Tải bản đầy đủ (.doc) (69 trang)

THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH KHU VỰC LẠNG SƠN BẰNG PHẦN MỀM GEOSOFT (Đồ án, số liệu, bảng biểu, bản đồ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (968.2 KB, 69 trang )

Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp
MỤC LỤC

Sv: Nguyễn Văn Phúc

Lớp: Trắc Địa A – K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp
MỞ ĐẦU

Bản đồ có vai trị rất quan trọng và là tài liệu cơ bản không thể thiếu trong
nghiên cứu khoa học, trong các ngành kinh tế quốc dân và quốc phịng. Nó là cơ
sở, là cơng cụ, là kết quả trong việc thiết kế, quy hoạch các lĩnh vực của đất
nước.
Theo mức độ đầy đủ của nội dung và mức độ chi tiết của các đặc trưng
cho các đối tượng và hiện tượng được biểu thị thì bản đồ địa hình thuộc nhóm
bản đồ tra cứu. Tuy nhiên bản đồ địa hình lại có sự khác biệt so với các loại bản
đồ khác là được thành lập theo các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất (tiêu chuẩn
ngành) đó là hệ thống các quy phạm quy định kỹ thuật và các mẫu ký hiệu
chuẩn.
Có rất nhiều phương pháp để thành lập bản đồ địa hình như: đo vẽ trực
tiếp ngồi thực địa, đo vẽ bằng phương pháp đo ảnh, biên tập bản đồ tờ bản đồ
có tỷ lệ lớn hơn. Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm khác nhau.
Phương pháp đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa cho độ chính xác cao nhưng lại vất
vả tốn thời gian và công sức. Phương pháp đo ảnh là phương pháp mới, có độ
chính xác khá cao và cơng việc khơng vất vả như đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa.


Phương pháp thành lập bản đồ từ bản đồ tỷ lệ lớn hơn lại có độ chính xác khơng
cao.
Khi thành lập bản đồ địa hình bằng phương pháp đo vẽ ngồi thực địa có
ba phương pháp: phương pháp tồn đạc, phương pháp đo GPS động, phương
pháp bàn đạc. Ngày nay, các ứng dụng của công nghệ điện tử - tin học cũng
đang được sử dụng rộng rãi trong cả công tác ngoại nghiệp lẫn nội nghiệp bằng
cách thay thế các công cụ đo vẽ cũ bằng các thiết bị mới với công nghệ tiên tiến
như: các máy toàn đạc điện tử độ chính xác cao, máy vi tính và các phần mềm
tiện ích và cơng nghệ GPS… các máy móc và phần mềm tiện ích đó đã và đang
dần dần thay thế các loại máy quang học cũ và phương pháp đo đạc cổ truyền
với độ chính xác khơng cao mà năng suất lao động lại thấp. Trong công tác
Sv: Nguyễn Văn Phúc

1

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

thành lập bản đồ địa hình, số liệu sau khi đo xong được xử lý và chạy trên các
phần mềm để thành lập bản đồ.
Trong giai đoạn hiện nay việc thực hiện chiến lược cơng nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước của Đảng ta đề ra ngày càng được đẩy mạnh trong phạm
vi tồn quốc. Theo đó các u cầu địi hỏi về bản đồ địa hình để phục vụ công
tác khảo sát, thiết kế, quy hoạch là rất cần thiết, đặc biệt là các vùng kinh tế
trọng điểm, các khu cơng nghiệp, khu cơng trình đầu mối thủy lợi, thủy
điện.v.v.. và để đáp ứng yêu cầu thực tế cùng với sự mong muốn tìm hiểu sâu

hơn về sản xuất bản đồ địa hình bằng các phần mềm chuyên dụng. Nên em đã
thực hiện đề tài với nội dung:


.

Nội dung của đề tài được trình bày bao gồm 4 chương:
Chương I: Khái quát về bản đồ địa hình và các phương pháp thành lập
bản đồ địa hình.
Chương II: Giới thiệu về máy toàn đạc điện tử Topcon GTS 220N và
phần mềm Geosoft.
Chương III: Thực nghiệm.
Trong quá trình thực tập và làm đồ án tốt nghiệp, em luôn nhận được sự
giúp đỡ tận tình của các thầy cơ giáo trong bộ mơn đặc biệt là thầy giáo TS.
Đinh Cơng Hịa cùng với sự cộng tác của các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ em
hoàn thành bản đồ án này. Mặc dù đã cố gắng nỗ lực tìm tịi học hỏi, tuy nhiên
do khả năng và trình độ có hạn nên đồ án khơng thể tránh khỏi thiếu xót. Vì vậy
em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng
nghiệp để bản đồ án và bản đồ thực nghiệm được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sv: Nguyễn Văn Phúc

2

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất


Đồ án tốt nghiệp
CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT VỀ BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THÀNH
LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
I.1. Khái quát về bản đồ địa hình
I.1.1. Khái niệm về bản đồ địa hình
Cơng tác đo vẽ bản đồ địa hình là một nhu cầu thiết yếu và nó đóng góp
một vai trị hết sức quan trọng trong ngành trắc địa bản đồ và các ngành khác có
liên quan. Bản đồ địa hình khơng những có vai trị quan trọng trong đời sống xã
hội, phục vụ cho sản xuất, nghiên cứu khoa học và an ninh quốc phịng mà nó
cịn cơ sở dựa vào đó để thành lập các bản đồ chuyên đề.
Bản đồ địa hình là bản đồ thu nhỏ của bề mặt trái đất theo những quy luật
toán học nhất định. Các yếu tố nội dung được thể hiện bằng ngôn ngữ bản đồ và
đã thơng qua một q trình tổng qt hóa nhằm phản ánh sự phân bố các tính
chất, các mối quan hệ, sự biến đổi các đối tượng và các hiện tượng tự nhiên,
kinh tế xã hội phù hợp với mục đích sử dụng đề tài, tỷ lệ bản đồ và các đặc điểm
địa lý lãnh thổ.
Bản đồ địa hình thuộc loại bản đồ địa lý chung. Nội dung bản đồ địa hình
bao gồm các yếu tố sau: thủy hệ, đường giao thông, dáng đất, lớp phủ thực vật,
thổ nhưỡng.v.v… tùy theo mức độ đầy đủ của nội dung mà mức độ tỉ mỉ, chi tiết
của các đặc trưng cho các đối tượng và hiện tượng được biểu thị bản đồ địa hình
thuộc nhóm bản đồ trang trí.
Bản đồ địa hình có vai trị rất lớn trong thực tế sản xuất, trong nghiên cứu
khoa học và trong nghiên cứu quân sự, các bản đồ địa hình là các tài liệu cơ bản
dùng để thành lập bản đồ tỷ lệ bé hơn.
Phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ mà mức độ sử dụng chúng khác nhau.
Để giải quyết một công tác thiết kế, khảo sát nào đó về tổ chức kinh tế
hoặc bảo vệ đất nước, người ta dùng một bộ bản đồ ở các tỷ lệ khác nhau của
từng lãnh thổ khác nhau. Vì vậy yêu cầu nội dung của bản đồ địa hình ở các tỷ

