Tải bản đầy đủ (.pdf) (95 trang)

Đảng bộ tỉnh sơn la lãnh đạo thực hiện chính sách di dân, tái định cư đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông đà giai đoạn 2005 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (935.78 KB, 95 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐINH THỊ HOÀI VI

ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI ĐỒNG
BÀO DÂN TỘC VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ
GIAI ĐOẠN 2005 - 2015

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐINH THỊ HOÀI VI

ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ
GIAI ĐOẠN 2005 - 2015
Chuyên ngành : XH2b

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn : ThS. Lại Trang Huyền

SƠN LA, NĂM 2016




Lời cảm ơn!
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Lý
luận chính trị, Phòng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế đã động viên, giúp
đỡ em trong suốt thời gian làm khóa luận. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn
cô giáo, Ths. Lại Trang Huyền, đã tận tình chỉ bảo và đóng góp những ý kiến
khoa học vô cùng quý báu giúp em hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong thư viện nhà trường đã
tạo điều kiện về mặt tài liệu để em hoàn thành khóa luận.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đã nhiệt tình
giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện khóa luận một cách hoàn chỉnh
nhất. Song do còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên khóa luận không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân em chưa thấy được. Em rất mong
nhận được sự góp ý kiến của quý Thầy, Cô giáo và các bạn sinh viên để khóa
luận của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05/2016.
Sinh viên
Đinh Thị Hoài Vi


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCH

Ban chấp hành

BCĐ


Ban chỉ đạo

BTV

Ban thường vụ

CNH

Công nghiệp hóa

Ha

Héc ta

HĐH

Hiện đại hóa

HĐND

Hội đồng nhân dân

Km2

Ki lô mét vuông

KWH

Ki lô oát/ giờ


MW

Mê ga oát

NQ

Nghị quyết

Nxb

Nhà xuất bản

QH

Quốc hội

QLDA

Quản lý dự án

Tb

Thông báo

TĐC

Tái định cư

TU


Trung ương

UBND

Uỷ ban nhân dân

VPCP

Văn phòng chính phủ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 7
6. Đóng góp của đề tài ........................................................................................... 7
7. Kết cấu của đề tài .............................................................................................. 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CÔNG TÁC DI DÂN, TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ ........................................................ 9
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 9
1.1.1. Quan niệm về công tác di dân, tái định cư .................................................. 9
1.1.2. Nội dung lãnh đạo công tác di dân, tái định cư......................................... 11
1.1.3. Phương thức lãnh đạo công tác di dân, tái định cư ................................... 19
1.1.4. Khái quát về chủ trương, kế hoạch xây dựng Thủy điện Sơn La của Đảng
và Nhà nước ta..................................................................................................... 23
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 27

1.2.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an
ninh của tỉnh Sơn La tác động tới công tác di dân, tái định cư ........................... 27
1.2.2. Những yêu cầu đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh Sơn La trong nhiệm vụ lãnh
đạo công tác di dân, tái định cư ........................................................................... 33
Tiểu kết ................................................................................................................ 38
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO THỰC
HIỆN CÔNG TÁC DI DÂN, TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN
TỘC VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ GIAI ĐOẠN 2005 - 2015 ..................... 39
2.1. Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện công tác di dân, tái định cư giai
đoạn 2005 - 2010 ................................................................................................. 39


2.1.1. Quá trình cụ thể hóa Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương và lãnh đạo
triển khai thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Sơn La ........................................ 39
2.1.2. Những thành tựu, hạn chế ......................................................................... 41
2.1.3. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế; bài học kinh nghiệm............ 53
2.2. Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện công tác di dân, tái định cư đối với
đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà giai đoạn 2010 - 2015 ............................ 58
2.2.1. Quá trình cụ thể hóa Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương và lãnh đạo
thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Sơn La ........................................................ 58
2.2.2. Thành tựu và hạn chế ................................................................................ 59
2.2.3. Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế; bài học kinh nghiệm ................. 63
Tiểu kết ................................................................................................................ 66
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM TIẾP TỤC NÂNG CAO HIỆU
QUẢ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC DI DÂN, TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI
VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ CỦA ĐẢNG
BỘ TỈNH SƠN LA ............................................................................................ 67
3.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chính sách tái định cư ...................... 67
3.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc chấp hành
tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công

tác di dân, tái định cư .......................................................................................... 70
3.3. Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia tiến hành công tác di
dân, tái định cư .................................................................................................... 72
3.4. Cụ thể hoá các chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chính
sách hỗ trợ của Nhà nước trong các chương trình dự án di dân, tái định cư...............75
3.5. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trực tiếp thực hiện công tác di
dân, tái định cư ..................................................................................................................77
3.6. Thực hiện tốt công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các điểm tái định
cư, xác định các phương án sản xuất phù hợp .................................................... 78
Tiểu kết ................................................................................................................ 81
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 83
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trước tình hình giá dầu tăng cao, đảm bảo an ninh năng lượng đã trở
thành mối quan tâm mang tính toàn cầu, việc tìm kiếm các nguồn năng lượng
đang trở thành mục tiêu và giải pháp chung của nhiều nước. Với những ưu điểm
như giá thành thấp, không gây hại cho môi trường, các nguồn năng lượng xanh
như năng lượng mặt trời, gió… được xem là một nguồn năng lượng hữu ích,
đang được nhiều nước chú trọng phát triển. Cũng như nhiều nước trên thế giới,
nước ta đã và đang tìm kiếm các nguồn năng lượng điện theo nhiều cách khác
nhau như: từ gió, từ sóng biển, từ việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, từ
việc chế biến sản phẩm tự nhiên, nhất là việc xây dựng các nhà máy thủy điện.
Bởi điện năng là một trong những lĩnh vực quan trọng quyết định sự phát triển
và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
Trong những năm qua cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhu
cầu về điện năng liên tục tăng và tiếp tục được duy trì với mức độ cao trong
nhiều năm và nhiều thế kỷ tới. Theo dự báo của Bộ Công thương, nhu cầu điện

