Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

XU HƯỚNG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DƯỚI ẢNH HƢỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (940.7 KB, 65 trang )

1

LỜI CẢM ƠN!

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Sau Đại học,
khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo
điều kiện, giúp đỡ tác giả hoàn thành cuốn luận văn này.
TRẦN ĐÌNH CHIẾN

Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ, thầy
giáo đã giảng dạy và trực tiếp hướng dẫn tác giả trong suốt q trình nghiên cứu
và hồn thành luận văn.

XU HƢỚNG LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP
CỦA HỌC SINH LỚP 12 TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
DƢỚI ẢNH HƢỞNG CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
(KHẢO SÁT TẠI TỈNH PHÚ THỌ)
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60.14.01

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo và các
em học sinh lớp 12 (khoá 2005 - 2008) các trường THPT Hạ Hồ, THPT Hùng
Vương, THPT Việt Trì tỉnh Phú Thọ, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả
điều tra, khảo sát, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Dù đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn sẽ khơng tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế, tác giả rất mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy,
cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2008



LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Trần Đình Chiến

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ

Thái Nguyên, năm 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




2

3

Mục lục
Mở đầu ................................................................................................
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.................................
1.1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu ............................................
1.1.1. Trên thế giới ................................................................................
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam..........................................................
1.2. Các khái niệm công cụ...................................................................
1.2.1. Xu hướng.....................................................................................
1.2.2. Nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp ......................................
1.2.3. Xu hướng nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp ...........................
1.2.4. Sự phù hợp nghề ..........................................................................
1.2.5. Lựa chọn nghề nghiệp và những tính chất của nó..........................

1.2.6. Khái niệm về KTTT và cơ chế thị trường.......................................
1.3. Sự tác động của nền KTTT đối với đời sống, xã hội nước ta ..........
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp
của HS THPT ......................................................................................
1.4. 1. Những đặc điểm cơ bản về tâm lý và nhân cách của HS THPT .....
1.4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của
HS THPT ..............................................................................................
1.4.3. Một số nguyên nhân dẫn đến sự sai lầm trong việc lựa chọn nghề
nghiệp của HS THPT.............................................................................
Chƣơng 2: Thực trạng xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp
12 trƣờng THPT dƣới ảnh hƣởng của nền KTTT ..............................
2.1. Vài nét về khách thể điều tra..........................................................
2.2. Thực trạng xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12
trường THPT dưới ảnh hưởng của nền KTTT (khảo sát tại tỉnh
PhúThọ)...............................................................................................
2.2.1. Thực trạng về nhận thức và xu hướng lựa chọn nghề nghiệp
của học sinh lớp 12..............................................................................
2.2.2. ý kiến của giáo viên làm công tác hướng nghiệp về xu hướng lựa
chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 hiện nay ..............................................
2.2.3. ý kiến của cha mẹ đối với việc lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp
12 hiện nay ...........................................................................................
2.3. Kết luận chương 2 .........................................................................
Chƣơng 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trang
6
11
11

11
13
16
16
19
22
26
27
29
30
34
34
40
45
49
49
50
50
76

cho HS lớp 12 trƣờng THPT trong điều kiện KTTT hiện nay ............
3.1. Những cơ sở có tính ngun tắc để xây dựng các biện pháp...........
3.1.1. Nghiên cứu, xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính mục đích
của giáo dục hướng nghiệp....................................................................
3.1.2. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo sự phù hợp với
những đặc điểm tâm lý và nhân cách của HS THPT................................
3.1.3. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo sự phân hoá,
cá biệt hoá HS trong hoạt động hướng nghiệp........................................
3.1.4. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính hệ thống
trong hoạt động GDHN .........................................................................

1.3.5. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp theo quan điểm tiếp cận hoạt
động và nhân cách ................................................................................
3.1.6. Nghiên cứu xây dựng các biện pháp phải đảm bảo tính khả thi .....
3.2. Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS
lớp 12 trường THPT trong điều kiện KTTT hiện nay............................
3.2.1. Xây dựng bài học có nội dung giới thiệu về những lĩnh vực nghề
nghiệp cụ thể ........................................................................................
3.2.2. Tổ chức buổi toạ đàm ở lớp với chủ đề về nghề nghiệp và lựa
chọn nghề nghiệp ..................................................................................
3.2.3. Tổ chức cho HS tham quan tại các cơ sở sản xuất ........................
3.2.4. Tổ chức hội nghị để trao đổi với cha mẹ học sinh về nghề nghiệp
tương lai của con em họ. .......................................................................
3.2.5. Lập hồ sơ hướng nghiệp chi tiết cho mỗi HS .................................
3.3. Khảo nghiệm các biện pháp trên cơ sở lấy ý kiến chuyên gia .........
3.3.1. Mục đích khảo nghiệm .................................................................
3.3.2. Đối tượng khảo nghiệm................................................................
3.3.3. Quá trình tiến hành khảo nghiệm.................................................
3.3.4. Kết quả khảo nghiệm ..................................................................
3.4. Kết luận chương 3 .........................................................................
Kết luận và khuyến nghị .....................................................................
1. Kết luận ............................................................................................
2. Khuyến nghị ......................................................................................
Danh mục cơng trình khoa học đã cơng bố.............................................
Tài liệu tham khảo.................................................................................
Phụ lục .................................................................................................

91
91
91
92

93
93
94
94
94
96
97
98
100
101
102
102
102
102
106
107
107
108
110
111
116

84
89
91



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





4

5

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Cơng nghiệp hố - hiện đại hố

CNH - HĐH

Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp ĐH,CĐ,THCN
Giáo dục hƣớng nghiệp

GDHN

Giáo viên

GV

Học sinh

HS

Giáo dục và đào tạo


GD và ĐT

Học sinh trung học cơ sở

HS THCS

Học sinh trung học phổ thông

HS THPT

Kinh tế thị trƣờng

KTTT

Nhà xuất bản

Nxb

Phổ thông cơ sở

PTCS

Số lƣợng

SL

Trung bình

TB


Trung học phổ thơng

THPT

Xã hội

XH

Sản xuất

SX

Bảng 2.1 : Nhận thức của HS lớp 12 về mục đích của hoạt động giáo
dục hƣớng nghiệp trong trƣờng THPT
Bảng 2.2: Nhận thức của học sinh lớp 12 về tầm quan trọng của việc định
hƣớng nghề nghiệp cho học sinh lớp 12 trong trƣờng THPT
Bảng 2.3: Thái độ và hành vi của HS lớp 12 khi tham gia các giờ học
(giờ sinh hoạt) hƣớng nghiệp
Bảng 2.4: Dự định lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 sau khi tốt
nghiệp THPT
Bảng 2.5: Những vấn đề HS lớp 12 có nhu cầu hoặc hứng thú
Bảng 2.6 : Mức độ ƣu tiên lựa chọn các ngành nghề (nhóm nghề) của
HS lớp 12
Bảng 2.7 : Lí do lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12
Bảng 2.8 : Yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp
của học sinh lớp 12
Bảng 2.9 : Những vấn đề HS lớp 12 quan tâm khi lựa chọn nghề nghiệp
Bảng 2.10: Thái độ của HS lớp 12 đối với việc lựa chọn nghề nghiệp sau
khi tốt nghiệp THPT
Bảng 2.11: Những khó khăn HS lớp 12 gặp phải khi lựa chọn nghề nghiệp

Bảng 2.12: Thực tế và hiệu quả của việc tổ chức GDHN trong trƣờng
THPT theo sự đánh giá của giáo viên
Bảng 2.13: Những yếu tố tác động đến xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp
của HS lớp 12 theo sự đánh giá của giáo viên
Bảng 2.14: Những vấn đề HS lớp 12 quan tâm khi lựa chọn nghề nghiệp
theo ý kiến của giáo viên
Bảng 2.15: Xu hƣớng nghề nghiệp của HS lớp 12 sau khi tốt nghiệp THPT
theo ý kiến của giáo viên
Bảng 2.16: Những nghề (hay nhóm nghề) đƣợc HS lớp 12 ƣu tiên lựa
chọn theo sự đánh giá của giáo viên
Bảng 2.17: Sự ảnh hƣởng của phát triển KTTT hiện nay đối với HS lớp 12
theo ý kiến đánh giá của giáo viên
Bảng 4.1 : Đánh giá của chuyên gia về sự phù hợp của những cơ sở có
tính ngun tắc trong việc nghiên cứu xây dựng các biện pháp
Bảng 4.2 : Đánh giá của chuyên gia về sự phù hợp của các biện pháp
Bảng 4.3 : Đánh giá của chuyên gia về mức độ hợp lý của các bƣớc

tiến hành những biện pháp
Bảng 4.4 : Đánh giá của chuyên gia về mức độ khả thi của các biện pháp

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Trang
51

52
53
56
58
61
63
65
68
72
75
77
78
79
80
82
83
103
104
104
105


6

7
chính là điều kiện giúp cho cá nhân mỗi học sinh có thể phát huy đƣợc tối đa phẩm

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài


chất và năng lực của mình trong học tập cũng nhƣ trong quá trình lao động sản xuất,

1.1. Đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kỳ Cơng nghiệp hố - Hiện đại hố

góp phần nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, đáp ứng tốt yêu cầu của đất nƣớc

(CNH - HĐH) với nền kinh tế mở, năng động bao gồm nhiều thành phần kinh tế

trong sự nghiệp CNH - HĐH và thời kỳ hội nhập.

vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc. Sự phát triển nhanh

1.3. Trong nhà trƣờng Trung học phổ thơng (THPT) hiện nay, giáo dục hƣớng

chóng của nền kinh tế trong những năm qua cùng với sự hội nhập mạnh mẽ với

nghiệp (GDHN) đƣợc thực hiện thông qua nhiều hình thức nhƣ: Sinh hoạt hƣớng

khu vực và thế giới đã có những tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội.

nghiệp, hoạt động ngoại khố, tích hợp và lồng ghép vào các mơn học...Tuy nhiên,

Đồng thời vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đã và

so với các mặt giáo dục khác thì GDHN chƣa đƣợc quan tâm với đúng vị trí, vai

đang trở thành một nhiệm vụ cấp thiết đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và xã hội quan tâm

trị của nó, việc thực hiện và kiểm tra, đánh giá cịn mang nặng tính hình thức.


hàng đầu. Trong nghị quyết hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung Ƣơng Đảng

Điều này đã khiến cả giáo viên và học sinh đều coi GDHN khơng thực sự là một

khố VIII đã nhấn mạnh: “Muốn tiến hành CNH - HĐH thắng lợi phải phát triển

hoạt động chính yếu của q trình dạy học và giáo dục trong nhà trƣờng, có nghĩa

mạnh giáo dục đào tạo và phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự

là chƣa nhận thức đƣợc vai trò của GDHN dẫn đến hiệu quả của GDHN thấp. Bên

phát triển nhanh và bền vững”. [59]. Điều đó có nghĩa là coi yếu tố con ngƣời là

cạnh đó, nhƣ trên đã nói, nền kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta cùng với các quy luật của

trọng tâm của sự phát triển - yếu tố quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp CNH -

nó đang phát triển rất mạnh và đang trên đà hoàn thiện, dẫn đến sự phát triển biến

HĐH đất nƣớc. Vì vậy, việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ có đƣợc những phẩm chất và

đổi q nhanh và “nóng” của khoa học cơng nghệ và nhiều lĩnh vực khác của đời

năng lực nghề nghiệp vững chắc phù hợp với nhu cầu của các hoạt động kinh tế -

sống xã hội. Cùng với sự ảnh hƣởng từ mặt trái của kinh tế thị trƣờng (KTTT) đã

xã hội, khoa học, công nghệ là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng mang


làm cho định hƣớng giá trị của giới trẻ có nhiều thay đổi. Điều này đã tác động

tính chiến lƣợc. Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã

trực tiếp đến động cơ, xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của họ. Tất cả những điều

chỉ rõ: “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau trung học,

đó đã khiến phần lớn học sinh học xong trung học phổ thông (kể cả số học sinh đã

chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với chuyển dịch cơ

làm hồ sơ và thi Đại học, Cao đẳng) không tự đánh giá đƣợc năng lực, hứng thú, sở

cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”.[12]

trƣờng của mình để lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hoặc không biết

1.2. Với ý nghĩa trên, hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh trong nhà

chọn nghề gì. Rất nhiều học sinh khi đã đƣợc vào học các trƣờng chuyên nghiệp

trƣờng phổ thông giữ một vị trí, vai trị và nhiệm vụ rất quan trọng. Đây là một trong

mới nhận ra rằng mình khơng phù hợp với nghề đã chọn, dẫn đến tình trạng chán

những mặt giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Giáo dục

nản, học tập không tiến bộ, bỏ học để tiếp tục thi vào các trƣờng khác. Điều này đã


hƣớng nghiệp nhằm mục đích giúp cho học sinh phổ thông (đặc biệt là các lớp cuối

gây ra nhiều vấn đề phức tạp cho xã hội nhƣ: chất lƣợng học tập kém, rèn luyện

cấp) có đƣợc sự hiểu biết cơ bản về các ngành nghề trong xã hội, hình thành hứng

kém dẫn đến chất lƣợng nguồn nhân lực yếu, làm lãng phí của cải thời gian, cơng

thú và năng lực nghề từ đó lựa chọn cho mình một nghề nghiệp cụ thể trên cơ sở cân

sức cho cả cá nhân học sinh, gia đình học sinh và cho xã hội.

nhắc kỹ lƣỡng phù hợp với nhu cầu, hứng thú, khả năng, năng lực sở trƣờng, sức
khoẻ của bản thân. sự lựa chọn nghề nghiệp một cách có ý thức, có cơ sở khoa học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




8

9

Từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Xu hƣớng lựa chọn nghề
nghiệp của học sinh lớp 12 trƣờng Trung học phổ thông dƣới ảnh hƣởng của
nền kinh tế thị trƣờng” (Khảo sát tại tỉnh Phú Thọ).


5.2. Điều tra, nghiên cứu, đánh giá thực trạng về xu hướng lựa chọn nghề
nghiệp của học sinh lớp 12 (tại tỉnh Phú Thọ) dưới sự ảnh hưởng của nền KTTT.
5.3. Đề xuất các biện pháp hỗ trợ cho công tác GDHN trong nhà trường THPT

2. Mục đích nghiên cứu

nhằm giúp HS lớp 12 lựa chọn đúng nghề nghiệp trong điều kiện KTTT hiện nay.

Nghiên cứu lý luận và thực trạng về xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của học

5.4. Khảo nghiệm các biện pháp trên cơ sở lấy ý kiến chuyên gia.

sinh lớp 12 dƣới sự ảnh hƣởng của nền KTTT. Phát hiện các yếu tố cơ bản tác động

6. Phƣơng pháp nghiên cứu

đến xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh làm cơ sở để xây dựng các biện

6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

pháp tổ chức hoạt động GDHN phù hợp cho HS trong nền KTTT hiện nay. Góp
phần nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của GDHN trong nhà trƣờng THPT.

Sử dụng các phƣơng pháp: Phân tích tổng hợp lý thuyết, phân loại hệ thống
hoá và khái quát hoá lý thuyết trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu lý thuyết từ đó rút

3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

ra các kết luận khoa học làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực trạng và đề


3.1. Khách thể nghiên cứu:

xuất các biện pháp của đề tài.

Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với sự lựa chọn nghề nghiệp của
học sinh lớp 12 trƣờng THPT.