lệ khác nhau phải phù hợp với nhau.
Sv: Nguyễn Văn Phúc

3

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

I.1.2. Phân loại và chia mảnh bản đồ địa hình
I.1.2.1. Phân loại theo tỷ lệ
Bản đồ tỷ lệ lớn thành lập trên mặt phẳng chiếu hình Gauss Elipxoid
Kraopxki hoặc UTM theo hệ tọa độ nhà nước 1972 hoặc VN- 2000. Bản đồ địa
hình các loại tỷ lệ 1:500, 1:1000; 1:2000; 1:5000 là hệ thống bản đồ tỷ lệ lớn.
Bản đồ tỷ lệ nhỏ (1: 100.000; 1:200.000; 1:500.000; 1:10.000). Nhóm bản
đồ này được thành lập chủ yếu có ý nghĩa trong việc nghiên cứu lãnh thổ và
vùng lãnh thổ toàn quốc để tìm hiểu các đặc trưng về địa lý tổng hợp các quy
luật địa lý lớn, hoặc nhằm giải quyết các vấn đề để tính tốn chiến lược.
Bản đồ tỷ lệ trung bình và vừa (1:10.000; 1:25.000; 1:50.000).
Nhóm này được thành lập theo những yêu cầu cụ thể của mỗi ngành hoặc
cho thiết kế những cơng trình cụ thể.
I.1.2.2 Phân loại theo mục đích sử dụng
Theo mục đích sử dụng có thể phân loại bản đồ địa hình thành 3 loại:
- Bản đồ địa hình cơ bản.
- Bản đồ địa hình chuyên dụng.
- Bản đồ nền địa hình.
2.1. Bản đồ địa hình cơ bản

I.1.2.2.1. Bản đồ địa hình cơ bản.
- Là loại bản đồ phản ánh các yếu tố địa hình địa vật trên bề mặt lãnh thổ
ở thời điểm đo vẽ với độ chính xác, độ tin cậy cao, với mức độ chi tiết và tương
đối đồng đều.
- Các bản đồ loại này có khả năng đáp ứng mục đích sử dụng cơ bản của
nhiều ngành kinh tế quốc dân, quốc phòng, nghiên cứu khoa học và nhiều mặt
hoạt động khác. Việc thành lập bản đồ địa hình cơ bản có thể do từng ngành
hoặc từng địa phương thực hiện trên một khu vực nào đó, xuất phát từ kế hoạch,
nhiệm vụ của riêng họ và đều tuân theo một tiêu chuẩn chung về kỹ thuật (quy
trình, quy phạm và hệ thống các ký hiệu). Bản đồ địa hình cơ bản hay cịn gọi là
bản đồ địa hình Nhà nước có đặc điểm chính sau:
- Vẽ theo từng mảng độc lập, tuân theo một bố cục thống nhất.
Sv: Nguyễn Văn Phúc

4

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

- Tuân theo các quy định về độ chính xác, mức độ phản ánh nội dung,
phương pháp trình bầy và quy trình cơng nghệ.
- Trên bản đồ thể hiện đầy đủ các yếu tố địa lý và kinh tế xã hội cơ bản
của khu vực: Điểm khống chế trắc địa, dân cư, các đối tượng kinh tế văn hoá xã
hội, hệ thống các đường giao thông và các đối tượng liên quan, dáng đất và chất
đất, thực vật, ranh giới tường rào, ghi chú.
- Là cơ sở để thành lập các bản đồ địa hình tỷ lệ nhỏ hơn, các bản đồ địa

hình chuyên dụng, các bản đồ địa hình kỹ thuật, các bản đồ chun đề, đo đạc
hình thái, tính tốn các chỉ tiêu thống kê.
I.1.2.2.2. Bản đồ địa hình chuyên dụng.
Là loại bản đồ thành lập để giải quyết mục đích cụ thể của một hay nhiều
ngành. Trên bản đồ ưu tiên phản ánh các đối tượng cần thiết cho mục đích
chuyên dụng và ngược lại phản ánh sơ sài hơn những phân tử ít có tác dụng sử
dụng, có thể kể đến là các loại:
- Bản đồ tỷ lệ 1:10 000, 1:25 000 phục vụ điều tra quy hoạch rừng.
- Bản đồ địa hình phục vụ quy hoạch đồng ruộng tỷ lệ 1: 2 000, 1:5 000.
- Bản đồ địa hình xí nghiệp nơng lâm nghiệp tỷ lệ 1: 5 000, 1 : 15 000,1 :
25 000
I.1.2.2.3. Bản đồ nền địa hình.
Là loại bản đồ đã được lược bớt đi một số đặc điểm tính chất của các yếu
tố địa hình, địa vật nhằm làm giảm nhẹ trọng tải của bản đồ, có thể coi là bản đồ
địa hình đã được đơn giản hố. Về hình thức trình bày bản đồ nền địa hình vẫn
giữ nguyên hệ thống ký hiệu của bản đồ địa hình cơ bản, nhưng có giảm bớt số
lượng mầu in. Bản đồ này dùng làm cơ sở địa hình để có thể hiện các yếu tố của
bản đồ chuyên môn, chuyên đề.
Phân mảnh bản đồ địa hình
Bản đồ địa hình tỷ lệ lớn 1:500; 1:1.000; 1:5.000 được thành lập ở các
múi chiếu hình Gauss và trong hệ tọa độ, độ cao nhà nước hiện hành. Khi diện

Sv: Nguyễn Văn Phúc

5

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất


Đồ án tốt nghiệp

tích khu đo nhỏ hơn 20km2 và nằm cách xa mốc trắc địa nhà nước 10km thì sử
dụng hệ tọa độ độc lập để đo vẽ.
Dựa vào diện tích khu đo để phân chia và đánh dấu mảnh bản đồ phân
mảnh bản đồ 1:1000.000 ra 144 mảnh ký hiệu theo thứ tự từ 1 đến 144 từ trái
qua phải và từ trên xuống dưới, mỗi mảnh bản đồ này là cơ sở để phân chia các
bản đồ có tỷ lệ lớn hơn.
+ Đối với diện tích lớn hơn 20km 2 tiến hành đo vẽ thành lập bản đồ tỷ lệ
1:5.000; 1:2.000.
- Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 thành 386 mảnh 1:5.000
- Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5.000 thành 6 phần, mỗi phần tương ứng với
một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2.000.
+ Đối với khu đo có diện tích bằng hoặc nhỏ hơn 20km 2 tiến hành đo vẽ
bản đồ tỷ lệ 1:500; 1:1.000; 1:2.000; 1:5.000.
Trường hợp này chia và đánh số mảnh dựa vào trực tọa độ và lấy cơ sở là
mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5.000 đồng thời đảm bảo sự thống nhất và liên tục cho việc
đo vẽ tiếp theo.
- Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5.000 đồng thời đảm bảo sự thống nhất và
liên tục cho việc đo vẽ tiếp theo.
- Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5.000 thành 9 ơ vng, mỗi ơ có kích thước
1x1km tương ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2.000.
- Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 thành 4 mảnh, mỗi mảnh có kích thước
0,5x0,5km tương ứng với mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000.
- Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2.000 thành 16 mảnh, có kích thước là 0,25 x
0,25km tương ứng với mảnh bản đồ tỷ lệ 1:500.
I.1.3. Nội dung của bản đồ địa hình
Các nội dung cơ bản cần thể hiện trên bản đồ địa hình bao gồm các yếu tố
sau:

- Điểm khống chế trắc địa.
- Điểm dân cư
Sv: Nguyễn Văn Phúc

6

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

- Các đối tượng kinh tế, văn hóa, xã hội.
- Đường giao thông và các thiết bị phụ thuộc.
- Thủy hệ và các cơng trình phụ thuộc.
- Dáng đất và chất đất.
- Lớp phủ thực vật.
- Ranh giới hành chính – chính trị.
- Địa danh và các ghi chú hành chính khác.
Tất cả các đối tượng nói trên được thể hiện trên bản đồ địa hình với độ chi
tiết cao và được ghi chú về các đặc trưng số lượng, chất lượng.
Ngồi ra khi sử dụng bản đồ địa hình thì việc định hướng có ý nghĩa quan
trọng. Do vậy các vật định hướng cũng là các yếu tố tất yếu của nội dung bản đồ
địa hình.
Sau đây ta sẽ đề cập tới một số đối tượng trong nội dung bản đồ địa hình.
1. Địa vật định hướng
Đó là những đối tượng của khu vực, nó cho phép ta xác định nhanh chóng
và chính xác trên bản đồ (ví dụ: các tòa nhà cao, nhà thờ, cột cây số…) các địa
vật định hướng cịn cả một số địa vật khơng nhơ cao so với mặt đất nhưng dễ

dàng nhận biết (ngã ba, ngã tư đường, các giếng ở ngoài vùng dân cư, cây độc
lập…).
2. Hệ thống thủy văn
Các yếu tố thủy hệ được biểu thị tỉ mỉ trên bản đồ địa hình. Trên bản đồ
biểu thị các đường bờ biển.
Trên bản đồ biểu thị tất cả các con sơng có chiều dài từ 1cm trở lên.
Ngồi ra cịn thể hiện các kênh đào, mương máng, các nguồn nước tự nhiên và
nhân tạo. Đồng thời còn phải thể hiện các thiết bị thuộc thủy hệ như (các bến
cảng, cầu cống, trạm thủy điện, đập…).
Sự biểu thị các yếu tố thủy hệ còn được bổ sung bằng các đặc trưng chất
lượng và số lượng, độ mặn của nước, đặc điểm của độ cao đường bờ, độ sâu và
Sv: Nguyễn Văn Phúc

7

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

độ rộng của sông, tốc độ nước chảy. Trên bản đồ sông được thể hiện bằng một
nét hay hai nét phụ thuộc vào độ rộng của nó ở thực địa và tỷ lệ bản đồ.
3. Các điểm dân cư
Các điểm dân cư là một trong yếu tố quan trọng nhất của bản đồ địa hình.
Các điểm dân cư được đặc trưng bởi kiểu cư trú, số người và ý nghĩa hành
chính chính trị của nó. Theo kiểu cư trú phân ra làm các nhóm: các thành phố,
các điểm dân cư kiểu thành phố (khu công nhân, khu phố, ven đường sắt, nơi
nghỉ mát).

Các điểm dân cư nông thôn (thôn, ấp, nhà độc lập) kiểu dân cư được thể
hiện trên bản đồ địa hình bằng kiểu ghi chú tên nó.
Khi thể hiện các điểm dân cư trên bản đồ địa hình phải giữ được đặc
điểm, đặc trưng của chúng về quy hoạch cấu trúc. Trên các bản đồ tỷ lệ càng lớn
thì sự biểu thị các điểm dân cư càng tỉ mỉ, khi thu nhỏ tỷ lệ phải tiến hành tổng
quát hóa.
Trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1:2000 có thể biểu thị tất cả các vật kiến trúc
theo kích thước của chúng, đồng thời thể hiện được đặc điểm của địa vật đặc
trưng của vật liệu xây dựng, độ rộng của các đường trong khu dân cư cũng được
thể hiện theo đúng tỷ lệ.
Trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1:10.000 các điểm dân cư được thể hiện bằng
quy ước ký hiệu các ngôi nhà và các kiến trúc riêng biệt. Nhưng trong đó phải
có lựa chọn nhất định. Trong một số trường hợp phải thay đổi kích thước về mặt
bằng độ rộng của đường xá trong khu dân cư.
Trên bản đồ địa hình tỉ lệ 1:25.000 đến 1:100.000 thì sự biểu thị không
phải chủ yếu là các vật kiến trúc riêng biệt mà là các ơ phố. Trong đó đặc trưng
số lượng được khái quát. Với bản đồ 1:100.000 thì các ngôi nhà trong ô phố
không được thể hiện. Sự biểu thị các đường phố với độ rộng quy định (0,50,8mm) điều này mang đến sự ảnh hưởng là giảm diện tích các ơ phố trên bản
đồ.
Sv: Nguyễn Văn Phúc

8

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp


Các bản đồ tỷ lệ 1:100.000 và nhỏ hơn phải biểu thị tất cả các điểm dân
cư.
4. Điểm khống chế trắc địa.
Đối với bản đồ tỉ lệ 1:10.000 và lớn hơn thì nói chung các điểm khống
chế trắc địa có chơn mốc cố định phải biểu thị lên bản đồ.
Trên các bản đồ địa hình tỉ lệ 1:25.000 đến 1:100.000 biểu thị các điểm
của mạng lưới trắc địa nhà nước hạng I, II, III, IV, các điểm tuyền kinh vĩ và
điểm thủy chuẩn.
5. Mạng lưới đường sá giao thông và đường dây liên lạc.
Trên các bản đồ địa hình mạng lưới đường sá được thể hiện tỷ mỉ về khả
năng giao thông và trạng thái của đường.
Mạng lưới đường sá được thể hiện chi tiết hoặc là khái lược tuỳ thuộc vào
bản đồ. Do vậy cần phải phản ánh đúng đắn mật độ của lưới đường sá giao
thông cụ thể là hướng, vị trí của các con đường và chất lượng của chúng.
Trong các bản đồ địa hình đường sá được phân ra thành nhiều loại gồm:
đường sắt, đường rải mặt, đường đất. Các đường sắt được phân chia theo độ
rộng của các đường ray, theo số đường ray, trạng thái của đường, dạng đầu máy
xe lửa. Trên đường sắt phải biểu thị được các nhà ga, các kiến trúc và trang thiết
bị thuộc đường sắt (tháp nước, trạm canh, các đoạn đường ngầm, các đoạn
đường đắp cao, cầu cống…). Ngoài ra cịn có các loại đường cũng phải đề cập
trên bản đồ là:
- Các đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ.
- Các đường rải nhựa tốt.
- Các đường đá.
- Các đường đất lớn.
- Các đường mòn.
- Các đường mòn trên các bản đồ tỷ lệ 1:10 000 và lớn hơn thể hiện tất cả
các con đường, trên các bản đồ tỷ lệ 1:25 000 thì thể hiện có sự lựa chọn như
Sv: Nguyễn Văn Phúc