sản xuất ở Việt Nam là 294 tỷ kWh vào năm 2020 và 562 tỷ kWh vào năm
2030. Trong khi đó, khả năng cung cấp nhiên liệu từ các nguồn năng lượng sơ
cấp của Việt Nam cho sản xuất điện năng chỉ đáp ứng được khoảng 230 tỷ kWh
vào năm 2020 và 293 tỷ kWh vào năm 2030. Trước tình hình này, việc tìm kiếm
các nguồn năng lượng phát điện đang là sự lựa chọn tối ưu của Việt Nam, trong
đó có việc đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình thủy điện được coi là một
chiến lược quốc gia. Sau nhiều năm nghiên cứu, chủ trương xây dựng Nhà máy
Thủy điện Sơn La đã được Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ thống
nhất xây dựng tại tuyến Pá Vinh, xã ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Xây dựng công trình Thủy điện Sơn La có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng
đặc biệt, đóng góp nguồn điện lớn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng đề ra “Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng
kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
1


công nghiệp theo hướng hiện đại”[18, tr.3]. Xây dựng công trình Thuỷ điện này
là vận hội to lớn có tính lịch sử đối với các tỉnh Tây Bắc nói chung và tỉnh Sơn
La nói riêng; là thời cơ lớn để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sắp xếp lại lao động dân cư, đẩy nhanh tốc độ
phát triển kinh tế - xã hội, sớm đưa Sơn La ra khỏi tình trạng tỉnh đặc biệt khó
khăn, tạo lập các yếu tố cơ bản để phát triển nhanh hơn và bền vững trong
những năm tiếp theo.
Theo thiết kế, Thủy điện Sơn La là công trình thủy điện lớn nhất Việt
Nam, đồng thời là công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, xây dựng công
trình này phải tiến hành công cuộc di dân, tái định cư có tổ chức lớn nhất ở nước
ta cho tới thời điểm hiện nay. Di dân, tái định cư là nhiệm vụ mới, quan trọng,
toàn diện và nhạy cảm, liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của
đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh như: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an

ninh, quốc phòng... Vì thế, công tác vận động di dân, tái định cư Thủy điện Sơn
La có vị trí đặc biệt quan trọng. Nhiệm vụ này phải bảo đảm thực hiện thống
nhất, đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công
tác di dân, tái định cư. Nội dung và phương pháp tổ chức thực hiện phải phù hợp
với tâm lý và nhận thức của đồng bào, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao để tổ chức
di dân, tái định cư theo quy hoạch, kế hoạch, đúng quy trình, thực hiện tốt quy
chế dân chủ ở cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng thành
công Nhà máy Thủy điện Sơn La.
Từ những nhận thức trên đây, để nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và
tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm tiếp tục thực hiện tốt công tác di dân, tái
định cư đáp ứng yêu cầu kế hoạch xây dựng thủy điện Sơn La, tôi lựa chọn đề
tài “Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện chính sách di dân, tái định cư
đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà giai đoạn 2005 - 2015” để làm
khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, việc xây dựng thủy điện và công tác di dân, tái định cư khi
xây dựng thủy điện luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, thể hiện:
2


- Nghị định số 105/2005/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của luật điện lực của Chính phủ ra ngày 17/8/2005 đã chỉ rõ vai trò
to lớn của công trình thủy điện đối với kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh.
- Quyết định số 64/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về chính sách
đặc thù di dân, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện được phát hành ngày
18/11/2014. Theo đó, khi tiến hành di dân, tái định cư người dân sẽ được bồi
thường về tài sản trên đất, được xây dựng nhà ở và các công trình phụ, làm
đường để di chuyển người và tài sản, được xây dựng các công trình y tế, giáo
dục… để ổn định đời sống, được hỗ trợ vốn, công nghệ để sản xuất…Trong đó,
chỉ rõ cách thức thực hiện để tiến hành công tác di dân, tái định cư đạt hiệu

quả…
Công trình xây dựng Thủy điện Sơn La được các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà
nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp trong và
ngoài nước, các cơ quan ngôn luận báo chí, xuất bản đặc biệt quan tâm. Từ trước
thời điểm công trình chính thức đi vào xây dựng đã có nhiều văn bản chỉ đạo
của Đảng, Nhà nước, dự án nghiên cứu cấp Nhà nước, các bài viết tuyên truyền
rộng rãi trên báo Đảng, tạp chí của Trung ương và nhiều địa phương trên cả
nước đề cập đến công tác di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La, ví dụ như:
Về sách:
- “Tỉnh Sơn La 110 năm 1895 - 2005”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2005, do Ban Thường vụ tỉnh ủy Sơn La chỉ đạo biên soạn. Các tác giả đã tập
trung giới thiệu những đặc điểm về địa lý, tự nhiên và các dân tộc anh em trên
mảnh đất Sơn La và một số hoạt động kinh tế - xã hội khởi sắc trong những năm
thực hiện đường lối đổi mới.
- “Sơn La thế và lực mới trong thế kỷ XXI” của Thào Xuân Sùng (chủ biên),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. Các tác giả đã giới thiệu những đặc điểm,
tiềm năng, thế mạnh của Sơn La và các định hướng lớn trong phát triển kinh tế xã hội cũng như các ngành, lĩnh vực quan trọng của tỉnh Sơn La.
- “Sau 4 năm thực hiện tái định cư Thuỷ điện Sơn La”, chuyên đề của Đài
Tiếng nói Việt Nam ra ngày 19/11/2007. Chuyên đề đánh giá kết quả công tác
3