6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra:

3.2. Đối tượng nghiên cứu:

Dùng phiếu điều tra (Ankét) khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của

Xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 trƣờng THPT dƣới sự ảnh

học sinh lớp 12, giáo viên (GV) phụ trách công tác hƣớng nghiệp và cha mẹ học

hƣởng của nền kinh tế thị trƣờng.

sinh về xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 hiện nay, thực trạng về

4. Giả thuyết khoa học

xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 dƣới sự ảnh hƣởng của nền

Xu hƣớng lựa chọn nghề của học sinh lớp 12 hiện nay chịu ảnh hƣởng rất lớn

KTTT.


từ nền KTTT. Bên cạnh những ảnh hƣởng tích cực, những ảnh hƣởng tiêu cực từ

* Phương pháp trao đổi, trò chuyện

mặt trái của KTTT đã dẫn đến những quyết định lựa chọn nghề nghiệp sai lầm ở

Sử dụng phƣơng pháp này nhằm hỗ trợ cho phƣơng pháp điều tra. Qua trao

rất nhiều học sinh lớp 12.

đổi, trị chuyện với HS và GV để tìm hiểu thêm những vấn đề liên quan đến điều

Vì vậy, nếu tìm hiểu đƣợc xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 dƣới
sự ảnh hƣởng của nền KTTT hiện nay, từ đó xây dựng các biện pháp GDHN một
cách khoa học, hợp lý thì sẽ giúp các em lựa chọn đƣợc nghề nghiệp đúng đắn, phù
hợp với bản thân và nhu cầu của xã hội, góp phần nâng cao chất lƣợng GDHN
trong nhà trƣờng THPT.

tra nhƣ: tâm tƣ, tình cảm, quan điểm, hồn cảnh, điều kiện kinh tế gia đình HS, từ
đó chính xác hố những vấn đề đã điều tra.
* Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Gặp gỡ trực tiếp các bộ quản lý giáo dục và những giáo viên có kinh nghiệm
trong cơng tác GDHN để điều tra, trao đổi, xin ý kiến về những vấn đề có liên

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

quan đến đề tài, đặc biệt là về thực trạng, đánh giá thực trạng, xây dựng, đề xuất

5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh


các biện pháp và khảo nghiệm các biện pháp của đề tài.

lớp 12 dưới sự ảnh hưởng của nền KTTT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




10

11

6.3. Các phương pháp thống kê toán học:

Chƣơng 1

Sử dụng các phƣơng pháp thống kê toán học để xử lý số liệu, là cơ sở để đánh

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

giá thực trạng và xây dựng các biện pháp của đề tài.
7. Phạm vi giới hạn của đề tài

1.1. Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu


Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với sự lựa chọn nghề nghiệp của

1.1.1. Trên thế giới:

học sinh lớp 12 là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp. Căn cứ vào điều kiện và

Có thể nói những tƣ tƣởng về định hƣớng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có từ

khả năng thực hiện đề tài, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu xu hƣớng lựa chọn nghề

thời cổ đại, tuy nhiên ở dƣới dạng rất sơ khai và biểu hiện thông qua việc phân

nghiệp của học sinh lớp 12 dƣới sự ảnh hƣởng của nền KTTT tại các trƣờng THPT

chia, phân cấp lao động tuỳ thuộc vào địa vị và nguồn gốc xuất thân của mỗi ngƣời

tiêu biểu cho 3 vùng địa lý (Miền núi, trung du và đồng bằng) của tỉnh Phú Thọ.

trong xã hội. Điều này thể hiện rõ tính áp đặt của giai cấp thống trị và sự bất bình

8. Cấu trúc của luận văn

đẳng trong phân công lao động xã hội. Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất xã hội

Nội dung cơ bản của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:

phát triển cùng với những tƣ tƣởng tích cực về giải phóng con ngƣời trên khắp thế

- Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.


giới thì khoa học hƣớng nghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập.

- Chƣơng 2: Thực trạng xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của HS lớp 12 dƣói
sự ảnh hƣởng của nền KTTT.

Cuốn sách “Hƣớng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1948 ở Pháp đƣợc xem là
cuốn sách đầu tiên nói về hƣớng nghiệp. Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự phát

- Chƣơng 3: Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp cho HS
lớp 12 trƣờng THPT trong điều kiện KTTT hiện nay.

triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của cơng nghiệp từ đó
đã rút ra những kết luận coi giáo dục hƣớng nghiệp là một vấn đề quan trọng không
thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển.
Năm 1980 James McKeen Cattell - một trong những ngƣời tiên phong của
khoa học hƣớng nghiệp, giáo sƣ tâm lý học của Đại học Pensylvania (Mĩ) đã mở
màn bằng việc xây dựng các test đầu tiên để đo lƣờng và đánh giá các thành công
học đƣờng của sinh viên. Năm 1909 Frank Parsons cũng là giáo sƣ Đại học
Pensylvania đã xuất bản cuốn “Lựa chọn một nghề nghiệp” (Choosing Vocation),
về sau vào những năm 1930, thế giới phƣơng Tây đã tôn vinh cuốn sách này nhƣ là
một cơng trình nền tảng của ngành tƣ vấn hƣớng nghiệp. Cuốn sách đã trình bày cơ
sở tâm lý học của hƣớng nghiệp và chọn nghề, các tiêu chí về sự phù hợp nghề của
mỗi cá nhân để từ đó có sự lựa chọn phù hợp. Vào những năm 1940, nhà tâm lý
học Mỹ J.L Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách
và sở thích nghề nghiệp tác giả đã chỉ ra tƣơng ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề
nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có đƣợc kết quả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




12

13

làm việc cao nhất. Lý thuyết này của J.L Holland đã đƣợc sử dụng rộng rãi nhất

về nghệ thuật và nghề nghiệp ) của Pháp. Chƣơng trình đào tạo chuyên gia hƣớng

trong thực tiễn hƣớng nghiệp trên thế giới.[69]

nghiệp của họ bắt đầu có mặt tại Việt Nam. [61], [63]

ở Liên Xô (cũ) vào những năm 29, 30 của thế kỷ XX, vấn đề hƣớng nghiệp

1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam:

cho HS cũng đƣợc các nhà khoa học và lãnh đạo chính quyền Xơ viết đặc biệt

ở Việt Nam giáo dục hƣớng nghiệp tuy đƣợc xếp ngang tầm quan trọng với các

quan tâm. V.I Lênin đã có chỉ thị yêu cầu phải cho HS làm quen với khoa học kỹ

mặt giáo dục khác nhƣ đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhƣng bản thân nó lại rất


thuật, làm quen với cơ sở của nền sản xuất hiện đại. N.K Crupxkaia - nhà giáo dục

non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lƣợng, không

học lỗi lạc đã từng nêu lên luận điểm “Tự do chọn nghề” cho mỗi thanh, thiếu niên.

mang tính chun nghiệp... Vì vậy, việc thực hiện khơng mang lại nhiều hiệu quả.

Theo bà, thông qua hƣớng nghiệp, mỗi trẻ em phải nhận thức sâu sắc hƣớng phát

Vấn đề hƣớng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và đƣợc xã hội quan tâm khi nền kinh tế

triển kinh tế của đất nƣớc, những nhu cầu của nền sản xuất cần đƣợc yêu cầu mà xã

đất nƣớc bƣớc sang cơ chế thị trƣờng với sự đa dạng của các ngành nghề và nhu cầu

hội đề ra trƣớc các em trong lĩnh vực lao động sản xuất. Mặt khác, công tác hƣớng

rất lớn về chất lƣợng nguồn nhân lực. Nếu so với sự ra đời của nền giáo dục XHCN

nghiệp lại phải giúp cho trẻ em phát triển đƣợc hứng thú và năng lực nghề nghiệp,

sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thì những tƣ tƣởng về hƣớng nghiệp cho học

giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, động cơ chọn nghề trong sáng. Từ

sinh cũng xuất hiện khá sớm. Cho đến trƣớc những năm 1970 thì những tƣ tƣởng

đó các em có thái độ tự giác trong việc chọn nghề.


này chủ yếu dừng lại ở các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết mang tính chỉ đạo lãnh

Trên cơ sở các luận điểm về hƣớng nghiệp của C.Mác và V.I Lênin các nhà
giáo dục Liên xô nhƣ B.F Kapêep; X.Ia Batƣsep; X.A Sapôrinxki; V.A Pôliacôp

đạo của Đảng, Nhà nƣớc và Bác Hồ chứ chƣa phải là luận điểm mang tính khoa học
hay những nghiên cứu khoa học thực sự.

trong các tác phẩm và cơng trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan hệ giữa

Chủ tịch Hồ Chí Minh có lẽ là ngƣời đầu tiên quan tâm đến công tác hƣớng

hƣớng nghiệp và các hoạt động sản xuất XH, và nếu sớm thực hiện giáo dục hƣớng

nghiệp cho HS. Trong bài viết “Học sinh và lao động” (bài viết tay năm 1957 hiện

nghiệp cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để họ chọn nghề đúng đắn, có sự p hù hợp

lƣu giữ ở bảo tàng Hồ Chí Minh). Bác viết “Thi đỗ tiểu học rồi thì muốn lên trung

giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội. Đồng thời các tác giả này cũng

học, đỗ trung học rồi thì muốn lên đại học. Riêng về mỗi cá nhân của người học

đã trình bày những nguyên tắc, phƣơng pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho

sinh thì ý muốn ấy khơng có gì lạ. Nhưng chung đối với nhà nước thì ý muốn ấy

HS phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liên trƣờng.


thành vơ lý. Vì ở bất kỳ nước nào số trường trung học cũng ít hơn trường tiểu học,

Trong giai đoạn hiện nay, trên thế giới nền sản xuất công nghiệp và hậu

trường đại học lại càng ít hơn trường trung học. Thế thì những học trị tiểu học và

cơng nghiệp đã phát triển cao, trong xã hội xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới,

trung học khơng được chuyển cấp sẽ làm gì”? Câu hỏi này của Bác thực sự trở

sự phân hoá lao động đã khiến hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm

thành một vấn đề khoa học và mang tính thời sự cho đến ngày nay. Bác đã gạch

đến công tác hƣớng nghiệp. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học hƣớng nghiệp, mở các

chân câu trả lời “họ sẽ lao động” để khẳng định một cách chắc chắn rằng con

trung tâm tƣ vấn hƣớng nghiệp và đào tạo giáo viên, chuyên gia tƣ vấn hƣớng

đƣờng lao động là con đƣờng đúng đắn nhất để các em tiếp tục phấn đấu vƣơn lên

nghiệp trong và ngồi trƣờng Đại học. Ví dụ nhƣ các trung tâm INETOP ( Viện

chứ không nhất thiết là phải vào trƣờng đại học. Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”

nghiên cứu quốc gia về lao động và hƣớng nghiệp ) và CNAM (Học viện quốc gia

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đề cập đến một yếu tố kỹ thuật sản xuất công
nghiệp và nông nghiệp” và “những ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội.[66]


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




14

15

Đảng và Nhà nƣớc ta cũng rất quan tâm công tác hƣớng nghiệp, điều này

tác phẩm nhƣ: “Nghề nghiệp tƣơng lai - giúp bạn chọn nghề” hay cuốn “Tƣ vấn

đƣợc thể hiện qua các chỉ thị, nghị quyết, văn kiện, các nguyên lý giáo dục của

hƣớng nghiệp - sự lựa chọn cho tƣơng lai”. Trong một cơng trình nghiên cứu gần

Đảng và nhà nƣớc. Có thể lấy ví dụ nhƣ nghị định 126/CP ngày 19/03/1981 của

đây ông đã chỉ ra rằng: “Cơng tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc chọn

chính phủ về cơng tác hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ thông và việc sử dụng hợp

nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế”. Bởi vì theo tác giả,


lý HS các cấp PTCS và THPT tốt nghiệp ra trƣờng”. Trong văn kiện Đại hội Đảng

đất nƣớc đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH, trong quá trình

lần thứ IX đã ghi rõ “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng HS trung

CNH - HĐH, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển theo hƣớng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng

học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với

tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ. Xu hƣớng chọn nghề của thanh niên phù hợp với xu

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” [12]. Luật giáo

hƣớng chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của công nghiệp. [25]

dục năm 2005 đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm giúp cho HS củng cố và phát

GS. Nguyễn Văn Hộ cũng là một trong những ngƣời rất tâm đắc và nghiên

triển những kết quả của THCS, hoàn thiện học vấn để tiếp tục học đại học, cao

cứu chuyên sâu về giáo dục hƣớng nghiệp. Trong luận án tiến sĩ của mình tác giả

đẳng, trung học nghề nhiệp, học nghề, và đi vào cuộc sống lao động ”[57]. Chiến

đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hƣớng nghiệp cho HS Việt

lƣợc phát triển giáo dục năm 2001 - 2010 đã xác định rõ: “Thực hiện chương trình


Nam”. Tác giả đã xây dựng đƣợc luận chứng cho hệ thống GDHN trong điều kiện

phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho HS có học vấn phổ thông, cơ bản theo một

phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Gần đây (2006), ông cũng đã cho xuất bản

chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi HS,

cuốn sách: “Hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trƣờng

giúp HS có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện

THPT”, cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống về cơ sở lí luận của giáo dục

thuận lợi cho việc phân luồng sau THPT, để HS vào đời hoặc chọn ngành nghề học

hƣớng nghiệp, vấn đề tổ chức giáo dục hƣớng nghiệp trong trƣờng THPT và giảng

tiếp sau khi tốt nghiệp”[4].

dạy kĩ thuật ở nhà trƣờng THPT trong điều kiện kinh tế thị trƣờng và sự nghiệp

Về mặt nghiên cứu khoa học hƣớng nghiệp ở Việt Nam, theo các chuyên gia

CNH - HĐH đất nƣớc hiện nay.

thì ngành hƣớng nghiệp Việt Nam đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ vào

Trong thời gian gần đây nhằm hiện thực hoá những phƣơng hƣớng, mục tiêu


những năm 1970, 1980. Những nhà khoa học tiên phong phải kể đến GS. Phạm Tất

mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về giáo dục hƣớng nghiệp và phân

Dong, PGS. Đặng Danh ánh, GS. Phạm Huy Thụ, GS. Nguyễn Văn Hộ.

luồng HS phổ thơng. Đã có rất nhiều những nghiên cứu về hƣớng nghiệp ở nhiều

GS. Phạm Tất Dong là ngƣời có những đóng góp rất lớn cho giáo dục hƣớng

cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dạng trong nghiên

nghiệp Việt Nam, ông đã dày cơng nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn cho

cứu khoa học hƣớng nghiệp ở Việt Nam. Có thể kể đến nhƣ tác giả Trần Quốc

giáo dục hƣớng nghiệp nhƣ xác định mục đích, ý nghĩa, vai trị của hƣớng nghiệp;

Thành có bài: “Định hướng giá trị nghề nghiệp của HS lớp 12 THPT một số tỉnh

hứng thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc

miền núi phía Bắc”, đăng trên tạp chí tâm lí học (2002). Bài: “Những nguyên nhân

hƣớng nghiệp, các nội dung, phƣơng pháp, biện pháp giáo dục hƣớng nghiệp...