9

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

con đường trên đồng ruộng và ở những nơi đường xá có mật độ cao. Cịn ở các
bản đồ có tỷ lệ nhỏ hơn thì sự lựa chọn phải có sự khái quát cao hơn
- Khi lựa chọn phải xét được ý nghĩa của các đường xá, phải biểu thị
những con đường đảm bảo mối liên hệ giữa dân cư với nhau, với các nhà ga, xe
lửa, bến tàu, sân bay và các con đường dẫn đến nguồn nước.
- Đặc điểm là khi biểu diễn lưới đường sá trên bản đồ địa hình là phải
truyền đạt chính xác đường sá đảm bảo chất lượng theo đúng tỷ lệ bản đồ. Ngoài
ra trên bản đồ địa hình cần phải thể hiện rõ đường dây liên lạc đó là các đường
điện thoại đường điện báo, các trạm liên lạc, trạm điện thoại, điện báo trạm vô
tuyến, đường dây điện cao thế và cả trạm biến áp.
6. Dáng địa hình.
Dáng đất trên bản đồ địa hình được biểu thị bằng các đường bình độ
khoảng cao đều được quy định theo từng tỷ lệ bản đồ. Cần thể hiện đầy đủ các
tính chất đặc trưng của địa hình đảm bảo cho mục đích xây dựng đặc biệt là ở
đồng bằng. Khi cần thiết có thể biểu thị thêm các đường bình độ phụ (bình độ
nửa khoảng cao đều) và đường bình độ bổ sung. Trong nhiều trường hợp người
ta còn tăng dày khoảng cao đều cơ bản, khoảng cao đều lớn nhất thường dùng
cho các vùng núi cao.
Trên bản đồ phải biểu thị đầy đủ các dạng địa hình có liên quan đến sự
hình thành tự nhiên (như các dãy núi của đỉnh núi, yên núi, thung lũng…) và các
địa hình nhân tạo (như chỗ đào sâu, chỗ đắp cao, các loại đê đập ngăn nước, các

ngôi mộ cổ…). Trước tiên cần xác định đặc điểm chung của dáng đất và vạch ra
dạng địa hình cơ bản đặc trưng cho dáng đất, chỉ ra các điểm quan trọng phản
ánh được đặc điểm độ dốc của các sườn gần đỉnh, đặc điểm của lòng máng
mương suối.
Để đặc trưng đầy đủ hơn cho địa hình trên bản đồ người ta cịn ghi chú độ
cao đường bình độ, độ cao của các điểm có tính chất khống chế. Để được địa
hình, trên các đường bình độ ở đỉnh, ở n núi hoặc ở nơi dạng địa hình khơng
rõ ràng người ta còn đặt vạch chỉ dốc. Những yếu tố dáng đất mà đường bình độ
Sv: Nguyễn Văn Phúc

10

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

không thể hiện được thì được biểu thị bằng các ký hiệu riêng (ví dụ: vách đứng,
núi đá vơi) ngồi ra trên bản đồ địa hình cịn ghi chú độ cao.
Trước khi biên vẽ dáng đất thì phải xác định rõ những đặc điểm chung và
những dạng địa hình cơ bản và đặc trưng của nó.
7. Lớp phủ thực vật và đất.
Trên các bản đồ địa hình các loại rừng, vườn cây, đồn điền, ruộng, đồng
cỏ, thảo nguyên, cát mặn… Ranh giới của các khu thực phủ và của các loại đất
thì được biểu thị bằng các đường chấm. Cịn diện tích bên trong đường viền thì
vẽ các ký hiệu quy ước đặc trưng cho từng loại đất (trừ ruộng cày cấy thì diện
tích để trống) ranh giới đường viền u cầu cần phải rõ nét, rõ ràng đặc biệt là
các chỗ chẳng hạn dùng các ký hiệu khác nhau để phân biệt loại đầm lầy, đầm

qua lại được, đầm khó đi qua và đầm khơng đi qua được. Ngồi ra cịn phải ghi
chú độ sâu của đầm (tính tới nơi đất cứng).
Rừng được phân ra rừng già, rừng non, rừng dày, rừng thưa và ghi chú độ
cao của cây, đường kính, loại cây trồng. Đồng cỏ phân ra đồng cỏ khơ, đồng cỏ
ướt. Thảo ngun phân ra thảo ngun có cây, thảo nguyên bán hoang mạc, thảo
nguyên có đá.
Khi tiến hành vẽ thực vật và loại đất đá thì đều phải tiến hành lựa chọn và
khái quát việc chọn lọc dựa theo tiêu chuẩn kích thước diện tích nhỏ nhất của
các đường viền thể hiện trên bản đồ. Nên những nơi tập trung nhiều đường viền
có diện tích nhỏ hơn tiêu chuẩn thì khơng được loại bỏ mà phải thể hiện bằng
cách kết hợp với các loại đất hoặc thực vật hoặc gộp vào một đường viền chung,
hoặc dùng ký hiệu quy ước không cần đường viền. Ranh giới của các loại thực
vật và đất cần được thể hiện chính xác về phương diện đồ hoạ, thể hiện rõ ràng
những chỗ ngoặt có ý nghĩa định hướng.
8. Ranh giới địa giới hành chính.
Ngồi đường biên giới quốc gia trên các bản đồ địa hình cịn phải biểu thị
các địa giới của các cấp hành chính. Cụ thể là trên các bản đồ có tỷ lệ 1:5000 và
lớn hơn thì biểu thị từ địa giới xã trở lên, trên bản đồ tỷ lệ 1:100000 thì khơng
Sv: Nguyễn Văn Phúc

