Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

Vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết của trịnh thanh phong (LV01966)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.18 MB, 100 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

BÙI VÂN ANH

VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA TRỊNH THANH PHONG

Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS LÝ HOÀI THU

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản
thân, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và
ngoài trƣờng.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới quý thầy cô
giáo trong Tổ Lí luận văn học - Khoa Ngữ văn và Phòng Sau đại học Trƣờng ĐHSP Hà Nội 2 đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt
nhất trong suốt thời gian tôi học tập tại đây để hoàn thành luận văn
này.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS
Lý Hoài Thu đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hƣớng dẫn, chỉ bảo
và động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những ngƣời thân
trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp luôn bên tôi, động viên tôi trong


suốt quá trình hoàn thành khóa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng
Tác giả

Bùi Vân Anh

năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan
rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng
Tác giả

Bùi Vân Anh

năm 2016


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................. 3
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................. 8

5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .............................................................. 9
6. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................ 9
7. Đóng góp của luận văn ............................................................................... 9
8. Cấu trúc của luận văn.................................................................................. 9
CHƢƠNG 1. VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
THỜI KÌ ĐỔI MỚI VÀ TÁC GIẢ TRỊNH THANH PHONG ...................... 11
1.1. Vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới ............. 11
1.1.1. Nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam trước đổi mới......................... 11
1.1.2. Nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới .............................. 15
1.2. Hành trình sáng tác của Trịnh Thanh Phong ......................................... 20
1.2.1. Vài nét về tiểu sử ................................................................................ 21
1.2.2. Hành trình sáng tác ............................................................................ 23
CHƢƠNG 2. ĐỜI SỐNG NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA
TRỊNH THANH PHONG ............................................................................... 26
2.1. Bức tranh đời sống – xã hội nông thôn trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh
Phong ............................................................................................................... 26
2.1.1. Nông thôn với những tàn dư của cải cách ruộng đất và di hại của cơ
chế quan liêu bao cấp ..................................................................................... 27
2.1.2. Nông thôn trong bão tố thị trường ........................................................ 33
2.1.3. Nông thôn với đời sống tâm linh phong phú ......................................... 38
2.2. Thân phận ngƣời nông dân....................................................................... 42
2.2.1. Người nông dân với số phận mang tính bi kịch .................................... 43


2.2.2. Người nông dân vượt lên trên hoàn cảnh, số phận............................... 46
2.2.3. Người nông dân với sự phân hóa mạnh mẽ số phận trong thời mở cửa .. 49
2.3. Những rạn vỡ văn hóa .............................................................................. 51
2.3.1. Những đổ vỡ trong mối quan hệ làng xã .............................................. 52
2.3.2. Sự tràn lan của các tệ nạn xã hội.......................................................... 54
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU

THUYẾT VỀ ĐỀ TÀI NÔNG THÔN CỦA TRỊNH THANH PHONG ....... 56
3.1. Không gian – thời gian nghệ thuật ........................................................... 56
3.1.1. Không gian – thời gian hiện thực đời thường....................................... 57
3.1.2. Không gian – thời gian hồi tưởng ......................................................... 59
3.1.3. Không gian – thời gian tâm linh ........................................................... 62
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ................................................................. 63
3.2.1 Xây dựng nhân vật qua ngoại hình ........................................................ 63
3.2.2. Miêu tả hành động nhân vật ................................................................. 68
3.2.3. Khắc họa đời sống nội tâm nhân vật .................................................... 70
3.3. Ngôn ngữ .................................................................................................. 73
3.3.1. Ngôn ngữ nhân vật ................................................................................ 73
3.3.2. Ngôn ngữ trần thuật (Ngôn ngữ của người kể chuyện) ........................ 80
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 90


1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp – nông thôn – nông dân,
văn học là một thành phần không thể tách rời. Càng hội nhập sâu rộng với thế
giới, văn học càng cần tự nguyện gánh vác sứ mệnh chuyên chở những giá trị
thẩm mỹ khẳng định nền tảng Việt Nam, cốt cách Việt Nam, bản lĩnh Việt
Nam theo từng nhịp điệu xây dựng nông thôn mới. Để làm đƣợc điều đó, văn
học phải cắm rễ vào làng quê. Từ lâu, hiện thực đời sống nông thôn đã bám
rễ vào mạch nguồn văn học dân tộc, in dấu lên mọi sáng tác văn chƣơng. Đối
với một nƣớc đi lên từ nông nghiệp, phần đông dân số sống trong khu vực
nông thôn, gắn bó với công việc đồng ruộng thì nông thôn và hình tƣợng
ngƣời nông dân vẫn luôn là những đề tài lớn cho giới văn nghệ sĩ. Đây cũng
là mảng đề tài ghi danh nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu nhƣ Nguyễn

Khuyến, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu,
Chu Văn, Đào Vũ, Nguyễn Kiên, Nguyễn Thị Ngọc Tú…
1.2. Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã khép lại cuộc chiến tranh, non
sông thu về một mối, đất nƣớc dần chuyển mình từ thời chiến sang thời bình,
một kỉ nguyên mới mở ra với lắm khó khăn, bộn bề nhƣng cũng nhiều khát
vọng. Chính điều đó là mảnh đất màu mỡ để văn học sau 1975 vƣơn mình
lớn dậy; đặc biệt tƣ tƣởng đổi mới kể từ sau Đại hội lần thứ VI (1986) của
Đảng đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo nên bầu
không khí dân chủ, cởi mở, tiến bộ hơn, trong đó có văn học. Trong sự phát
triển của nền văn học mới, văn xuôi nông thôn chiếm một vị trí không nhỏ cả
về số lƣợng lẫn chất lƣợng. Việc khai thác đề tài này dƣới nhiều góc độ đã
góp phần làm nên diện mạo, thành tựu, tác dụng xã hội và tính đặc thù của
nền văn học.