ảnh hưởng tới sự định hướng trong việc học tập, chọn nghề ở HS THPT”, của tác

Điều này đƣợc thể hiện ở rất nhiều các báo cáo, bài báo, sách, giáo trình của ơng


giả Phạm Thị Đức đăng trên tạp chí giáo dục (2002). Bài: “Giáo dục hướng nghiệp

nhƣ bài: “hướng nghiệp cho thanh niên”, đăng trên tạp chí Thanh Niên số 8 năm

cho HS phổ thơng với việc phát triển nguồn nhân lực” của tác giả Nguyễn Sinh

1982; Báo cáo: “Một con đường hình thành lý tưởng nghề nghiệp cho HS lớn”; các

Huy, Nguyễn Văn Lê đăng trên tạp chí phát triển GD (2004). Bài: “Để nâng cao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






16

17

chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong tình hình mới” của các tác giả Nguyễn

Theo lý thuyết hoạt động trong trong tâm lý học, nhân cách của con ngƣời có

Văn Lê, Hà Thế Truyền đăng trên tạp chí giáo dục (2004) v.v. Các tác giả trên đã

bốn nhóm thuộc tính tâm lý điển hình: Xu hƣớng, tính cách, khí chất, năng lực. Xu


có những nghiên cứu mang tính thực tiễn tập trung vào các vấn đề nóng bỏng của

hƣớng nói lên chiều hƣớng phát triển của nhân cách con ngƣời, bởi vì hoạt động

cơng tác hƣớng nghiệp hiện nay đó là xu hƣớng, động cơ lựa chọn nghề của lớp

của cá nhân trong xã hội bao giờ cũng hƣớng về một mục tiêu nào đó. Khơng thể

trẻ, những định hƣớng giá trị của thanh niên, những nguyên nhân dẫn đến xu

có hoạt động khơng có phƣơng hƣớng (Tức là khơng có mục tiêu, khơng có đối

hƣớng, động cơ chọn nghề và định hƣớng giá trị đồng thời nghiên cứu mối quan hệ

tƣợng). Sự hƣớng tới này đƣợc phản ánh trong tâm lý mỗi ngƣời nhƣ là xu hƣớng

giữa giáo dục hƣớng nghiệp và vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ đất nƣớc

của nhân cách. Cá nhân có thể hƣớng hoạt động của mình vào một sự vật cụ thể,

trong thời kì CNH - HĐH. Từ đó có những biện pháp, giải pháp phù hợp nhằm

một tri thức khoa học hoặc một tƣ tƣởng chính trị đồng thời thúc đẩy hoạt động

nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực.

nhằm từng bƣớc chiếm lĩnh chúng. Chính vì vậy nhà tâm lý học Liên Xơ

Bên cạnh đó cịn phải kể đến các cơng trình nghiên cứu của các tác giả Đặng


X.L.Rubinstein đã khẳng định: “Vấn đề xu hướng trước hết là câu hỏi về khuynh

Danh ánh, Nguyễn Thế Trƣờng, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Minh An, Lê Đức Phúc...

hướng thúc đẩy như là động cơ quy định hoạt động của con người”. Mỗi ngƣời

đã làm rõ đƣợc các thực trạng, những số liệu, những kinh nghiệm giáo dục hƣớng

hƣớng hoạt động của mình vào cái gì, điều đó phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát

nghiệp và dạy nghề cho HS phổ thơng. Đồng thời cũng đề cập và làm rõ đƣợc các

triển của nhận thức và tình cảm đối với cái đó. [53]

vấn đề nhƣ tổ chức lao động cho HS phổ thơng, tƣ vấn nghề cho học sinh phổ

Nói tóm lại, xu hƣớng là sự xác định mục đích mà cá nhân hƣớng tới đồng

thông, các phƣơng thức giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hƣớng nghiệp trong nhà

thời xác định hệ thống động cơ tƣơng ứng với hoạt động của con ngƣời nhằm đạt

trƣờng phổ thông và trung tâm kỹ thuật tổng hợp hƣớng nghiệp.

mục đích. Xu hƣớng của con ngƣời đƣợc biểu hiện ở các mặt sau:

Dƣới góc độ xem xét giáo dục hƣớng nghiệp là 1 hệ thống trong đó xu hƣớng

* Nhu cầu: Là sự địi hỏi tất yếu mà con ngƣời thấy cần đƣợc thoả mãn để tồn


chọn nghề của HS là một thành tố quan trọng, nó có mối quan hệ tác động với

tại và phát triển. Nhu cầu của con ngƣời cũng rất đa dạng: Nhu cầu vật chất gắn

nhiều thành tố khác mà đặc biệt là với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó,

liền với sự tồn tại của cơ thể nhƣ nhu cầu ăn, ở, mặc. Còn nhu cầu tinh thần gắn

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng và hiệu

liền với sự phát triển của cá nhân nhƣ nhu cầu nhận thức, lao động, giao tiếp, thẩm

quả công tác hƣớng nghiệp cho HS lớp 12 trƣờng THPT trong điều kiện KTTT và

mỹ...

sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc hiện nay.

* Hứng thú: Là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tƣợng nào đó, vừa có ý

1.2. Các khái niệm công cụ

nghĩa đối với cuộc sống vừa mang lại khối cảm cho cá nhân trong q trình ho ạt

1.2.1. Xu hướng

động. Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, tăng tính tự giác và tích cực

1.2.1.1. Khái niệm xu hướng: Xu hƣớng là một khái niệm tâm lý học khá phức


trong hành động vì vậy hứng thú làm tăng hiệu quả của hoạt động. Cùng với nhu

tạp, vì vậy cũng có nhiều cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau.

cầu, hứng thú là một thành phần trong hệ thống động cơ của nhân cách.

Theo đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Nhƣ ý (chủ biên), Nxb Văn hố thơng

* Lý tưởng: Là một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu mực, tƣơng đối hồn

tin, (1998) thì xu hƣớng là: Hƣớng đi tới, thể hiện khá rõ thực chất của nó. Ví dụ:

chỉnh, có sức lơi cuốn con ngƣời vƣơn tới nó. Có nghĩa là ý tƣởng thể hiện ý muốn

Xu hƣớng chính trị, xu hƣớng nghề nghiệp...[58]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




18

19

của con ngƣời vƣơn tới một cái gì đó hồn chỉnh và mẫu mực nhƣng chƣa đạt


Xu hƣớng có ảnh hƣớng tới sự phát triển của năng lực. Vì sự lơi kéo, hấp dẫn đối

đƣợc.

với con ngƣời càng cao, thì con ngƣời càng thƣờng xuyên hƣớng sức lực của mình

* Thế giới quan: Là hệ thống các quan điểm về tự nhiên, xã hội và bản thân, xác
định phƣơng châm hành động của con ngƣời. Nói một cách cụ thể thì thế giới quan
của cá nhân là cách nhìn nhận, xem xét, hiểu biết, đánh giá về thế giới của cá nhân.

vào hoạt động.
Lịch sử phát triển của khoa học cho phép nói rằng, sự say mê, hứng thú đối
với công việc là điều kiện bất di bất dịch của sự thể hiện các năng lực, là điều kiện

* Niềm tin: Là một sản phẩm của thế giới quan, là kết tinh các quan điểm, tri

hình thành tài năng. Nhu cầu (một mặt biểu hiện của xu hƣớng) đối với một hoạt

thức, rung cảm, ý chí đƣợc con ngƣời thể nghiệm, trở thành chân lý bền vững trong

động nào đó đƣợc con ngƣời ý thức góp phần hình thành năng lực. Khi xem xét

mỗi cá nhân. Niềm tin tạo cho con ngƣời nghị lực, ý chí để hành động theo quan

mối quan hệ giữa xu hƣớng và năng lực phải có quan điểm biện chứng. Xu hƣớng

điểm của mình, là lẽ sống của con ngƣời. [53]

của hoạt động dẫn đến việc hình thành năng lực và có năng lực rồi thì dễ đạt kết


1.2.1.2. Vai trị của xu hướng trong cấu trúc nhân cách của cá nhân:

quả cao trong hoạt động. Chính kết quả cao này lại góp phần củng cố xu hƣớng

Có thể khẳng định chắc chắn rằng xu hƣớng của cá nhân khơng tách khỏi hoạt

hoạt động nói chung và hứng thú nói riêng. Tuy nhiên, có hứng thú nhƣng chƣa

động nhằm đạt tới mục tiêu mà cá nhân đang hƣớng tới. Xu hƣớng chính là một

chắc đã có năng lực trong lĩnh vực hoạt động nào đó. Bởi vì có hứng thú nhƣng

hay một nhóm động cơ chiếm địa vị thống trị chi phối các động cơ khác của hoạt

khơng có điều kiện để thực hiện hứng thú. Nhƣng có năng lực về cái gì đó thì sớm

động này. Trong ý nghĩa đó, xu hƣớng giữ vị trí điểm nút trong mạng lƣới các mối

muộn cũng hình thành hứng thú tƣơng ứng.

quan hệ giữa các thuộc tính trong cấu trúc nhân cách. Nói một cách khác, xu

Nhƣ vậy xu hƣớng và năng lực có quan hệ chặt chẽ với nhau nhƣng không

hƣớng làm nhiệm vụ định hƣớng, điểu khiển, điều chỉnh sự hình thành và phát

đồng nhất. Việc nắm đƣợc mối quan hệ này là rất có ý nghĩa đối với nhà giáo dục

triển toàn bộ các thuộc tính của nhân cách làm cho chúng kết hợp hài hồ với nhau


trong cơng tác phát hiện và bồi dƣỡng những học sinh có năng lực làm cơ sở cho

thành một chỉnh thể trọn vẹn. Một khái niệm thống nhất không thể chia cắt đƣợc.

công tác tƣ vấn và định hƣớng nghề nghiệp cho các em. [23]

Nói tóm lại, xu hƣớng (với ý nghĩa là động cơ của hoạt động) giữ vị trí trung

1.2.2. Nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp

tâm trong cấu trúc của nhân cách. Nó quyết định sự hình thành và phát triển tồn

1.2.2.1. Nghề nghiệp và việc làm:

bộ cấu trúc nhân cách nhƣ một chỉnh thể trọn vẹn, cũng nhƣ quyết định sự hình

Nghề hay nghiệp, đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Nhƣ ý chủ biên, Nxb Văn

thành và phát triển mỗi yếu tố tổng hợp thành nhân cách ấy. Nói đến xu hƣớng là

hố thông tin - 1998) định nghĩa: “Nghề: Công việc chuyên làm theo sự phân cơng

nói đến bộ phận hợp thành quan trọng nhất trong cấu trúc nhân cách. Vì thế nhà

của xã hội”; cịn “Nghề nghiệp là nghề nói chung”.[58]. Từ điển Tiếng Việt (Văn

giáo dục nổi tiếng A.X Makarenkô đã rất có lý khi ơng cho rằng “Tồn bộ công

Tân chủ biên, Nxb Khoa học xã hội - 1991) thì định nghĩa: “Nghề là cơng việc


việc giáo dục nhân cách con người được qui tụ về việc giáo dục nhu cầu (một mặt

hàng ngày làm để sinh nhai”, “Nghề nghiệp: là nghề làm để mƣu sống”, còn từ

biểu hiện của xu hướng) đúng đắn của nó”. [53]

điển Larousse của Pháp định nghĩa: “Nghề nghiệp (Profession) là hoạt động

1.2.1.3. Mối quan hệ giữa xu hướng và năng lực của cá nhân:

thƣờng ngày đƣợc thực hiện bởi con ngƣời nhằm tự tạo nguồn thu nhập cần thiết

Xu hƣớng của cá nhân có quan hệ rất chặt chẽ với năng lực. Xu hƣớng đối với

để tồn tại”. [21]

một hoạt động nào đó thƣờng ăn khớp với năng lực trong lĩnh vực hoạt động đó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




20

21


Theo E.A Klimôp: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh vật chất

để sinh sống”. Còn từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên - Nxb Khoa học xã

và tinh thần của con ngƣời một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân

hội - 1994) lại định nghĩa “Việc làm: công việc đƣợc giao cho làm và trả

công lao động xã hội mà có). Nó tạo cho mỗi con ngƣời khả năng sử dụng phƣơng

công”.[35]. Trong luật lao động qui định tại điều 13: “Mọi hoạt động lao động tạo

tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”. [28]

ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm”. Nhƣ

Theo GS. TSKH Nguyễn Văn Hộ: “Nghề nghiệp nhƣ là một dạng lao động

vậy hai khái niệm nghề nghiệp và việc làm là rất gần nhau, có mối quan hệ chặt

vừa mang tính xã hội (sự phân cơng xã hội ), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản

chẽ với nhau nhƣng không đồng nhất. Nghề nghiệp đƣợc coi là việc làm nhƣng

thân) trong đó con ngƣời với tƣ cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn

không phải việc làm nào cũng là nghề nghiệp. Những việc làm nhất thời, không ổn

những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân”. [21]


định do con ngƣời bỏ sức lao động giản đơn và đƣợc trả cơng để sinh sống thì

Từ một số quan niệm về nghề nghiệp nêu trên, có thể hiểu một cách ngắn
gọn, nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một q trình đào tạo
chun biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo chuyên môn nhất định, có phẩm
chất, đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương ứng. Nhờ quá trình
hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm thoả mãn những nhu
cầu vật chất, tinh thần của cá nhân và xã hội.

không phải là nghề nghiệp. [8], [21]
1.2.2.2. Giáo dục hướng nghiệp:
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, cách tiếp cận, các tiêu chí... mà có nhiều
quan điểm khác nhau về khái niệm hƣớng nghiệp.
Các nhà tâm lý học cho rằng đó là hệ thống các biện pháp sƣ phạm, y học
giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản

Nghề nghiệp của một ngƣời có thể do đƣợc đào tạo chính thức về nghề đó vì

thân. Các nhà kinh tế học thì cho rằng đó là những mối quan hệ kinh tế giúp cho

nghề địi hỏi một trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nhất định. Cũng có thể có nghề

mỗi thành viên trong xã hội phát triển năng lực đối với lao động và đƣa họ vào một

đƣợc hình thành tự phát do tích luỹ kinh nghiệm xã hội hoặc do truyền và học nghề

lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với việc phân bố lực lƣợng lao động xã hội.

theo cách kèm cặp giữa ngƣời biết nghề và ngƣời chƣa biết. Các nghề này chƣa có

quy trình đào tạo rõ rệt.

Nhà tâm lý học K. K. Platơnơp cho rằng: “Hướng nghiệp, đó là hệ thống các
biện pháp tâm lý - giáo dục, y học nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống

Nghề đƣợc đào tạo có đặc trƣng là ngƣời làm nghề phải đƣợc cung cấp trình

thơng qua việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện,

độ tri thức kĩ năng, kĩ xảo hành nghề, làm ra sản phẩm để trao đổi trên thị trƣờng,

vừa phù hợp với hứng thú, năng lực của bản thân. Những biện pháp này sẽ tạo nên

thu nhập của ngƣời lao động chính là nguồn sống của họ. Chính vì vậy mà họ trở

sự thống nhất giữa quyền lợi của XH với quyền lợi của cá nhân”. Còn viện sĩ X. Ia.

thành đối tƣợng hoạt động cơ bản, lâu dài của lý tƣởng nghề nghiệp, từ đó hình

Batƣsep xác định: “Hướng nghiệp là một hoạt động hợp lý gắn với sự hình thành ở

thành nhân cách nghề nghiệp. Nghề đƣợc đào tạo địi hỏi ngƣờ i vào học nghề đó

thế hệ trẻ hứng thú và sở thích nghề nghiệp vừa phù hợp với những năng lực cá

phải có trình độ học vấn, sức khỏe và yêu cầu tâm lý phù hợp với nghề. Sau quá

nhân, vừa đáp ứng đòi hỏi của xã hội đối với nghề này hay nghề khác” . [9], [21]

trình đào tạo, ngƣời đó phải đạt đƣợc tiêu chuẩn quốc gia về kiến thức, kỹ năng, kỹ

xảo tay nghề theo mục tiêu xã hội đòi hỏi, đƣợc cấp bằng hay chứng chỉ về nghề.

