Câu 34: Đàn kia muốn gảy... Câu
36: Tôi chẳng thương dẫu dở (dử) nào thương. Câu 38: Hơi đâu mang lấy...
Chú thích: (1) Bác Dương: tức là Dương Khuê, người làng Vân Đình, huyện Sơn Minh,
tỉnh Hà Nội (nay thuộc phủ Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông), đậu tiến sĩ năm 1868 về đời vua Tự
Đức (bởi thế, tục thường gọi là cụ nghè Vân Đình), làm quan đến chức Tổng Đốc. Cụ là
bạn thân của cụ Nguyễn Khuyến và cũng là một bậc hay nôm thời cận kim. (2) Đăng
Khoa: đi thi đỗ. Cụ Nguyễn Khuyến và cụ Dương Khuê cùng đậu thi hương một khoa
vào năm 1864. (3) Quỳnh tương: (quỳnh: tên một thứ ngọc quí; tương: hồ, nước cơm)
rượu quí. (4) Đông Bích điển phần: Đông bích nghĩa là vách phía đông, chữ lấy ở trong
thơ của Trương Thuyết "Đông bích đồ thư phủ" nghĩa là kho tranh và sách ở phương
đông. Điển (nghĩa đen là phép tắc) tức là ngũ điển, tức là năm sách điển của các vua
Thiếu Hiệu, Chuyên Húc, Cao Tân, Đường Nghiêu và Ngu Thuấn bên Tàu đời xưa. Phần
(nghĩa đen là lớn) tức là tam phần, tức là ba sách phần của vua Phục Hi, Thần Nông bên
Tàu đời xưa nói về đạo lớn. Cả bốn chữ chỉ chung các sách vở cũ. (5) Dương Cửu: lúc có
tai ách. (6) Đẩu thăng: đấu và thưng (phần mười của đấu); nghĩa bóng là lương bổng ít ỏi
của một ông quan (lương các quan ngày xưa một phần trả bằng gạo, lấy đấu thưng mà
đong là lương bổng rất ít). (7) Giường kia treo những hững hờ: xưa Trần Phôn, người đời
Hậu Hán, có một cái giường để dành tiếp người bạn quí là Từ Trĩ, hễ bạn đi, lại treo lên.
Ý câu này nói: nay bạn đã chết, cái giường để dành tiếp bạn cứ treo mãi không bao giờ
đặt xuống cả.
Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ
Bút tích Hồ Dzếnh
Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ
Tình Già
Hai mươi bốn năm xưa,
một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
- "Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
mà lấy nhau hẳn là không đặng
Để đến nỗi tình trước phụ sau,
chi bằng sớm liệu mà buông nhau!"
- "Hay nói mới bạc làm sao chớ!
Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng,
mà tính chuyện thủy chung!"
Hai mươi bốn năm sau,
tình cờ đất khách gặp nhau:
Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung,
đố có nhìn ra được?
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
con mắt còn có đuôi.
Phan Khôi. Phụ Nữ Tân Văn, số 122, ngày 10 tháng 3 năm 1932
Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ
Chùa Hương
Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ, đuôi gà cao
Lưng đeo giải yếm đào
Quần lĩnh, áo the mới
Tay cầm nón quai thao
Mẹ cười: "Thầy nó trông!
Chân đi dôi dép cong
Con tôi xinh xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?"
Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm
Nhờ mối mai đưa tiếng
Khen tươi như trăng rằm
Nhưng em chưa lấy ai
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm
Ý đợi người tài trai
Em đi cùng với me
Me em ngồi cáng tre
Thầy theo sau cưỡi ngựa
Thắt lưng dài đỏ hoe
Thầy me ra đi đò
Thuyền mấp mênh bên bờ
Em nhìn giòng nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô
Mơ xa lại nghĩ gần
Đời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước
Em thấy một văn nhân
Người đâu thanh lạ thường!
Tướng mạo trông phi thường
Lưng cao dài, trán rộng
Hỏi ai nhìn không thương?
Chàng ngồi bên me em
Me hỏi chuyện làm quen:
"Thưa, Thầy đi chùa ạ?