2
Tiểu thuyết viết về nông thôn sau 1975, nhất là sau năm 1986 vẫn tiếp
tục “thâm canh” trên mảnh đất đầy tiềm năng này nhƣng phƣơng thức khai
thác thay đổi. Trƣớc bƣớc ngoặt chuyển mình của dân tộc, tiểu thuyết viết về
nông thôn đã hòa vào dòng chảy để phản ánh trọn vẹn bức tranh nông thôn
đƣơng đại ở bề sâu dƣới cái nhìn nhận thức lại hiện thực và nhu cầu đạo đức tối
đa. Nhiều vấn đề mới, cách nhìn và cả hệ hình tƣ duy mới đƣợc đặt ra cấp thiết,
sâu sắc trong mạch ngầm tiểu thuyết. Nó mang đến hơi thở mới cho văn xuôi nói
chung và sức cuốn hút mãnh liệt cho tiểu thuyết viết về nông thôn nói riêng với
nhiều dáng nét độc đáo hơn. Sự vận động hợp quy luật của văn xuôi đã mở ra
nhiều ngả đƣờng để tiểu thuyết nông thôn đi sâu vào mọi ngõ ngách của làng
quê nhằm tìm kiếm, phát hiện những vẻ đẹp, những đau khổ, những ẩn ức…
trong từng thân phận ngƣời nông dân. Sự đóng góp đó đã mang lại sức sống
mới, chiều sâu mới cho nền tiểu thuyết nƣớc nhà.
1.3. Bên cạnh những tác giả, tác phẩm nổi tiếng viết về vấn đề này nhƣ

Lê Lựu với Thời xa vắng, Dƣơng Hƣớng với Bến không chồng, Nguyễn Khắc
Trƣờng với Mảnh đất lắm người nhiều ma, Hoàng Minh Tƣờng với Thuỷ hoả
đạo tặc, Đào Thắng với Dòng sông mía... chúng ta không thể không nhắc tới
các nhà văn địa phƣơng đã âm thầm viết và có những thành tựu đáng ghi
nhận. Trịnh Thanh Phong, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, là một trƣờng hợp
nhƣ thế. Sau tiểu thuyết Ma làng đƣợc chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh
và gây tiếng vang lớn trong công chúng, Trịnh Thanh Phong xuất bản tiếp
các tiểu thuyết Đồng làng đom đóm và Ông mãnh về làng. Cả ba tiểu thuyết
của ông đều viết về nông thôn với những xung đột thế sự đời tƣ vừa lâu dài,
vừa mang tính thời sự.
Nghiên cứu vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh
Phong, ngƣời viết nhận thấy số lƣợng các bài viết trên các báo Tuyên Quang,
tạp chí Văn nghệ quân đội, những nhận xét của các tác giả khác về Trịnh


3
Thanh Phong khá phong phú, nhƣng phần lớn chỉ là những ý kiến lẻ tẻ, chƣa
hệ thống. Vì vậy, khi lựa chọn đề tài “Vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết
của Trịnh Thanh Phong” ngƣời viết muốn góp một tiếng nói nhỏ để khẳng
định cá tính sáng tạo của nhà văn, những đóng góp của nhà văn vào xu thế
vận động, cách tân của văn xuôi Việt Nam ở đề tài nông thôn trƣớc và sau
đổi mới 1986.
2. Lịch sử vấn đề
Đặc thù nƣớc ta là nền văn hóa lúa nƣớc và văn hóa làng xã, chính vì
thế có thể nói đây là mảnh đất màu mỡ cho văn học. Tuy nhiên, để khai thác
mảnh đất này lại không phải là điều dễ, ở mỗi vùng miền lại mang một nét
đặc trƣng, một bản sắc văn hóa riêng. Xung quanh mảng văn học viết về nông
thôn có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết.
Tiêu biểu cho những công trình đã nghiên cứu về văn xuôi Việt Nam
viết về đề tài nông thôn là cuốn Văn xuôi viết về nông thôn tiến trình và đổi

mới của tác giả Lã Duy Lan. Trong cuốn sách, tác giả đã tổng kết toàn bộ tiến
trình và xu hƣớng phát triển của văn xuôi viết về đề tài nông thôn đặt trong
tiến trình phát triển của văn học Việt Nam. Nội dung chủ yếu tác giả cuốn
sách muốn đề cập đó là bộ mặt thật của nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới
đƣợc phản ảnh trong văn học Việt Nam nhƣ thế nào. Cuốn sách là một cái
nhìn tƣơng đối toàn diện về mảng văn xuôi viết về đề tài nông thôn Việt Nam.
Bài “Một số vấn đề văn xuôi thời kì đổi mới” của tác giả Tôn Phƣơng
Lan trong cuốn Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX đã đề cập đến văn học
sau chiến tranh. Đặt đề tài nông thôn bên cạnh đề tài khác, bài viết đã chỉ ra
những đổi mới của đề tài nông thôn trong sự đổi mới chung của tiểu thuyết
sau 1986. Ngoài ra, trong bài viết này, tác giả còn nói đến một số vấn đề tồn
tại của đời sống nông thôn trong mối quan hệ dòng tộc.


4
Các nhà văn chuyên viết về đề tài nông thôn cũng có nhiều ý kiến về
vấn đề này. Bài viết “Nhà văn với vấn đề tam nông” của phóng viên Đỗ Ngọc
Thạch trên trang phongdiep.net cũng đề cập đến vấn đề đề tài nông thôn với
các nhà văn mới trong đó có ý kiến của nhà văn Nguyễn Khắc Trƣờng cho
rằng: “Viết về nông thôn, viết về ngƣời nông dân là động đến cái mẫu số
chung, cái phần sâu thẳm nhất của dân tộc chúng ta… Còn nhiều vấn đề bức
xúc ở nông thôn lắm, đây là một đề tài rộng lớn tƣởng là dễ hiểu nhƣng hết
sức bí mật”.
Bên cạnh những bài viết, công trình nghiên cứu chung về vấn đề nông
thôn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, cũng có những bài viết
nghiên cứu về tiểu thuyết của nhà văn Trịnh Thanh Phong, chúng ta có thể
điểm qua một vài ý kiến tiêu biểu với những cái nhìn khác nhau về tiểu thuyết
của ông nhƣ sau:
Tại Hội nghị tổng kết của Ủy ban Toàn quốc – Liên hiệp các Hội văn
học nghệ thuật Việt Nam năm 2009 và Hội nghị tổng kết Chi hội nhà văn