Theo GS. TS. Phạm Tất Dong, khái niệm hƣớng nghiệp đƣợc hiểu trên hai
bình diện:

Đi đơi với khái niệm nghề nghiệp là khái niệm về việc làm. Việc làm, theo

* Trên bình diện xã hội: hƣớng nghiệp nhƣ là một hệ thống tác động của xã hội về

đại từ điển Tiếng Việt (đã dẫn): “Việc làm là công việc, nghề nghiệp thƣờng ngày

giáo dục, y học, xã hội học, kinh tế học... nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn đƣợc nghề

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






22

23

vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trƣờng của cá nhân, vừa đáp

trống: Chƣa có nghề nghiệp, chƣa có một vị thế xã hội đích thực, chƣa có những


ứng đƣợc nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.

điều kiện vật chất để thực hiện hoài bão... Tất cả những nhu cầu này sẽ tạo nên

* Trên bình diện trường phổ thông: Hƣớng nghiệp đƣợc coi là công việc của tập thể

động cơ, đó là những yếu tố nội tại đƣa cá nhân tới những hành vi nhằm thỏa mãn

giáo viên, tập thể sƣ phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp

nhu cầu. Tuy nhiên cũng cần phải phân biệt giữa nhu cầu và ƣớc muốn nghề

các em tự quyết định nghề nghiệp tƣơng lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực,

nghiệp, ƣớc muốn là sự lựa chọn tổng quát để thoả mãn một nhu cầu nghề nghiệp

hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội. [9]

cụ thể.

Hội nghị lần thứ IX những ngƣời đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các

Nhu cầu là một khái niệm vƣợt ra ngoài giá trị vật chất của nghề nghiệp, là

nƣớc xã hội chủ nghĩa họp tại La Habana - Cu ba (Tháng 10/1980) đã thống nhất về

một yếu tố quan trọng mà những ngƣời làm công tác hƣớng nghiệp cần phải hiểu

khái niệm hƣớng nghiệp nhƣ sau: “Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa


rõ để tác động đúng. Động cơ thúc đẩy việc lựa chọn nghề thƣờng phản ánh nhu

trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh

cầu chọn nghề hơn là phản ánh các giá trị do nghề đó đem lại.

chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích

Sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh bao giờ cũng bị chi phối bởi một hệ

hợp với những năng lực, sở trường và tâm, sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố

thống động cơ nhất định. Những động cơ này thƣờng bắt nguồn từ những nhu cầu,

hợp lí và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước”. [21]

hứng thú, sở thích riêng của mỗi cá nhân học sinh và đƣợc hình thành dƣới tác

Qua những quan điểm về khái niệm hƣớng nghiệp nêu trên, có thể hiểu một

động hợp thành của động cơ bên trong và động cơ bên ngoài. Động cơ bên trong

cách ngắn gọn, dƣới góc độ giáo dục phổ thơng, hƣớng nghiệp là sự tác động của

có vai trò quan trọng thúc đẩy con ngƣời đạt tới những mục tiêu nhất định trong

một tổ hợp các lực lƣợng xã hội, lấy sự chỉ đạo của một hệ thống sƣ phạm làm

q trình tiến tới mục đích nghề đƣợc lựa chọn. Nó là tiền đề nội lực cơ bản cho sự


trung tâm (nhà trƣờng) vào thế hệ trẻ, giúp các em làm quen và hiểu biết về một số

lựa chọn và hoạt động nghề nghiệp sau này của học sinh, nó giúp cho cá nhân học

ngành nghề phổ biến trong xã hội để khi tốt nghiệp ra trƣờng, các em có thể lựa

sinh sử dụng có hiệu quả những tƣ chất, năng lực, kinh nghiệm của mình để trƣớc

chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp tƣơng lai.

hết là chọn đƣợc một nghề theo ý nguyện và sau đó là để thực hiện tốt những yêu

1.2.3. Xu hướng nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp

cầu đặt ra cho hoạt động nghề nghiệp. Những động cơ bên trong có thể bao gồm:

1.2.3.1. Xu hướng nghề nghiệp:

trình độ kiến thức về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, hứng thú, nguyện vọng, năng

Có thể nói cho đến nay vẫn chƣa có tác giả nào đƣa ra một khái niệm cụ thể về

lực sở trƣờng của bản thân đối với nghề đó; tiềm năng nhận biết và hiểu đƣợc ý

xu hƣớng nghề nghiệp. Khi nghiên cứu vấn đề này các nhà khoa học thƣờng tiếp cận
trực tiếp các yếu tố cấu thành của xu hƣớng nhƣ: Nhu cầu nghề nghiệp, động cơ
nghề nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, lý tƣởng nghề nghiệp, nguyện vọng nghề
nghiệp...

nghĩa xã hội, giá trị xã hội của nghề . [8], [21]

* Hứng thú đối với nghề nghiệp:
Hứng thú nghề nghiệp là sự biểu hiện thái độ của con ngƣời đối vớ i lĩnh vực
nghề nghiệp hay một nghề cụ thể, nó góp phần tạo nên động cơ thúc đẩy cá nhân

* Nhu cầu và động cơ nghề nghiệp:

tìm hiểu kĩ lƣỡng về nghề làm cơ sở cho việc thực hiện nguyện vọng nghề nghiệp.

Tất cả mọi sự lựa chọn nghề đều có xuất phát điểm từ nhu cầu của cá nhân,

E.M Cheplôp cho rằng: “Hứng thú là động lực quan trọng nhất trong việc nắm

khi học sinh thấy rằng trong tình trạng hiện tại của bản thân cịn có một khoảng

vững tri thức, mở rộng học vấn, làm giàu nội dung của đời sống tâm lý con người.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






24

25

Thiếu hứng thú hoặc hứng thú mờ nhạt, cuộc sống của con người sẽ trở nên ảm


những nhu cầu về hứng thú mới cho phù hợp với lý tƣởng ấy. Lý tƣởng nghề

đạm và nghèo nàn”. Một khi con ngƣời ý thức về giá trị nghề nghiệp đối với mình,

nghiệp đƣợc hiện thực hố dần từng bƣớc trong cơng việc cụ thể. Yêu tha thiết

có đƣợc những cảm xúc và sự say mê tích cực trong lao động, học tập nhằm hồn

nghề nghiệp của mình đã chọn, khơng ngừng tìm tịi sáng tạo nhằm làm cho trình

thiện mình để đạt tới nghề nghiệp, khi đó ở con ngƣời đã có đƣợc hứng thú nghề

độ nghề nghiệp của mình ngày càng đạt tới những đỉnh cao mới là con đƣờng duy

nghiệp. N.C Crupxkaia cũng cho rằng: “Chỉ đối với việc mà họ đang làm, bị cuốn

nhất đúng để mỗi học sinh thực hiện lý tƣởng nghề nghiệp của mình. [16],[17]

hút vào cơng việc - chỉ khi đó con người mới nâng cao tối đa xu hướng hoạt động
của mình khơng kể đến mệt mỏi”. [21]

Lý tƣởng nghề nghiệp giúp con ngƣời có khát vọng vƣơn lên đỉnh cao của
nghề nghiệp, ƣớc mơ nóng bỏng về tƣơng lai. Thiếu lý tƣởng nghề nghiệp, ngƣời

Lựa chọn nghề nghiệp là một công việc rất hệ trọng của tuổi học trị trong q

lao động khơng thể vƣợt qua giới hạn của cảnh làm việc tẻ nhạt, khơng dám nghĩ,

trình học tập và rèn luyện trong nhà trƣờng, các em dần tự phát hiện ra chính mình


khơng dám làm, khơng dám vƣợt qua mọi khó khăn để vƣơn lên tới sự hồn thiện

và ln tìm cách trả lời câu hỏi: “Tơi có thể làm đƣợc việc gì?”.

nhân cách. [8]

Đó là một câu hỏi rất nghiêm túc phản ánh tinh thần trách nhiệm của học sinh

Trên cơ sở phân tích và tìm hiểu những thành tố cấu trúc cơ bản của xu hƣớng

trƣớc những đòi hỏi của cuộc sống đang đặt ra cho họ. Các hình thức giáo dục

nghề nghiệp, chúng tôi khái quát lại và đi đến kết luận: Xu hướng nghề nghiệp của

hƣớng nghiệp của trƣờng phổ thơng sẽ góp phần tích cực vào việc giúp thanh niên

con người đó chính là sự biểu hiện một cách sâu sắc nhất, tập trung nhất những

trả lời chính xác câu hỏi quan trọng này. Đồng thời qua đó làm cho hứng thú nghề

nhu cầu về nghề nghiệp, những hứng thú và nguyện vọng nghề nghiệp của cá

nghiệp của học sinh dần đƣợc ổn định. Điều đó đặc biệt quan trọng vì chính hứng

nhân. Các yếu tố này trong mối quan hệ chặt chẽ đã tạo thành động cơ mạnh mẽ

thú nghề nghiệp là cái có ý nghĩa quyết định sự phát triển nhân cách của học sinh

thúc đẩy cá nhân đi đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân n hằm hiện


THPT. Việc các em có đƣợc hứng thú tích cực đối với nghề nghiệp thì sẽ giúp cho

thực hố lý tưởng nghề nghiệp đã được hình thành.

việc tạo lập ở bản thân các em động cơ mạnh mẽ trong lựa chọn nghề nghiệp.
* Lý tưởng nghề nghiệp:

1.2.3.2. Năng lực nghề nghiệp:
Theo quan điểm của các nhà tâm lý học thì năng lực của một cá nhân là tổ hợp

Theo GS. TS Phạm Tất Dong thì lí tƣởng nghề nghiệp là mẫu ngƣời lao động
trong nghề mà ta đã chọn và trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, ta ln hồn
thiện nhân cách bản thân theo mẫu ngƣời đó. [8]

các thuộc tính độc đáo của cá nhân đó phù hợp với những yêu cầu của một hoạt
động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt. [53]
Vận dụng quan điểm trên để xem xét năng lực nghề nghiệp có thể thấy năng lực

Lý tƣởng nghề nghiệp thƣờng đƣợc thể hiện ở sự định hƣớng vào những lao

nghề nghiệp là một tập hợp các thuộc tính nhân cách tƣơng đối bền vững, đƣợc hình

động kiểu mẫu, vào những ngƣời sáng tạo ln ln đại diện cho sự đổi mới, luôn

thành và phát triển trong q trình hoạt động có liên quan tới nghề nghiệp. Theo K.

đứng ở đỉnh cao kĩ thuật và công nghệ.

K. Platônôp: “Năng lực đối với một ngành nghề nhất định nào đó được xác định bởi


Lý tƣởng nghề nghiệp là biểu hiện tập trung nhất của xu hƣớng nghề nghiệp.

những yêu cầu mà ngành nghề đó đặt ra cho cá nhân nào tiếp thu nó”.

Nó có ảnh hƣởng quyết định đến việc hình thành và phát triển của nhu cầu và hứng

Theo GS. TS Phạm Tất Dong thì năng lực nghề nghiệp là sự tƣơng ứng giữa

thú nghề nghiệp. Để vƣơn tới đƣợc lý tƣởng cao đẹp của mình, ngƣời ta có thể tự

những đặc điểm tâm lý và sinh lý của con ngƣời với những yêu cầu do nghề đặt ra.

điều chỉnh hoặc huỷ bỏ một số nhu cầu, hứng thú cũng nhƣ hình thành ở mình

Khơng có sự tƣơng ứng này thì con ngƣời khơng thể theo đuổi nghề đƣợc. [8]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






26

27


Năng lực nghề nghiệp vốn khơng có sẵn trong con ngƣời, khơng phải là

Có thể nói, mỗi cá nhân đều tiềm ẩn những năng lực, những sở trƣờng đặc

những phẩm chất bẩm sinh. Nó hình thành và phát triển qua hoạt động học tập và

biệt để tạo sự phù hợp nghề. Nếu biết lợi dụng triệt để những cơ sở ấy đặc biệt là

hoạt động lao động. Trong quá trình làm việc, năng lực tiếp tục phát triển hoàn

những sở trƣờng sẵn có, kiên trì luyện tập kết hợp với sự học hỏi ở những ngƣờ i có

thiện. ở những ngƣời thất bại trong nghề nghiệp thì chính họ đã khơng đánh giá

kinh nghiệm thì sự phù hợp nghề sẽ nhanh đến với bản thân. Tuy nhiên hoạt động

đƣợc mình nên đã dẫn đến những sự lựa chọn sai lầm về đủ mọi phƣơng diện.

nghề có những đặc điểm riêng của nó, thậm chí những u cầu do nó đặt ra ở một

1.2.4. Sự phù hợp nghề:

số ngƣời này thì rèn luyện có thể tạo ra sự phù hợp nhƣng ở một số ngƣời khác thì

Một ngƣời đƣợc coi là phù hợp với một nghề nào đó khi ở họ có đƣợc những

cho dù chăm chỉ mấy cũng khơng thể đáp ứng. Chính đặc điểm này đã ảnh hƣởng

phẩm chất đạo đức, trình độ văn hố, năng lực chung và năng lực riêng, tri thức, kĩ
năng và tình trạng sức khoẻ đáp ứng đƣợc đòi hỏi do nghề nghiệp đặt ra.


tới chất lƣợng chọn nghề của học sinh.
Một khi học sinh chƣa biết mình, chƣa hiểu nghề thì đối với các em nghề nào

Ngƣời ta chỉ cần làm một số biện pháp nhằm đối chiếu những đặc điểm tâm

cũng có thể làm đƣợc nhƣng không phải nghề nào cũng phù hợp. Các nhà tâm lý

sinh lý của con ngƣời với hệ thống yêu cầu do nghề đặt ra mà kết luận về mức độ

học đã chứng minh đƣợc mỗi nghề địi hỏi một trình độ phát triển năng lực chung

phù hợp nghề của ngƣời đó. Sự phù hợp nghề thƣờng thể hiện ở 3 dấu hiệu:

và những năng lực chuyên biệt cần thiết để thực hiện thành công cho riêng nghề

* Bảo đảm tốc độ làm việc, tức là bảo đảm đƣợc yêu cầu về số lƣợng công
việc theo định mức lao động. Ngƣời ta có thể đo đếm đƣợc các động tác lao động
để kết luận về sự phù hợp nghề.

nghiệp đó. Đồng thời mỗi nghề cịn có những yêu cầu riêng về trạng thái sức khỏe,
tâm lý của con ngƣời.
Có thể nói sự phù hợp nghề trƣớc hết là phụ thuộc vào quá trình nhận thức sâu

* Bảo đảm độ chính xác của cơng việc. Đây là u cầu về chất lƣợng sản

sắc với nghề mình chọn để biết mình, biết nghề và sau đó là q trình tự rèn luyện

phẩm. Ngƣời lao động phải làm ra mặt hàng đúng quy cách, khơng có số lƣợng


để tạo sự phù hợp nghề là cơ sở để đảm bảo cho hoạt động nghề đạt tới hiệu quả.

phế phẩm quá con số cho phép, không để công cụ lao động bị hƣ hỏng...