đầu tư xây dựng dự án thành phần tại các khu, điểm tái định cư dự án Thuỷ điện
Sơn La giai đoạn I (2003-2007). Tỉnh Sơn La đã phê duyệt quy hoạch chi tiết
các khu, điểm tái định cư đáp ứng việc bố trí dân cư di chuyển theo kế hoạch.
- “Nhà máy thủy điện Sơn La và công cuộc di dân, tái định cư” của Ban chỉ
đạo Dự án bồi thường di dân, tái định cư tỉnh Sơn La. Nhà xuất bản Thương
mại, Hà Nội, 12/2006. Cuốn sách đã nêu vị trí, tầm quan trọng và những lợi ích
của việc xây dựng công trình Thủy điện Sơn La. Đặc biệt, cuốn sách còn tổng
hợp các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và của Đảng bộ tỉnh Sơn La từ

năm 2002 - 2006. Trong đó, chỉ rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ cũng như
trách nhiệm của các ban, ngành, đoàn thể ở cơ sở về phối hợp thực hiện công tác
di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La.
Các bài báo, báo cáo và tạp chí:
- “Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải kiểm tra tiến độ xây dựng công trình
thủy điện Sơn La và công tác di dân, tái định cư”, của tác giả Hà Bắc, đăng trên
báo Sơn La số 4263, ra ngày 5/1/2008. Theo tác giả bài báo, qua công tác kiểm
tra của đoàn công tác Chính phủ cho thấy công tác di dân, tái định cư là nhân tố
quyết định đến tiến độ thi công Nhà máy thủy điện Sơn La, vì vậy cần có những
biện pháp hiệu quả đẩy mạnh công tác di dân, tái định cư.
- “Đẩy mạnh di dân tái định cư thủy điện Sơn La”, xã luận đăng trên Báo
Sơn La, số 4222, ra ngày 11/9/2008. Bài xã luận đã khẳng định công tác di dân,
tái định cư là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn đảng bộ
tỉnh Sơn La hiện nay, vì vậy toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng
nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La phải nỗ lực hết mình để từ cuộc sống còn
nhiều khó khăn đổi mới toàn diện thành cuộc sống tốt đẹp hơn.
- “Nỗ lực cao trong công tác di dân, tái định cư Thuỷ điện Sơn La” của Quốc
Tuấn, đăng trên báo Sơn La, số ra ngày 5/3/2008. Tác giả đã phản ánh các hoạt
động của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân chuẩn bị và tiến hành công tác
di dân, tái định cư cũng như không khí khẩn trương của nhân dân các dân tộc
Sơn La theo lời kêu gọi, vận động của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước di
chuyển đến quê hương mới.
4


- “Di dân tái định cư Thuỷ điện Sơn La còn nhiều việc phải làm” của Mai
Hương, đăng trên Báo Lao động, số ra ngày 10/12/2008. Bài viết đã đánh giá
tổng quan một số kết quả đạt được trong công tác di dân trong 2 năm 2007 2008 của các chính quyền cơ sở thuộc tỉnh Sơn La, trong đó đề cập những khó
khăn và nhược điểm trong công tác chỉ đạo. Tác giả bài viết chỉ ra rằng, chính
quyền các địa phương cần tăng cường phối hợp, tìm các giải pháp đẩy nhanh

tiến độ giao đất, hướng dẫn người dân phát triển sản xuất, ổn định thu nhập để
gắn bó với nơi ở mới.
- “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm, kiểm tra tiến độ xây dựng công trình
thủy điện Sơn La và công tác di dân tái định cư”, của tác giả Hà Bắc, đăng trên
Báo điện tử Sơn La ngày 12/9/2009. Tác giả đã cho chúng ta biết sự quan tâm
đặc biệt của Chính phủ đối với Sơn La về công tác di dân, tái định cư, để công
trình hoàn thành đúng tiến độ cần có sự đầu tư động viên kịp thời không chỉ cho
công trình mà đồng thời cả công tác di dân, tái định cư.
- “Ngày xuân 2009 trên đại công trường” của hai tác giả Ngọc Lan và
Thu Cúc, đăng trên báo Lao động ra ngày 23/1/2009. Hai tác giả đã phản ánh
không khí lao động khẩn trương của công nhân Công trường nhà máy Thủy
điện Sơn La, bằng tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ cán bộ, đảng viên,
công nhân các hạng mục công trình sẽ đáp ứng yêu cầu tiến độ phát điện tổ
máy số 1 vào năm 2010.
- “Công các vận động di dân, tái định cư dự án Thuỷ điện Sơn La tại huyện
Yên Châu kết quả bước đầu và bài học, kinh nghiệm”, Báo cáo điển hình về kết
quả công tác vận động di dân, tái định cư tại huyện Yên Châu, 1 trong 10 điểm
tái định cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La. Báo cáo đã phản ánh các bước triển khai
thích hợp, sự tham gia của các đoàn thể - chính trị xã hội trong công tác vận
động di dân, tái định cư từ năm 2008 đến năm 2009 tại một đảng bộ huyện điển
hình... Nhìn chung, các công trình, bài viết nêu trên đã phản ánh bức tranh sinh
động về tiến độ thi công công trình Thủy điện Sơn La, tiến độ di dân, tái định cư
tại các vùng, các điểm tái định cư, cuộc sống trên quê mới của đồng bào các dân
tộc và sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với Sơn La. Các công
5


trình, bài viết trên đã đề cập đến nhiều nội dung phong phú, ở nhiều góc độ phục
vụ cho mục đích của mình.
Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình, bài viết nào đề cập một cách có hệ thống

về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư đối với
đồng bào dân tộc thiểu số vùng lòng hồ sông Đà trong giai đoạn 2005 - 2015.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Góp phần tổng kết một bước thành quả của công tác di dân, tái định cư đối
với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà trong giai đoạn 2005 - 2015 dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc trên
địa bản tỉnh Sơn La.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Một là, hệ thống hóa những vấn đề về chính sách di dân, tái định cư của Đảng
bộ tỉnh Sơn La đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà từ năm 2005 - 2015.
- Hai là, quá trình Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện công tác di dân,
tái định cư.
- Ba là, đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Sơn La đối với việc thực hiện công tác di dân, tái định cư của đồng bào
dân tộc vùng lòng hồ sông Đà trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện chính sách di dân, tái định
cư đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà giai đoạn 2005 - 2015.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Văn kiện, nghị quyết của Đảng, báo cáo và báo cáo tổng
kết về công tác di dân, tái định cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La trong việc lãnh