Sông Chảy năm 2010, nhà thơ Hữu Thỉnh nêu ý kiến: Một nhà văn sống ở
miền núi Tuyên Quang mà làm nên đƣợc một Ma làng gây xôn xao dƣ luận
trong và ngoài nƣớc, rõ ràng đây không chỉ là thành công riêng của Trịnh
Thanh Phong mà còn là đóng góp của văn học nƣớc nhà cho công cuộc đổi
mới. Điều đó cho chúng ta thấy rằng: “Nhà văn chỉ có khoảng cách về chỗ ở
chứ không có khoảng cách trong sáng tạo”.
Tác giả Lã Hồng Minh sau khi đọc tác phẩm của Trịnh Thanh Phong
cũng nhận định: “Nhân vật trở đi trở lại trong truyện của Trịnh Thanh Phong
là số phận của những ngƣời lính sau chiến tranh về làm nông dân, từng nếm
trải nhiều cay đắng nhƣng không bao giờ gục ngã”. Đúng vậy, đọc tác phẩm
của Trịnh Thanh Phong ta thấy hầu hết nhân vật chính trong các câu chuyện
đều là những ngƣời nông dân, ngƣời lính, họ bƣớc lên từ những luống cày đi


5
vào chiến trƣờng đạn lửa rồi lại trở về hòa nhập với cuộc sống đầy cam go,
thử thách. Cũng chính nhà văn Trịnh Thanh Phong đã từng tâm sự trong tập
Kỷ yếu nhà văn Việt Nam: “Gắn bó với ngƣời nông dân, ngƣời lính sau chiến
tranh lại về làm nông dân. Những nhọc nhằn của họ trong sinh sống đời
thƣờng luôn là nỗi day dứt trong tôi. Giúp đỡ họ về vật chất, bàn tay mình bé
quá. Thế là tôi tìm đến văn học nhƣng không phải động cơ để trở thành nhà
văn mà tôi muốn nhờ văn học để sẻ chia với họ, từ học lại viết ra văn để nhớ
nhau, yêu thƣơng nhau, cùng nhau vƣợt qua những nhục nhằn, thua thiệt và
vƣơn lên trong cuộc sống làm ngƣời. Lý do đó tôi cầm bút viết văn, vẫn biết
văn mình chƣa hay, chƣa đáp ứng với họ nhƣng tôi còn viết nữa” [21, tr.50].
Đó là lời tâm sự chân thành của một nhà văn đã có nhiều năm gắn bó với
ngƣời lính và hiểu đƣợc những thay đổi đang diễn ra từng ngày ở nông thôn
trong quá trình phát triển.
Trả lời phỏng vấn “Trò chuyện với tác giả tiểu thuyết Ma làng”, Trịnh
Thanh Phong có nói đến chất liệu xây dựng tác phẩm: “Tất cả để dựng lên

khuôn hình, cảnh vật con ngƣời trong cuốn sách này tôi đã tìm nhặt ở làng
quê lở lói, nghèo khổ bám quanh viền chân núi Châm chạy nhoài ra phái bờ
sông Lô ở chỗ con gà gáy ba tỉnh cùng nghe thấy! Bỏ vào cái túi da, tôi về
ngồi dƣới căn nhà lá cọ ở cái phố “Hủng “thị xã Tuyên Quang sắp đặt lại.
Công việc tôi làm giống nhƣ ngƣời tập đan lát thêu thùa… Kỳ cạch mãi rồi
cũng xong! ...” [2, tr.5]. Nhƣ vậy có nghĩa là chất liệu hiện thực và những trải
nghiệm thực tế để vẽ lên một bức tranh làng quê trong tiểu thuyết Ma làng
phải chiếm tới 90% và có những cảnh vật, con ngƣời vẫn còn nguyên sơ ở
ngoài đời nên nó mang tính thời sự khá cao.
Tác giả Trần Lệ Thanh trong bài: “Ma làng và sự trăn trở của một ngòi
bút với quê hƣơng” trên báo Văn nghệ trẻ, đã làm rõ hơn giá trị của Ma làng
về cả phƣơng diện nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn Trịnh


6
Thanh Phong. Trong bài viết tác giả cho rằng nội dung chính của tác phẩm
Ma làng là: “Đằng sau việc miêu tả những mâu thuẫn dai dẳng, sự tranh chấp,
đố kị giữa làng trên xóm dƣới, tộc này họ kia chi phối đời sống nông dân,
đằng sau những mánh khóe hiểm ác những mƣu mô toan tính của những
ngƣời có thế lực, có quyền thế, lợi dụng đúng chỗ đứng của mình để thu lợi…
Tác phẩm trong một chừng mực nào đó đã phản ánh đƣợc thực trạng khá đau
đớn vẫn còn diễn ra trong đời sống tinh thần của một số làng quê nông thôn”
[52], tác giả bài viết cũng cho rằng cái làm nên sức nặng của tiểu thuyết Ma
làng là ở thái độ cách nhìn nhận của tác giả: “Cái làm nên sức hấp dẫn của
Ma làng là ở tấm lòng của tác giả, ở cái nhìn xã hội vừa nghiêm khắc vừa
hiền lành đôn hậu của nhà văn. Đặc biệt cái làm nên sức nặng của ngòi bút
Trịnh Thanh Phong chính là ở chỗ, tuy luôn day dứt, trăn trở trƣớc những số
phận, những cảnh đời, mảnh đời vụn vỡ, nhƣng tác giả không bao giờ thỏa
hiệp với cái xấu” [52]. Bên cạnh nội dung tác giả bài viết cũng đề cập sơ bộ
nhất vài nét nghệ thuật tự sự trong Ma làng nhƣ lối trần thuật “Bằng nhiều chi

tiết, qua lối trần thuật độc đáo giàu sức gợi”, giọng điệu “nghe và cách miêu
tả những nhân vật này, thấy đƣợc thái độ vừa trân trọng, cảm thông, vừa
nghiêm khắc, khách quan phán xử của nhà văn”, “giọng điệu mỉa mai bông
tếu cũng trở thành một phƣơng thức khá quen thuộc của nhiều cây viết” [52],
kết cấu tác phẩm của Trịnh Thanh Phong đƣợc nhận xét “có đƣợc một phần
kết luận hợp lý”. Tuy đây là những đánh giá rất sơ lƣợc về nghệ thuật trong
Ma làng nhƣng nó cũng đã gợi mở cho chúng tôi đi sâu khám phá quan niệm
nghệ thuật của nhà văn về cuộc sống con ngƣời đặc biệt thông qua những
phƣơng tiện nghệ thuật.
Trung Trung Đỉnh trong bài “Tiểu thuyết Ma làng và những thói tục
mới ở làng quê” trên báo Văn nghệ trẻ số tháng 3.2003 đã đề cập khá rõ nét
về nội dung cũng nhƣ những mâu thuẫn đƣợc đề cập đến trong tác phẩm Ma


