Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

vấn đề sống chết trong tiểu thuyết sống của dư hoa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 114 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Tố Nga

VẤN ĐỀ SỐNG CHẾT TRONG
TIỂU THUYẾT SỐNG CỦA DƯ HOA
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Tố Nga

VẤN ĐỀ SỐNG CHẾT TRONG
TIỂU THUYẾT SỐNG CỦA DƯ HOA
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 02 45

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN ĐÌNH PHỨC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình
nào khác.

Người viết luận văn
Lê Thị Tố Nga

1


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn:
-

Thầy hướng dẫn, TS. Nguyễn Đình Phức

-

Các thầy cô tổ Văn học Nước ngoài, phòng Sau đại học trường Đại học Sư Phạm
TPHCM

-

Ban giám hiệu trường THPT Xuân Thọ, Sở GD & Đào tạo tỉnh Đồng Nai, Sở Khoa
Học và Công Nghệ tỉnh Đồng Nai

-

Gia đình và bạn bè


đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình góp ý, giúp đỡ, động viên cho tác giả trong suốt thời gian
học tập và hoàn thành luận văn này.
TPHCM, Ngày

tháng 09 năm 2013

Người viết luận văn

Lê Thị Tố Nga
Lớp Cao học VHNN khóa 22

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DẪN NHẬP .................................................................................................................. 5
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 5
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 6
3. Lịch sử vấn đề ................................................................................................................. 6
4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 12
5. Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn ........................................................ 12
6. Bố cục của luận văn ...................................................................................................... 13

CHƯƠNG 1: DƯ HOA VÀ TIỂU THUYẾT SỐNG.............................................. 15
1.1. Dư Hoa với bối cảnh của thời đại ............................................................................. 15
1.1.1. Nhà văn phái tiên phong........................................................................................ 15
1.1.2. Chặng đường văn chương ..................................................................................... 20

1.2. Sống trong thành tựu văn học của Dư Hoa ............................................................. 27
1.2.1. Đóng góp về phương diện nội dung ...................................................................... 27
1.2.2. Đổi mới nghệ thuật ................................................................................................ 30

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ GÓC NHÌN VỀ SỐNG CHẾT TRONG TIỂU THUYẾT
SỐNG .......................................................................................................................... 33
2.1. Sống chết từ góc nhìn triết học ................................................................................. 33
2.1.1. Triết học Đông Tây trong quan niệm sống chết .................................................... 33
2.1.2. Nhân sinh quan sống chết trong tác phẩm ............................................................ 38
2.2. Sống chết từ góc nhìn lịch sử .................................................................................... 49
2.2.1. Từ hiện thực đến tác phẩm .................................................................................... 49
2.2.2. Hiện thực lịch sử thể hiện vấn đề sống chết trong Sống ....................................... 51
2.3. Sống chết từ góc nhìn thẩm mĩ ................................................................................. 54
2.3.1. Sống chết theo quan niệm của mĩ học ................................................................... 54
2.3.2. Thông điệp thẩm mĩ từ vấn đề sống chết của Dư Hoa .......................................... 57

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN QUAN NIỆM VỀ SỐNG CHẾT
TRONG TIỂU THUYẾT SỐNG .............................................................................. 63
3.1. Phương thức tự sự ..................................................................................................... 63
3.1.1. Không gian ............................................................................................................ 63
3.1.2. Thời gian ............................................................................................................... 73
3


3.1.3. Điểm nhìn tự sự ..................................................................................................... 80
3.1.4. Giọng điệu tự sự .................................................................................................... 84
3.2. Môtip cái chết ............................................................................................................. 90

KẾT LUẬN ................................................................................................................ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 99

PHỤ LỤC ................................................................................................................. 104

4


DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Dư Hoa là nhà văn xuất sắc trong văn học đương đại Trung Quốc. Tác giả luôn được
xem là nhà văn tiêu biểu thuộc phái tiên phong, một trong những trào lưu tiểu thuyết có ảnh
hưởng khá lớn trong văn học Trung Quốc những năm 80 của thế kỉ XX. Các sáng tác của
nhà văn thuộc nhiều thể loại, tản văn thường mang chất suy ngẫm về thời đại, truyện ngắn là
tiếng nói về nhiều mặt thực tế xã hội và con người, tiểu thuyết đa diện trong cách nhìn văn
hóa dân tộc. Trong bốn tiểu thuyết được dịch và xuất bản đến thời điểm này ở Việt Nam,
Sống là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách tiểu thuyết cũng như sự đổi mới của Dư Hoa,
cũng là tác phẩm thu được nhiều thành công nhất, giúp Dư Hoa xác định vị trí của mình trên
văn đàn Trung Quốc và thế giới.
Sống viết về sức mạnh sinh tồn của con người trong những hoàn cảnh vô cùng khắc
nghiệt. Tác phẩm thể hiện quan niệm về vấn đề sống chết. Sống chết ở đây không đơn thuần
như nghĩa vốn có mà mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Cũng như lời tác giả từng phát biểu
trong lời nói đầu của cuốn sách: “Con người ta vì bản thân sự sống mà sống, chứ không
phải sống vì bất cứ sự vật nào ngoài sự sống”.
Phong cách sáng tác của Dư Hoa hiện đại, giản dị, trong sáng đáng lưu ý nhất là
phương thức tự sự trong truyện ngắn, tiểu thuyết. Phương thức tự sự trong Sống truyền
thống mà hiện đại, dân dã mà lạnh lùng, nhằm chuyển tải thông điệp tác giả muốn gửi gắm
trong sáng tác. Thế nên qua phương thức tự sự để thể hiện quan niệm về vấn đề sống chết,
khẳng định được nét riêng trong cách viết tiểu thuyết của nhà văn.
Tìm hiểu về Sống để tìm đến những giá trị thẩm mĩ, nhân văn của con người trong
cuộc sống và đến được với một nhà văn tiêu biểu, được đánh giá cao trong văn học đương
đại Trung Quốc. Nghiên cứu về vấn đề sống chết và phương thức thể hiện quan niệm này
trong Sống, người viết muốn góp thêm một góc nhìn về tác phẩm và nhà văn Dư Hoa.

Xuất phát từ những lý do trên, kết hợp thực tế những vấn đề liên quan đến tiểu thuyết
Sống của Dư Hoa hoàn toàn chưa được nghiên cứu một cách có quy mô, quan tâm đúng
mức hay đạt những thành tựu nhất định tại Việt Nam. Chúng tôi trên cơ sở tham khảo
những thành tựu có liên quan của các học giả đi trước, bao gồm cả các học giả trong nước
và thế giới, từ đó muốn đóng góp một hướng tiếp cận liên quan đến tác phẩm Sống. Đó là lý
do chúng tôi thực hiện đề tài Vấn đề sống chết trong tiểu thuyết Sống của Dư Hoa.
5


2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Vấn đề sống chết trong tiểu thuyết Sống của Dư Hoa, chúng tôi tiến
hành khảo sát tác phẩm Sống dựa vào bản dịch của Vũ Công Hoan (Nxb Văn học, 2002) có
đối chiếu với nguyên tác. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đối chiếu Sống với một số tác phẩm
khác của Dư Hoa để có cái nhìn toàn diện về tiểu thuyết của nhà văn này.
Đề tài chủ yếu tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Đầu tiên chúng tôi quan tâm đến phong cách sáng tác của Dư Hoa với nhiều đổi mới
về quan điểm nội dung và nghệ thuật trong Sống đối chiếu với các giai đoạn trước đó. Đồng
thời quan tâm đến các góc nhìn khác nhau soi chiếu đến vấn đề sống chết trong Sống tập trung
ở triết học, lịch sử, thẩm mĩ.
Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành khảo sát phương thức vận dụng các thủ pháp nghệ
thuật quan trọng để xem xét sự ảnh hưởng đến quan điểm nhân sinh thể hiện trong Sống.
Phương diện khảo sát liên quan đến tự sự học và môtip cái chết, chỉ ra được mối liên hệ của
nó với vấn đề sinh tử trong tác phẩm.