11

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

biểu thị địa giới xã. Các đường ranh giới phân chia hành chính- chính trị địi hỏi

phải biểu thị rõ ràng, chính xác.
I.1.4. Cơ sở tốn học khi thành lập bản đồ địa hình
I.1.4.1. Về tỷ lệ bản đồ địa hình
Theo quy phạm bản đồ địa hình thì nước ta cũng cùng dãy tỉ lệ như hầu
hết các nước khác trên thế giới gồm các tỉ lệ sau: 1:500, 1:1.000, 1:2.000,
1:5.000, 1:10.000, 1:20.000, 1:25.000, 1:50.000, 1:100.000.
Các loại bản đồ địa hình ở nước ta cơ bản được xây dựng trong phép
chiếu Gauss kruger hoặc phép chiếu UTM trong hệ thống phép chiếu 6 0 được
phép sử dụng thành lập với các bản đồ tỉ lệ 1:10.000 và nhỏ hơn. Trong hệ múi
chiếu 30 được sử dụng thành lập với các bản đồ tỉ lệ lớn hơn 1:10.000.
I.1.4.2. Về hệ thống tọa độ bản đồ địa hình
Các hệ thống tọa độ thường dùng trong trắc địa bao gồm hệ tọa độ địa lý,
hệ tọa độ vng góc Gauss- kruger, hệ tọa độ vng góc quy ước, hệ tọa độ cực
và độ cao.
Hệ thống tọa độ trên bản đồ được biểu thị bằng mạng lưới tọa độ được
dựng theo phép chiếu của bản đồ. Hệ thống mạng lưới tọa độ là cơ sở để thành
lập các bản đồ và để tiến hành những đo đạc khác nhau trên bản đồ.
Bản đồ địa hình ở nước ta được thành lập trên cơ sở phép chiếu Gauss, hệ
tọa độ và độ cao nhà nước 1972. Từ năm 2000 đến nay, các loại bản đồ được
chuyển về hệ tọa độ VN2000.
I.1.4.3. Các phép chiếu trong bản đồ địa hình
Phép chiếu bản đồ là một quy luật toán học của sự biểu thị bề mặt
Elippxoid (hoặc mặt cầu) của trái đất trên bề mặt phẳng.
Trong thực tế có rất nhiều phép chiếu khác nhau và được phân thành
nhiều loại như: phép chiếu đồng góc, phép chiếu đồng diện tích, phép chiếu tự
do,...Hoặc phép chiếu hình nón, phép chiếu hình trụ,... Mỗi loại phép chiếu chỉ
phù hợp cho từng đặc điểm lãnh thổ của mỗi quốc gia và tuỳ thuộc vào loại bản
đồ mà ta cần thành lập.
Sv: Nguyễn Văn Phúc


12

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

Bản đồ địa hình nước ta được thành lập trên mặt phẳng chiếu hình Gauss Kriuger. Phép chiếu Gauss - Kriuger là phép chiếu hình trụ ngang đồng góc, lấy
hình chiếu kinh tuyến giữa múi làm trục X và lấy hình chiếu của xích đạo làm
trục Y.
Nó ứng dụng cho từng múi chiếu 6 0 hoặc 30 của mặt phẳng Elippxoid.
Phép chiếu Gauss được dùng để thành lập bản đồ địa hình có tỷ lệ từ 1: 50.000
đến lớn hơn. Trong đó đối với các bản đồ có tỷ lệ ≤ 1: 25.000 thì dùng múi chiếu
60 cịn đối với các bản đồ tỷ lệ ≥ 1: 10.000 thì sử dụng múi chiếu 30 để tính toạ
độ cho các điểm khống chế trắc địa.
Trên bản đồ địa hình, sự biểu hiện của phép chiếu chính là mạng lưới các
đường kinh tuyến, vĩ tuyến.
I.1.5. Độ chính xác của bản đồ địa hình
Yếu tố đặc trưng quan trọng của chất lượng một tờ bản đồ địa hình là độ
chính xác đo và vẽ bản đồ. Nếu độ chính xác của bản đồ quá thấp thì nó khơng
đáp ứng được u cầu sử dụng, ngược lại nếu quy định độ chính xác quá cao sẽ
gây khó khăn cho cơng tác đo vẽ và tăng giá thành của sản phẩm. Người ta
thường đánh giá độ chính xác của bản đồ địa hình theo ba yếu tố cơ bản, đó là
độ chính xác vị trí mặt phẳng và độ cao các điểm khống chế trắc địa, độ chính
xác vị trí mặt bằng của các điểm địa vật và cuối cùng là độ chính xác biểu diễn
địa hình bằng đường đồng mức.
Tuỳ theo u cầu, mục đích sử dụng để xác định tỷ lệ bản đồ cần thành
lập.

- Nội dung bản đồ gốc.
- Phụ thuộc mức độ khó khăn của địa hình.
- Diện tích, kích thước và mức độ chi tiết của các yếu tố địa hình, địa vật.
Theo các nghiên cứu tỷ lệ bản đồ địa hình được coi là phù hợp cho từng
vùng sau:
- Miền núi và trung du: 1:5000 đến 1:10000 và 1:25000.
- Đồng bằng : 1:1000 đến 1:5000
Sv: Nguyễn Văn Phúc

13

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

- Khu vực đô thị: 1:1000; 1:500; 1:200.
Nội dung trên bản đồ tỷ lệ lớn luôn thể hiện một cách đầy đủ chính xác
hơn các bản đồ tỷ lệ khác. Do đó ngay từ khâu khảo sát địa hình, lập lưới khống
chế trắc địa đến điều vẽ biên tập bản đồ ln địi hỏi độ chính xác cao.
- Đảm bảo độ chính xác cao theo đúng yêu cầu kỹ thuật đối với từng loại
tỷ lệ bản đồ.
- Thể hiện đầy đủ chi tiết các yếu tố nội dung theo đúng yêu cầu kỹ thuật
đối với từng loại bản đồ.
- Bản đồ địa hình cần phải rõ ràng, dễ đọc, cho phép định hướng dễ dàng
nhanh chóng ngồi thực địa.
- Các yếu tố biểu thị trên bản đồ cần phải đầy đủ, chính xác. Mức độ đầy
đủ và tỷ mỉ phải phù hợp với mục đích sử dụng bản đồ và đặc điểm khu đo. Độ

chính xác biểu thị các yếu tố nội dung cần phù hợp với tỷ lệ bản đồ.
- Chất lượng của bản đồ phải có chất lượng cao để bảo quản, lưu trữ được
lâu dài.
Sau đây là một số quy định trong quy phạm trong thành lập bản đồ địa
hình tỷ lệ lớn của cục Đo đạc và Bản đồ Nhà Nước.
- Sai số trung bình của vị trí điểm địa vật biểu thị trên bản đồ gốc so với
vị trí điểm khống chế đo vẽ gần nhất (điểm khống chế mặt bằng) không được
vượt quá quy định dưới đây (tính theo tỷ lệ bản đồ cần thành lập):
± 0.5 mm khi thành lập bản đồ ở vùng đồng bằng hoặc vùng đồi.
± 0.7 mm khi thành lập bản đổ ở vùng núi cao.
Khi thành lập bản đồ ở vùng đã xây dựng cơ bản, xây dựng theo quy
hoạch và xây dựng nhà nhiều tầng, sai số trung bình của vị trí tương quan giữa
các điểm tương quan giữa các điểm địa vật quan trọng (như các công trình
chính, các tồ nhà …) khơng được vượt q 0.4 mm.
- Sai số trung bình về độ cao của đường bình độ, độ cao của các điểm đặc
trưng địa hình và điểm ghi chú độ cao biểu thị trên bản đồ gốc so với độ cao của
điểm khống chế đo vẽ gần nhất (điểm khống chế độ cao) không được vượt quá
Sv: Nguyễn Văn Phúc

14

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

quy định nêu ở bảng dưới đây (lấy khoảng cao đều của đường bình độ làm đơn
vị).