7
làng. Tác giả bài viết khẳng định nhà văn Trịnh Thanh phong đã viết về nông
thôn Việt Nam thời hiện đại với những thói tục xƣa cũ đƣợc cải biến thành
thói tục thời nay. Đó là “những thói tục mâm trên mâm dƣới, họ hàng chú bác
anh em cô dì giằng dịt lôi kéo nhau vào việc làng, việc nƣớc… bọn phú hào
mới của làng xã tranh thủ đục nƣớc béo cò, xâu xé nhau bằng những chức
vụ…” [13], với mâu thuẫn chủ yếu giữa “một bên là thân phận những ngƣời
nông dân ngàn đời nay vẫn chƣa ra khỏi lũy tre làng… một bên là bọn quan
chức dùng mọi thủ đoạn mƣu mô chƣớc quỷ nắm các chức quyền trong làng
ngoài xã”. Đây cũng là nội dung bài viết “Tiểu thuyết “Ma làng – Bức tranh
quê trƣớc ngày đổi mới” của tác giả Minh Hòa trên báo Tuyên Quang số ra
ngày 28 tháng 9 năm 2007. Những nội dung trên đã cho ngƣời viết những gợi
ý khi tìm hiểu về con ngƣời, cuộc sống nông thôn trong tiểu thuyết Ma làng
của nhà văn Trịnh Thanh Phong.
Với tiểu thuyết Đồng làng đom đóm, tác giả Hà Linh trong bài “Ánh
sáng từ đồng làng đom đóm (Đọc tiểu thuyết “Đồng làng đom đóm” của

Trịnh Thanh Phong, Nxb Hội nhà văn, năm 2009)” trên báo Tuyên Quang số
ra ngày 27 tháng 01 năm 2010 đã đề cập đến cách xây dựng nhân vật chính
của truyện, những khía cạnh về cuộc sống thời bình, thời chiến và hậu chiến
của tác phẩm, về những dằn vặt, suy tƣ của con ngƣời thời chiến, những đóng
góp của ông trong việc lý giải chiến tranh rất táo bạo trong những trang viết
về chiến tranh, đặc biệt, tác giả bài viết phát hiện ra đặc sắc về cách sử dụng
chi tiết nghệ thuật “ánh sáng” của tác giả Trịnh Thanh Phong. Bài viết cho
thấy thêm một thành công nữa của nhà văn Trịnh Thanh Phong với thể loại
tiểu thuyết.
Xung quanh đề tài này còn có một số công trình nghiên cứu khoa học:
khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ. Nhìn chung, mỗi công
trình, bài viết đề cập, đánh giá ở những khía cạnh, góc độ khác nhau, nhƣng


8
đa số đều thống nhất khẳng định giá trị từng tác phẩm. Tất cả đều là những
tƣ liệu quý báu, gợi mở cho chúng tôi hƣớng nghiên cứu sâu hơn vào vấn đề
nông thôn trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh Phong đồng thời cho thấy
những đóng góp của ông về phƣơng diện đề tài và thể loại.
3. Mục đích nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hƣớng tới những mục
đích nghiên cứu sau:
Thứ nhất, chúng tôi cố gắng tái hiện toàn cảnh bức tranh đời sống
nông thôn miền trung du Bắc Bộ thời kì đổi mới trong mối quan hệ phức tạp,
đa chiều.
Thứ hai, chúng tôi quan tâm đến vấn đề thân phận ngƣời nông dân
trƣớc những đổi thay của xã hội.
Thứ ba, chúng tôi tìm ra những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật, thấy
đƣợc những sáng tạo và đóng góp của nhà văn trong mảng đề tài nông thôn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, luận văn thực hiện những
nhiệm vụ sau:
Trƣớc hết, luận văn cố gắng tìm hiểu, tái hiện diện mạo nông thôn trƣớc
và sau năm 1986, từ đó nhận thức đƣợc sự đổi mới tƣ duy tiểu thuyết đã chi
phối đến quan niệm của nhà văn về hiện thực cuộc sống và thế giới con ngƣời
nhƣ thế nào. Đây chính là cơ sở xác lập cảm hứng sáng tác về đề tài nông
thôn của nhà văn.
Thứ hai, để cụ thể hóa nội dung phản ánh trong ba tiểu thuyết của
Trịnh Thanh Phong, luận văn sẽ tập trung tìm hiểu, phân tích, lí giải những
vấn đề của nông thôn trong thời kì đổi mới với bản sắc văn hóa, hiện thực xã
hội, số phận ngƣời nông dân, thấy đƣợc tầm nhìn, những dự báo của nhà văn
về vấn đề này.


9
Cuối cùng, luận văn đi vào khai thác một số phƣơng thức tự sự nổi bật
thể hiện bức tranh nông thôn trong tiểu thuyết của nhà văn.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu trong công trình này tập trung vào vấn đề nông
thôn trong tiểu thuyết của nhà văn Trịnh Thanh Phong.
Phạm vi khảo sát của đề tài này là 3 trên 4 tiểu thuyết về nông thôn của
Trịnh Thanh Phong:
- Ma làng. Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2000.
-

Đồng làng đom đóm. Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2009.

- Ông mãnh về làng. Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2011.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của đối tƣợng và mục đích nghiên cứu, luận văn

vận dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp nghiên cứu loại hình.
- Phƣơng pháp lịch sử xã hội.
- Phƣơng pháp phân tích tổng hợp.
- Phƣơng pháp so sánh đối chiếu.
- Phƣơng pháp tiếp cận thi pháp học.
7. Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đánh giá các phƣơng diện nội dung và
nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về nông thôn của Trịnh Thanh Phong qua đó
khẳng định cá tính sáng tạo độc đáo và những đóng góp của ông trong mảng
văn xuôi viết về nông thôn thời kì đổi mới.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thƣ mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn bao gồm ba chƣơng


10
Chƣơng 1: Vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi
mới và tác giả Trịnh Thanh Phong.
Chƣơng 2: Đời sống nông thôn trong tiểu thuyết của Trịnh Thanh
Phong.
Chƣơng 3: Một số phƣơng diện nghệ thuật trong tiểu thuyết về đề tài
nông thôn của Trịnh Thanh Phong.


