CHÀO
CHÀO
MỪNG
MỪNG
CÁC
CÁC
BẠN
BẠN
ĐẾN
ĐẾN
VỚI
VỚI
PHẦN
PHẦN
TRÌNH
TRÌNH
BÀY
BÀY
CỦA
CỦA
NHÓM
NHÓM
6
6
Chuyên đê`
Thi pháp ca dao
PHẦN NGÔN NGỮ
I.
NGÔN NGỮ CA DAO:
1 . Ngôn ngữ là gì ?
2. Ngôn ngữ ca dao :
Là ngôn ngữ thông thường của quần chúng nhân dân, được sử dụng theo phương thức trữ tình
của thơ ca, mang tính nghệ thuật hóa, không còn hoàn toàn đồng nhất với ngôn ngữ thông
thường trong đời sống hằng ngày của quần chúng nhân dân.
Gặp
đâyơianh
nắmtrâu
cổ tay
Trâu
ta bảo
này
Anh
hỏira
câu
này:ruộng,
có lấy trâu
anh không
Trâu
ngoài
cày với?ta
Cày cấy em
vốnchẳng
nghiệp
nông
Thương
biết
để gia
đâu
TaĐể
đây,
trâutay
đấy
màlâu
quản
công.
trong
áoailâu
lại dòm
Bao
cây
còn
bông
Núigiờ
cao
chilúa
lắm
núi
ơi
còn
ngọn
ngoài
đồng
trâuthương
ăn.
NúiThì
che
mặt
trờicỏ
chẳng
thấy
người
Đôi ta như Nguyệt Nga ngày trước
3. Các đặc điểm của ngôn ngữ ca dao :
Đã trao lời nguyện ước với Vân Tiên
- Rất mộc mạc, giản dị, dễ hiểu, không quá cách xa lời nói hàng ngày
Liều mình qua cống Tây phiên
- Không ngần ngại đưa cả khẩu ngữ vào thi ca
- Ngoài ra, còn có rất nhiều tác phẩm thi ca dân gian có lời nói rất trau chuốt, điêu luyện, tinh tế
- Triệt để khai thách các biện pháp tu từ (như so sánh, ẩn dụ, tượng trưng,… ) Các điển cổ, điển tích, các câu thơ
cổ của văn chương bác học… cũng được đưa vào ca dao
Vai mang bức tượng giữ lời nguyền không sai
II. VĂN BẢN TẠO HÌNH – VĂN BẢN BIỂU HIỆN:
1 . Văn bản tạo hình là gì ?
Là văn bản mà ý nghĩa của nó nổi lên trực tiếp trên câu, là nghĩa được các từ cộng lại
2. Văn bản biểu hiện là gì ?
Là văn bản mà ý nghĩa không phải nghĩa đen của các từ cộng lại
=> Chú ý: Thật ra, đôi khi hai loại văn bản này lồng ghép vào nhau, trong văn bản tạo hình có văn bản
biều hiện, trong văn bản biểu hiện có văn bản tạo hình
Anh nói
còn em
son,
cũng
em cũng
nghe còn
anh son
Cô kia cắt cỏ bên sông
Bát Ước
cơmgì
đãtatrót
được
chan
làmcanh
con một
mất nhà
rồi
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây
Nuốt thì đắng lắm anh ơi
Sang đây anh nắm cổ tay
Nhả raAithì
ơi,để
chơi
tộilấy
trờikẻo
ai mang
già
Anh hỏi câu này có lấy anh không ?
Măng mọc có lứa, người ta có thì
Bây
giờ
mậnkẻo
mớihết
hỏiXuân
đào đi
Chơi
Xuân
Mình nói với ta mình vẫn còn son
Vườn
đã có
ai nó
vàothì
hay
chưa?
Cáihồng
già sòng
sọc
theo
sau
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
Mận hỏi thì đào xin thưa:
Con mình những trấu cùng tro
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Ta đi lấy nước tắm cho con mình
.
Em ơi ngoảnh mặt lại đây
Anh nhìn thấy mặt cho khuây tấm lòng
.
III. DANH TỪ RIÊNG TRONG CA DAO:
Tên các đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, …)
Địa danh
Tên địa điểm vốn là đối tượng lao động, địa điểm phục vụ giao thông, …(sông, suối, hồ,
ao, núi, rừng, đèo, …)
Tên các địa điểm tổ chức sinh hoạt văn hóa xã hội, địa điểm tổ chức sinh hoạt văn hóa tín
ngưỡng, … (chợ, quán, đình, chùa, miếu, đền,…)
III. DANH TỪ RIÊNG TRONG CA DAO:
- Xét với văn học viết thì số lượng tác phẩm trong văn học viết có sử dụng tên riêng các địa danh, đối tượng nhiều
Ai qua Quán Trắng Phố Nhồi
Để thương để nhớ cho tôi thế này.
gấp đôi số lượng số bài sử dụng địa danh trong ca dao.