Song, để làm cho sự phù hợp nghề có sự bền vững về chất lƣợng là cả một quá

* Không bị công việc của nghề nghiệp gây nên những độc hại cho cơ thể của
bản thân.

trình khổ cơng học hỏi, hồn thiện những gì đã có thể làm cho những yêu cầu do
nghề nghiệp đặt ra trở thành những địi hỏi của chính bản thân mình.

Mức độ hiệu quả hoạt động nghề nghiệp chịu sự chi phối của mức độ sự phù

1.2.5. Lựa chọn nghề nghiệp và những tính chất của nó:

hợp nghề. Thơng thƣờng, ngƣời ta chia làm 3 phần mức độ phù hợp đối với một

Việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh là một quá trình lâu dài và phức tạp,

nghề đó là: Phù hợp hồn tồn, phù hợp có mức độ và khơng phù hợp. Trên thực

nó đƣợc biểu hiện ở các mức độ khác nhau ngay trong những lớp đầu của trƣờng

tế, ít có ai sinh ra mà phù hợp với nghề này hay nghề khác mà thƣờng chỉ có những

THCS, đƣợc tiếp tục phát triển và hoàn thiện dần ở những lớp sau nhất là ở cuối

cơ sở ban đầu có khả năng phù hợp hay không phù hợp với nghề nghiệp. Bởi vậy


cấp THPT, trong các trƣờng, lớp dạy nghề và đƣợc tạm coi là kết thúc khi họ đã có

khó có sự phù hợp tuyệt đối với nghề (phù hợp hoàn toàn), và để đạt tới mức độ

những khả năng lao động nghề nghiệp độc lập.

này, bản thân mỗi ngƣời phải có sự rèn luyện để hình thành cho mình những gì mà
nghề nghiệp địi hỏi. [8]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Với tƣ cách là một quá trình hoạt động, lựa chọn nghề nghiệp bao gồm những
tính chất cơ bản sau:



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




28

29

* Tính chủ thể của q trình lựa chọn:

phƣơng pháp thích hợp trong học tập, rèn luyện để chiếm lĩnh đƣợc nghề lựa chọn

Quá trình lựa chọn nghề nghiệp của học sinh diễn ra với sự chi phối của


ở những mức độ khác nhau. Việc xác định mục đích cho sự lựa chọn nghề của học

những mối quan hệ xã hội phức tạp (giữa học sinh với gia đình; học sinh với tập

sinh là rất đa dạng và phức tạp. Muốn xác định đƣợc nghề sẽ chọn phù hợp với

thể lớp, trƣờng, đoàn đội; học sinh với cộng đồng...). Những mối quan hệ này tác

mình, ngồi việc hiểu biết về nghề đó, học sinh phải tự hiểu mình. Chỉ có trên cơ sở

động tới nhận thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú, sở thích nghề nghiệp của học sinh.

này, bản thân học sinh mới đáp ứng với những yêu cầu của nghề nghiệp.

Tuy nhiên để đi tới một quyết định lựa chọn nghề thì hầu hết đó là quyết định do

* Tính cấu trúc của q trình lựa chọn nghề:

chính chủ thể đƣa ra và khẳng định. Tỷ lệ ảnh hƣởng của những tác động khách

Trong quá trình tồn tại và phát triển, giai đoạn lựa chọn nghề đƣợc coi là một

quan tới sự lựa chọn trên mỗi cá nhân là nhiều ít khác nhau, song quyết định cuối

bộ phận, một mắt xích trong cấu trúc đời sống của con ngƣời. Khi xác định cho

cùng của quá trình lựa chọn nghề bao giờ cũng thuộc về một con ngƣời cụ thể.

mình một hƣớng đi, một vị trí hoạt động trong đời sống xã hội chính là lúc con


* Tính khách thể của quá trình lựa chọn nghề:

ngƣời ta lựa chọn nghề. Q trình lựa chọn nghề khơng phải là chốc lát, khơng phải

Khi nói đến q trình lựa chọn nghề là nói tới sự kết hợp giữa nhu cầu,

diễn ra chỉ một lần mà nó nảy sinh trong các mối quan hệ phức tạp: “Tôi và nghề

nguyện vọng cá nhân với yêu cầu do nghề nghiệp và xã hội đòi hỏi. Không phải

nghiệp”, “tôi và chức vụ”, “tôi và gia đình”, “tơi và lƣơng bổng”... Điều đó có nghĩa

bất cứ nguyện vọng nghề nghiệp nào của chủ thể lựa chọn cũng đƣợc xã hội chấp

là lựa chọn nghề đƣợc đặt trong một hệ thống các mối quan hệ giữa chủ thể (ngƣời

nhận. Trong xã hội mỗi cá nhân có một vị trí xác định, với vị trí đó, cá nhân vừa

lựa chọn) và những điều kiện khách quan có mối quan hệ trực tiếp đối với nghề

đƣợc hƣởng những quyền lợi đồng thời cũng cần có trách nhiệm đối với cộng đồng

nghiệp.

và xã hội.

Nếu nhƣ việc xem xét và lựa chọn nghề nghiệp của học sinh tách khỏi các

Mối quan hệ giữa quyền lợi và trách nhiệm trong lựa chọn nghề đƣợc biểu


dạng lựa chọn (các mối quan hệ) trong đặc trƣng của cuộc sống con ngƣời thì sẽ

hiện trong qua mối quan hệ giữa nguyện vọng cá nhân (tôi muốn) với đòi hỏi về số

dẫn tới sự hạn chế kết quả thực tế của các biện pháp hƣớng nghiệp, giới hạn khả

lƣợng và chất lƣợng mà nhu cầu nguồn nhân lực hoạt động trong các lĩnh vực nghề

năng điều khiển quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực cho đất nƣớc. [21]

nghiệp địi hỏi (tơi cần phải). Khi đó chủ thể của sự lựa chọn trở thành đối tƣợng

1.2.6. Khái niệm về KTTT và cơ chế thị trường:

của sự lựa chọn. Phần chính yếu phụ thuộc vào những gì có đƣợc nhờ vào hoạt

Theo đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Nhƣ ý (chủ biên), kinh tế thị trƣờng

động của chủ thể lựa chọn (tơi có thể).

là: “Giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá đƣợc quyết định bởi thị trƣờng,

* Tính mục đích của q trình lựa chọn nghề:

là sự hoạt động và mở rộng khách quan của quan hệ hàng - tiền và những qui luật

Lựa chọn nghề là một hoạt động có đối tƣợng. Đối tƣợng ở đây chính là

giá trị là đặc trƣng nhất”. [58]


những nghề mà học sinh sẽ chọn. Nghề đƣợc chọn trở thành mục đích hoạt động

Trong giáo trình kinh tế - chính trị Mác - Lênin có định nghĩa: “KTTT là mơ

của học sinh. Để đạt tới mục đích, học sinh cần phải hiểu rõ đối tƣợng (nghề). Sự

hình kinh tế mà ở đó các mối quan hệ kinh tế đều đƣợc thực hiện trên thị trƣờng

hiểu biết này càng cặn kẽ sâu sắc, đầy đủ bao nhiêu thì khả năng chiếm lĩnh nghề

thơng qua q trình trao đổi, mua bán. Quan hệ hàng hoá - tiền tệ phát triển đến

nghiệp càng nhanh chóng trở thành hiện thực bấy nhiêu. Một khi đã hiểu rõ nghề

một trình độ nhất định sẽ đạt đến KTTT. KTTT là giai đoạn phát triển của kinh tế

nghiệp, học sinh sẽ dần thiết lập đƣợc kế hoạch cụ thể, có những biện pháp,

hàng hố dựa trên cơ sở phát triển của lực lƣợng sản xuất”.[3, tr.254]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên







30

31

Theo từ điển điện tử bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia: “KTTT là nền kinh tế

tầng và nền kinh tế q lạc hậu, đời sống nhân dân cực kì khó khăn, nƣớc ta đƣợc

lấy khu vực kinh tế tƣ nhân làm chủ đạo. Những quyết định kinh tế đƣợc thực hiện

xếp vào một trong 20 nƣớc nghèo nhất thế giới. Đến nay, nhờ phát triển KTTT và

một cách phi tập trung bởi các cá nhân ngƣời tiêu dùng và công ty. Việc định giá

chủ trƣơng cơng nghiệp hố - hiện đại hố đất nƣớc, nƣớc ta đã có một vị thế cao

hàng hoá và phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế đƣợc cơ bản tiến hành theo qui

trên trƣờng quốc tế, là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và thế giới nhƣ

luật cung - cầu. Trái với KTTT là kinh tế kế hoạch hoá tập trung”[48].

ASEAN, WTO, Liên hợp quốc và mới đây nƣớc ta trở thành uỷ viên khơng thƣờng

Khi nói đến các qui luật của sản xuất hàng hố của KTTT thì trƣớc hết phải

trực của hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam đang là nƣớc đứng thứ 2 trên thế

nói đến cơ chế thị trƣờng. Theo các nhà kinh tế học thì cơ chế thị trƣờng là tổng


giới về xuất khẩu gạo, cà phê và hạt điều, đứng thứ tƣ về xuất khẩu cao su, thứ nhất

thể các nhân tố, quan hệ, môi trƣờng, động lực và qui luật chi phối sự vận động của

về xuất khẩu hạt tiêu, là một trong những nƣớc đứng đầu về xuất khẩu thuỷ sản và

thị trƣờng. Nói đến cơ chế thị trƣờng là nói đến một cơ chế tự vận động của thị

hàng may mặc và đang đƣợc đánh giá là một trong những nƣớc có tốc độ phát triển

trƣờng theo qui luật nội tại vốn có của nó mà nhà kinh tế học Anh thế kỷ XVIII A.

viễn thông và Internet nhanh nhất thế giới. Hệ thống giao thông đƣờng bộ, đƣờng

Smith đã hình dung nó nhƣ là “bàn tay vơ hình”, trong đó có một loạt các qui luật

thuỷ đƣợc xây dựng mới, nâng cấp và vƣơn tới mọi miền đất nƣớc với chất lƣợng

kinh tế cùng đồng thời vận động và quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là các qui luật:

tốt, tốc độ đơ thị hố đang diễn ra nhanh chóng, các khu vực cơng nghiệp mọc lên

Qui luật giá trị, qui luật cung - cầu, qui luật lưu thông tiền tệ, qui luật lợi nhuận,

ngày một nhiều trên khắp mọi miền đất nƣớc.

qui luật cạnh tranh. Sự vận động của các qui luật kinh tế này có tác động và ảnh
hƣởng mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội.[3], [49]

KTTT đã tạo ra sự năng động trong tất cả các thành phần kinh tế, trong đó có

kinh tế tƣ nhân, khắp nơi từ vùng núi, nông thôn tới thành thị khơng khí bn bán,

1.3. Sự tác động của nền KTTT đối với đời sống, xã hội nƣớc ta:

trao đổi hàng hố diễn ra sơi động. KTTT đã tạo điều kiện cho mỗi cá nhân, mỗi

1.3.1. KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, là một thành tựu

nhóm xã hội có thể bộc lộ hết khả năng, mặt mạnh, mặt yếu của mình trong cuộc

của nền văn minh nhân loại. KTTT xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội là

đua tranh nhằm giành đƣợc những lợi ích cao nhất cho mình, xác lập những vị thế

một tất yếu khách quan. Khi nói đến KTTT khơng có nghĩa là đồng nhất với chủ

xã hội và kinh tế tƣơng thích với địi hỏi của KTTT. Đây chính là động lực quan

nghĩa tƣ bản bởi vì nó là sản xuất chung của tồn nhân loại trong quá trình sản xuất

trọng của sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế trong thời đại ngày nay.

hàng hoá và phát triển xã hội. Cho đến nay hầu hết các nền kinh tế của các nƣớc trên

1.3.2. Bên cạnh những cái đƣợc, những mặt tích cực, những đóng góp to lớn

thế giới đều đã và đang phát triển theo KTTT (Tuy mỗi nƣớc có một mơ hình KTTT

của KTTT đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, KTTT cũng đã tạo ra


riêng phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội...) trong đó có Việt

những tác động tiêu cực (đặc biệt là trong thời kỳ quá độ lên nền KTTT hoàn chỉnh

Nam. Nền KTTT ở nƣớc ta đƣợc đánh dấu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng

nhƣ ở nƣớc ta hiện nay và thƣờng diễn ra ở các nƣớc đang phát triển), những ảnh

12/1986). Thực sự chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền KTTT.

hƣởng gây cản trở sự phát triển theo chiều hƣớng tích cực của nhiều mặt đời sống

Chỉ sau hơn 20 năm đổi mới, hơn 20 năm thực hiện nền KTTT, một thời gian
khá khiêm tốn so với các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng khác trên thế giới, bộ mặt

xã hội đang trở nên trầm trọng mà nƣớc ta cũng nhƣ nhiều nƣớc khác trên thế giới
đang phải đối mặt.

đất nƣớc ta có sự thay đổi nhanh chóng theo từng ngày, nhanh hơn bất cứ một giai

Trƣớc hết phải kể đến sự tác động của KTTT đến các giá trị đạo đức truyền

đoạn nào trong lịch sử. Từ một nƣớc bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh, cơ sở hạ

thống, những giá trị này là kết quả của sự kế thừa, phát triển có chọn lọc của dân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên







32

33

tộc trong suốt 4000 năm lịch sử. Các giá trị này thể hiện trong lối sống, quan hệ gia

KTTT cũng đã tạo ra lối sống hƣởng thụ trong nhiều gia đình cùng với nó là

đình dịng tộc, quan hệ làng xã, trong tình làng nghĩa xóm, các quan hệ giao tiếp

tâm lý tiêu dùng, với lối sống và tâm lý ấy, các giá trị vật chất đang ngày càng lấn

trong xã hội, lời ăn tiếng nói... Từ khi nền KTTT bắt đầu phát triển, đất nƣớc ta mở

át, các chuẩn mực đạo đức và phẩm cách con ngƣời, nhiều phong tục, nếp sống gia

cửa giao lƣu văn hoá, giao thƣơng kinh tế hồ nhập với thế giới. Sự phát triển

đình truyền thống và đạo lý cổ truyền bị mai một, xâm hại. Việc tiêu dùng phung

mạnh mẽ về kinh tế, khoa học kĩ thuật, giáo dục... thì đã thấy rõ nhƣng cũng từ đó

phí đƣợc coi là sự thành đạt của gia đình. Việc giáo dục con cái bị xao nhãng khi

trong xã hội xuất hiện những cách sống và lối sống xa lạ, trái với các chuẩn mực


cha mẹ mải lo kiếm tiền, coi nhu cầu của con cái kể cả nhu cầu tinh thần đều đƣợc

của xã hội bất chấp những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Một bộ phận

giải quyết bằng tiền đã khiến nhiều đứa trẻ sa ngã vào các tệ nạn xã hội hoặc phát

lớp trẻ hiện nay có xu hƣớng sống thực dụng, buông thả, sùng bái đồng tiền, sa đà

triển phiến diện về nhân cách. Tình trạng li hơn đặc biệt là ở các gia đình trẻ đang

vào các tệ nạn xã hội nhƣ nghiện hút, mua bán dâm, cờ bạc, tiêu sài phung phí...