6



đạo thực hiện chính sách di dân, tái định cư cho đồng bào dân tộc vùng lòng
hồ sông Đà.
- Về thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Khóa luận nghiên cứu dựa trên cơ sở sử dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về Đảng
và xây dựng Đảng, trong đó có những quan điểm, chủ trương về công tác vận
động quần chúng. Vận dụng các quan điểm, tư tưởng đó vào thực tiễn lãnh đạo
công tác di dân, tái định cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với đồng bào dân tộc
vùng lòng hồ sông Đà trong giai đoạn hiện nay.
- Khóa luận còn sử dụng các phương pháp: lịch sử và logic, thu thập thông
tin và xử lý thông tin, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu các tài liệu, số liệu
thống kê, tổng kết kinh nghiệm… Đồng thời có kế thừa những kết quả nghiên
cứu của các tác giả có liên quan trên cơ sở chọn lọc và nâng cao.
6. Đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của khóa luận góp phần:
- Khóa luận góp phần xây dựng cơ sở lý luận về sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư cho đồng bào dân tộc vùng lòng
hồ sông Đà.
- Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể được sử dụng nhằm phục vụ trực
tiếp công tác lãnh đạo, chỉ đạo, công tác tuyên truyền, vận động di dân, tái định cư
của các cấp uỷ đảng thuộc Đảng bộ tỉnh Sơn La; đồng thời, kết quả nghiên cứu của
khóa luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cấp uỷ đảng ở các
địa phương khác trong quá trình lãnh đạo công tác di dân, tái định cư.
- Khóa luận có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tư liệu cho sinh
viên, giảng viên trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu về sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư đối với đồng bào dân tộc
vùng lòng hồ sông Đà giai đoạn 2005 - 2015.


7


7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở của việc Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện công tác
di dân, tái định cư đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà giai đoạn
2005 - 2015
Chương 2: Quá trình Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện chính sách di
dân, tái định cư đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà giai đoạn 2005 2015
Chương 3: Giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo
thực hiện chính sách di dân, tái định cư đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ
sông Đà của Đảng bộ tỉnh Sơn La.
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

8


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CÔNG TÁC DI DÂN, TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Quan niệm về công tác di dân, tái định cư
1.1.1.1. Quan niệm về công tác di dân
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển ngôn ngữ của Viện Khoa
học xã hội xuất bản năm 1997, do Hoàng Phê chủ biên: "Công tác" là công việc
của Nhà nước hoặc của đoàn thể, trong đó mỗi viên chức hoặc thành viên phải
thực hiện [31, tr.458]. "Di dân" là đưa nhân dân từ nơi ở cũ dời đến các vùng,

miền, địa phương khác để sinh sống [31, tr.533]. Như vậy, theo nghĩa đen có thể
hiểu: công tác di dân là một công việc của nhà nước, đoàn thể đưa dân di chuyển
từ nơi ở cũ đến nơi ở mới.
Tuy nhiên, công tác di dân là một loại công tác đặc biệt, do các chủ thể là
các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội tác động tới những
người dân đang sinh sống tại nơi ở cũ, sự tác động đó ảnh hưởng toàn diện tới
những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần ổn định như: nhà ở, tài sản vật chất,
thói quen, tập quán sinh sống, canh tác, tâm lý, tình cảm… Di dân là đưa nhân
dân từ nơi ở cũ dời đến sinh sống ở nơi ở mới theo chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước, vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng
an ninh của đất nước.
Như vậy, có thể quan niệm: công tác di dân là một loại hình đặc thù của
công tác vận động quần chúng, bao gồm các biện pháp tác động của các tổ chức
có trách nhiệm đối với người dân và tổ chức di chuyển dân cư từ nơi ở cũ đến
nơi ở mới theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vì mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước.
Từ quan niệm trên cho thấy, công tác di dân Thuỷ điện Sơn La là một loại
hình đặc thù của công tác vận động quần chúng của Đảng bộ tỉnh Sơn La, gồm
toàn bộ các hoạt động của Đảng bộ tỉnh và các tổ chức trong hệ thống chính trị,
9


các tổ chức kinh tế, xã hội và các tổ chức khác có liên quan dưới sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh nhằm tổ chức các đợt di chuyển dân từ nơi ở cũ đến nơi ở mới
phục vụ cho việc thi công công trình Thuỷ điện Sơn La theo đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Chủ thể công tác di dân chính là toàn thể Đảng bộ và chính quyền, đoàn
thể các cấp tỉnh Sơn La, gồm: Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các huyện uỷ,
HĐND, UBND huyện; cấp ủy và chính quyền nhân dân các xã, thị trấn, bản,
tiểu khu; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp từ tỉnh

xuống cơ sở; Ban quản lý di dân tái định cư tỉnh, huyện và nhân dân nằm trong
chương trình dự án di dân, tái định cư thủy điện Sơn La.
Đối tượng di dân là những cộng đồng dân cư sinh sống ven dòng sông Đà
bị ảnh hưởng sâu sắc bởi công trình, đó là những hộ dân nằm trong vùng ngập
lòng hồ, tổng mặt bằng công trường. Trong đó, đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp
là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức bị thiệt hại về đất đai, nhà ở, hoa màu và tài sản
khác, cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, công trình và vật kiến trúc.
1.1.1.2. Quan niệm về công tác tái định cư
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam
(Nhà xuất bản văn hóa thông tin xuất bản năm 1999), do Nguyễn Như ý chủ
biên: "Tái" là hai lần hoặc lần thứ hai hay một lần nữa [54, tr.1484].
"Định cư" là ở lại một nơi nhất định để sinh sống và làm ăn, hay là sinh
sống làm ăn cố định một nơi [54, tr.641]. “Định cư” đối lập với “du canh du cư”
tức là khác với tập quán sinh hoạt và canh tác của các dân tộc ít người không ổn
định ở một nơi mà thường thay đổi sau khi hết chu kỳ khai thác một đám nương
rẫy, một vùng núi đồi [54, tr.551].
Như vậy, tái định cư là hoạt động ổn định cuộc sống của một cá thể hay
một cộng đồng dân cư ở nơi ở mới sau khi di chuyển khỏi nơi ở cũ vì một lý do,
mục đích nào đó. Công tác tái định cư là công việc, hoạt động của nhà nước, các
đoàn thể, các tổ chức có trách nhiệm nhằm ổn định cuộc sống của một hay nhiều
cộng đồng dân cư tại nơi ở mới sau khi họ di chuyển khỏi nơi ở cũ theo chủ
trương, kế hoạch đã định.
10