Thuyền đông, giời ôi chen!"
Chàng thưa: "Vâng, thuyền đông!"
Rồi ngắm giời mênh mông
Xa xa mờ núi biếc
Phơn phớt áng mây hồng
Giòng sông nước đục lờ
Ngâm nga chàng đọc thơ
Thầy khen hay, hay quá
Em nghe, ngồi ngẩn ngơ
Thuyền đi, bến Đục qua
Mỗi lúc gặp người ra
Em thẹn thùng không nói
"Nam Mô A-Di-Đà"
Réo rắt suối đưa quanh
Ven bờ, ngọn núi xanh
Nhịp cầu xa nho nhỏ
Cảnh đẹp gần như tranh
Sau núi Oản, Gà, Xôi
Bao nhiêu là khỉ ngồi
Tới núi con voi phục
Có đủ cả đầu đuôi
Chùa nấp sau rừng cây,
Thuyền ta đi một ngày
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày
Em đi, chàng theo sau
Em không dám đi mau
Ngại chàng chê hấp tấp
Số gian nan không giàu
Thầy me đến điện thờ
Trầm hương khói toả mờ
Hương như là sao lạc
Lớp sóng người lô nhô
Chen vào thật lắm công
Thầy me em lễ xong
Quay về nhà ngang bảo:
"Mai ta vào chùa trong"
Chàng hai má đỏ hồng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu:
"Mai ta vào chùa trong"
Đêm hôm ấy em mừng
Mùi trầm hương bay lừng
Em nằm nghe tiếng mõ
Rồi chim kêu trong rừng
Em mơ, em yêu đời
Mơ nhiều..., viết thế thôi
Kẻo ai mà xem thấy
Nhìn em đến nực cười
Em chưa tỉnh giấc nồng
Mây núi đã pha hồng
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong
Đường mây đá cheo veo
Hoa đỏ, tím, vàng leo
Vì thương me quá mệt
Săn sóc, chàng đi theo
Mẹ bảo: "Đường còn lâu
Cứ vừa đi vừa cầu
Quan Thế Âm Bồ Tát
Là tha hồ đi mau"
Em ư? Em không cầu
Đường vẫn thấy đi mau
Chàng cũng cho như thế
(Ra ta hợp tâm đầu)
Khi qua chùa Giải Oan
Trông thấy bức tường ngang
Chàng đưa tay lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn
Tấm tắc thầy khen hay
Chữ đẹp như rồng bay
(Bài thơ này em nhớ
Nên chả chép vào đây)
Ôi! Chùa trong đây rồi!
Động thẳm bóng xanh ngời
Gấm thêu trần thạch nhũ
Ngọc nhuốm hương trầm rơi
Mẹ vui mừng hả hê:
"Tặc! Con đường mà ghê!"
Thầy kêu mau lên nhé,
Chiều hôm nay ta về
Em nghe bỗng rụng rời
Nhìn ai luống nghẹn lời
Giờ vui đời có vậy
Thoáng ngày vui qua rồi
Làn gió thổi hây hây
Em nghe tà áo bay
Em tìm hơi chàng thở
Chàng ôi, chàng có hay
Đường dây kia lên giời
Ta bước tựa vai cười
Yêu nhau, yêu nhau mãi
Đi, ta đi, chàng ôi
Ngun ngút khói hương vàng
Say trong giấc mơ vàng
Em cầu xin Giời Phật
Sao cho em lấy chàng.
Nguyễn Nhược Pháp
8-1934
Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ
Thế Lữ
Hổ Nhớ Rừng (1936)
(Tặng Nguyễn Tường Tam)
Gặm một nỗi căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi,
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự...
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta chúa tể của muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi, đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca, giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông giòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn,
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
- Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
Thế Lữ, 1936
Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ
Hàn Mặc Tử
Bút tích Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại Lệ Mỹ, tỉnh
Đồng Hới.