ngày một tăng cao do cách sống ích kỷ, vơ trách nhiệm và bng thả của các thành

quay lƣng lại với văn hoá đạo đức truyền thống. Đã khơng ít trƣờng hợp vì đồng

viên. Theo nhiều nghiên cứu đã cho thấy, hiện nay trẻ em và trẻ vị thành niên có

tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trị, đồng chí, đồng

lối sống ích kỷ chỉ biết bản thân mình, nguyên nhân là do sự chiều chuộng quá

nghiệp, hàng xóm láng giềng. Đồng tiền đang trở thành giá trị, thành thƣớc đo

mức của cha mẹ, đáp ứng mọi đòi hỏi của chúng kể cả tiền bạc. Có đến 17,8% số

trong nhiều mối quan hệ xã hội, đồng tiền là điều kiện để giải quyết công việc và

thanh niên đƣợc điều tra đồng ý với việc có tiền là có tất cả. Quan niệm sai lệch


các vấn đề khác của cuộc sống, chính vì điều này đã góp phần và tạo điều kiện cho

này đã ảnh hƣởng rất lớn đến việc giáo dục những giá trị chân chính trong gia đình,

nạn tham nhũng tràn lan nhƣ hiện nay.

là nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng xung khắc, anh em bất hồ, con cái bỏ rơi

Tiếp theo, có thể kể đến sự tác động mạnh mẽ của KTTT đến đạo đức và nếp

cha mẹ già...[64]

sống gia đình - những tế bào của xã hội. Gia đình truyền thống Việt Nam xƣa vốn

Sự gia tăng khoảng cách giàu - nghèo trong xã hội đang trở nên trầm trọng, nó

là một gia đình hài hồ, trong cùng một mái nhà có cả ơng bà, cha mẹ, con cái, ba

tăng tỉ lệ thuận với sự thành công của nền KTTT. Trong bƣớc chuyển đổi, khởi đầu

thế hệ này cùng chung sống và bổ sung cho nhau những thiếu hụt của mỗi lớp tuổi

đi vào nền KTTT, điều kiện của các chủ thể sản xuất ln biến đổi, có những cơ

đời. Nay thì có nguy cơ tan vỡ, xu hƣớng thích ra ở riêng, sống độc lập ngay khi

may để phát triển hay tình huống sa sút, thất bại... Trong khi đó, do nhiều nguyên

xây dựng gia đình đã trở nên phổ biến. Mặt tốt cần đƣợc khẳng định của xu hƣớng


nhân khách quan và chủ quan khác nhau, vẫn còn một bộ phận dân cƣ khơng có

này là ý chí tự lập của mỗi ngƣời đƣợc đề cao, song ảnh hƣởng xấu của nó cũng

khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản, nhu cầu tối thiểu của con ngƣời, phải

không nhỏ, mỗi thành viên trong gia đình nhỏ ấy ln cố tìm cho mình một khơng

sống trong cảnh đói nghèo, đặc biệt là ở các vùng núi, vùng dân tộc, vùng thuần

gian riêng. Với cách sống đó, quyền tự do cá nhân đƣợc tôn trọng nhƣng mối quan

nông nghiệp. Họ không chỉ nghèo khổ về lƣơng thực, thực phẩm mà còn nghèo

hệ huyết thống dần bị phai nhạt. Bố mẹ, anh em, bà con họ hàng ít gặp nhau và cả

khổ trong việc hƣởng thụ các dịch vụ y tế, giáo dục văn hoá xã hội. Đồng thời là

năm cũng hầu nhƣ chỉ hỏi thăm xã giao nhau qua thƣ từ điện thoại. Với cha mẹ già

một bộ phận dân cƣ đặc biệt là ở thành thị và các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại

phần đông nam nữ thanh niên đều cho rằng chỉ cần đóng góp tiền để phụng dƣỡng là

giàu lên nhanh chóng và ngày một giàu có hơn tạo ra khoảng cách lớn về giàu -

kể nhƣ đã làm tròn bổn phận đạo làm con. Chữ hiếu đã đƣợc không ít ngƣời hiểu

nghèo trong xã hội. Sự gia tăng và phân hoá giàu, nghèo đã làm tăng những bất


một cách lạnh lùng nhƣ chính đồng tiền của họ.

bình đẳng và nhiều tệ nạn trong xã hội. [49],[50]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




34

35

Bên cạnh đó, nền KTTT cịn ảnh hƣởng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội khác

Thái độ học tập của thanh niên HS đƣợc thúc đẩy bởi động cơ học tập có cấu

nhƣ nạn lạm phát, nạn đầu cơ tích trữ các nhu, yếu phẩm của xã hội nhƣ xăng dầu,

trúc khác với lứa tuổi trƣớc. Lúc này có ý nghĩa nhất là động cơ thực tiễn (ý nghĩa

lƣơng thực gây ra sự biến động giá cả, bức xúc, lo lắng trong xã hội, các tệ nạn xã

thực tiễn của mơn học đối với cá nhân, có liên quan đến ngành nghề định chọn),


hội nhƣ ma tuý, mại dâm, cờ bạc đã len lỏi tới tận các xóm làng n bình nhất thậm

động cơ nhận thức, sau đó là ý nghĩa XH của môn học, rồi mới đến các động cơ cụ

chí là cả trƣờng học, các loại sách báo và văn hoá phẩm đồi truỵ tràn lan trên thị

thể khác.

trƣờng khơng thể kiểm sốt, nạn hàng giả, bằng cấp giả, nạn buôn bán phụ nữ, trẻ

Những thái độ học tập ở khơng ít HS có nhƣợc điểm là: một mặt các em rất

em qua biên giới, nạn nạo phá thai tăng cao ở tuổi vị thành niên, nạn ô nhiễm môi

tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã hoặc

trƣờng... Tất cả những điều đó, theo chúng tơi đều xuất phát từ một nguyên nhân cơ

định chọn, mặt khác các em lại sao nhãng các môn học khác hoặc học chỉ đạt điểm

bản đó là sự tiếp nhận, vận dụng, lợi dụng các tác động từ các qui luật của nền

trung bình, dẫn đến hiện tƣợng học lệch, học tủ, học chỉ vì mục đích thi cử.

KTTT một cách tiêu cực trên cơ sở là nhận thức sai lầm. Việc giải quyết những vấn

Thái độ học tập có ý thức đã thúc đẩy sự phát triển tính chủ định của các q uá

đề trên là một quá trình lâu dài và là trách nhiệm của toàn xã hội trong đó có giáo


trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân của thanh niên HS trong hoạt động

dục.

học tập cũng nhƣ việc lựa chọn nghề nghiệp cho tƣơng lai.
1.4. Những yếu tố ảnh hƣởng đến xu hƣớng lựa chọn nghề nghiệp của

1.4.1.2. Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ:
ở thanh niên HS THPT, tính chủ định đƣợc phát triển mạnh ở tất cả các quá

HS THPT
1.4. 1. Những đặc điểm cơ bản về tâm lý và nhân cách của HS THPT

trình nhận thức. Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao, ghi nhớ có chủ định

Lứa tuổi HS THPT đƣợc xác định là những học sinh đang học trong trƣờng

giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trị của ghi nhớ lơgic trừu

THPT có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi (ở đây chỉ đề cập đến đối tƣợng thanh niên HS

tƣợng và ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt.

trong trƣờng THPT). Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong các thời

Do cấu trúc và chức năng của não bộ phát triển cùng với sự phát triển của các

kỳ phát triển của trẻ em. Đây là giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện các cấu trúc

quá trình nhận thức và hoạt động học tập mà hoạt động tƣ duy của các em có sự


tâm lý, các phẩm chất nhân cách và thể chất, chuẩn bị cho các em bƣớc vào cuộc

thay đổi quan trọng, các em đã có khả năng tƣ duy lơgic, tƣ duy lý luận, tƣ duy

sống XH với tƣ cách nhƣ một con ngƣời trƣởng thành.

trừu tƣợng một cách độc lập, sáng tạo, tƣ duy có sự chặt chẽ có căn cứ và nhất

1.4.1.1. Đặc điểm hoạt động học tập:

quán hơn. Đồng thời tính phê phán của tƣ duy cũng phát triển. Những đặc điểm đó

Kinh nghiệm sống của HS THPT đã trở nên phong phú, các em đã ý thức

tạo điều kiện cho HS thực hiện các tƣ duy tốn học phức tạp, phân tích nội dung cơ

đƣợc rằng mình đang đứng trƣớc ngƣỡng cửa cuộc đời. Do vậy thái độ có ý thức

bản của khái niệm trừu tƣợng và nắm đƣợc các mối quan hệ nhân quả trong tự

đối với học tập ngày càng phát triển và trở nên có lựa chọn hơn đối với mỗi mơn

nhiên và xã hội... Đó là cơ sở để hình thành thế giới quan. Tuy nhiên nhiều khi các

học. ở các em, đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hƣớng

em chƣa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận

nghề nghiệp. Cuối bậc THPT các em đã xác định đƣợc cho mình một hứng thú ổn


vội vàng theo cảm tính. [22], [39], [43]

định với một mơn học nào đó, đối với một lĩnh vực tri thức nhất định. Hứng thú
này thƣờng liên quan với việc lựa chọn một nghề nhất định của HS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




36

37

Nhƣ vậy ở lứa tuổi này các em dễ mắc phải sai lầm trong việc lựa chọn nghề

gắng xây dựng quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đối với các vấn đề xã hội,

nghiệp, nhƣng nếu đƣợc định hƣớng một cách nghiêm túc, tƣ vấn một cách khoa

tƣ tƣởng chính trị, đạo đức. Chính nội dung các mơn học ở phổ thơng trung học

học thì hồn tồn có thể giúp các em lựa chọn đƣợc những nghề nghiệp phù hợp.

giúp các em xây dựng đƣợc thế giới quan tích cực về tự nhiên, xã hội.


1.4.1.3. Sự phát triển của tự ý thức (ý thức bản ngã):

Việc hình thành thế giới quan khơng chỉ giới hạn ở tính tích cực nhận thức mà

Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách

còn thể hiện ở phạm vi nội dung nữa. HS THPT quan tâm nhiều nhất đến các vấn

của HS THPT. Đăc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của lứa tuổi này là tự ý

đề liên quan đến con ngƣời, vai trò của con ngƣời trong lịch sử, quan hệ giữa con

thức xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động - địa vị mới mẻ trong tập thể,

ngƣời và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, nghĩa vụ và tình cảm. Vấn đề ý nghĩa

những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc các em phải ý thức đƣợc những

cuộc sống chiếm vị trí trung tâm trong suy nghĩ của HS THPT.

đặc điểm nhân cách của mình. Các em hay ghi nhật ký so sánh mình với nhân vật

Tuy vậy, một bộ phận học sinh chƣa đƣợc giáo dục đầy đủ về thế giới quan,

đƣợc coi là tấm gƣơng hay “thần tƣợng”. Nội dung của tự ý thức cũng khá phức

họ có những quan niệm lệch lạc về lối sống do chƣa chịu sự tác động từ mặt trái

tạp. Các em không chỉ nhận thức về cái tơi của mình trong hiện tại nhƣ tuổi thiếu


của thời mở cửa, hội nhập văn hoá với thế giới, mặt trái của cơ chế thị trƣờng... đã

niên mà cịn nhận thức về vị trí của mình trong XH, trong tƣơng lai (Tơi cần trở

khiến họ có lối sống không lành mạnh, đánh giá cao cuộc sống hƣởng thụ, sống

thành ngƣời nhƣ thế nào, cần làm gì để tốt hơn...)

gấp, sống lại, ham chơi hơn là học hành... Một bộ phận khác lại chƣa chú ý vấn đề

HS THPT khơng chỉ có nhu cầu đánh giá mà cịn có khả năng đánh giá sâu

xây dựng thế giới quan cho mình, sống thụ động.

sắc và tốt hơn tuổi thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của những

1.4.1.5. Đời sống tình cảm:

ngƣời cùng sống và của chính mình. Nhƣng nhận thức ngƣời khác bao giờ cũng đỡ

Đời sống tình cảm của HS THPT rất phong phú và nhiều vẻ, Đặc điểm đó

khó khăn hơn là nhận thức bản thân. HS THPT thƣờng dễ có xu hƣớng cƣờng điệu

đƣợc thể hiện rõ nhất trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi mà những hình

trong khi tự đánh giá. Hoặc là các em đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê

thức đối xử có lựa chọn đối với mọi ngƣời trở nên sâu sắc. ở lứa tuổ i này, nhu cầu


phán cái tiêu cực, hoặc là đánh giá quá cao nhân cách của mình - tỏ ra tự cao coi

về tình bạn tăng lên rõ rệt và sâu sắc hơn rất nhiều so với tuổi thiếu niên. Các em

thƣờng ngƣời khác. Tuy nhiên việc tự đánh giá trên cơ sở tự nhiên có mục đích là

có yêu cầu cao hơn đối với tình bạn (sự chân thật, lòng vị tha, tin tƣởng, hiểu biết

một dấu hiệu cần thiết của một nhân cách đang trƣởng thành, là tiền đề của sự tự

và tôn trọng nhau, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau...). Quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn

giáo dục có mục đích.

hơn hẳn so với quan hệ với ngƣời lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn. điều này do lịng

1.4.1.4. Sự hình thành thế giới quan:

khát khao muốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối. Tình bạn HS THPT rất

Lứa tuổi thanh niên mới lớn (HS THPT) là lứa tuổi quyết định của sự hình

bền vững nó có thể vƣợt qua mọi thử thách và có thể kéo dài suốt cuộc đời.

thành thế giới quan - hệ thống quan điểm về xã hội, về tự nhiên, các nguyên tắc và
qui tắc cƣ xử...

Quan hệ tình bạn khác giới ở lứa tuổi này cũng đã đƣợc tích cực hố một cách
rõ rệt, phạm vi quan hệ bạn bè đƣợc mở rộng, xuất hiện nhiều các nhóm pha trộn


Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú

(cả nam và nữ) bên cạnh những nhóm thuần nhất. ở một số em bắt đầu xuất hiện

nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những qui

“mối tình đầu”, đó là nhu cầu chân chính về tình u và tình cảm sâu sắc. Đó là

luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và sự tồn tại của xã hội loài ngƣời. Các em cố
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




38

39

một trạng thái mới mẻ, nhƣng rất tự nhiên trong đời sống tình cảm của lứa tuổi HS

- Những yếu tố bên trong, còn gọi là động cơ bên trong (yếu tố chủ quan)
nhƣ: hứng thú, nguyện vọng, khả năng học tập của họ.

THPT. [22], [39], [43]
1.4.1.6. Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT
Hoạt động lao động tập thể có vai trị to lớn trong sự hình thành nhân cách HS

THPT. Hoạt động lao động đƣợc tổ chức đúng đắn sẽ giúp các em hình thành tinh
thần tập thể, lịng u lao động, tôn trọng lao động, ngƣời lao động và thành quả
lao động, đặc biệt là có nhu cầu và nguyện vọng lao động.

- Những yếu tố bên ngồi cịn gọi là động cơ bên ngoài (yếu tố khách
quan) nhƣ: Dƣ luận xã hội, lời khuyên của những ngƣời thân, hƣớng nghiệp của
nhà trƣờng...
Ngồi ra khi chọn nghề, HS THPT cịn bị chi phối bởi những đặc điểm về giới tính,
sức khoẻ cùng với sự tác động của những điều kiện kinh tế xã hội của địa phƣơng.