Vì thế, ngay sau khi việc di chuyển hoàn tất, nhiệm vụ của các chủ thể
công tác di dân chưa dừng lại, mà phải tiếp tục thực hiện những nội dung,
phương thức tổ chức cuộc sống trên quê hương mới của đồng bào tái định cư và
của nhân dân sở tại. Đó cũng chính là những nội dung của công tác tái định cư.
Công tác này phải có sự chuẩn bị trước để công tác di dân bắt đầu tiến hành. Sau

khi công tác di dân đã hoàn thành, công tác xây dựng các điểm tái định cư tiếp
tục được thực hiện với mục tiêu nhằm giúp nhân dân tái định cư yên tâm và gắn
bó lâu dài trên quê hương mới.
Tuy nhiên, các hộ dân thuộc diện di chuyển trong vùng lòng hồ sông Đà khi
xây dựng thủy điện Sơn La tuyệt đại đa số là đồng bào các dân tộc thiểu số, với
những đặc điểm văn hoá riêng trong nhận thức, tư duy cũng như tập quán sinh hoạt,
sản xuất, đòi hỏi công tác tái định cư phải có nội dung, phương thức tiến hành phù
hợp, thận trọng đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của các hộ dân, có vậy
họ mới ổn định về tư tưởng, yên tâm, tin và làm theo đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước. Bởi vậy, việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục
đồng bào tự nguyện, tự giác tái định cư tại các khu, điểm tái định cư tiếp tục là
một trong những nội dung quan trọng của công tác tái định cư.
Từ thực tiễn trên cho thấy, công tác tái định cư thực chất cũng là một loại
hình đặc thù của công tác vận động quần chúng theo nghĩa rộng, bao gồm các
nội dung, phương thức vận động người dân định cư ở nơi ở mới theo chủ
trương, kế hoạch đã định và tổ chức, xây dựng cuộc sống của nhân dân tại nơi ở
mới theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm thực hiện thắng
lợi các mục tiêu, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của
đất nước.
1.1.2. Nội dung lãnh đạo công tác di dân, tái định cư
1.1.2.1. Nội dung lãnh đạo công tác di dân
Thực tế cho thấy, lãnh đạo công tác di dân, tái định cư trong giai đoạn hiện
nay là phải tìm ra những cách làm cụ thể, tối ưu, phù hợp với đặc điểm tình hình
thực hiện nhiệm vụ chính trị. Nội dung của công tác di dân bao gồm nhiều khâu,
nhiều việc, trong đó có các khâu chủ yếu là: tuyên truyền, vận động, giáo dục,
11


thuyết phục những người dân thuộc diện di chuyển tự nguyện, tự giác tiến hành
di chuyển từ nơi ở cũ đến nơi ở mới theo kế hoạch; đồng thời là việc lập kế

hoạch, phương án bồi thường thiệt hại về tài sản hiện có, cụ thể là các tài sản
gắn liền với đất, các loại cây trồng, vật nuôi; đưa ra các phương án di dân, tổ
chức di chuyển dân và các chi phí cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, di dân
giải phóng mặt bằng. Cụ thể:
- Một là, lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động các hộ dân tự nguyện, tự
giác di chuyển từ nơi ở cũ đến nơi ở mới.
Yêu cầu của công tác tuyên truyền, vận động là:
+ Làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là nhân dân các dân tộc
sinh sống ở các khu vực phải di dân, tái định cư thực sự nhận thức đúng chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng công trình,
thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh mà việc xây dựng công trình đem lại cho đất nước.
+ Lãnh đạo tạo sự thống nhất về nội dung và phương thức tuyên truyền các
chủ trương, chính sách của Trung ương, của cơ sở về xây dựng công trình; tuyên
truyền, vận động để nhân dân hiểu rõ chính sách bồi thường, di dân, tái định cư;
phạm vi áp dụng, đối tượng áp dụng và thời điểm áp dụng; giải thích rõ các từ
ngữ, khái niệm, phạm vi bồi thường thiệt hại và hỗ trợ di dân, tái định cư,
nguyên tắc bồi thường thiệt hại di dân, tái định cư.
+ Tuyên truyền để nhân dân các dân tộc vùng tiếp nhận dân tái định cư thấy
được nhiệm vụ và quyền lợi của mình, phát huy truyền thống đoàn kết, tương
thân, tương ái, chủ động, tích cực giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để mỗi hộ gia
đình đồng bào tái định cư và mọi thành viên hộ gia đình sớm hòa nhập với cuộc
sống cộng đồng. Nhân dân di chuyển đến nơi ở mới xác định rõ trách nhiệm và
nghĩa vụ công dân trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước và nghiêm túc thực hiện; giữ gìn và tăng cường khối đại đoàn kết giữa
các dân tộc, hòa đồng, tôn trọng, học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn.
+ Lãnh đạo việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở theo phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong công tác di dân. Phổ biến công
12



khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh đến tận người
dân, kịp thời giải đáp những thắc mắc của người dân. Công khai nguồn vốn đầu
tư và các dự án. Thông báo quy hoạch, kế hoạch di chuyển và phương án điều
chuyển giữa nơi đi và nơi đến tái định cư.
+ Tuyên truyền về kinh nghiệm, những mô hình trong di dân, tái định cư,
ổn định đời sống và phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện đại đoàn kết các dân
tộc. Tuyên truyền, phát động phong trào thi đua yêu nước, nêu gương những tập
thể, cá nhân, người tốt, việc tốt trong công tác di dân, tái định cư.
- Hai là, lãnh đạo công tác bồi thường và hỗ trợ tái định cư cho nhân dân
+ Lãnh đạo việc thành lập và kiện toàn Ban quản lý Dự án tái định cư tỉnh,
huyện; Hội đồng thẩm định, Hội đồng nghiệm thu tái định cư tỉnh; Ban quản lý
dự án chuyên ngành; Hội đồng bồi thường, đền bù tái định cư các huyện, thành
phố; Ban hành quy chế làm việc của các cơ quan nêu trên. Lãnh đạo công tác
thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân nằm trong vùng quy hoạch tái định cư, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thẩm quyền quy định của pháp luật đất
đai.
+ Lãnh đạo việc giao kế hoạch vốn bồi thường, di dân, tái định cư hàng
năm cho các huyện, thành phố. Chỉ đạo Ban quản lý tái định cư tỉnh; UBND các
huyện, thành phố; các chủ đầu tư cụ thể hóa kế hoạch và tổ chức triển khai thực
hiện các dự án thành phần, cụ thể hóa các quyết định của Thủ tướng Chính phủ
về bồi thường, di dân, tái định cư. Lãnh đạo phê duyệt dự án đầu tư; hồ sơ thiết
kế, dự toán; kết quả đấu thầu, chỉ định thầu theo phân cấp. Ban hành đơn giá,
định mức đền bù phục vụ công tác bồi thường, di dân tái định cư trên địa bản
tỉnh. Chỉ đạo Ban quản lý tái định cư tỉnh lập kế hoạch tái định cư, quyết toán
vốn đầu tư hàng năm và tổng thể dự án, trình HĐND tỉnh phê chuẩn.
+ Lãnh đạo việc giao vốn tái định cư hàng năm cho các dự án thành phần
(theo phân cấp); chỉ đạo xây dựng quy hoạch chi tiết các khu tái định cư; xây
dựng kế hoạch và các biện pháp, giải pháp để tổ chức thực hiện công tác bồi
thường, di dân, tái định cư trên địa bàn huyện, thị xã trình HĐND huyện, thành

phố phê chuẩn để tổ chức thực hiện. Chỉ đạo các cơ quan chức năng lập và
13


thông qua kế hoạch vốn bồi thường, di dân, tái định cư hàng năm trong kế hoạch
vốn đầu tư của huyện, thành phố để gửi các cơ quan chức năng theo đúng thời
hạn quy định. Tổ chức tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm, thực hiện chế độ báo
cáo, thống kê về thực hiện dự án tái định cư.
- Ba là, lãnh đạo công tác di chuyển dân và tài sản của họ từ nơi ở cũ đến
nơi ở mới
+ Lãnh đạo việc chấp hành các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về di dân và thực hiện quy hoạch, bố trí
dân cư. Chỉ đạo các Ban quản lý dự án tỉnh, huyện có nhiệm vụ rà soát các đối
tượng, xác định nhu cầu quy hoạch, bố trí dân cư và xây dựng kế hoạch di dân
địa phương. Liên hệ xác định cụ thể địa bàn nhận dân, phối hợp với chính quyền
địa phương nơi đi, nơi đến và đại diện các hộ dân để tổ chức khảo sát, thẩm tra
địa bàn nhận dân, đảm bảo cơ bản về các điều kiện tối thiểu cho đời sống nhân
dân; lập biên bản thẩm tra địa bàn dự án di dân thực hiện quy hoạch, bố trí dân
cư. Cung cấp đầy đủ cho các hộ dân các thông tin cần thiết về vùng dự án quy
hoạch, bố trí dân cư, địa bàn nhận dân (kể cả khó khăn và thuận lợi). Tổ chức
hợp đồng giữa 3 bên gồm đại diện chính quyền địa phương nơi đi, nơi đến và
chủ dự án về số lượng hộ di dân, thời gian giao nhận và trách nhiệm của mỗi bên
để hoàn thành nhiệm vụ quy hoạch, bố trí dân cư, đảm bảo đúng đối tượng di
dân. Hướng dẫn chủ hộ di dân làm thủ tục hồ sơ. Công khai tài chính và giải
quyết chính sách hỗ trợ đầu đi cho các hộ dân được hưởng chính sách trước khi
di chuyển.
+ Lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương (nơi đi) tổng hợp đơn tự
nguyện di dân, thành lập hội đồng xét duyệt, lập danh sách các hộ dân, báo các
UBND huyện để phê duyệt theo đúng đối tượng, chỉ tiêu kế hoạch được giao
hàng năm. UBND huyện ra quyết định di dân và chỉ đạo các phòng, ban chuyên

môn, UBND xã hướng dẫn các hộ dân làm các công việc chuyển nhượng tài sản,
đất ở, đất sản xuất, thanh toán công nợ và những tồn tại ở quê cũ, chuẩn bị vốn,
giống cây, con, công cụ sản xuất, đồ dùng sinh hoạt cần thiết phù hợp với điều

14


kiện canh tác và cuộc sống trên vùng đất mới; làm thủ tục chuyển khẩu cho các
hộ di dân.
+ Lãnh đạo công tác chuẩn bị của địa phương nơi có kế hoạch nhận dân
(nơi đến). Trước hết, Ban quản lý dự án di dân, tái định cư các huyện phối hợp
với các cấp chính quyền địa phương (UBND huyện, xã) thực hiện các việc: Tổ
chức triển khai kế hoạch nhận dân và bố trí dân cư theo quy hoạch được phê
duyệt. Chuẩn bị địa bàn nhận dân theo quy hoạch, kế hoạch như: lập quy hoạch
chi tiết khu dân cư về đất ở, đất sản xuất trình cấp có thẩm quyền phê duyệt,
hướng dẫn xây dựng nhà ở; xây dựng giao thông nội vùng, thủy lợi nhỏ, phòng
học, trạm y tế, công trình cấp nước sinh hoạt, trạm hạ thế theo mục tiêu và nội
dung đã phê duyệt trong dự án. Phối hợp cùng địa phương nơi đi, nơi đến, chủ
dự án, đại diện các hộ di dân để tổ chức thẩm tra địa bàn dự án nhận dân và
hướng dẫn những biện pháp cần thiết chia địa phương sở tại, chủ dự án tổ chức
tiếp nhận dân cư theo tiến độ di dân. Đối với cấp ủy, chính quyền địa phương
nơi đến: có nhiệm vụ rà soát, quy hoạch đất đai phối hợp với cơ quan chuyên
ngành di dân xây dựng các dự án khả thi bố trí dân cư, trình cấp có thẩm quyền
phê duyệt (trường hợp nhận dân theo hình thức tập trung); hoặc bố trí các vùng
để nhận dân (trường hợp nhận dân đến xen ghép). Lãnh đạo các cơ quan chuyên
ngành của địa phương nơi đi có trách nhiệm xây dựng phương án di dân, phối
hợp với chính quyền địa phương nơi đi tổ chức di chuyển an toàn về người, tài
sản cho các hộ dân từ nơi ở cũ đến nơi định cư mới.
1.1.2.2. Nội dung lãnh đạo công tác tái định cư
- Một là, lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động dân tái định cư theo kế