3. Lịch sử vấn đề
Tiểu thuyết của Dư Hoa lôi cuốn độc giả bởi những triết lý sâu sắc, những phân tích
sắc bén bản thể đời sống và nội tâm con người được chuyển tải trong những kĩ thuật viết
hiện đại, phương thức tự sự độc đáo mang phong cách riêng của nhà văn tiên phong. Vì vậy,
tiểu thuyết của ông đã trở thành một mảnh đất thu hút giới nghiên cứu phê bình. Đề tài của
các công trình nghiên cứu về Dư Hoa khá phong phú: vấn đề phong cách, vấn đề thể loại,

ngôn ngữ, hình tượng nhân vật, phương thức tự sự liên quan đến giọng điệu, không gian,
thời gian, điểm nhìn, ngôi tự thuật,…
Nhà văn Dư Hoa và các tác phẩm của ông được đánh giá cao trên văn đàn văn học
đương đại Trung Quốc và thế giới. Nhưng tại Việt Nam, nghiên cứu về Dư Hoa chỉ dừng ở
mức độ giới thiệu sơ lược chưa tìm thấy luận văn nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu tiểu
thuyết Sống về nội dung và phương thức tự sự. Sau đây người viết sẽ đưa ra những bài viết
có liên quan đến đề tài chủ yếu đăng trên tạp chí, báo và một vài trang web đáng tin cậy ở
Việt Nam và Trung Quốc.
Bài viết, bài dịch, nghiên cứu tại Việt Nam:
Việc tổ chức dịch và in bốn tiểu thuyết của Dư Hoa từ năm 2002 đến năm 2009 phần
nào cho thấy sự quan tâm của các nhà phê bình và công chúng đối với tác phẩm của Dư
6


Hoa. Tuy nhiên, do các tác phẩm của Dư Hoa xuất hiện ở Việt Nam khá muộn (Sống được
ấn hành năm 2002; Chuyện Hứa Tam Quan bán máu ấn hành năm 2006, Gào thét trong
mưa bụi được ấn hành năm 2008 và Huynh đệ (hai tập) được ấn hành năm 2009) nên số
lượng công trình nghiên cứu về tác phẩm của ông còn khá khiêm tốn.
Ngoài lời bạt của dịch giả Vũ Công Hoan trong tiểu thuyết Sống Nxb Văn học 2002
chỉ mới giới thiệu sơ lược Dư Hoa, kể tên tác phẩm tiêu biểu, một vài đánh giá cao của các
nhà phê bình Trung Quốc về tác giả, các giải thưởng của tiểu thuyết Sống. Có thể kể đến
những công trình nghiên cứu sau: Luận văn thạc sĩ Nghệ thuật tự sự của Dư Hoa qua tiểu
thuyết Huynh đệ (Đại học Sư phạm Hà Nội, 2008) của Nguyễn Thị Hưởng đã khám phá
nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Huynh đệ và đã đưa ra được những nhận xét mang tính
khái quát về nghệ thuật tự sự của Dư Hoa. Luận văn thạc sĩ Nghệ thuật tự sự của Dư Hoa
qua tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam Quan bán máu (ĐH KHXH & NV, 2009) của Dương
Thị Khu nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong Chuyện Hứa Tam Quan bán máu về các
phương diện người tự sự, điểm nhìn, nhân vật, không gian, thời gian; từ góc nhìn tự sự học
khám phá những đặc sắc nghệ thuật tự sự và giá trị nội dung tư tưởng trong sáng tác Dư
Hoa.

Bên cạnh đó, có một số bài viết có liên quan đến Dư Hoa và các tác phẩm của ông
được đăng rải rác trên các tạp chí. Bài viết Tiểu thuyết tiên phong Trung Quốc: ra đời, nở
rộ và trầm lắng (Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 12 năm 2003) của Phạm Tú Châu nêu nét
chung về phái tiên phong trong văn học Trung Quốc, đề cập đến khái niệm, tác giả, sự vận
động, thành tựu. Trong đó tác giả có đề cập đến Dư Hoa như một nhà văn tiên phong tiêu
biểu. Bài Bàn về diễn tiến các trào lưu tiểu thuyết Trung Quốc hai mươi năm qua, (Tạp
chí Văn học năm 2003) của Đinh Phàm, Hà Ngôn Hồng nêu lên các trào lưu văn học từ năm
1976 đến những năm cuối thế kỉ XX. Bài viết đã có cái nhìn bao quát chung đối với văn học
đương đại Trung Quốc, đặc biệt đưa ra những nhận xét quan trong đối với trào lưu Văn học
tiên phong (ở đây tác giả gọi tên là Văn học thực nghiệm). Bài viết Cuộc đời có thể khóc
của Nguyễn Ngọc Thuần (báo Tuổi Trẻ thứ hai ngày 10/3/2003) nêu sự cảm động của tác
giả do tác phẩm Sống mang lại. Bài viết Vì bản thân sự sống mà sống của Ngô Ngọc Ngũ
Long (báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 23/3/2003), phần lớn kể lại nội dung tiểu thuyết Sống,
khẳng định sức sống mãnh liệt của nhân vật, có liên hệ với phim Sống do Trương Nghệ
Mưu đạo diễn. Bài viết Lệ rơi trên Sống của Phan Thanh Lệ Hằng (báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật
ra ngày 30/3/2003) đề cập đến nỗi đau của nhân vật Từ Phú Quý. Tác giả bày tỏ sự đồng
7


cảm về tình yêu thương, số phận con người. Bài Lòng cứ đau đớn mãi của Tâm Thơ (báo
Phụ nữ Chủ Nhật, số 12 ngày 30/3/2003), nói về khả năng chịu đựng và cách sống cao
thượng của con người, khẳng định tài năng Dư Hoa và sự cảm động sâu sắc của người đọc.
Trên một số trang mạng có đăng tải vài bài cảm nhận liên quan đến tiểu thuyết Dư
Hoa.
/>Quoc/70021718/181/ với bài Huynh đệ - cuốn tiểu thuyết làm xôn xao Trung Quốc, Phó
Thiên Tùng (8/2005). Bài trích phỏng vấn của một tạp chí Trung Quốc dành cho Dư Hoa về
tác phẩm Huynh đệ.
/>đăng bài Người Phải sống kể chuyện Huynh đệ của Cát Yên (5/2006). Tác giả giới thiệu
sơ lược về tiểu thuyết và thành công của nó ở Trung Quốc.
đăng bài Chuyện Hứa Tam Quan bán máu,

chuyện người bán tổ tông của Toàn Nguyễn (1/7/2006) đã có những cảm nhận sâu sắc về
những trang sách của Dư Hoa và giới thiệu ngắn gọn, khái quát nghệ thuật tự sự trong tác
phẩm này.
có bài Huynh đệ - tác phẩm lớn hay là thứ rác rưởi? của David
Barboza do Hà Linh dịch (9/2006). Bài viết tổng hợp hai luồng ý kiến khác nhau về Huynh
đệ, một bên cho rằng đó là tác phẩm dung tục, nhiều người khác lại tán dương. Tác giả nêu
khái quát chặng đường sáng tác của Dư Hoa và phong cách tiểu thuyết Huynh đệ.
đăng bài Khóc trong mưa bụi - Cuốn sách đẫm
nước mắt của Dư Hoa của H.T (12/2007), nêu lên những cảm nhận khá sâu sắc về nội
dung của cuốn tiểu thuyết đầu tay này.
Trang web có phần dịch của Vũ Công Hoan
về lời nói đầu của tác giả Dư Hoa trong Sống xuất bản tại Trung Quốc, tác giả nêu lên một
vài

quan

điểm

thể

hiện

trong

Sống






do

viết

Sống.