Điều quan trọng là việc lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc khẩn

Khi đã có xu hƣớng và định hƣớng nghề nghiệp thì HS THPT tập trung cả

thiết của các em (đặc biệt là với học sinh lớp 12). Các em đang đứng trƣớc ngƣỡng

hứng thú và năng lực phù hợp vào nghề tƣơng lai của họ. Đây cũng là nguyên nhân

cửa cuộc đời tự lập, cho nên vấn đề tƣơng lai có một vị trí rất lớn lao trong suy

quan trọng dẫn đến tình trạng học sinh học tủ, học lệch nhƣ hiện nay.

nghĩ của họ. Cách nhìn về tƣơng lai của các em cũng rất lạc quan. HS THPT tỏ thái

Việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh trung học phổ thông biểu hiện sâu sắc

độ của họ với học tập, với lao động và hoạt động xã hội và coi những hoạt động ấy

nhân cách con ngƣời. Họ coi việc chọn nghề là một loại kết luận rút ra đƣợc từ


là sự chuẩn bị những điều kiện cần thiết để bƣớc vào cuộc sống, vào hoạt động

việc phân tích nhu cầu, khuynh hƣớng và năng lực của mình, từ đặc điểm chung

nghề nghiệp.

của nhân cách và đối chiếu đặc điểm đó với nghề dự định chọn. Điều này đặt ra

Do hoàn cảnh sắp bƣớc vào đời và đặc biệt là do thế giới quan và tâm lý phát
triển cho nên xu hƣớng nghề nghiệp của HS THPT hình thành rõ rệt, nhanh chóng

vấn đề tƣ vấn nghề nghiệp cho HS THPT là hết sức cần thiết. Sự khác biệt cá nhân
trong việc chọn nghề của mỗi học sinh biểu hiện ở các mặt:

và tƣơng đối ổn định. Họ coi đây là một vấn đề nghiêm túc trong cuộc đời. Đây

- Vị trí của nghề đƣợc chọn trong các nghề khác nhau.

chính là hồn cảnh khách quan, là cơ sở để thúc đẩy các hiện tƣợng tâm lý phát

- Tính kiên quyết trong việc chọn nghề

triển. Họ thƣờng xuyên suy nghĩ: Mình sẽ đi đâu, làm gì? và mình sẽ trở thành con
ngƣời nhƣ thế nào?...

- Động cơ của việc chọn nghề hay cơ sở của việc chọn nghề.
Trong thực tế HS THPT chọn nghề thƣờng thiên về các lĩnh vực địi hỏi

Khi lựa chọn nghề nghiệp, học sinh THPT có thuận lợi cơ bản là hoạt động


những tri thức mới, những nghề mới lạ, đƣợc xã hội chú ý đến nhiều. Đặc biệt là

học tập đã mang một ý nghĩa mới và nó quyết định xu hƣớng nghề nghiệp của họ.

các nghề trong lĩnh vực kinh tế, những nghề hoạt động sôi nổi, những nghề đang

Mặt khác trong nhà trƣờng THPT đã chú trọng nhiều đến hoạt động hƣớng nghiệp

đƣợc xã hội quan tâm...

cho HS. Các em đƣợc tiếp xúc với một hệ thống tác động tổng hợp của xã hội và

Trong q trình học sinh trung học phổ thơng hình thành xu hƣớng nghề

nhà trƣờng nhằm giúp họ việc chọn nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện

nghiệp, họ đã gặp phải rất nhiều khó khăn bởi những tác động tiêu cực từ mặt trái

vọng sở trƣờng của mình, vừa đáp ứng đƣợc nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản

của cơ chế thị trƣờng, do sự cản trở của dƣ luận xã hội... Do vậy họ rất cần đƣợc sự

xuất trong nền kinh tế quốc dân.

định hƣớng, sự tƣ vấn giúp đỡ thông qua giáo dục hƣớng nghiệp của nhà trƣờng để

Khi lựa chọn nghề nghiệp, HS THPT bị chi phối bởi nhiều yếu tố:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




có thể lựa chọn đƣợc nghề nghiệp phù hợp. [22], [43]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




40

41

Lựa chọn nghề nghiệp là một hiện tƣợng xã hội. Nhiều cơng trình nghiên cứu

hợp cha mẹ hiểu rõ năng lực, hứng thú của con, hiểu biết rõ về các ngành nghề

về sự lựa chọn nghề nghiệp cho thấy rằng, hiện tƣợng này rất phức tạp và luôn thay

trong xã hội... nên hƣớng cho con mình lựa chọn những nghề phù hợp. Mặt tiêu

đổi tuỳ thuộc vào những điều kiện xã hội, đặc biệt là những điều kiện kinh tế văn

cực là có một bộ phận khơng nhỏ các bậc phu huynh lại áp đặt con cái lựa chọn

hoá và giáo dục. Do đó, ở hai thời điểm khác nhau thƣờng khơng thấy sự giống

nghề nghiệp theo ý mình. Với suy nghĩ là cha mẹ phải có trách nhiệm với con cái

nhau trong xu hƣớng chọn nghề. Có những nghề hiện khơng đƣợc thế hệ trẻ thích


từ việc chọn nghề đến lúc tìm việc làm mà hầu nhƣ khơng tính đến hứng thú, năng

thú, nhƣng chỉ sau một vài năm, có khi chúng lại ở vị trí hàng đầu trong sự lựa

lực sở trƣờng của các em. Điều này đã dẫn đến việc lựa chọn nghề sai lầm của học

chọn nghề của học sinh. Ngay trong cùng một thời điểm, sự lựa chọn nghề ở địa

sinh, hình thành ở các em tính thụ động, ỷ lại vào cha mẹ. Và đây cũng là một

phƣơng này cũng không giống ở địa phƣơng kia.

trong số các nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiện tƣợng không thành đạt trong nghề,

Cần phải khẳng định rằng, không phải học sinh nào cũng chọn cho bản thân

chán nghề, bỏ nghề của các em sau này.

nghề mà mình u thích. Bởi vì việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh là một

Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Thực trạng thực hiện công tác

hiện tƣợng xã hội cho nên nó chịu sự tác động và chi phối đồng thời của nhiều yếu

giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT khu vực miền núi đông bắc Việt Nam”.

tố, các yếu tố cơ bản có thể kể đến là: gia đình học sinh, bạn bè, cơng tác hƣớng

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền đã chỉ ra rằng: Đa số học sinh đến nói rằng hình


nghiệp của nhà trƣờng, các phƣơng tiện thơng tin đại chúng, sở thích và hứng thú

thức giúp đỡ của cha mẹ và những ngƣời thân trong gia đình đối với việc lựa chọn

của cá nhân...

nghề của các em là định hƣớng phân tích, khuyên các em nên chọn nghề theo nghề

1.4.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS THPT

của cha mẹ, hoặc nghề sau khi học xong dễ xin đƣợc việc, có thu nhập cao. Ngồi

1.4.2.1. Yếu tố gia đình:

ra cha mẹ và ngƣời thân trong gia đình cịn giúp đỡ các em bằng cách tìm kiếm cho

Gia đình là yếu tố rất quan trọng đối với sự phát triển về mọi mặt của học sinh

các em những tài liệu, sách báo có liên quan đến nghề. Kết quả khảo sát cho thấy

trong đó có cả vấn đề định hƣớng, lựa chọn nghề nghiệp của các em. Trong gia

có 67,9% số HS lựa chọn nghề nghiệp cho mình do ảnh hƣởng của cha mẹ và

đình, cha mẹ là ngƣời luôn luôn gần gũi, hiểu rõ các em nhất nên cha mẹ có thể

ngƣời thân trong gia đình.[25]

biết đƣợc hứng thú, năng lực, sở thích của các em ra sao. Cha mẹ là những ngƣời


1.4.2.2. Yếu tố giáo dục hướng nghiệp của nhà trường:

đi truớc có nhiều kinh nghiệm thực tế, có sự hiểu biết về thế giới, nghề nghiệp

Về mặt lí luận, giáo dục hƣớng nghiệp trong nhà trƣờng phải đóng vai trị chủ

trong xã hội hơn các em. Vì vậy các em có sự ảnh hƣởng và tin tuởng rất lớn từ

đạo trong việc định hƣớng và lựa chọn nghề nghiệp của HS. Hƣớng nghiệp cho HS

cha mẹ trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân. Hơn nữa trong điều kiện xã

trong trƣờng phổ thông đƣợc thể hiện nhƣ là một hệ thống tác động sƣ phạm nhằm

hội hiện nay, vấn đề việc làm sau khi ra trƣờng (học nghề của học sinh) còn phụ

giúp cho các em lựa chọn đƣợc nghề nghiệp một cách hợp lý.

thuộc rất nhiều vào các mối quan hệ và khả năng tài chính của gia đình. Điều đó

Trong nhà trƣờng, giáo dục hƣớng nghiệp là một trong những hình thức hoạt

càng khẳng định vai trò quan trọng của gia đình đối với việc lựa chọn nghề nghiệp

động học tập của HS. Thông qua hoạt động này, mỗi HS phải lĩnh hội đƣợc những

của học sinh.

thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, nắm đƣợc hệ thống các yêu cầu của từng


Tuy nhiên, sự can thiệp, ảnh hƣởng quá lớn từ cha mẹ đến việc lựa chọn nghề

nghề cụ thể mà mình muốn chọn, phải có kĩ năng tự đối chiếu những phẩm chất,

nghiệp của học sinh sẽ có tác động hai mặt: Mặt tích cực, đối với những trƣờng

những đặc điểm tâm - sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






42

43

cho ngƣời lao động... Nhƣ vậy, thông qua việc tổ chức hoạt động giáo dục hƣớng

1.4.2.3. Yếu tố bạn bè:

nghiệp, nhà trƣờng sẽ giúp cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp một cách phù hợp

Mở rộng các mối quan hệ xã hội trong đó có quan hệ bạn bè là một đặc điểm


về nhu cầu, hứng thú, sở trƣờng, đặc điểm tâm - sinh lý của mỗi HS, đồng thời phù

tâm lý quan trọng của lứa tuổi HS THPT. Quan hệ bạn bè là một nhu cầu không

hợp với điều kiện của mỗi HS cũng nhƣ nhu cầu về nhân lực của xã hội đối với

thể thiếu và đƣợc các em rất coi trọng, bởi vì thơng qua mối quan hệ này các em có

nghề. Từ đó giúp điều tiết hợp lý việc chuẩn bị nguồn lực lao động cho xã hội, đáp

thể giải bày tâm sự, nguyện vọng, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, kể cả những điều

ứng tốt nhu cầu về nguồn nhân lực của đất nƣớc trong q trình CNH - HĐH. Từ đó

thầm kín, riêng tƣ những dự định về nghề nghiệp, về tƣơng lai. Trong mối quan hệ

có thể khẳng định, GDHN và tƣ vấn hƣớng nghiệp học đƣờng là không thể thiếu

này các em có thể tự khẳng định đƣợc khả năng, vị trí của mình, đƣợc giúp đỡ bạn

trong các hoạt động giáo dục ở trƣờng phổ thông. Là một trong các mặt giáo dục

bè. So với tình bạn của lứa tuổi HS THCS thì tình bạn của HS THPT có nhiều sự

phát triển tồn diện cho HS, hơn nữa nó cịn mang ý nghĩa kinh tế - XH rất lớn.

khác biệt, các em chọn bạn trên cơ sở của sự phù hợp về nhiều mặt và sự cân nhắc

Tuy nhiên trong thực tế, theo các chuyên gia thì giáo dục hƣớng nghiệp và tƣ


vì vậy, mối quan hệ này thƣờng khá bền chặt và tồn tại suốt cuộc đời các em.

vấn hƣớng nghiệp học đƣờng ở nƣớc ta hầu nhƣ đang bị bỏ ngỏ chƣa đƣợc quan

Chính vì vậy bạn bè cùng lớp, cùng trƣờng cũng là một yếu tố quan trọng ảnh

tâm đúng mức. Ngay chính bộ GD và ĐT cũng đang khuyết hẳn một bộ phận về tƣ

hƣởng đến sự lựa chọn nghề nghiệp của HS THPT. Trên cơ sở thực tế có nhiều HS

vấn giáo dục hƣớng nghiệp, ở trƣờng phổ thơng thì giáo viên làm cơng tác hƣớng

chọn nghề do lời khuyên của bạn bè, thấy các bạn chọn thì mình cũng chọn theo

nghiệp hầu hết là do giáo viên dạy các mơn văn hố kiêm nhiệm. Tính ra nếu mỗi

hoặc các em chơi thân với nhau rồi rủ nhau chọn cùng một nghề, thi chung một

trƣờng phổ thông cần 1 giáo viên chuyên làm công tác hƣớng nghiệp thì cả nƣớc

trƣờng... Hầu hết tất cả các cách chọn nghề do ảnh hƣởng từ bạn bè đều không

thiếu tới 10.000 ngƣời. Hoạt động dạy nghề, hƣớng nghiệp cho học sinh phổ thơng

mang lại hiệu quả, bởi vì đó chỉ là sự lựa chọn bị chi phối bởi cảm tính và khơng

cịn chƣa hợp lý cả về thời lƣợng và chất lƣợng hiện tại đang chỉ đạt 4% tổng

có sự đối chiếu so sánh giữa sở thích, điều kiện và năng lực của bản thân với các


chƣơng trình GD trong khi ở các quốc gia khác chiếm 7-8% chƣơng trình.[63]. Bộ

u cầu của nghề, hoặc do sự hào nhống bề ngoài của nghề, do “bệnh” thần

GD và ĐT cũng đã quy định về nội dung, chƣơng trình dạy nghề hƣớng nghiệp

tƣợng, chạy theo số đông. Theo số lƣợng điều tra có tới 52,33% số HS lựa chọn

cũng nhƣ số tiết cụ thể nhƣng việc tiến hành chỉ mang tính hình thức thậm chí

nghề nghiệp do ảnh hƣởng từ bạn bè. [25]

khơng có trong chƣơng trình đào tạo ở một số trƣờng, HS khơng đƣợc tƣ vấn nghề
theo những gì mà các em cần để có cơ sở lựa chọn nghề cho mình mà chỉ ngồi
trong lớp mong sớm hết giờ học, giờ sinh hoạt hƣớng nghiệp vốn đã quá ít ỏi.