Khoảng

Sai số trung bình về độ cao đường bình độ (khoảng cao đều)
1/500
1/1000
1/2000
1/5000
1/10000 1/25000
cao đều
0.25
1/4
1/4
0.5
1/4
1/4
1/4
1/3
1.00
1/4
1/4
1/4
1/4
1/4
2.5
1/3
1/3
1/3
5.00
1/2
1/2

10.00
1/2
Trong trường hợp đo vẽ bản đồ tỷ lệ 1:500, 1:1000 ở vùng có độ dốc trên

100, đo vẽ bản đồ tỷ lệ từ 1:2000 đến bản đồ tỷ lệ 1:25000 ở vùng có độ dốc 15 0
thì số đường bình độ phải phù hợp với độ cao xác định tại chổ thay đổi độ dốc
vμ phải phù hợp với độ cao của các điểm đặc trưng địa hình.
Đối với các khu vực ẩn khuất, đầm lầy, bãi cát không ổn định v v … các
sai số nói trên tăng thêm 1.5 lần.
- Sai số giới hạn của vị trí điểm địa vật, của độ cao đường bình độ, độ cao
của điểm ghi chú độ cao, độ cao điểm đặc trưng địa hình quy định là 2 lần sai số
nêu trên.
Khi kiểm tra, sai số lớn nhất không vượt quá sai số giới hạn. Số lượng sai
số có giá trị bằng sai số giới hạn không được vượt quá 10% tổng số các trường
hợp kiểm tra. Các sai số trong mọi trường hợp khơng được mang tính chất hệ
thống.
- Sai số vị trí của điểm tăng dày so với vị trí của điểm khống chế đo vẽ
ngoại nghiệp gần nhất không được vượt quá quy định sau:
Về mặt phẳng (tính theo tỷ lệ bản đồ thành lập):
± 0.35 mm đối với vùng đồng bằng và vùng đồi.
± 0.5mm đối với vùng núi và núi cao.
Về độ cao, các giá trị nêu ở bảng dưới đây (lấy khoảng cao đều của đường
bình độ làm đơn vị).
Khoảng

Sai số trung bình về độ cao đường bình độ (khoảng cao đều)

cao đều
Sv: Nguyễn Văn Phúc


15

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

0.5
1
2.5
5
10

1/500
1/5
1/5
-

1/1000
1/5
1/5
-

Đồ án tốt nghiệp
1/2000
1/5
-

1/5000
1/5

-

1/10000
1/4
1/3
-

1/25000
1/4
1/3
1/3

Sai số giới hạn của điểm tăng dày quy định là 2 lần sai số trung bình nói
trên.
Khi kiểm tra, sai số lớn nhất về vị trí của điểm tăng dμy không vượt quá
sai số giới hạn và số lượng sai số có giá trị bằng sai số dưới hạn khơng vượt quá:
Về mặt phẳng : 5% tổng số các trường hợp.
Về độ cao : 5% tổng số các trường hợp ở vùng quang đãng.
10% tổng số các trường hợp ở vùng ẩn khuất đầm lầy, bãi cát không ổn
định …
Trong mọi trường hợp các sai số nói trên khơng được mang tính hệ thống.
Trên đây là mọi quy định của các đường bình độ trên bản đồ được quy
định như sau:
TT
1
2
3
4
5
6

7
8
9

Tỷ lệ bản đồ

1:2 000
1:5 000
1:10 000
1:25 000
1:50 000
1:100 000
1:200 000
1:500 000
1: 1000 000
Ngoài các điểm đặc

Khoảng cao đều (m)
Nhỏ nhất
Trung bình
Lớn nhất
0.5
1
2
1
2
5
2.5
2.5
5

2.5
5
10
10
10
20
20
20
40
20
20
40
50
50
100
50
100
200
trưng địa hình, bản đồ phải có các điểm ghi chú độ

cao.
Số lượng điểm đặc trưng địa hình và ghi chú điểm độ cao trên 1 dm 2 bản
đồ khơng ít hơn 10 điểm khi đo vẽ ở vùng núi, núi cao và 15 điểm khi đo vẽ ở
vùng đồi và vùng đồng phẳng. Trong các trường hợp đặc biệt như khi đo vẽ ở
Sv: Nguyễn Văn Phúc

16

Lớp: Trắc Địa A– K55



Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

vùng dân cư dày đặc, vùng có địa hình biến đổi đều và có quy luật… thì số
lượng điểm nêu trên cũng được giảm bớt nhưng cũng khơng ít hơn 8 điểm khi
đo vẽ ở vùng núi, núi cao và 10 điểm khi đo vẽ ở vùng đồng bằng, vùng đồi.
Quy định này phải được nêu rõ trong thiết kế kỹ thuật của khu đo.
Độ chính xác xây dựng lưới khống chế địa hình thường được đặc trưng
bằng sai số trung phương vị trí điểm khống chế so với điểm cấp cao hơn. Sai số
này thường lấy bằng ±0.02 mm trên bản đồ.
I.2. Các phương pháp thành lập bản đồ địa hình
Trong các ngành khoa học ứng dụng thì khoa học thành lập bản đồ là một
ngành có nhiều đặc thù riêng biệt, cho ra các sản phẩm đa dạng, đưa tỷ lệ, phục
vụ cho nhiều ngành khoa học với mục đích khác nhau như:
Quân sự, quản lý đất đai, thiết kế xây dựng … Lịch sử phát triển của
ngành đã hình thành nên các phương pháp thành lập bản đồ được tổng quát như
sau:

Các phương pháp thành lập bản
đồ địa hình

Phương pháp đo
trực tiếp ngồi
thực địa

Phương
pháp bàn
đạc


Phương
pháp tồn
đạc

Sv: Nguyễn Văn Phúc

Phương pháp
biên tập

Phương pháp đo
ảnh

Phương
pháp đo
ảnh đơn

17Quang cơ

Phương
pháp đo
ảnh lập thể

Giải tích
ảnh
Lớp:
Trắc ĐịaTrạm
A– K55
số



Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

Hình 1.1. Các phương pháp thành lập bản đồ địa hình
I.2.1. Phương pháp đo đạc trực tiếp ngoài thực địa.
I.2.1.1. Phương pháp bàn đạc
Dùng máy bàn đạc có gắn bàn vẽ, tiến hành đo hướng, đo cạnh và triển
điểm vẽ ngay trên thực địa. Phương pháp này có ưu điểm là mơ tả hết được các
yếu tố địa hình, địa vật. Tuy nhiên nó cho độ chính xác thấp, máy móc không
gọn nhẹ, chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường và thời tiết dẫn đến năng suất lao
động khơng cao. Chính vì những nhược điểm này phương pháp bàn đạc hiện nay
khơng sử dụng nữa và thay thế cho nó là phương pháp toàn đạc.
I.2.1.2. Phương pháp toàn đạc
Hiện nay sự xuất hiện của máy toàn đạc điện tử đã giúp cho phương pháp
tồn đạc trở nên thơng dụng. Các khâu như: lập lưới cơ sở, lưới đo vẽ cho đến
quá trình đo vẽ cho độ chính xác cao và nhanh chóng, cơng cụ máy tính chuyển
điểm rất chính xác. Từ đó nhận thấy một số đặc điểm của phương pháp toàn đạc
điện tử như sau:
+ Ưu điểm : đạt độ chính xác cao tại các điểm đo trực tiếp, cơng tác vẽ
bản đồ được tiến hành trong phòng với những điều kiện thuận lợi cho thành quả
bản đồ nhanh chóng chính xác. Phương pháp này thường áp dụng cho khu vực
không lớn.
+ Nhược điểm : Công tác đo ngoại nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của môi
trường và thời tiết do đó năng xuất lao động khơng cao, có thể bỏ sót đối tượng
đo, gây khó khăn cho cơng tác nội nghiệp nếu khơng có sơ hoạ, đường đồng
mức được xác định bằng nội suy trên cơ sở đo trực tiếp.
I.3. Phương pháp biên tập chuyển từ bản đồ tỷ lệ lớn về tỷ lệ nhỏ hơn
Thành lập bản đồ địa hình bằng phương pháp biên vẽ chuyển tiếp được

tiến hành khi:

Sv: Nguyễn Văn Phúc

18

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

Trên khu vực cần biên vẽ đã có bản đồ địa hình tỷ lệ lớn hơn kế cận mới
được thành lập, đảm bảo độ tin cậy độ chính xác về cơ sở toán học cũng như yêu
cầu về nội dung bản đồ theo quy định của các quy phạm, ký hiệu hiện hành.
Đặc điểm của phương pháp biên vẽ chuyển tiếp là dùng bản đồ tỷ lệ lớn
đã có chuyển về tỷ lệ kế cận thông qua việc biên vẽ kết hợp với tổng quát hoá,
khái quát và nội dung trên bản đồ tỷ lệ lớn hơn về tỷ lệ nhỏ hơn kế cận đảm bảo
dung lượng trọng tải bản đồ hợp lý đúng theo quy phạm và ký hiệu hiện hành.
Ngồi tài liệu chính để làm tài liệu gốc cịn phải sử dụng các tài liệu khác ở dạng
hỗ trợ hoặc bổ sung, đặc biệt là nội dung có nhiều thay đổi (địa giới hành chính,
yếu tố dân cư...).
Để tiến hành biên vẽ chuyển tỷ lệ, chúng ta có thể tiến hành theo phương
pháp sau:
Hiện nay việc thành lập bản đồ bằng phương pháp biên vẽ chuyển tiếp
hoàn toàn trên máy tính (cơng nghệ số) là chưa thực hiện được bởi vì cịn nhiều
bất cập trong cơng đoạn biên vẽ (tổng hợp, khái quát, lựa chọn thể hiện nội dung
trên màn hình máy tính). Vì vậy q trình tổng hợp, khái quát, lựa chọn thể hiện
nội dung để lập bản vẽ hiện nay vẫn làm trên giấy. Còn lại các cơng đoạn khác

trong q trình thμnh lập bản đồ địa hình đều được thực hiện trên máy tính, cơng
nghệ kết hợp được áp dụng khi tài liệu chính để thành lập bản đồ là các file bản
đồ số cũ hoặc gốc mới hoặc cũng có thể là bản đồ giấy, bản đồ lưu đen...ở tỷ lệ
lớn hơn. Tại cơ sở sản xuất, hiện nay công nghệ kết hợp được sử dụng phổ biến
hơn công nghệ truyền thống.
I.4. Phương pháp đo ảnh
a. Phương pháp đo ảnh đơn
Phương pháp đo ảnh đơn được dùng ở vùng bằng phẳng là chủ yếu, nó
được ứng dụng để đo vẽ địa hình khi mà độ chính xác đo độ cao của phương
pháp đo ảnh lập thể khó thoả mãn. Đo ảnh đơn áp dụng cho thành lập bản đồ địa
chính rất hiệu quả ở vùng thổ canh có địa hình khá bằng phẳng. Thành lập bản
đồ bằng phương pháp này là lấy các ảnh nắn (ảnh đã được xử lý sai số vị trí
điểm do ảnh nghiêng gây ra) làm nên để xác định mặt phẳng các địa vật của bản
đồ. Và sẽ được phối hợp đo vẽ nội dung địa hình của bản đồ bằng phương pháp
Sv: Nguyễn Văn Phúc

19

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

đo trắc địa ngoại nghiệp. Phương pháp này phù hợp để thành lập bản đồ vùng
bằng phẳng có chênh cao địa hình nhỏ nhằm đảm bảo sai số vị trí điểm do độ lồi
lõm của địa hình gây ra khơng vượt quá giới hạn cho phép.
b. Phương pháp đo ảnh lập thể.
Đo ảnh lập thể có khả năng khái quát địa hình tốt nhất so với tất cả các

phương pháp khác. Ngày nay nhờ có thiết bị hiện đại như máy đo vẽ lập thể
quang cơ, quang học, cơ học, giải tích vμ xử lý ảnh số mà phương pháp thoả
mãn tất cả các loại bản đồ có tỷ lệ từ 1:1000 trở xuống. Với điều kiện thuận lợi
cho phép thì đo ảnh lập thể có thể đo được tỷ lệ 1:500 vμ lớn hơn. Do đó vẽ trên
mơ hình nên phương pháp lập thể hầu như hạn chế đến mức tối đa ảnh hưởng
của thời tiết và địa hình. Đặc biệt với bản đồ trung bình và bản đồ tỷ lệ bé thì
khơng có phương pháp nào cho độ chính xác cao hơn phương pháp đo ảnh lập
thể có thể nói phương pháp này ln được áp dụng các thành tựu khoa học mới
vào sản xuất để giải phóng con người khỏi lao động vất vả, tăng năng xuất lao
động dẫn tới giảm giá thành sản phẩm. Ngày nay trên thế giới và nước ta công
nghệ đo ảnh số đang được áp dụng rộng rãi. Các bài toán xử lý ảnh đều dựa trên
nền tảng của phương pháp đo ảnh giải tích. Trong cơng nghệ xử lý ảnh có rất
nhiều công đoạn như chuyển toạ độ pixel trên ảnh quét về toạ độ tấm ảnh, xử lý
sai số điểm ảnh, xây dựng mơ hình lập thể, tăng dày và đo vẽ…