Trang

web

có bài viết kể tóm tắt truyện Sống và một vài
cảm nhận riêng về Sống.

8


Nhìn chung các bài nghiên cứu tại Việt Nam chưa thực sự có hệ thống, đồng bộ về
các tác phẩm Dư Hoa. Các bài phần lớn có liên quan đến tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam
Quan bán máu và Huynh đệ, còn mảng nghiên cứu Sống còn đang bỏ ngỏ, rất cần được
quan tâm, khai thác.
Một số nghiên cứu của các tác giả Trung Quốc:
Dư Hoa trong trào lưu tiên phong, Hình Kiến Xương, Lỗ Văn Trung, Nxb Hoa Hạ,
1/3/2000. Nghiên cứu đã chỉ ra lịch sử xuất hiện của Dư Hoa trong trào lưu van học tiên
phong, phân tích góc nhìn về toàn bộ bức tranh nhân sinh u tối và tìm kiếm cảm giác chân
thực thế giới của nhà văn.
Dư Hoa tiên phong của Từ Nhân Sinh viết, Nxb Văn nghệ Chiết Giang, 1/2/2003.
Tác giả “dựa vào nhiều quan điểm sáng tác của Dư Hoa 5 năm qua, công bố nhiều tài liệu
và tình hình nhân sinh”, khẳng định “trên cơ sở nền tảng của sự thật, dự đoán Dư Hoa sẽ
đạt được giải Nobel văn học”.
Truyện kí Dư Hoa, Hồng Trị Cương viết, Nxb Đại học Trịnh Châu, 1/11/2004. Sách

miêu tả chi tiết cuộc sống kết hợp quá trình sáng tác của Dư Hoa, cung cấp cái nhìn sâu sắc
độc đáo những đặc trưng tư tưởng thể hiện trong phần lớn tác phẩm.
Dư Hoa: hướng về sinh tử, Vương Thế Thành viết, Nxb Nhân dân Thượng Hải,
1/11/2005. Sách cho rằng những năm 80 của thế kỉ XX Dư Hoa đã có được nền tảng đầy đủ
quan sát thế giới, cái nhìn sắc sảo cuộc sống giống như người bác sĩ tỉnh táo và bình tĩnh
dùng dao phẫu thuật, kiên định chạm vào sự thật như mở bung bộ quần áo đẹp cho đến khi
nó lộ ra những gì còn ẩn giấu.
Tư liệu nghiên cứu Dư Hoa, Ngô Nghĩa Cần, Vương Kim Thắng, Hồ Kiện Linh
biên tập, Nxb Văn hóa Sơn Đông, 1/5/2006. Sách viết “tổng hợp tư liệu nghiên cứu văn học
Trung Quốc thời kì mới” trong một cuốn, kết hợp với cuộc đời và sáng tác của Dư Hoa,
đồng thời còn tiếp thu nghiên cứu của các nhà bình luận văn học nổi tiếng. Toàn bộ cuốn
sách tập trung có hệ thống tư liệu, tính khoa học của học thuật, tính đa nguyên quan điểm,
uy tín chọn lọc thành một khối, thể hiện phong cách của Dư Hoa.
Dư Hoa nha sĩ – xem lại Huynh đệ của Dư Hoa, Nhân Nghĩa Vĩ, Hứa Minh
Phương, Hà Ái Anh chủ biên, Nxb Đồng Tâm, tháng 6/2006. Cuốn sách phân tích có hệ
thống Huynh đệ, Sống, Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, Gào thét trong mưa bụi, Mười tám
tuổi ra khỏi nhà đi xa, Một loại hiện thực là những tác phẩm quan trọng, biểu hiện cùng

9


hình thái xã hội và bản chất tinh thần, lời khuyên và đánh giá chân thành với phong cách
độc đáo của bút kí và tản văn.
Chúng tôi chỉ mới thống kê được những cuốn sách nghiên cứu về Dư Hoa tại Trung
Quốc, chứ chưa được tiếp cận văn bản, nhiều vấn đề chưa bao quát được do điều kiện còn
hạn chế. Phần khảo sát, tham khảo chúng tôi chủ yếu lấy từ các bài đăng trên tạp chí dưới
đây:
Về hệ thống chủ đề trong tiểu thuyết Dư Hoa thập niên 90, Tạ Kiến Văn (Tạp chí
Danh tác thường thức, kì 23 năm 2010). Bài viết chỉ ra từ những năm 90 trở đi chủ đề trong
sáng tác Dư Hoa không còn là máu me, bạo lực mà chuyển sang tình cảm xót thương, hư

cấu chân thực, đau khổ. Tác giả đưa ra nhiều nhận xét xác đáng về ba tiểu thuyết Gào thét
trong mưa bụi, Sống và Chuyện Hứa Tam Quan bán máu.
Nhìn Sống của Dư Hoa từ góc nhìn cuộc sống, Triệu Á Lượng (Tạp chí Văn học
Thanh niên, kì 12 năm 2010). Bài này chủ yếu từ góc độ nhân sinh phân tích Sống của Dư
Hoa, do đó phát hiện Dư Hoa có thái độ đồng cảm khi viết về đời sống gian khổ của nhân
vật Phú Quý.
Kế thừa và phá cách, luận tiểu thuyết của Dư Hoa, Trần Lâm (Tạp chí Học viện
văn học Đại học Sư phạm Giang Tây, kì 6 năm 2010). Tác giả nêu lên những đặc điểm quan
trọng trong nghệ thuật tiên phong của Dư Hoa bằng hàng loạt tác phẩm; sự thay đổi về quan
điểm nghệ thuật
Luận Sống của Dư Hoa, Đổng Tuyết Liên (Tạp chí học viện sư phạm Xuân Trường:
KHXHNV, kì 9 năm 2010). Tác giả nêu lên cảm nhận riêng của mình sau khi đọc Sống vào
những thời điểm khác nhau. Thông qua phong cách tự thuật tiểu thuyết Sống của Dư Hoa đã
phân tích mặt sau giọng văn tự thuật lạnh lùng là khai thác tình thương, ôm ấp tình cảm với
nhân thế và quan tâm sâu sắc số phận con người.
Ảnh hưởng của văn học nước ngoài trong sáng tác Dư Hoa, Tam Gia Lỗi (Tạp
chí Học viện Hoài Bắc, kì 4 năm 2010). Bài viết khái quát những chuyển hướng của Dư
Hoa từ sau thập niên 90 thế kỉ XX, từ tự thuật với chủ đề bạo lực và máu me, ngôn ngữ đảo
điên, thách thức cơ quan cảm giác và thị giác của độc giả sang tả thực. Nhìn tổng quát sáng
tác của Dư Hoa thì nhà văn chịu ảnh hưởng phương thức sáng tác và lí luận của các tác giả
nước ngoài rất lớn.
Luận sự khác nhau giữa tiểu thuyết và tác phẩm điện ảnh Sống, Lương Ngôn
(Tạp chí Văn học Bắc Phương, kì 6 năm 2011). Bài viết đã so sánh kĩ lưỡng những khác
10


biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và phim Sống, các phương diện được liệt kê đầy đủ với góc
nhìn khá toàn diện.
Sự khác nhau giữa tiểu thuyết Sống và phim Sống, Tư Văn Văn (Tạp chí Bình
luận điện ảnh, kì 15 năm 2011). Bài viết nêu ra khá chi tiết các phương diện khác nhau gồm:

góc độ tự thuật; hoàn cảnh sống và phương thức mưu sinh; bối cảnh thời đại; tình tiết và vận
mệnh nhân vật; yếu tố hài hước.
Về ý nghĩa chủ đề của Sống, Sử Hồng Hoa (Tạp chí học viện giáo dục Trường
Xuân, kì 9 năm 2011). Bài viết khẳng định tiểu thuyết có nội hàm tư tưởng phong phú, phản
ánh sâu sắc lịch sử, đạt được sự khẳng định và yêu mến của độc giả. Nhân vật chính Phú
Quý số phận cuộc đời nhiều gian khổ nhân sinh tạo thành con người từng trải. Phân tích
Sống để thấy hiện thực xã hội, bối cảnh lịch sử từng giai đoạn bấy giờ và sự mong manh của
bản chất sinh mệnh.
Luận kết cấu tự sự trong tiểu thuyết của Dư Hoa, Lưu Diễm (Tạp chí trường Cao
đẳng dạy nghề Hà Nam, kì 5 năm 2011). Bài viết đã khái quát kiến thức chung về tự sự học
có liên quan, khẳng định kết cấu tự sự trong tác phẩm Dư Hoa có điểm vượt trội, đó chính là
phương thức lặp lại. Tác giả còn đưa ra lí giải của mình về nguyên nhân hình thành nên đặc
điểm này.
Ánh sáng yếu ớt giữa vùng tối, luận cái chết trong Sống của Dư Hoa, Đàm Giai
Cát (Tạp chí trường Sư phạm cao đẳng dạy nghề Tư Mao, kì 4 năm 2011). Tác giả đã khẳng
định Sống là tác phẩm cột mốc của Dư Hoa. Chủ đề thể hiện trong tiểu thuyết là cái chết và
gian khổ. So với hình thức bạo lực, máu me trước đây, cái chết trong Sống liên tiếp nhau, ít
tàn ác, phẫn nộ nhưng nhiều bi thương và khoan dung. Như thế cái chết như ánh sáng yếu ớt
ở vùng tối làm cho vững chắc số mệnh nhỏ bé, tác phẩm trở nên có cảm xúc và sức nặng.
Lựa chọn khổ nạn, luận hình tượng Phú Quý trong Sống, Chu Thanh (Tạp chí
học viện Đức Châu – kì 1 năm 2011). Tác giả cho rằng Phú Quý là nhân vật điển hình của
tầng lớp nông dân gặp khổ nạn; nghiên cứu ý thức sinh mệnh và phương thức nhân vật đối
mặt với vận mệnh gian khổ.
Có thể thấy rõ, việc nghiên cứu Sống ở Việt Nam nhìn từ góc độ học thuật vẫn chưa
hoàn toàn khởi sắc, những bài viết đã công bố phần nhiều dừng lại ở mức độ giới thiệu.
Riêng các bài viết của các học giả Trung Quốc mà chúng tôi đã tiếp cận, vấn đề nghiên cứu
đặt ra đa dạng và sâu hơn. Thế nhưng, do trình độ có hạn, đặc biệt khó khăn của cá nhân
trong việc đọc văn bản Trung văn, hiện chúng tôi vẫn chưa thể tiếp cận toàn bộ thành tựu
11



nghiên cứu của các học giả Trung Quốc có liên quan trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của
luận văn.

4. Phương pháp nghiên cứu
Từ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích của đề tài, chúng tôi đã vận dụng
những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này cần thiết để chúng tôi làm rõ
vấn đề nội dung và nghệ thuật tác phẩm. Sử dụng phương pháp phân tích để thấy được cách
thức tác giả vận dụng và thông điệp hướng đến. Tổng hợp để có cái nhìn chung, thống nhất
các đối tượng. Phân tích – tổng hợp hỗ trợ lẫn nhau khi nghiên cứu đề tài.
Phương pháp văn hóa – lịch sử: Vì Sống chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa, lịch sử
Trung Quốc (cuộc nội chiến, Công xã nhân dân, Đại nhảy vọt, Cách mạng văn hóa, đời sống
tinh thần của nông dân Trung Quốc suốt nhiều thập kỉ đầy biến động) nên việc tìm hiểu tác
phẩm dựa vào phương pháp văn hóa – lịch sử là cần thiết. Qua đó, chúng tôi sẽ chỉ ra sự soi
chiếu và tương tác giữa lịch sử thời đại và lịch sử trong tác phẩm như một góc nhìn quan
trọng trong Sống và mối liên hệ với nội dung chủ đề tác phẩm.
Phương pháp loại hình: Phương thức tự sự trong Sống của Dư Hoa mang những nét
đặc thù riêng thuộc phương thức tự sự của thể loại tiểu thuyết.
Phương pháp phê bình tiểu sử: Phương pháp giúp chúng tôi có cái nhìn cụ thể hơn về
những tác động từ cuộc đời lên sáng tác của nhà văn.
Phương pháp so sánh: Vì vấn đề sống chết là một chủ đề xuyên suốt trong sáng tác
của Dư Hoa nên khi nghiên cứu đề tài Vấn đề Sống chết trong tiểu thuyết Sống của Dư
Hoa chúng tôi có sự liên hệ, so sánh với các tiểu thuyết khác của Dư Hoa. Bên cạnh đó,
chúng tôi cũng so sánh sống chết trong tác phẩm với một số tác phẩm của các nhà văn khác.
Phương pháp này góp phần làm rõ về chặng đường sáng tác của Dư Hoa cũng như về tiểu
thuyết Sống.

5. Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, người viết hướng đến những mục đích sau:

- Giới thiệu về tác giả Dư Hoa ở chặng đường văn chương và phong cách sáng tác
tiêu biểu.
- Tìm hiểu vấn đề tiểu thuyết Sống nêu ra cụ thể là soi chiếu những góc nhìn có liên
quan đến sống và chết để thẩm thấu được thông điệp nhân sinh của tác phẩm.
12


- Tìm hiểu phương thức thể hiện quan niệm để xác định nghệ thuật tiểu thuyết độc
đáo, mang phong cách Dư Hoa.
Nếu luận văn đạt được mục đích trên thì có thể xem như đóng góp của công trình
nghiên cứu. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng mong muốn luận văn có thể góp phần, tuy nhỏ,
vào việc nghiên cứu Dư Hoa ở Việt Nam, vốn còn chưa toàn diện và chủ yếu tập trung vào
nghệ thuật tự sự trong các tiểu thuyết Chuyện Hứa Tam Quan bán máu và Huynh đệ. Đóng
góp về việc tìm hiểu về nhà văn Dư Hoa và tiểu thuyết Sống trong khi nhà văn này còn rất ít
được nghiên cứu ở Việt Nam. Luận văn sẽ cung cấp thêm tư liệu nghiên cứu về tác giả văn
học đương đại Trung Quốc và góp phần lý giải thành tựu của Dư Hoa thông qua tác phẩm
Sống.