1.4.2.4. Yếu tố các phương tiện thông tin đại chúng và các tổ chức XH:
Trong thời đại bùng nổ của thông tin và các phƣơng tiện thông tin đại chúng
nhƣ hiện nay đã tác động không nhỏ tới việc lựa chọn nghề nghiệp của HS. Với sự

Từ những thực tế nêu trên, việc lựa chọn nghề nghiệp của HS do có sự hƣớng

hỗ trợ của sách, báo, phim ảnh, truyền hình đặc biệt là kho thơng tin khổng lồ -

nghiệp của nhà trƣờng là khơng đáng kể. Bởi vì hoạt động GDHN trong nhà

mạng Internet, các em dễ dàng nắm bắt, tiếp thu các thông tin đa dạng về mọi mặt

trƣờng phổ thông hiện nay chƣa đủ sức thuyết phục hoặc chƣa thể làm thoả mãn


của các lĩnh vực đời sống XH. Tuy nhiên, dù đa dạng đến mức nào thì đây cũng là

nhu cầu về tƣ vấn nghề, lựa chọn nghề của HS. Tức là GDHN trong nhà trƣờng

những dạng thơng tin một chiều, ít có cơ hội để các em trao đổi và nhận đƣợc sự tƣ

chƣa thực sự phát huy đƣợc vai trò và nhiệm vụ của mình.

vấn cần thiết đặc biệt là trong vấn đề tƣ vấn hƣớng nghiệp. Tuy nhiên cũng cần
đƣợc phải khẳng định rằng trong điều kiện giáo dục hƣớng nghiệp trong các nhà

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




44

45

trƣờng và gia đình đang có nhiều bất cập nhƣ hiện nay thì các phƣơng tiện thơng

hiện nay đã có sự năng động, chủ động và thực dụng hơn trong việc lựa chọn nghề

tin đại chúng giữ vai trò quan trọng, đã phần nào cung cấp cho HS các thông tin về


nghiệp cho mình, nguyện vọng cá nhân thƣờng đƣợc các em đề cao do sự tự tin

nghề nghiệp trong XH, các yêu cầu của nghề... giúp cho HS tự định hƣớng trong

vào quyết định của bản thân. Hơn nữa, gia đình ln mong muốn con cái đỗ đạt

việc lựa chọn nghề nghiệp. Theo số liệu điều tra đƣợc, có tới 55,19% số HS lựa

cao, dễ thành đạt, thu nhập cao, có địa vị cao trong xã hội cho nên có những định

chọn nghề nghiệp do ảnh hƣởng từ các phƣơng tiện thơng tin đại chúng [25], điều

hƣớng mang tính chủ quan của cha mẹ. Những điều này vơ tình đã tạo ra sự lựa

này đã nói lên sự ảnh hƣởng mạnh mẽ của thông tin đại chúng đối với việc lựa

chọn nghề nghiệp không phù hợp của học sinh và sự mất cân bằng của cơ cấu

chọn nghề nghiệp của HS.

nguồn lực lao động trong XH. Những ngành nghề đang đƣợc xã hội quan tâm, dễ

Bên cạnh đó các tổ chức khác nhƣ: hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến

xin việc làm hoặc có thu nhập cao đang thu hút sự chú ý của học sinh, một số

binh, các trung tâm tƣ vấn... có tác động đáng kể đến việc lựa chọn nghề nghiệp

ngành trƣớc đây từng có tỷ lệ học sinh lựa chọn cao nhƣ sƣ phạm, nông, lâm


của HS ở địa phƣơng, đặc biệt là ở các địa phƣơng có nghề truyền thống. Các tổ

nghiệp, y, dƣợc… thì hiện nay tỉ lệ đó giảm rất nhiều, thay vào đó là những ngành

chức xã hội này đóng vai trị là tƣ vấn, cung cấp cho các em thông tin về nghề, các

nhƣ kinh tế, quản trị kinh doanh, kế toán, ngoại thƣơng, thƣơng mại, ngân hàng…

yêu cầu của nghề, hỗ trợ học nghề và việc làm...Theo số liệu điều tra đƣợc thì có

Tuy nhiên, cũng xuất phát từ xu hƣớng thực dụng, HS chủ động hơn trong chọn

13,46% số HS lựa chọn nghề nghiệp do có sự tác động của các tổ chức xã hội. [25]

nghề, đồng thời thu nhập và vị thế của ngƣời lao động trong các lĩnh vực nghề

Tuy nhiên, trên các phƣơng tiện thơng tin đại chúng gần đây (truyền hình, báo

nghiệp hiện nay ngày càng đƣợc Nhà nƣớc quan tâm và nâng cao. Vì vậy, những

chí...) cũng đã có các chƣơng trình về hƣớng nghiệp và tƣ vấn mùa thi tuy nhiên

năm gần đây tỉ lệ thí sinh thi vào các trƣờng THCN và dạy nghề bắt đầu tăng lên,

nội dung vẫn chủ yếu xoay quanh việc giải đáp các thắc mắc của HS khi đi thi, làm

xu hƣớng lựa chọn con đƣờng xuất khẩu lao động cũng đang đƣợc nhiều HS chú ý.

bài thi... Hàng năm bộ GD và ĐT xuất bản cuốn sách hƣớng dẫn tuyển sinh khá chi


Đây cũng chính là tác động có tính điều tiết các nguồn lực lao động trong nền

tiết nhƣng nội dung cũng chỉ đề cập đến việc giới thiệu trƣờng, mã trƣờng, môn

KTTT hiện nay. Vấn đề học sinh lựa chọn nghề nghiệp trong nền KTTT không hề

thi, chỉ tiêu tuyển sinh, địa điểm trƣờng... mà thiếu hẳn phần giới thiệu sâu về các

đơn giản và đang cần đƣợc nghiên cứu một cách tổng thể và có hệ thống.

trƣờng, các ngành học, các đặc điểm, yêu cầu của ngành đó đối với ngƣời học, và
nhiều thông tin cần thiết khác nhƣ hƣớng dẫn các em nên học trƣờng nào, ngành

1.4.3. Một số nguyên nhân dẫn đến sự sai lầm trong việc lựa chọn nghề
nghiệp của HS THPT

nghề gì là phù hợp với khả năng và điều kiện của mỗi HS, thiếu các trắc nghiệm

Học sinh THPT nói chung và HS lớp 12 nói riêng là lứa tuổi bắt đầu bƣớc vào

(test) khách quan giúp HS bƣớc đầu tìm ra sự phù hợp của bản thân với những

ngƣỡng cửa cuộc đời, khác với HS THCS, thanh niên HS có sự chuẩn bị về tâm thế

ngành nghề mà các em đang lựa chọn.

nên các em chín chắn hơn khi quyết định kế hoạch đƣờng đời của mình. Tuy nhiên

1.4.2.5. Sự tác động của nền KTTT đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của HS THPT:


trong thực tế, việc chọn nghề không hề đơn giản chút nào bởi vì ngành nghề trong

Nhƣ đã nói, KTTT là một phạm trù xã hội, một hiện tƣợng xã hội do vậy nó

xã hội rất phong phú, mỗi nghề có những đặc điểm riêng, yêu cầu riêng... Hơn nữa,

có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả các hiện tƣợng xã hội khác trong

việc lựa chọn nghề của các em bị ảnh hƣởng của nhiều yếu tố cả chủ quan và

đó có vấn đề lựa chọn nghề nghiệp tƣơng lai của thanh niên, học sinh. Do sự tác

khách quan từ nền KTTT đang ngày càng phát triển. Vì vậy, câu hỏi: “làm gì sau

động của sự phát triển kinh tế xã hội, học sinh THPT, đặc biệt là học sinh lớp 12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




46

47

khi tốt nghiệp THPT?, chọn nghề gì?...” khiến nhiều HS lúng túng khơng tìm đƣợc


thể nói đến sự cao sang hay thấp hèn đƣợc, đặc biệt là trong điều kiện của nền kinh

câu trả lời.

tế thị trƣờng hiện nay.

Thực tế cho thấy, khơng phải bao giờ HS cũng có thể giải quyết đúng đắn vấn

- Dựa dẫm vào ý kiến của ngƣời khác, không độc lập quyết định việc chọn

đề chọn nghề của mình. Theo E.A Klimốp thì có thể có 2 ngun nhân chính dẫn

nghề. Vì thế đã có rất nhiều HS lựa chọn nghề theo ý muốn của cha mẹ, theo ý

đến sự lựa chọn nghề nghiệp không phù hợp của HS:

thích của ngƣời lớn theo lời rủ rê của bạn bè. Cách chọn nghề này đã dẫn đến

* Thứ nhất: Do cá nhân HS có thái độ khơng đúng đắn với các tình

nhiều trƣờng hợp chán nghề vì khơng phù hợp.

huống khác nhau của việc lựa chọn nghề (đối với lĩnh vực hoạt động và sự khuyên

- Bị hấp dẫn bởi vẻ bề ngoài của nghề, thiếu hiểu biết nội dung lao động của

bảo của ngƣời đi trƣớc...). Những thành kiến và và tiếng tăm nghề nghiệp do ảnh

nghề đó. Ví dụ, nhiều HS thích đi đây đi đó nên đã chọn nghề thăm dị địa chất.


hƣởng trực tiếp hay gián tiếp của những ngƣời khuyên bảo, sự u thích nghề...

Khi vào nghề, thấy cơng việc của mình gắn bó với rừng núi, quanh năm phải tiến

mới chỉ là bề ngồi, cảm tính. Cá nhân chƣa thực sự hiểu đƣợc nghề đó.

hành cơng việc khảo sát, ít có dịp tiếp xúc với cuộc sống thành thị, thiếu điều kiện

* Thứ hai: Cá nhân thiếu tri thức, kinh nghiệm về những tình huống đó

để giao lƣu văn hố và khoa học, do đó đã tỏ ra chán nghề.

có thể do sự đồng nhất môn học với nghề, không thể hiểu hết năng lực của bản

- Cho rằng đạt thành tích cao trong việc học tập một mơn văn hố nào đó là

thân, khơng biết hoặc khơng đánh giá đầy đủ những đặc điểm phẩm chất cá nhân,

làm đƣợc nghề cần đến tri thức của mơn đó. Ví dụ, có ngƣời học giỏi mơn văn đã

khơng hiểu đƣợc đặc điểm và yêu cầu của nghề đòi hỏi với ngƣời lao động, thao

chọn nghề làm phóng viên báo chí. Đúng là nghề này cần đến những ngƣời viết

tác và trình tự của chúng khi giải quyết vấn đề chọn nghề. [28]

văn hay, diễn đạt tƣ tƣởng rành mạch. Song nếu không nhanh nhẹn, tháo vát, năng

Theo GS.TS Phạm Tất Dong, có hai loại nguyên nhân dẫn đến việc chọn


động dám xơng xáo... thì khơng thể theo đuổi nghề này đƣợc. Sai lầm ở đây là do

nghề khơng tính đến những dấu hiệu của sự phù hợp nghề. Loại nguyên nhân thứ

không thấy rằng, năng lực đối với một số môn học chỉ là điều kiện cần, chứ chƣa là

nhất thuộc “thái độ khơng đúng” cịn loại ngun nhân thứ hai do “thiếu hiểu biết

điều kiện đủ để theo đuổi nghề mình thích.

về các nghề”. Một số ngun nhân cụ thể là:

- Có quan niệm “tĩnh” về tính chất, nội dung lao động nghề nghiệp trong các

- Cho rằng nghề thợ thì thấp kém hơn kỹ sƣ, giáo viên mầm non, tiểu học thì

lĩnh vực sản xuất, quên mất những tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học

thua kém giáo viên THPT... Một số HS đã coi nhẹ công việc của ngƣời thợ, của

cơng nghệ ngày nay. Vì vậy, có HS cho rằng, học xong cấp I là đủ kiến thức để xin

thầy giáo cấp I, của cô y tá, chỉ trọng công việc của kĩ sƣ, của thầy giáo dạy ở bậc

vào học nghề tại các trƣờng dạy nghề. Có HS lại nghĩ, với vốn liếng kiến thức lớp

trung học, đại học, của bác sĩ... vì thế mà chỉ định hƣớng vào những nghề có sự

12, mình học ở trƣờng nghề nào chẳng đƣợc. Thực ra, nghề nghiệp luôn thay đổi


chuẩn bị ở bậc Đại học.

nội dung, phƣơng pháp, tính chất lao động của nó. Ngƣời lao động khơng luôn

- Thành kiến với một số nghề trong xã hội, chẳng hạn, coi lao động chân tay
là nghề thấp kém, chê nhiều công việc dịch vụ là không “thanh lịch”... Thƣờng

ln học hỏi, trau dồi năng lực làm việc thì khó có thể đáp ứng với yêu cầu về
năng suất và hiệu quả lao động.

thƣờng, những học sinh này không thấy hết ý nghĩa của yếu tố lao động nghề

- Không đánh giá đúng năng lực lao động của bản thân nên lúng túng trong

nghiệp, đóng góp của nghề đối với XH. Đã là nghề đƣợc XH thừa nhận thì khơng

khi chọn nghề. Do đó, có 2 tình trạng thƣờng gặp: hoặc đánh giá quá cao năng lực
của mình, hoặc đánh giá không đúng mức và không tin vào bản thân. cả hai trƣờng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




48


49

hợp đều dẫn đến hậu quả không hay. Nếu đánh giá quá cao khi vào nghề sẽ vấp

Chƣơng 2

phải tình trạng chủ quan ban đầu, thất vọng lúc cuối, còn nếu đánh giá quá thấp,

THỰC TRẠNG XU HƢỚNG LỰA CHỌN
NGHỀ NGHIỆP CỦA HS LỚP 12 TRƢỜNG THP T
DƢỚI ẢNH HƢỞNG CỦA NỀN KTTT

chúng ta sẽ không dám chọn những nghề mà đáng ra là nên chọn.
- Thiếu sự hiểu biết về thể lực và sức khoẻ của bản thân lại khơng có đầy đủ
thơng tin về những chống chỉ định y học trong các nghề. Điều này càng dễ gây nên

2.1. Vài nét về khách thể điều tra:

những tác hại lớn. Ngƣời yếu tim lại chọn nghề nuôi dạy trẻ, ngƣời hay viêm họng

Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi nằm ở cửa ngõ phía tây bắc của thủ đô

và viêm phổi lại định hƣớng vào nghề dạy học, ngƣời có bệnh ngồi da lại đi vào

Hà Nội. Với vị trí địa lý và giao thơng thuận lợi cả về đƣờng thuỷ, đƣờng bộ, đƣờng

nghề “dầu mỡ”...[8]

sắt, trong những năm vừa qua, nền kinh tế, xã hội của Phú Thọ đã có nhiều sự phát


Có quan điểm lại cho rằng khi chọn nghề, con ngƣời thƣờng mắc phải 3 loại
sai lầm cơ bản sau:

triển đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên so với mặt
bằng chung các tỉnh trong nƣớc thì Phú Thọ vẫn là một trong những tỉnh nghèo, điều

- Nhầm lẫn giữa cái mình giỏi với cái mình thích

kiện để phát triển giáo dục còn hạn chế, kinh tế cịn gặp nhiều khó khăn và phát triển

- Nhầm lẫn giữa sở thích và sự nghiệp

khơng đồng đều giữa 3 vùng: miền núi, trung du và đồng bằng.

- Nhầm lẫn giữa một phần và tồn bộ cơng việc. [68]

Chúng tơi đã lựa chọn khách thể điều tra của đề tài là HS lớp 12 trong các
trƣờng THPT của tỉnh Phú Thọ. Các em là những HS đang chuẩn bị thi kì thi tốt
nghiệp THPT và cũng đang trong giai đoạn lựa chọn, chuẩn bị nghề nghiệp cho
tƣơng lai. Mỗi vùng địa lý trong tỉnh chúng tôi chọn một trƣờng THPT, mỗi trƣờng
lại chọn ngẫu nhiên 200 HS lớp 12, 50 cha mẹ HS và các giáo viên chủ nhiệm
kiêm nhiệm công tác hƣớng nghiệp để điều tra, cụ thể nhƣ sau:
- Trƣờng THPT Hạ Hoà huyện Hạ Hoà, đại diện cho khu vực miền núi: Gồm
200 HS lớp 12, 13 giáo viên, 50 cha mẹ HS. HS lớp 12 trƣờng THPT Hạ Hồ chủ
yếu là con em các gia đình làm nơng nghiệp cho nên điều kiện và hồn cảnh kinh
tế cịn nhiều khó khăn, việc đầu tƣ cho học tập còn hạn chế, chất lƣợng học tập
chƣa cao.
- Trƣờng THPT Hùng Vƣơng thị xã Phú Thọ, đại điện cho vùng trung du của
tỉnh: Gồm 200 HS lớp 12, 13 giáo viên, 50 cha mẹ HS. HS lớp 12 trƣờng THPT
Hùng Vƣơng có sự tƣơng đối đồng đều ở 3 thành phần gia đình là cán bộ cơng

chức nhà nƣớc, kinh doanh buôn bán và làm ruộng. Chất lƣợng học tập của học
sinh khá đồng đều, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp và đại học cao và hàng năm đều tăng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




×