hoạch, quy hoạch. Khi việc di chuyển hoàn thành, nhiệm vụ của các chủ thể lãnh
đạo là phải tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động trong Đảng bộ
và nhân dân các dân tộc, làm cho các đối tượng trực tiếp và gián tiếp bị ảnh
hưởng bởi Dự án thủy điện Sơn La có nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ tái định cư.
Chính vì vậy, việc phải làm của các chủ thể lúc này là lãnh đạo thống nhất nội
dung và phương thức tuyên truyền của các cấp ủy đảng, các ngành, các đơn vị,
các cơ quan báo đài, đảm bảo đúng chủ trương, chính sách của Trung ương
15


Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các cơ chế chính sách của tỉnh về nhiệm vụ di
dân, tái định cư; tránh tình trạng công tác tuyên truyền thiếu thống nhất, không
sát đúng với chế độ chính sách, với thực tế ở cơ sở gây dư luận không tốt cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Nội dung và phương pháp tuyên truyền, vận động phải phù hợp với tâm lý
và nhận thức của đồng bào. Di dân, tái định cư là công tác phức tạp, nhạy cảm,
liên quan đến nhiều lĩnh vực, nên phải tích cực khơi dậy truyền thống yêu nước,
đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc ở các xã, bản, hộ dân
thuộc diện phải di chuyển và tiếp nhận dân tái định cư. Yêu cầu của công tác
tuyên truyền phải làm rõ chủ trương, chính sách đến từng người dân theo
phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
Yêu cầu về công tác vận động là các cấp ủy phải chỉ đạo chính quyền các
cấp, cùng các tổ chức đoàn thể tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc
nảy sinh trong quá trình thực hiện. Đồng thời, chú trọng phát huy tinh thần cộng
đồng, khơi dậy tinh thần đoàn kết, thống nhất, tương trợ lẫn nhau giữa các hộ
dân nơi đi và nơi đến, tạo sự thống nhất về tư tưởng, tình cảm giữa người dân
mới chuyển đến với nhân dân sở tại, giúp người dân tái định cư tự nguyện, tự
giác vào các khu, điểm tái định cư đã quy hoạch xây dựng đời sống mới, giúp họ
yên tâm với đời sống ở những nơi đã quy hoạch, không chạy đi nơi khác.
- Hai là, lãnh đạo công tác đón tiếp dân tái định cư, bố trí nơi ở, giao đất

sản xuất cho dân tái định cư.
Đây là giai đoạn tiếp nhận và ổn định đời sống ban đầu tại nơi tái định cư.
Đảng bộ tỉnh phải tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo các việc làm cụ thể đối với các cấp
ủy, chính quyền nhân dân, MTTQ và các đoàn thể thực hiện các việc cụ thể ở cơ
sở:
+ Đối với các Ban quản lý dự án vùng tái định cư, có nhiệm vụ kiểm tra
danh sách trích ngang các hộ theo từng đối tượng; Lập biên bản giao nhận hộ di
dân thực tế đến vùng dự án; Phối hợp với chủ dự án bố trí các hộ di dân vào khu
dân cư theo sơ đồ đã được thẩm tra, nghiệm thu; Giải quyết chính sách hỗ trợ
đầu đến cho các hộ di dân thực hiện đến vùng dự án theo quy định hiện hành;
16


Hoàn thiện các biểu mẫu, chuẩn bị các chứng từ, sổ sách để thanh quyết toán,
lập báo cáo sau mỗi đợt chuyển dân. Phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ
chức rút kinh nghiệm toàn bộ đợt nhận dân và chuẩn bị đợt nhận dân tiếp theo.
+ Chính quyền địa phương nơi đến: ủy ban nhân dân huyện, thành ủy ra
quyết định tiếp nhận số hộ lao động, nhân khẩu thực đến vùng dự án. Làm thủ
tục nhập hộ khẩu thường trú cho các hộ di dân thực đến. Giao đất, đất sản xuất
nông, lâm nghiệp theo quy hoạch của dự án và làm các thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho các hộ di dân. ở những vùng dự án được phê duyệt,
chủ dự án phối hợp với các cơ quan chuyên ngành di dân kiểm tra thực tế, lập
biên bản nghiệm thu khối lượng và thanh toán kinh phí hỗ trợ khai hoang cho
các hộ di dân theo quy định hiện hành của Nhà nước. Phối hợp với chủ dự án
hướng dẫn các hộ khai hoang, tổ chức khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư,
khuyến công và quy ước bảo vệ rừng, môi trường sinh thái và các điều kiện cần
thiết khác về phong tục tập quán, sinh hoạt ở nơi định cư mới.
+ Các địa phương nơi đi và nơi đến, chủ dự án phải giải quyết những
vướng mắc, khó khăn về sản xuất, điều kiện sống cho các hộ di dân trong thời
gian đầu mới đến định cư nơi ở mới. Theo các chính sách đền bù và bồi thường

thiệt hại, mỗi hộ gia đình sẽ được Đảng và Nhà nước tiếp tục trợ cấp về gạo,
chất đốt, điện, giống cây trồng, vật nuôi trong hai năm tái định cư trên quê mới,
chính sách hỗ trợ được tính thêm nếu lạm phát xảy ra.
+ Chỉ đạo các chính quyền huyện và xã phối hợp với chủ dự án, các ngành
chức năng rà soát và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã phù hợp
với quy hoạch phát triển chung, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
phát triển sản xuất, nhằm xác định số hộ, địa bàn phải di chuyển và khả năng
tiếp nhận dân tái định cư tại nơi ở mới. Quyết định thu hồi đất và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo thẩm quyền quy định của Luật đất đai. Xem xét,
giải quyết các đề nghị hợp pháp của công dân trong phạm vi chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn được giao.
- Ba là, lãnh đạo công tác quy hoạch, xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng tại
các khu, điểm tái định cư và tổ chức đời sống mới cho đồng bào tái định cư.
17