6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận văn gồm
ba chương chính:
Chương 1 - DƯ HOA VÀ TIỂU THUYẾT SỐNG
1.1. Dư Hoa và bối cảnh của thời đại
1.2. Sống trong thành tựu văn học của Dư Hoa
Chương này, người viết sẽ trình bày về bối cảnh thời đại văn học của Dư Hoa. Tác giả
thuộc thế hệ nhà văn tiên phong thế hệ thứ hai, có nhiều đổi mới trong kĩ thuật sáng tác do
học hỏi nhiều nhà văn lớn trong nước và thế giới. Đến thời điểm này, có thể chia chặng
đường sáng tác của Dư Hoa thành ba chặng, ở mỗi giai đoạn đều khẳng định được nét
phong cách riêng. Tìm hiểu quan niệm về vấn đề sống chết được thể hiện trong các tiểu
thuyết của ông như thế nào, có thay đổi qua thời gian hay không. Ở đây, người viết cố gắng

liên hệ với các tiểu thuyết chung đề tài của dòng văn học tiên phong.
Tiểu thuyết Sống xuất bản năm 1992, tiêu biểu cho chặng thứ hai trong sáng tác, đạt
nhiều giải thưởng và còn được dựng thành phim cùng tên khá thành công. Khảo sát những
đổi mới về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Chương 2 - MỘT SỐ GÓC NHÌN VỀ SỐNG CHẾT TRONG TIỂU THUYẾT
SỐNG
2.1. Sống chết từ góc nhìn triết học
2.2. Sống chết từ góc nhìn lịch sử
13


2.3. Sống chết từ góc nhìn thẩm mĩ
Luận giải về quan niệm sống chết dưới góc nhìn của Dư Hoa để thấy được tác giả có
cái nhìn toàn diện, có nét riêng khi xem xét sự sống chết. Đồng thời chỉ ra những luận
điểm, thông điệp tác giả gửi gắm thông qua trang viết. Dư Hoa nhìn nhận về sống chết có
tiếp thu quan niệm của văn hóa phương Đông như Phật giáo, triết học Lão Trang. Hình
tượng nhân vật trong tác phẩm trải dài theo 40 năm biến động của lịch sử Trung Quốc (nội
chiến, trong và sau cách mạng văn hóa), thân phận con người đi theo dòng chảy lịch sử. Khi
người ta trải nghiệm quá nhiều về sống chết thì cái nhìn nhân văn, thẩm mĩ về nó được đặt
ra. Sống chết mang đậm tính triết lí và vẻ đẹp nhân sinh.
Chương 3 - PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN QUAN NIỆM VỀ SỐNG CHẾT TRONG
TIỂU THUYẾT SỐNG
3.1 Phương thức tự sự
3.2. Môtip cái chết
Chương này tập trung vào thủ pháp nghệ thuật tác giả xây dựng nên quan niệm sống
chết thông qua phương thức tự sự của tiểu thuyết như không – thời gian, điểm nhìn, giọng
điệu và môtip cái chết. Dư Hoa đã tiếp thu văn chương truyền thống và cả sự hiện đại của
văn học phương Tây để tạo nên phong cách độc đáo. Người viết tìm hiểu về sự kết hợp đa
điểm nhìn, không – thời gian đặc trưng, dụng ý lặp lại cái chết, và giọng điệu để xác định
vai trò nghệ thuật tác động vào quan niệm về sống chết.


14


CHƯƠNG 1: DƯ HOA VÀ TIỂU THUYẾT SỐNG
1.1. Dư Hoa với bối cảnh của thời đại
1.1.1. Nhà văn phái tiên phong
Dư Hoa là một trong những cây bút quan trọng của nền văn học Trung Quốc đương
đại. Nhà văn không chỉ nổi tiếng trong nước mà được biết đến ở nhiều quốc gia trên thế
giới. Ông được đánh giá cao với nhiều đóng góp trong sáng tác. Dư Hoa sinh ngày 03 - 04 1960 tại Sơn Đông, sau cùng cha mẹ chuyển tới huyện Hải Diêm, tỉnh Chiết Giang, Trung
Quốc.
Dư Hoa từng là bác sĩ nha khoa, nhà sưu tầm văn học dân gian, và đã qua lớp nghiên
cứu sinh do Viện Văn học Lỗ Tấn và Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh phối hợp tổ chức.
Tác phẩm của Dư Hoa được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản tại nhiều nước như
Mỹ, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Thụy Điển, Hy Lạp, Na Uy, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn
Độ và Việt Nam. Tác phẩm chính có: Gào thét trong mưa bụi, Sống, Chuyện Hứa Tam
Quan bán máu, Huynh đệ, Tình yêu cổ điển, Cậu bé trong hoàng hôn, Mười tám tuổi ra
khỏi nhà đi xa, Lỗi lầm ven sông, Năm 1986, Sự kiện ngày 3 tháng 4,... Trong đó các tác
phẩm Sống, Chuyện Hứa Tam Quan bán máu, Gào thét trong mưa bụi, Huynh đệ (hai tập),
tập truyện ngắn Tình yêu cổ điển đều được dịch giả Vũ Công Hoan chuyển ngữ sang tiếng
Việt.
Dư Hoa là nhà văn thuộc thế hệ thứ hai của phái tiên phong trong văn học đương đại
Trung Quốc. Nói đến văn học tiên phong là nói đến một trào lưu văn học khá tiêu biểu hình
thành trong chặng đường phát triển của nền văn học Trung Quốc sau nhiều chấn thương từ
cách mạng Văn hóa. Trong dòng chảy văn học đang diễn ra gồm nhiều trường phái, trào lưu
thì phái tiên phong đã có tiếng nói riêng, đạt được nhiều thành tựu về cả nội dung lẫn nghệ
thuật.
Sau cách mạng văn hóa (1966 - 1976), Trung Quốc bước vào thời kì cải cách mở
cửa. Từ khi các nhà văn Trung Quốc có điều kiện sáng tác phù hợp, được tiếp thu các luồng
văn hóa khác nhau, học hỏi, sáng tạo, văn học Trung Quốc đã mang diện mạo mới. Nhà

nghiên cứu Trương Quýnh đã nhận xét: “từ thập niên 80 đến thập niên 90 văn học Trung
Quốc dường như đã đi hết lộ trình 100 năm của phương Tây”.
Giai đoạn đầu xuất hiện dòng văn học vết thương, tiếp theo là dòng văn học phản tư
(suy ngẫm lại), văn học cải cách, văn học tầm căn (tìm nguồn). Từ cuối thập niên 80, xuất
15


hiện văn học tiên phong, tiểu thuyết tân tả thực. Những năm 90 xuất hiện dòng văn học “thế
hệ mới sinh” (còn gọi là thế hệ sinh sau), đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường. Các
nhà văn Trung Quốc đương đại đã thể hiện những màu sắc mới trong chủ nghĩa hiện thực.
Họ áp dụng những thủ pháp của chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa siêu thực vào trong sáng tác.
Các nhà văn có ý thức rõ trong sáng tác của mình, họ muốn thể hiện nhìn nhận về cuộc
sống, kết hợp với nhiều thay đổi quan niệm văn chương, thời đại. Nhiều sáng tác của văn
học đương đại Trung Quốc biểu hiện sức mạnh và giá trị đạo đức mới.
Xã hội có nhiều biến đổi sau thời kì cách mạng văn hóa. Con người Trung Quốc thay
đổi về ý thức văn hóa, quan điểm thẩm mĩ nên tạo điều kiện cho sự phát triển của chủ nghĩa
hiện đại văn học. Ý thức sâu sắc về tự ngã do bị áp chế lâu ngày đã khởi phát là nguyên
nhân ban đầu dấy lên chủ nghĩa hiện đại thời đổi mới. Từ văn học vết thương, nhiều kĩ xảo,
thủ pháp hiện đại chủ nghĩa được sử dụng để vạch trần sự hoang đường trong cuộc sống,
trạng thái tha hóa của con người. Trào lưu hiện đại chủ nghĩa tiếp tục phát triển về sau với
nhiều trường phái như tiểu thuyết tìm tòi, thơ ca mông lung, kịch nói thực nghiệm. Tinh thần
cơ bản của văn học hiện đại chủ nghĩa là tính chống đối, chống lại trật tự lí tính, quan niệm
giá trị, truyền thống văn hóa. Nó còn chống cả tinh thần mĩ học, quan niệm văn học, phương
pháp biểu hiện, hình thức, nghệ thuật của chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa
hiện thực. Dòng thơ mông lung hàm súc, khó hiểu, đầy tính chất tượng trưng với Cố Thành,
Thư Đình… Những vở kịch nói được viết theo kỹ thuật hiện đại, không màn không cảnh,
xung đột dàn trải, thủ pháp tượng trưng như Nhà có làn khí nóng của nhóm Ma Trung Tuấn,
Dã nhân, Trạm xe, Tín hiệu tuyệt đối của Cao Hành Kiện. Các tiểu thuyết, truyện vừa thì
bao chứa cả hình thức lẫn nội dung chủ nghĩa hiện đại, học tập khá toàn diện chủ nghĩa hiện
đại phương Tây. Đến cuối những năm 80, tiểu thuyết phản tư, tiểu thuyết cải cách đã đi