11
CHƢƠNG 1
VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KÌ
ĐỔI MỚI VÀ TÁC GIẢ TRỊNH THANH PHONG
1.1. Vấn đề nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới

Trong các thể loại văn xuôi, tiểu thuyết nhờ những ƣu thế về đặc trƣng
thể loại có đủ khả năng thâu tóm, bao quát mọi vấn đề của hiện thực đời sống
trong đó nông thôn là vấn đề đƣợc các tiểu thuyết gia đặt lên hàng đầu. Cùng
với bƣớc chuyển mình của thời đại, tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết viết
về nông thôn nói riêng cũng đang nỗ lực đổi mới tƣ duy nghệ thuật đặc biệt là
cách tiếp cận hiện thực và con ngƣời, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của
đời sống văn học và của đông đảo độc giả đƣơng đại.
1.1.1. Nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam trước đổi mới
Trƣớc Cách mạng tháng Tám, cả dân tộc Việt Nam phải sống trong
hiện thực đen tối và số phận ngƣời nông dân chìm ngập trong tấn bi kịch đau
thƣơng. Nông thôn Việt Nam hiện lên với những tối tăm, đói nghèo, bế tắc,
đầy trớ trêu, nghịch cảnh và bất công. Đó là nông thôn của những lớp ngƣời
“dƣới đáy” thấp cổ bé họng, chịu nhiều chèn ép áp bức, chịu nhiều thảm kịch
thƣơng tâm nhƣng vẫn không để mất đi bản chất làm ngƣời. Đó là nông thôn
với những mâu thuẫn xung đột của thực dân đế quốc và bè lũ tay sai với các
tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ngƣời nông dân, càng ngày càng trở nên sâu
sắc, quyết liệt. Xung đột giai cấp ấy là xung đột chính, là điểm “nóng” nhất
của nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ. Tiền đề xã hội này đã khơi nguồn cảm
hứng mạnh mẽ cho các nhà tiểu thuyết khám phá về nông thôn và ngƣời nông
dân Việt Nam. Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì này đã vẽ lên trên nền
của chủ nghĩa hiện thực những bức tranh sắc nét hầu nhƣ bao quát đƣợc thực
trạng đen tối của nông thôn Việt Nam, số phận bi kịch của ngƣời nông dân


12
với xung đột giai cấp hết sức gay gắt. Chúng ta có thể thấy rõ bức tranh toàn
cảnh này qua những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của các nhà văn tiêu biểu thuộc
trào lƣu hiện thực phê phán nhƣ Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng
(Nguyễn Công Hoan)…Các tác phẩm này ngoài giá trị hiện thực còn chứa
đựng giá trị dự báo và giá trị nhân văn sâu sắc: Nó báo hiệu một cơn giông

cách mạng sắp tới; là tiếng nói cảm thông, bênh vực con ngƣời; trân trọng,
nâng niu những khát khao nhân bản và chân chính của những tâm hồn tƣởng
chừng đã bị cuộc đời làm cho cằn cỗi, u mê. Với những giá trị này, các nhà
tiểu thuyết đã trở thành những nhà nhân đạo lớn trong nền văn học Việt Nam
hiện đại, chiếm đƣợc vị trí quan trọng trong lòng các thế hệ bạn đọc.
Cách mạng tháng Tám là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt
Nam. Với thắng lợi này, nƣớc ta từ một nƣớc thuộc địa đã trở thành một nƣớc
độc lập dƣới chế độ dân chủ cộng hoà, đƣa nhân dân ta từ thân phận nô lệ
trở thành ngƣời dân độc lập, tự do, làm chủ nƣớc nhà. Và một điều mà chúng
ta dễ nhận thấy là bộ mặt của nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi to
lớn. Thành công của cuộc Cách mạng đã đem đến cho ngƣời nông dân cuộc
sống mới, sinh mệnh mới. Giờ đây ruộng đất đã đƣợc trao tận tay với quyền
làm chủ và họ bắt đầu quá trình xây dựng và kiến thiết cuộc sống mới. Nhƣng
cũng trong giai đoạn này, ngƣời nông dân lại phải tiếp tục tham gia vào cuộc
kháng chiến chống lại thực dân Pháp, giải phóng đất nƣớc. Chính vì vậy,
trong những năm này, văn xuôi viết về nông thôn hầu nhƣ không tách riêng ra
thành một mảng rõ rệt với văn xuôi nói chung. Đề tài nông thôn cũng nằm
trong đề tài kháng chiến, hoà quyện trong một cái tên chung là văn xuôi kháng
chiến. Chủ đề yêu nƣớc – chống giặc là tinh thần của văn xuôi nói chung và
tiểu thuyết nói riêng mà trong đó các nhà văn đóng vai trò tiên phong đƣa
kháng chiến kiến quốc mau đến thắng lợi.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, văn xuôi viết về nông thôn


13
khá nhiều, thành công hơn cả là tiểu thuyết Con trâu của Nguyễn Văn Bổng.
Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ đƣợc kí kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc,
đời sống nông thôn Việt Nam nổi lên hai sự kiện quan trọng: Cải cách ruộng
đất và phong trào hợp tác hóa nông nghiệp. Hai sự kiện này nhanh chóng in
dấu sâu đậm với những thành tự đáng ghi nhận trong văn học viết về nông

thôn, nhất là tiểu thuyết.
Tiểu thuyết viết về nông thôn trong Cải cách ruộng đất nổi bật lên với
những tác phẩm có tiếng vang từ trƣớc cách mạng: Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn
Bổng), Truyện anh Lục (Nguyễn Huy Tƣởng)... Trong thời kỳ sửa sai (1956),
có một số tác giả viết về Cải cách ruộng đất đúng với thực tế hơn, tiêu biểu
là tiểu thuyết Sắp cưới (Vũ Bão). Tác phẩm viết về những sự kiện đã xảy ra
khi tiến hành Cải cách ruộng đất tại một đơn vị cơ sở, sự phản ảnh của tác
giả là khách quan và thỏa đáng.
Tiểu thuyết viết về nông thôn trong Phong trào hợp tác hóa nông
nghiệp cũng rất thành công với những tác phẩm sáng giá nhƣ: Xung đột
(Nguyễn Khải), Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm (Đào Vũ)…Đây đƣợc xem là
những tác phẩm có tiếng vang lớn trong dƣ luận và là những sự kiện văn học
thời bấy giờ. Các tác phẩm thời kỳ này xuất hiện với những chủ đề: Hai con
đƣờng trong thời kỳ đầu của Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp và Con
ngƣời trong thời kỳ cải tiến quản lý hợp tác xã và xây dựng nền sản xuất lớn
xã hội chủ nghĩa.
Từ năm 1964, cả nƣớc bƣớc vào công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nƣớc, nông thôn Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc chiến:
Nông thôn vừa là hậu phƣơng vững chắc cho tiền tuyến, vừa là lực lƣợng sẵn
sang chiến đấu chống giặc Mĩ phá hoại miền Bắc. Tiểu thuyết viết về nông
thôn thời kì này mang âm điệu sử thi anh hùng và thực sự “đƣợc mùa” cả về
số lƣợng tác phẩm và đội ngũ tác giả. Có thể kể các tác giả, tác phẩm tiêu