+ Chỉ đạo các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản
các công trình hạ tầng thiết yếu, như: giao thông nội vùng, thủy lợi nhỏ, trường
học, trạm xá...; đồng thời có các biện pháp huy động vốn đầu tư thuộc chương
trình phát triển kinh tế - xã hội, chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư đồng
bộ cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng địa bàn đón dân trước khi nhận dân đến. Khai
hoang xây dựng đồng ruộng hoặc tổ chức chuyển nhượng đất đai để giao cho
các hộ di dân. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan về chế độ, chính sách,
định mức, đơn giá, quy trình, đề cương cho đơn vị tư vấn lập quy hoạch chi tiết
để triển khai thực hiện, đáp ứng tiến độ và chất lượng hồ sơ quy hoạch chi tiết
theo yêu cầu của chủ đầu tư; triển khai nghiệm thu tài liệu thiết kế tại thực địa
trước khi trình thẩm định và phê duyệt theo đúng quy định; tổ chức lựa chọn các
đơn vị tư vấn đủ năng lực để triển khai thực hiện, đáp ứng nhu cầu về chất lượng
và tiến độ (kể cả thay thế các đơn vị tư vấn không đủ năng lực); Chỉ đạo việc
phối hợp giữa đơn vị tư vấn lập quy hoạch chi tiết và các đơn vị tư vấn lập dự án

thành phần nhằm đảm bảo chất lượng hồ sơ quy hoạch và đáp ứng tiến độ, phục
vụ việc triển khai xây dựng các khu, điểm tái định cư trên địa bàn.
+ Chỉ đạo các ngành chức năng của tỉnh, thành phố: Tăng cường sự phối
hợp giữa các ngành, sự phối hợp giữa các ngành với UBND các huyện, thị xã
trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ di dân, tái định cư. Chủ động giải quyết
các vướng mắc cho các huyện trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch di dân,
tái định cư. Giao sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các ngành tham
mưu, đề xuất trình UBND tỉnh xem xét, quyết định, Quy trình phối hợp giải
quyết các công việc liên quan đến công tác di dân, tái định cư trên điạ bàn.
+ Chỉ đạo các đơn vị tư vấn (gồm Ban quản lý dự án tỉnh, huyện và các chủ
đầu tư): Tập hợp đầy đủ các quy định, chính sách của Chính phủ, các bộ, ngành
trung ương và của tỉnh về công tác di dân, tái định cư để triển khai lập hồ sơ quy
hoạch chi tiết theo đúng quy định hiện hành; hoàn chỉnh hồ sơ, bản vẽ quy
hoạch chi tiết cho các khu, điểm tái định cư đã được phê duyệt theo yêu cầu của
Hội đồng thẩm định để chủ đầu tư tổ chức nghiệm thu tại thực địa và hoàn thiện
thủ tục thanh toán vốn. Bổ sung cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn và trình độ
18


chuyên môn theo chuyên ngành để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng hồ
sơ quy hoạch chi tiết các khu, điểm tái định cư.
1.1.3. Phương thức lãnh đạo công tác di dân, tái định cư
Cũng như nhiều công tác khác, lãnh đạo công tác di dân, tái định cư được
thực hiện bằng các phương thức chủ yếu sau:
- Một là, lãnh đạo bằng việc ra các nghị quyết, quyết định xác định rõ nội
dung nhiệm vụ của công tác di dân, tái định cư và quan điểm lãnh đạo chỉ đạo
công tác di dân, tái định cư. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Khi đã có chính
sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ
chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài,
thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" [29, tr.520].

Liên hệ với thực tế công tác vận động di dân, tái định cư cho thấy công tác
vận động di dân, tái định cư chỉ đạt kết quả tốt khi toàn đảng bộ nhận thức đầy
đủ tầm quan trọng của việc ra nghị quyết và các quyết định lãnh đạo dự án di
dân, tái định cư. Sử dụng phương thức lãnh đạo này không chỉ quyết định đến
chất lượng vận động di dân, tái định cư mà còn quyết định đến việc xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân, quyết định đến tiến trình và thắng lợi chung của Dự
án xây dựng. Chính vì vậy, Đảng bộ phải ra các chủ trương nghị quyết, quyết
định lãnh đạo đúng, phù hợp thực tế (tâm lý, tình cảm, nguyện vọng chính đáng
của nhân dân), phù hợp nhận thức và năng lực chấp hành đường lối của nhân
dân bị ảnh hưởng bởi dự án. Theo đó, các Nghị quyết và quyết định lãnh đạo của
Trung ương sẽ phải được toàn Đảng bộ nghiên cứu kỹ phối hợp đồng bộ trong
triển khai tổ chức thực hiện, cụ thể hóa vào điều kiện của từng địa phương, bắt
đầu từ việc thành lập bộ máy chuyên trách lãnh đạo quản lý đến việc xây dựng
đội ngũ cán bộ có năng lực được trang bị kiến thức chuyên môn cần thiết; giao
nhiệm vụ cho các ban, ngành, cơ quan, đơn vị đảm nhiệm.
- Hai là, lãnh đạo thông qua bộ máy chính quyền, các tổ chức đoàn thể
quần chúng các cấp, các Ban quản lý dự án di dân, tái định cư, các tổ chức kinh
tế - xã hội

19


×