được một chặng đường dài và phát triển thì cùng lúc xuất hiện hai xu thế sáng tác khác
nhau. Một là phái hiện đại với Lưu Sách La, Từ Tinh, Tàn Tuyết, Lưu Tây Hồng, hai là
phái tầm căn với Chung A Thành, Lí Hàng Dục, Trịnh Vạn Long, Giả Bình Ao, Phùng Kí
Tài. Văn học Trung Quốc xuất hiện nhiều sáng tác theo chủ nghĩa hậu hiện đại. Các nhà văn
không những nhận thức và lí giải chính xác chủ nghĩa hậu hiện đại phương Tây mà còn tự
thân thể nghiệm [56, tr.26].
Đến với sự ra đời văn học tiên phong, theo nhiều nhà nghiên cứu nguyên nhân ra đời
có liên quan đến hai ngữ cảnh hiện thực. Vào những năm 80, văn hóa chính trị Trung Quốc
bắt đầu thoái trào, người đọc trông chờ tìm ở tác phẩm văn học lời giải đáp những vướng
16


mắc về khuynh hướng chính trị và về hiện thực đã suy giảm. Văn học thời kì mới luôn tồn
tại “nỗi lo ảnh hưởng”, nên luôn muốn thoát ra tìm kiếm sự cách tân, là động lực nội tại dẫn
đến sự ra đời liên tiếp các trào lưu văn học. Mặt khác, văn học “bước ra thế giới” trở thành
khẩu hiệu thỏa mãn lòng tự tôn, trở thành hình thái ý thức văn học mạnh mẽ. Văn học tiên
phong chịu ảnh hưởng của các trào lưu văn học phương Tây, các nhà văn phương Tây. Ban
đầu, họ tìm một tác gia kinh điển có ý nghĩa để làm mẫu sau đó “Đông phương hóa” đi. Vì
thế Mạnh Phồn Hoa nhận xét: “hiện tượng văn học tiên phong chẳng những nói lên sự giải
cấu trúc về chế độ văn học truyền thống mà thực ra về một mặt khác vừa hay cho thấy sự
khuất phục trước một nền văn hóa ở thế mạnh” [dẫn theo 7, tr.43].
Nhìn về nội dung đề tài, phương thức sáng tác thì phái tiên phong có quan hệ với cả
hai phái hiện đại và tầm căn, nhưng chưa có một định nghĩa nào thật sự rạch ròi cho phái
văn học này. Theo như Phạm Tú Châu lí giải rằng phái tiên phong về phương diện văn học
nghệ thuật chỉ quần thể nhà văn sáng tác nên những tác phẩm chú trọng cách tân, mạnh dạn
vượt lên truyền thống, nhấn mạnh đến tính nghệ thuật. Cuộc vận động nghệ thuật của phái
tiên phong và tác phẩm của họ là biểu hiện khác của cuộc vận động nghệ thuật hiện đại chủ
nghĩa, tính tiên phong trong lịch sử nghệ thuật là một đặc trưng nổi bật của phong trào nghệ
thuật hiện đại chủ nghĩa này [7, tr.42]. Nói cách khác, chỉ khi phong trào nghệ thuật hiện đại
chủ nghĩa đã hưng thịnh về mọi mặt, người ta mới chú ý đến tính tiên phong. Nghiên cứu

còn chỉ ra: “Khái niệm tính tiên phong có hàm nghĩa đặc định trong thực tiễn phê bình văn
học Trung Quốc đương đại nhằm khu biệt với phái hiện đại nửa đầu những năm 80, nhằm
để chỉ một quần thể mạnh dạn sáng tạo nên cái mới về phương diện hình thức văn học xuất
hiện vào nửa sau những năm 80 và những năm tiếp theo” [dẫn theo 7, tr.42]. Nhiều nhà văn
trẻ có ý thức sáng tạo cái mới rõ rệt và bước đầu đã hình thành nên phong cách tự sự riêng
như Mã Nguyên, Cách Phi, Tôn Cam Lộ, Dư Hoa, Diệp Triệu Ngôn, Tô Đồng, Trát Tây Đạt
Oa, Phan Quân, Diệp Triệu Minh, Lã Tân, Sử Thiết Sinh, Kỉ Thiên Tân…
Nghiên cứu của Phạm Tú Châu chỉ ra tiếp rằng thách thức văn hóa được mọi người
quan tâm nhất của trào lưu tiểu thuyết này là “tính hậu hiện đại”. Tiểu thuyết tiên phong chú
trọng đến tìm tòi mới về hình thức, nhấn mạnh hơn nữa tiểu thuyết là nghệ thuật tự sự. Các
nhà văn tiên phong Trung Quốc thừa nhận một cách phổ biến “hình thái ý thức của hình
thức”. Sáng tác và lí luận của Robbe Grillet, Rolan Barthes, Milan Kudera… được các nhà
văn tiên phong tôn sùng. Lí luận về tự sự là chìa khóa để giải mã tiểu thuyết tiên phong.
Tiểu thuyết tiên phong đã thực hiện được mục tiêu để văn học “trở về với tự thân”, không
17


chỉ cách mạng về hình thức mà còn quan tâm đến các chủ đề về tình dục, chết chóc, bạo
lực… đều có liên quan đến ngữ cảnh Trung Quốc, với những kí ức về vết thương tinh thần
và bạo lực cách mạng văn hóa.
Còn theo hai nhà nghiên cứu Đinh Phàm, Hà Ngôn Đồng thì văn học tiên phong đã
thủ tiêu vai trò khai sáng và tự sự mang tính hiện đại của thập niên 80 và thủ tiêu ý thức tinh
thần và những theo đuổi thẩm mĩ trong chủ nghĩa hiện đại của tiểu thuyết phái hiện đại.
Những mục tiêu giá trị cơ bản nhất của tiểu thuyết khai sáng như lý tính, chủ thể, nhân đạo,
cái tôi, nhân tính, siêu việt, giải phóng, lịch sử, tiến bộ, luân lý, chân thực, thẩm mỹ, giá trị,
ý nghĩa… và những nhu cầu mang tính hiện đại đã biến mất bởi phương thức “tự sự lạnh
lùng”. Trào lưu tiểu thuyết tiên phong mở đầu từ Mã Nguyên bằng các tiểu thuyết Nữ thần
Lạp Sa Hà (1984), Sự cám dỗ nơi gò núi (1985) và Biển Tây không tàu thuyền (1985)… Các
tác giả không còn muốn thông qua văn bản thể hiện sự đánh giá giá trị và cảm xúc của
mình, kiến lập tính chủ thể. Nhà văn Tôn Cam Lộ trong Mời cô gái đoán cho rằng: “cũng