Ông học trung học tại Huế (1928-1930), sau đó làm viên chức Sở Đạc Điền Qui Nhơn
(1932-1933). Năm sau, ông vào Sài Gòn làm báo rồi lại trở ra Qui Nhơn (1935).
Ông mắc bệnh phong từ năm 1937 phải vào nhà thương Qui Hoà tháng 9 năm 1940 và
hai tháng sau thì mất. Ông hưởng dương 28 tuổi.
Hàn Mặc Tử bắt đầu làm thơ rất sớm với thể thơ Đường Luật và các bút danh Minh Duệ
Thị, Phong Trần; nổi tiếng vì được Cụ Phan Bội Châu hoạ thơ và đề cao. Từ năm 1935
ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh rồi Hàn Mạc Tử và cuối cùng là Hàn Mặc Tử.
Các tác phẩm tiêu biểu của ông gồm có các thi tập Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được
xuất bản khi ông còn sinh tiền), Thơ Điên (hay Đau Thương, Thượng Thanh Khí, Cẩm
Châu Duyên và Chơi Giữa Mùa Trăng.
Hàn Mặc Tử đem đến cho Thơ Mới một phong cách độc đáo và sáng tạo: bên cạnh
những tác phẩm bình dị, trong trẻo và chan chứa tình quê là những tác phẩm đầy những
cảm hứng lạ lùng và huyền bí.
Đêm Không Ngủ
Non sông bốn mặt ngủ mơ màng
Thức chỉ mình ta dạ chẳng an
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa, cọ mài chân
Khóc dùm thân thế: hoa rơi lệ
Buồn giúp công danh: dế dạo đàn
Chuỗi dậy, nôm na vài điệu cũ
Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.
Cuối Thu
Lụa trời ai dệt với ai căng
Ai thả chim bay đến Quảng Hàn
Và ai gánh máu đi trên tuyết
Mảnh áo da cừu ngắm nở nang
Mây vẽ hằng hà sa số lệ
Là nguồn ly biệt giữa cô đơn
Sao không tô điểm nên sương khói
Trong cõi lòng tôi buổi chập chờn
Đây bãi cô liêu lạnh hững hờ
Với buồn phơn phớt, vắng trơ vơ
Cây gì mảnh khảnh run cầm cập
Điềm báo thu vàng gầy xác xơ
Thu héo nấc thành những tiếng khô
Một vì sao lạ mọc phương mô?
Người thơ chưa thấy ra đời nhỉ?
Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ?
Lang Thang
(Tặng Hoàng Trọng Quy)
Lãng tử ơi! Mi là tiên hành khất
May không chết lạnh trước lầu mỹ nhân
Ta đi tìm mộng tầm xuân
Gặp vua nhà Nguyễn bay trên mây
Rượu nàng uống vào thì say
Áo ta rách rưới trời không vá
Mà bốn mùa trăng mặc vải trăng
Không ai chết cả sao lòng buồn như tang
Cho tôi mua trọn hàm răng
Hàm răng ngà ngọc, hàm răng đa tình
Một chắc ta lại với mình
Có ai vô đó mà mình hổ ngươi
Lãng tử ơi! Mi là tiên hành khất
May không hộc máu chết rồi còn đâu
Trời hỡi! Nhờ ai cho khỏi đói!
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng
Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English
Version/Phần Anh Ngữ
Quách Tấn
Trơ Trọi
Tình cũng lỡ mà bạn cũng lỡ
Bao nhiêu khắng khít bấy ơ hờ!
Sầu mong theo lệ, khôn rơi lệ
Nhớ gởi vào thơ, nghĩ tội thơ!
Mưa có canh dài ngăn lối mộng
Bèo mây bến cũ quyện lòng tơ...
Hỏi thăm tin tức bao giờ lại
Con thước qua sông lại ỡm ờ!
Trở về đầu trang Phần Việt Ngữ Từ Điển English Version/Phần Anh Ngữ
Hai Sắc Hoa Ty-Gôn
Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi, chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương
Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Giải đường xa vút bóng chiều phong
Và phương trời thẳm mờ sương cát
Tay vít dây hoa trắng cạnh lòng