Sv: Nguyễn Văn Phúc

20

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

CHƯƠNG II:
GIỚI THIỆU VỀ MÁY TOÀN ĐẠC ĐIỆN TỬ TOPCON GTS220N
VÀ PHẦN MỀM GEOSOFT
II.1. MÁY TOÀN ĐẠC ĐIỆN TỬ TOPCON GTS220N

II.1.1. Tên gọi và chức năng
Tên gọi :
- Carrying handle locking screw : ốc giữu tay cầm
- Carrying handle

: tay cầm

- Objective lens

: Kính vật

- Sighting collimator

: ống ngắm sơ bộ

- Intrument center mark

: Dấu tâm máy

- Horizontal motion clamp

: Khoá bàn độ ngang

- Horizontal tangent screw

: Vít vi động ngang

- Diplay unit

: Hiển thị


- Circular level

: Bọt thuỷ tròn

- Circular level adjusting screw : Ốc điều chỉnh bọt thuỷ tròn
- Optical plummet telescope

: dọi tâm quang học

- Leveling screw

: ốc lấy thăng bằng

- Tribrach fixing lever

: Khoá cố định đế máy

- Base

: Đế máy

- Telescope focusing knob

: Núm điều chỉnh tiêu cự

- Telescope grip
- Telescope eyepiece
- Vertical motion clamp


: Vòng chỉnh ống kính
: Mắt kính ống kính
: Khố bàn độ đứng

- Vertical tangent screw

: ốc vi động đứng

- Power supply connector

: Đầu cắm

- Battery locking lever

: Lấy khoá pin

- Battery BT- 52QA
- Plate level

Sv: Nguyễn Văn Phúc

: Pin BT- 52QA
: Bọt ống thuỷ dài

21

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất


Đồ án tốt nghiệp

CHỈ TIÊU KỸ THUẬT
ỐNG KÍNH
Dài
150mm
Đường kính vật kính.
45mm (EDM 50mm)
Độ phóng đại
30×
Ảnh
thuận
Trường nhìn
1°30′
Độ phân giải
2.5″
Khoảng hội tụ nhỏ nhất
1.3m
ĐO KHOẢNG CÁCH
Điều kiện 1
1G
3,000m
2,000m
3G
4,000m
2,700m
9G
5,000m
3,400m

Điều kiện 2
1G
3,500m
2,300m
3G
4,700m
3,100m
9G
5,800m
4,000m
ĐK 1: Slight haze with visibility about 20km (12.5 miles) moderate sunlight
with light heat shimmer.
ĐK 2: No haze with visibility about 40 km (25 miles), overcast with no heat
shimmer.
Độ chính xác
±(2mm + 2ppm ì D) m.s.e.
±(3mm+3ppmìD)m.s.e.
D: Khoảng cách đo (mm)
Số đọc nhỏ nhất
Chế độ đo chính xác
1mm /0.2mm
Chế độ thơ
10mm /1mm
Chế độ đo dị
10mm
Thời gian đo
Chế độ đo chính xác
1mm: 1.2 s. (Khởi tạo4 sec.)
0.2mm: 2.8 s. (Khởi tạo 5 sec.)
Chế độ thô

0.7 s. (Khởi tạo 3 sec.)
Chế độ đo dị
0.4 s. (Khởi tạo 3 sec.)
ĐO GĨC
Hệ nhận dạng
H: 2 cạnh V: 1
H: 1 cạnh V: 1 cạnh
cạnh
Số đọc nhỏ nhất
1″/5″
5″/10″
Độ chính xác
3″
5″
6″
9″
(Theo chuẩn DIN 18723)
Thời gian đo
Ít hơn 0.3 s.
HIỂN THỊ
Phần hiển thị
Màn hỡnh đồ họa LCD 160 × 64 điểm
2 Hai mặt
1 mặt

Sv: Nguyễn Văn Phúc

22

Lớp: Trắc Địa A– K55



Trường Đại học Mỏ - Địa Chất
Bàn phím
HIỆU CHỈNH ĐỘ NGHIÊNG
Cảm biến
Dải bù
Đơn vị bù

Đồ án tốt nghiệp
Bàn phớm gồm số và chữ.
Hai trục

Đơn trục
±3′
1″

PHẦN KHÁC
Chiều cao máy
Kính dọi tâm quang học
Khuếch đại
Dải hội tụ
Trường nhìn (ở 1.3m)
Kích cỡ

176mm (6.93 in.)

0.5 to infinity
5° (114mmứ)
336(H)ì184(W)ì172(L)mm/13.2(H)ì7.2(W)ì6.9(L)in.


TRỌNG LƯỢNG
Máy gồm pin
Vỏ máy
ĐỘ BỀN
Chống nước vào bụi bẩn
Nhiệt độ làm việc
PIN BT- 52Q
Điện áp ra
Dung lượng
Thời gian làm việc
Đo khoảng cách
Đo góc
Weight
BỘ SẠC BC- 27
Điện áp vào
Tần số
Thời gian nạp
Thời gian xả
Trọng lượng

Sv: Nguyễn Văn Phúc

4.9kg
3.4kg
IP66 (Với pin BT- 52QA) (theo chuẩn IEC60529)
–20°C tới +50°C (–4°F tới +122°F)
DC7.2V
2.7 Ah (Ni- MH)
10 h

45 h
0.3kg
AC 100 ~ 240V
50/60Hz
Pin BT- 52QA: 1.8 h
Pin BT- 52QA: 8 h (khi pin đầy)
0.5kg

23

Lớp: Trắc Địa A– K55


Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

Đồ án tốt nghiệp

*Ký hiệu hiển thị
Hiển thị
V
HR
HL
HD
VD
SD

Nội dung
Góc đứng
Góc ngang phải
Góc ngang trái

Khoảng cách ngang
độ cao tương đối
Khoảng cách nghiêng

Hiển thị
N
E
Z
*
m
ft
fi

Nội dung
Toạ độ N
Toạ độ E
Toạ độ Z
đang đo khoảng cách
đơn vị mét
đơn vị fít
đơn vị fit và inch

*Phím chức năng
Phím

ANG

Tên phím

Chức năng


phím đo tạo độ

Mode đo toạ độ

phím đo xa

Mode đo xa

phím đo góc

Mode đo góc

MENU

ESC

phím thực đơn

phím thốt

Chuyển mode menu và mode bình thường
để thiết lập phép đo ứng dụng và điều chỉnh
trong mode menu
*quay về mode đo hoặc mode trước đó kể
từ mode đặt
*là mode thu thập số liệu hoặc mode layout
trực tiếp từ mode đo bình thường
*có thể sư dụng nó như là nút nhớ trong
mode đo thơng thường


POWER

phím nguồn điện

Tắt mở (ON/OFF) nguồn điện

F1- F4

phím mềm

Tương ứng với thơng tin được hiển thị

*Phím chức năng (phím mềm)
Thơng tin về các phím được hiển thị ở dịng dưới cùng của màn hình.Chức năng theo
thơng tin được hiển thị.
Mode đo góc

Sv: Nguyễn Văn Phúc

24

Lớp: Trắc Địa A– K55


×