chẳng biết bắt đầu từ lúc nào, tôi háo hức chạy theo lối tự sự hàm hồ…tình cảm thế tục của
tôi đã bị phương thức tự sự của tôi cự tuyệt” [dẫn theo 41, tr.39] và sẵn sàng “ném bỏ quyền
đánh giá và phán đoán về các nhân vật và sự kiện trong một bộ tiểu thuyết” [dẫn theo 41,
tr.39]. Đến với Dư Hoa thì phong cách “tự sự lạnh lùng”, giấu kín tình cảm chủ thể qua việc
miêu tả về bạo lực và cái chết trong Câu chuyện về cái chết, Dĩ vãng và hình phạt, Năm
1986, Một loại hiện thực… Khi đề cập đến hôn nhân, tình yêu, tình dục, bi kịch của gia đình
thì người sáng tác cũng ném bỏ luôn “quyền đánh giá và phán đoán” đối với “nhân vật và
sự kiện” trong tiểu thuyết. Sự tiêu giải đối với chủ thể trong tiểu thuyết tiên phong không
những khá toàn diện mà còn chứa đựng mối liên hệ nội tại. Ngoài ra còn tiêu giải đối với
quy luật lịch sử, chân thực lịch sử và bản chất lịch sử của tính hiện đại. Có thể thấy ở các tác
phẩm như Thanh Hoàng, Đại niên của Cách Phi, Gặp nhau ở thành phố K của Lý Hiểu.
Đinh Phàm, Hà Ngôn Đồng khẳng định sau khi tiểu thuyết tiên phong tước bỏ sự
đánh giá chủ thể, tước bỏ giá trị nhân tính và tính chân thực lịch sử trong sáng tác, cái còn
lại của chúng, chẳng qua chỉ là một khoảng hư vô, Biên duyên của Cách Phi nhận xét: “hiện
thực là trừu tượng, tiên nghiệm, do đó cũng là sự trống rỗng” [dẫn theo 41, tr.40], Đảo dữ
của Tôn Cam Lộ cho rằng: “toàn bộ sự tồn tại đều là hư cấu” [dẫn theo 41, tr.40]. Do đó,
các nhà tiểu thuyết dồn sức vào những hư cấu, không còn can dự vào hiện thực, đánh mất
khả năng đối thoại với thời đại và độc giả. Bấy giờ “ngôn ngữ phục vụ kết cấu chứ không
phục ý nghĩa. Chẳng còn gia đình, bao gồm ngôn ngữ, chẳng có chỗ mà kí thác nữa. Tất cả
18


chỉ là một nhịp đập, một hơi thở” (Hô hấp – Tôn Cam Lộ) [dẫn theo 41, tr.40]. Như vậy
sáng tác tiểu thuyết dần thoái hóa thành những thao tác kĩ thuật đơn thuần, thành câu đố văn
bản và trò chơi văn bản. Thực tiễn tự sự cấp tiến kiểu hậu hiện đại trong tiểu thuyết tiên
phong do cố chấp chạy theo các thao tác kĩ thuật, né tránh thời đại và hiện thực nên đánh
mất cơ sở độc giả phổ thông.
Văn học Trung Quốc thế kỉ XX có nhiều cách tân sáng tác do chịu ảnh hưởng của
các trào lưu văn học phương Tây. Cách Phi (Những gợi ý từ các nhà văn Âu Mĩ đối với
sáng tác của tôi) từng nói:

Về sự hoài nghi và truy vấn một cách sâu sắc đối với bản thân sự tồn tại và việc tiểu
thuyết tạo dựng được cái mới và hài hòa sau khi đã phá vỡ hình thức cũ lấy ‘xung
đột hý kịch’ làm hạt nhân, luôn là hai vấn đề khiến tôi phải suy nghĩ khi đọc những
tác phẩm này (chỉ văn học nước ngoài), nhất là cái sau, nó đã tạo nên bước chuyển
biến khởi đầu cho việc suy nghĩ về những khả năng biểu hiện mới trong tiểu thuyết
chữ Hán của tôi [dẫn theo 41, tr.41].
Nhưng ngay cả các nhà văn hậu hiện đại cũng không ném bỏ tất cả các giá trị,
“không tán dông dài thoát li hiện thực, sự tranh đấu của họ vẫn có cơ sở xã hội hiện thực”
(Dư Anh Thời – Tiền mục và văn hóa Trung Quốc). Có điều tiểu thuyết tiên phong vẫn có
giá trị lịch sử đặc thù của mình, nó không chỉ cảnh báo đối với tiến trình hiện đại ở Trung
Quốc, mà về ý nghĩa lịch sử văn học, sự phong phú trong thủ pháp biểu hiện nghệ thuật và
sự triển khai không gian phát triển đối với tiểu thuyết đương đại của nó, những ảnh hưởng
và gợi ý đối với các trào lưu tiểu thuyết sau này [dẫn theo 41, tr.39].
Đến cuối những năm 90, tiểu thuyết tiên phong không được quan tâm chú ý như
trước mà trầm lắng hẳn. Trước hiện tượng này, có ý kiến cho rằng tiểu thuyết tiên phong đã
cáo chung, lại có ý kiến khác rằng trào lưu này đang chín muồi hoặc có biến đổi. Theo thời
gian tên gọi văn học tiên phong dần không giữ được vai trò tiên phong về cách tân tự sự, nội
dung đề tài trong sáng tác như ban đầu, là lời cáo chung về giai đoạn mô phỏng lí luận văn
học và phương pháp sáng tác của phương Tây. Nhiều nhà văn đã có những biến hóa rõ rệt
về lí tưởng thẩm mĩ và sách lược tự sự như Dư Hoa, Cách Phi. Họ đã dần thoát ra khỏi
những ràng buộc về lí thuyết sáng tác vốn có, hướng đến sự tự do phong cách nhằm đưa văn
học đương đại sang một giai đoạn mới phù hợp thực tại xã hội hơn.
Đến với các tác giả cụ thể, thế hệ các nhà văn tiên phong đời đầu tiêu biểu là Mã
Nguyên, thế hệ thứ hai có Dư Hoa, Cách Phi, Tôn Cam Lộ, Diệp Triệu Ngôn, Lã Tân, thế
19


hệ tiếp nối có nhiều nhà văn trẻ như Hà Đốn, Thuật Bình, Chu Văn, Tất Phi Vũ, Quỷ Tử, Lý
Phùng, Khưu Hoa Đống. Nhà văn Dư Hoa đã gia nhập hàng ngũ nhà văn tiên phong với
phong cách, bút pháp tự sự độc đáo.

Từ khi cầm bút cho đến nay, Dư Hoa đã có nhiều đóng góp trên phương diện thể
loại, lối hành văn tự sự. Bắt đầu sáng tác từ năm 1983 cho đến nay, trải qua nhiều thay đổi
cho phù hợp với đời sống xã hội lẫn đời sống văn học, không chỉ đi theo hiện thực của riêng
mình. Sau khi nghiên cứu tỉ mỉ, có hệ thống các tác phẩm văn học của Dư Hoa, Triệu Nghị
Hoành đã nhận xét trong Khải hoàn của phi ngữ nghĩa hóa:
Trong các nhà văn phái tiên phong hiện giờ của Trung Quốc thì Dư Hoa là một nhà
văn nhạy cảm nhất đối với cấu trúc ý nghĩa của văn hóa Trung Quốc, cũng là một
nhà văn thể hiện ý đồ đổi mới mạnh mẽ nhất đối với nó. Chính ý đồ này làm cho Dư
Hoa cuối cùng đã quay về và vượt lên trên các nhà văn thời kỳ Ngũ tứ. Chính tinh
thần phê phán văn hóa này đã làm cho tiểu thuyết của Dư Hoa cung cấp được những
nội dung chính sâu sắc đối với việc xây dựng lại nền văn hóa Trung Quốc đương đại.
Trước đó, nền văn học đương đại Trung Quốc về cơ bản vẫn luôn luôn triển khai
trên bình diện ý nghĩa của vấn đề, lấy các tình tiết châm biếm hiện tượng xã hội này
hay hiện tượng xã hội kia. Tiểu thuyết của Dư Hoa đã hướng vào khống chế vô ngôn
ngữ mọi hoạt động ý nghĩa trong văn hóa, hướng vào phương thức cấu trúc ý nghĩa
của văn hóa. Ở đấy, phê phán không còn chỉ đi vào chi tiết cành lá, mà đổi mới là
tính chất căn bản [dẫn theo 25, tr.6]
Dư Hoa đi từ những đặc trưng tiêu biểu nhất của Phái tiên phong, học tập theo lối
viết hậu hiện đại phương Tây, càng về sau thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết lại tìm về với
chủ nghĩa hiện thực, không còn xa rời lớp độc giả phổ thông nữa và được đón nhận đúng
với giá trị văn chương.
1.1.2. Chặng đường văn chương
Dư Hoa bắt đầu sáng tác từ năm 1983, đến nay đã xuất bản 5 tiểu thuyết, 6 tập truyện
vừa và ngắn, 3 tập tuỳ bút. Ngay từ những tác phẩm đầu tay nhà văn đã bắt đầu xác định
khuynh hướng sáng tác của mình, theo đuổi con đường nhiều khó khăn, thử thách. Chặng
đường sáng tác có thể chia làm ba giai đoạn quan trọng, có khác biệt về phong cách sáng
tác.