14
biểu nhƣ: Bão biển, Đất mặn (Chu Văn); Đất làng, Buổi sáng (Nguyễn Thị
Ngọc Tú); Cửa sông (Nguyễn Minh Châu); Ao làng (Ngô Ngọc Bội)… Nhìn
chung, các tiểu thuyết thời kỳ này đã tạo dựng đƣợc bức tranh hiện thực
nông thôn sống động với nhiều sự kiện, chi tiết tiêu biểu nhƣ: Xây dựng và
ngợi ca những con ngƣời tích cực, điển hình cho những con ngƣời mới xã

hội chủ nghĩa và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; vấn đề nông thôn mới ở
miền Bắc, hợp tác hóa, xây dựng nền kinh tế mới khẳng định sự thắng lợi
của phƣơng thức sản xuất tập thể, ca ngợi cuộc sống mới ở nông thôn dƣới
sự lãnh đạo của Đảng; ngợi ca những tấm gƣơng sáng về nhiệt tình cách
mạng và khí thế chống Mĩ cứu nƣớc của hậu phƣơng.
Tiểu thuyết viết về nông thôn từ 1975 đến 1985 diễn ra trong bối cảnh
xã hội bộn bề, gay cấn. Những tổn thất trong chiến tranh đang bắt đầu tỏa
sức nặng, nền kinh tế tự cấp, tự túc không đủ nuôi sống xã hội, cơ chế quản
lí quan liêu bao cấp bất lực, bộc lộ nhiều những yếu kém. Hòa nhịp với tinh
thần chung của văn xuôi hậu chiến, tiểu thuyết viết về nông thôn từ 1980 đến
1985 cũng bắt đầu chuyển động mạnh với các tiểu thuyết: Nhìn dưới mặt trời
(Nguyễn Kiên), Bí thư cấp huyện (Đào Vũ), Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh
Tuấn)…Đặc biệt, cuốn tiểu thuyết hai tập Cù lao Tràm khi xuất hiện vào
năm 1985 đã đƣa văn xuôi viết về nông thôn chuyển lên một bình diện mới.
Trong tác phẩm, Nguyễn Mạnh Tuấn đã đƣa ra những vấn đề thời sự gây
nhiều tranh cãi: Sự bất cập của cung cách làm ăn và quản lí nông thôn theo
kiểu mới. Với tiểu thuyết này, tác giả bƣớc đầu chạm đúng vào thời điểm
nóng nhất của hiện thực, của mọi mối quan tâm không chỉ trong đời sống
nông thôn Nam Bộ nói riêng mà của cả dân tộc nói chung.
Có thể nói, những năm tiền đổi mới 1975 – 1985, tiểu thuyết viết về
nông thôn đã âm thầm diễn ra cuộc chuyển mình ở chiều sâu trong đời sống
nội tại, với những trăn trở, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt.


15
Nhìn chung, tiểu thuyết viết về nông thôn trƣớc thời kì đổi mới có
những đặc thù riêng do viết dƣới quan điểm dân chủ của chủ nghĩa hiện thực
xã hội chủ nghĩa. Nét chính là sự đổi mới của hiện thực đời sống nông thôn
và con ngƣời vƣơn lên làm chủ vận mệnh của mình. Xung đột chính là xung
đột cũ – mới, kết thúc thƣờng có hậu.

1.1.2. Nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới
Mốc năm 1986 không phải thời điểm làm thay đổi diện mạo của tiểu
thuyết nông thôn. Sự đổi thay đó nhƣ một dòng chảy ngầm từ những năm 80
của thế kỷ XX. Những năm đầu thập niên 80 đến 1985 xuất hiện một số nhà
văn mẫn cảm trƣớc thời cuộc. Đây là chặng đƣờng cuối thời kỳ bao cấp,
những tƣ tƣởng, quan niệm lỗi thời vẫn còn tồn tại, ảnh hƣởng không nhỏ
đến đời sống văn học. Nằm trong mạch nguồn ấy, tiểu thuyết nông thôn
chặng này vẫn đang “cựa quậy”, “dò tìm” – tức là đã có dấu hiệu đổi mới.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc Lần thứ VI (tháng 12 năm 1986)
về đổi mới toàn diện đất nƣớc đã diễn ra với hai khẩu hiệu: “Lấy dân làm
gốc” và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá sự thật, nói rõ sự thật”. Hai khẩu
hiệu trên đã thổi một luồng gió mới vào các lĩnh vực hoạt động của đời sống
xã hội, đặc biệt là văn học nghệ thuật. Công cuộc đổi mới đã đƣa đất nƣớc
chuyển mình từ cơ chế quản lí hành chính tập trung bao cấp sang cơ chế thị
trƣờng có sự điều tiết của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, đồng
thời đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc. Đại hội VI cũng chỉ
ra điều cốt yếu của công cuộc đổi mới này chính là đổi mới tƣ duy, đổi mới
cách làm, cách nghĩa sao cho đúng quy luật khách quan của nó. Bàn về vấn
đề này, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã đƣa ra một quan niệm mới có cơ sở
lý luận và ý nghĩa thực tiễn nhƣ sau: “Đổi mới tƣ duy là nhiệm vụ cấp thiết
trƣớc mắt nhƣng đồng thời cũng là một công việc lâu dài, phải tiến hành một
cách khoa học và nghiêm túc…Trong quá trính đổi mới tƣ duy, tất nhiên