Anh về Đập Đá, Gò Găng Để
- Phân loại địa danh theo nguồn gốc, thì trong ca dao có hai loại là: địa danh của Trung Quốc (5%) và địa danh ở
em kéo vải sáng trăng một mình.
Việt Nam (95%).
- Còn xét về chủ đề của ca dao mà có sử dụng địa danh riêng nhiều nhất thì cũng có hai chủ đề:
Hồng Hà nước đỏ như son
Chết đi thì chớ, sống còn lấy anh.
+ Tình yêu đôi lứa
+ Ca ngợi cảnh vật địa phương, truyền thống địa phương
- Các địa danh, tên riêng trong ca dao thường là những đối tượng lịch sử, những nơi có đặc sản riêng, có phong tục
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
tập quán riêng, nhưng nơi có thời tiết khí hậu riêng biệt…
Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá,
Đò từ Vĩ Dạ thẳng ngả Ba Sình
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh,
Tiếng hò xa vọng, nặng tình nước non.
III. DANH TỪ RIÊNG TRONG CA DAO:
Tên riêng nói về người Việt
Tên riêng nói về người Hán
Tên riêng
Tên riêng nói về người Chăm
Tên riêng nói về người Pháp
III. DANH TỪ RIÊNG TRONG CA DAO:
- Xét với văn học viết thì số lượng tác phẩm trong văn học viết sử dụng nhiều tên riêng nói về người Hán còn số bài
Đứng bên ni sông ngó về bên tê sông lòng trông vời vợi.
ca dao thì sử dụng tên riêng nói về người Việt thì nhiều hơn.
Qua khỏi sông rồi gặp hội đờn ca.
Tử Kỳ gặp lại Bá Nha.
- Còn xét về chủ đề của ca dao mà có sử dụng tên riêng nhiều nhất thì có ba chủ đề:
Đàn em đưa lên năm giây cho đúng bậc để em lại xướng hòa vài câu.
+ Tình yêu đôi lứa, vợ chồng.
+ Châm biếm những thói hư, tật xấu, chế giễu vua quan.
Từ ngày Tự Đức lên ngôi,
+ Ca ngợi những người có công với dân, với nước.
Cơm chẳng đầy nồi, trẻ khóc như ri.
- Ngoài các chủ đề trên ca dao còn phản ánh, đời sống lao động, nỗi cơ cực của quần chúng nhân dân.
Lạy trời cho cả gió lên
Bao giờ Tự Đức chết đi,
Thiên hạ bình thì mới dễ làm ăn.
Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành
Trời ơi, trông xuống mà coi
Nhớ xưa đương thuở Triều Hùng
Nước Nam cơ khổ, “con trời” hai ông:
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Hàm Nghi chính thực vua trung
Trời thương Bách Việt sơn hà
Còn như Đồng Khánh là ông vua xằng.
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài
Lên ba đang tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời
III. SỐ TỪ TRONG CA DAO:
- Con số như là một phương diện của thi pháp ca dao.
- Con số 10 trong ca dao còn mang thêm ý nghĩa khái quát hơn: chỉ sự tròn đầy, viên mãn mang
sắc thái tâm linh và nhân văn, thể hiện ước mơ, mong muốn, khát vọng trong cuộc sống.
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
* GS. Phan Ngọc cho rằng: "Người Việt rất thích dùng con số. Cho nên nói tứ phía, muôn màu, trăm
phương ngàn kế thì dễ nghe hơn là nói tất cả các phía, tất cả các màu“
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
Chín thương cô ở một mình,
Mười thương con mắt có tình với ai.
=> Trong ca dao, con số được sử dụng rất nhiều, mang ý nghĩa của tâm thức dân gian riêng biệt, bên cạnh ý
nghĩa là con số đếm tự nhiên.
Hôm nay sum họp trúc mai
Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm
Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua
Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn,
Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn
Đi vay đi dạm được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái
Về nuôi, hắn đẻ ra mười trứng
Một trứng: ung
Hai trứng: ung
Ba trứng: ung
Bốn trứng: ung
Năm trứng: ung
Sáu trứng: ung
Bảy trứng: ung
Còn ba trứng nở ra ba con:
Con diều tha
Con quạ cắp bắt
Con mặt cắt xơi
Chớ than phận khó ai ơi!
Còn da: lông mọc
Còn chồi: nẩy cây!
…
THE END