16
không chỉ có phê phán mà chủ yếu là phải suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, cá
nhân và tập thể cùng đổi mới và sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
Đảng Lần thứ VI” (trích “Mấy ý kiến về đổi mới tƣ duy lý luận, phê bình văn
học”, tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 12/1987, tr.108-114).
Sau 1986, đất nƣớc đổi mới toàn diện đã từng bƣớc đem lại những

biến chuyển lớn trong đời sống vật chất và trong nếp nghĩ, hành động của
mỗi ngƣời nông dân. Nhà văn từ đó cũng có điều kiện, thời cơ thuận lợi để
thể hiện những trăn trở, suy tƣ về những vấn đề cốt lõi của nông thôn và
nông dân một cách trực diện, thấu đáo. Họ đề cập thẳng vào những vấn đề
đặt ra trong thực tại, trực tiếp viết về các vấn đề sản xuất, quản lý kinh tế –
xã hội với những khó khăn, bất cập từ lối tƣ duy sản xuất cũ. Nhu cầu nhận
thức lại thực tại trên tinh thần “chân lý phải đƣợc phát hiện nhiều lần” và
trên cảm quan “cuộc sống và con ngƣời ngày càng trở nên phức tạp hơn”
chiếm ƣu thế trong cảm hứng sáng tác của các nhà tiểu thuyết thời kỳ này.
Đúng nhƣ nhà văn Hà Xuân Trƣờng nhận xét: “Đổi mới trong văn học, điều
quan trọng nhất, quyết định nhất là cái nhìn và cái tâm của nhà văn. Đề tài,
nhân vật, phong cách, cá tính không là cái gì nếu không có cái nhìn thời đại
sâu sắc, thấu suốt nhân tình, nếu không có đƣợc một cái tâm trong sáng,
nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ về chức trách cao cả của văn học đối với
con ngƣời, đối với cuộc đời, với nhân dân mình. Không có cái đó thì không
có đổi mới”.
Sự đổi mới tƣ duy nghệ thuật trong sáng tạo tiểu thuyết nói chung và
trong tiểu thuyết viết về nông thôn từ sau năm 1986 nói riêng thể hiện trên
nhiều phƣơng diện: đề tài, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ…
Đề tài chiến tranh lịch sử, dân tộc của giai đoạn trƣớc đƣợc thay thế
bằng đề tài thế sự, đời tƣ. Văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 tái hiện
bức tranh hiện thực đời sống tối tăm, ngột ngạt bởi sự tồn tại của những mâu


17
thuẫn mang tính thời đại, ở đó, ngƣời nông dân sống thân phận nghèo khổ
của con sâu cái kiến, không có quyền tự chủ trong lao động và trong sinh
hoạt bình thƣờng. Văn học viết về thời kì đất nƣớc xây dựng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc, với mục tiêu đƣợc đặt lên hàng đầu là khích lệ niềm tin
vào chế độ mới tốt đẹp, các nhà văn tập trung tái hiện một gƣơng mặt nông

thôn trong hăng say lao động và sản xuất. Đến thời kì đổi mới, tiểu thuyết
viết về nông thôn đã tái hiện đƣợc một bức tranh nông thôn với đủ gam màu
sáng, tối: Nông thôn trong các cuộc đấu tranh dành quyền lực nhằm toan tính
tƣ lợi cá nhân, gia đình, dòng tộc; những thiên kiến cổ hủ, lạc hậu tồn tại dai
dẳng trong đời sống nông thôn nhƣ một định mệnh nghiệt ngã (Dòng sông
Mía, Ma làng). Những mánh khóe nhằm chiếm dụng của nhà nƣớc, bòn rút
của nhân dân, làm giàu bất chính của một bộ phận cán bộ cấp xã, thôn. Nguy
cơ xuống cấp về tƣ tƣởng, đạo đức cũng nhƣ lối sống của bộ máy lãnh đạo ở
nông thôn (Chuyện làng Cuội, Cuồng phong, Đồng sau bão). Nông thôn thời
đổi mới với những khởi sắc và cả sự bất ổn, đặc biệt là quá trình biến đổi sâu
sắc trong sự tiếp biến văn hóa, trong khả năng và năng lực hành động của
ngƣời nông dân trƣớc sự đổi thay của nông thôn trên con đƣờng hiện đại hóa
(Dòng chảy đất đai, Dưới chín tầng trời, Ông mãnh về làng). Khoảng cách
giữa hai thế hệ là một vấn đề đang ngày càng trở nên nhức nhối trong xã hội
nông thôn cũng đƣợc các nhà văn phản ánh (Lão Khổ, Dòng sông Mía, Giời
cao đất dày). Chủ đề ngợi ca những nông dân điển hình, những cán bộ xã,
thôn tâm huyết, có tầm nhìn xa, có ý thức tự lực, có lòng tự trọng, khát khao
dân chủ và nhân văn và có sự đột phá trong quản lí, trong kinh tế đã góp
phần mang lại cho nông thôn sắc diện mới nhƣ Lại Tiến Thịnh, Nguyễn
Mạnh Quang trong Dòng chảy đất đai, Thƣơng Huyền trong Dưới chín tầng
trời. Những chủ đề đã đƣợc quan tâm trƣớc đó nhƣ nông thôn thời chiến
tranh, cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp cũng đã quay trở lại.


18
Nông thôn với những thảm cảnh kinh hoàng, “long trời lở đất”, với những
năm đầu cách mạng và những năm chiến tranh chống Mỹ đầy gian khổ, đẫm
máu và cả sự hi sinh cao cả của những ngƣời nông dân chân lấm tay bùn
đƣợc hiện ra chân thực. Nhà văn đề cao sức sống, bản lĩnh và tình đoàn kết,
sự tƣơng thân tƣơng ái của ngƣời nông dân trong việc bảo vệ làng xóm và

trong cuộc sống đời thƣờng (Chuyện làng Cuội, Nước mắt một thời, Ba
người khác, Thời của thánh thần, Giời cao đất dày, Đồng làng đom đóm).
Ngoài ra, với sự xuất hiện hai chủ đề về số phận con ngƣời và hạnh phúc cá
nhân, đặc biệt là số phận của những ngƣời phụ nữ yếu đuối, bất hạnh trong
cuộc sống hôn nhân, gia đình đã đƣa tiểu thuyết nông thôn đăng quang ở
chiều sâu và chiều cao trong phản ánh hiện thực (Chuyện làng Cuội, Dòng
sông Mía).
Sự đổi mới tƣ duy tiểu thuyết thể hiện rõ ràng qua phƣơng diện cốt
truyện. Cốt truyện là hệ thống sự kiện làm nòng cốt cho sự diễn biến các mỗi
quan hệ và phát triển tính cách nhân vật. Tiểu thuyết thời kì đổi mới phong
phú hơn tiểu thuyết trƣớc đó về cách xây dựng cốt truyện. Một số tiểu thuyết
(nhƣ các tiểu thuyết hồi ức chiến tranh) lựa chọn cốt truyện giàu tâm trạng,
thì các nhà tiểu thuyết khi viết về nông thôn lựa chọn cốt truyện sự kiện giàu
kịch tính. Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trƣờng), Thời xa
vắng (Lê Lựu), Dòng sông mía (Đào Thắng), Ma làng (Trịnh Thanh
Phong), Thủy hỏa đạo tặc (Hoàng Minh Tƣờng),… đều là những tiểu thuyết
khá rõ ràng với mở đầu, phát triển, kịch tính, kết thúc. Ngƣời đọc có thể dựa
vào những sự kiện ấy mà kể lại cho ngƣời nghe về nội dung câu chuyện.
Nếu nhƣ quan niệm con ngƣời trong văn học trƣớc năm 1975 là quan
niệm con ngƣời cá nhân hòa nhập trong tập thể, con ngƣời quần chúng thì
sau 1975, đặc biệt từ sau đổi mới là quan niệm con ngƣời cá nhân đƣợc thể
hiện trong mối quan hệ với cộng đồng trên cơ sở phát huy cá tính, tôn trọng


19
đời tƣ nhân vật. Đồng thời, với việc tái hiện bức tranh nông thôn đầy phức
tạp, các nhà văn đặc biệt quan tâm tới cuộc sống và thân phận con ngƣời.
Trong mỗi tiểu thuyết, ngƣời đọc đều tìm thấy một hoặc một số nhân vật có
thân phận, có tính cách rất đặc biệt. Tính cách và thân phận ấy có mối quan
hệ tƣơng tác từ hoàn cảnh xã hội. Sự lầm lì, cam chịu của Sài trong Thời xa

vắng của Lê Lựu căn nguyên từ những quy định, áp đặt của gia đình, cơ
quan. Song ẩn sâu bên trong bề ngoài ấy, ngƣời ta nhận thấy có một cõi lòng
muốn vƣợt thoát đi tìm hạnh phúc thực sự, song chƣa đủ quyết tâm và mạnh
mẽ để vƣợt qua và vứt bỏ tất cả những cái đƣợc coi là danh dự, là sự nghiệp.
Cuộc đời của Hạnh (Bến không chồng – Dƣơng Hƣớng) phải chịu bao xô
đẩy, áp lực từ những lề thói, hủ tục để rồi hạnh phúc tan vỡ trong đau khổ… Có
thể thấy rất rõ, số đông nhân vật trong các tiểu thuyết về đề tài nông thôn mang
đầy đủ cái mộc mạc cùng sự toan tính thực dụng rất nông dân. Nhƣng ở họ ta
cũng bắt gặp vẻ đẹp những tâm hồn thuần phác, trong lành, vẫn còn nguyên vẹn
nền tảng đạo đức từ ngàn xƣa. Một thế giới phong phú con ngƣời sinh sống và
làm việc ở nông thôn đƣợc tái hiện sinh động trên từng trang viết.
Ngôn ngữ là đặc điểm khác biệt quan trọng giữa con ngƣời ở làng quê
và thành thị. Trình độ văn hóa, suy nghĩ, lối sống, lối sinh hoạt tạo cho ngƣời
dân sống nơi thôn dã có lời ăn tiếng nói rất đặc biệt. Để xây dựng thành công
thế giới phong phú và sinh động đó, các nhà văn phải dung nạp vào trong
trang văn của mình tất cả ngôn ngữ của ngƣời dân nông thôn: tiếng địa
phƣơng, khẩu ngữ, lối nói dân dã, hò, vè...Bằng con đƣờng đó, ngôn ngữ
nhân vật đƣợc cá thể hóa rõ rệt.
Sự đổi mới tƣ duy đã mang lại cho tiểu thuyết viết về nông thôn nhiều
thành tựu đáng ghi nhận. Đó là sự nở rộ về số lƣợng các tác giả, tác phẩm:
Lê Lựu với Thời xa vắng (1986), Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông
(1994), Nguyễn Khắc Trƣờng với Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990),


20
Dƣơng Hƣớng với Bến không chồng (1990); Dưới chín tầng trời (2007);
Trịnh Thanh Phong với Ma làng (2002), Đồng làng đom đóm (2008); Hoàng
Minh Tƣờng với bộ tiểu thuyết Gia phả của đất gồm: Thủy hỏa đạo tặc,
Đồng sau bão, Ngư phủ, và tiểu thuyết Thời của thánh thần; Đào Thắng với
Dòng sông mía (2004)…

Sự nổi trội của tiểu thuyết viết về nông thôn không chỉ đƣợc đánh giá
bằng tiêu chí số lƣợng mà còn khẳng định bằng chất lƣợng nghệ thuật. Giá
trị thực tế đã đƣợc khẳng định với khá nhiều tác phẩm đoạt giải thƣởng của
Hội Nhà văn: Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trƣờng đoạt
giải năm 1991; Dòng sông mía (Đào Thắng) đoạt giải năm 2004 và trở thành
hiện tƣợng văn học đáng chú ý nhất năm; Ma làng của Trịnh Thanh Phong
tuy không giành đƣợc giải thƣởng của Hội nhà văn nhƣng đã đạt giải nhì của
Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2002,
và đƣợc chuyển thể thành bộ phim cùng tên, khi công chiếu đƣợc nhiều khán
giả đón nhận nồng nhiệt.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, các nhà văn viết về nông thôn sau 1986 đã
có nhìn nhận và phản ánh hiện thực nông thôn một cách kỹ càng ở nhiều
phƣơng diện. Họ nhìn vào tầng sâu, mạch ngầm của đời sống nông thôn và
thấu hiểu những cái tốt đẹp trong nông thôn truyền thống cũng nhƣ những
mặt trái trong tính cách của ngƣời nông dân cũng nhƣ nông thôn với những
bất cập khi bƣớc vào thời kỳ hội nhập kinh tế thị trƣờng. Từ đó, họ góp tiếng
nói chung để xây dựng một nông thôn mới.
1.2. Hành trình sáng tác của Trịnh Thanh Phong
Trong số những nhà văn của Tuyên Quang có lẽ nhà văn Trịnh Thanh
Phong đƣợc công chúng biết đến nhiều hơn cả. Ngƣời ta biết đến ông không
phải vì ông đã từng nhiều năm là Chủ tịch Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh, mà
biết đến thông qua sự nghiệp cầm bút và những tác phẩm của ông. “Phong Ma


×