20



Năm 1983 đến 1987 được coi là giai đoạn sáng tác thứ nhất của Dư Hoa. Thời gian
đầu Dư Hoa hoàn thành các tác phẩm Nhà tập thể thứ nhất, Phòng khám nha khoa Venice,
Ngôi sao. Tác phẩm giai đoạn đầu thường ngây ngô, non trẻ, thiếu sự thành thạo, tư tưởng
thiếu sót, chưa đủ trưởng thành.
Ban đầu Dư Hoa chịu ảnh hưởng của Kawabata Yasunari rất lớn. Trong Tôi muốn
sáng tác, chính là muốn về nhà, Dư Hoa nói: “lần đầu tiên tôi đọc được tác phẩm của ông
ấy là ‘vũ nữ Izu’ […] tôi luôn say mê Kawabata”. Giai đoạn đầu tác phẩm hai người đều có
kiểu nhân vật tầm thường. Các tác phẩm của Kawabata Nhật kí tuổi 16, Thư gửi cho cha mẹ,
Danh nhân tham dự lễ tang, Lửa trại chủ yếu miêu tả những việc cá nhân từng trải qua và
thể nghiệm; Vũ nữ Izu, Xứ tuyết miêu tả số phận nhân vật nhỏ bé trong xã hội. Dư Hoa trong
Nhà tập thể thứ nhất và Tiểu trạm đều miêu tả những lo lắng oán hận tầm thường của các
nhân vật. Dư Hoa còn chú trọng miêu tả đặc tả chi tiết, phát hiện và nắm chắc những thay
đổi nhỏ bé trong biến đổi tình cảm nhân vật. Nhưng sáng tác tập trung quá nhiều vào những
biến đổi nội tâm khiến Dư Hoa dần cảm thấy tâm hồn ngày càng bế tắc, cho đến khi tiếp xúc
với những sáng tác của Kafka thì đã định hình phong cách sáng tác mới.
Tác phẩm Ngôi sao đoạt giải thưởng Văn học Bắc Kinh, Dư Hoa chú ý quan hệ khó
hòa giải giữa người với người, đương nhiên nhân vật dưới ngòi bút không tàn nhẫn bằng
giai đoạn sau. Kết thúc Ngôi sao thiên về lãng mạn. Dư Hoa thà mạo hiểm với kết thúc
không tự nhiên để giữ được tính lương thiện. Những truyện ngắn phô bày ra khuynh hướng
tương tự, như trong Nhà tập thể thứ nhất cô gái dùng cái chết để giúp nước mà không biết
người đời có hiểu được điều tốt đẹp của mình hay không, còn ở Phòng khám nha khoa
Venice thì một hồng vệ binh muốn phá sự yên ổn của sơn thôn nên cuối cùng bị đuổi đi. Ban
đầu Dư Hoa chưa ý thức được đầy đủ hiện thực, luôn cố gắng truyền đạt niềm hi vọng, niềm
tin và kì vọng vào cái thiện nên không ngại phải hi sinh tính nghệ thuật. Nhà văn dùng lời
văn nói lên sự tin tưởng đối với lí trí con người, tồn tại giữ vững điều thiện. Giai đoạn này
Dư Hoa chịu ảnh hưởng lớn các sáng tác của Kawabata nên không phát huy được sở trường
bản thân mà luôn hướng đến văn học duy mĩ, truy cầu cái đẹp, cái thiện nhân sinh.
Giai đoạn thứ hai từ năm 1987 đến 1992 với nhiều sáng tác quan trọng đã khẳng
định vị trí Dư Hoa trên văn đàn. Những sáng tác sau đó như Mười tám tuổi ra khỏi nhà đi

xa, Tình yêu cổ điển, Một loại hiện thực, Tự thuật tử vong, Chuyện đã qua và hình phạt, Số
kiếp khó tránh, Năm 1986, Sự kiện ngày 3 tháng 4… Dư Hoa dần bộc lộ tài năng và được
hoan nghênh với tư cách là thế hệ nhà văn tiên phong nối tiếp Mã Nguyên. Các sáng tác với
21


đề tài phong phú. Nhà văn dùng góc nhìn ngôi thứ ba bình tĩnh đến thờ ơ, lối suy nghĩ phức
tạp để tự thuật bằng ngôn ngữ lạnh lùng, chuẩn xác.
Dư Hoa cho rằng nhà văn cần có sự đối mặt căng thẳng với hiện thực nên trong một
thời gian dài đã là “nhà văn phẫn nộ và lạnh lùng” [25, tr.194]. Dư Hoa sáng tác theo nhu
cầu nội tâm cộng thêm luôn muốn đạt đến chân thực cuộc sống. Nhà văn đã áp dụng nhiều
cách thức thể nghiệm trong phái tiên phong để mong muốn tạo ra đứa con tinh thần đi gần
đến chân lí nhất.
Với Dư Hoa lí do tác giả viết tác phẩm giai đoạn này để nhận thức một lần nữa quan
niệm tính chân thực. Chân thực của văn học là cái gì? Lúc đó nhà văn cho rằng chân thực
văn học không thể dùng thước đo hiện thực cuộc sống để đánh giá, chân thật chính là sự
tưởng tượng, cõi mơ và dục vọng. Năm 1989, Dư Hoa viết bài Tác phẩm giả dối, đề tài của
nó đến từ một câu nói của Picasso: “Nhà nghệ sĩ phải làm cho người ta hiểu được chân thực
trong giả dối”. Để bày tỏ chân thực suy nghĩ của mình nên đã thay đổi phương thức tự thuật
vốn có, làm cho hình thức văn học tiên phong càng thêm phong phú
Cơ bản trong sáng tác của Dư Hoa giai đoạn này ở chỗ, ngòi bút chuyển biến đối với
thái độ nhận biết và xử lí số phận nhân vật. Dư Hoa hoàn toàn từ bỏ điều khiển số phận
nhân vật. Mười tám tuổi ra khỏi nhà đi xa thể hiện góc nhìn như một nhà quay phim tài liệu
mà không hề dùng đến kịch bản, chỉ cầm máy quay ghi lại hình ảnh còn để mặc cho mọi
việc tự diễn ra. Chàng trai trong truyện vì bảo vệ táo của người tài xế mà ẩu đả với mọi
người, cậu ta bị cướp đi ba lô, mình đầy thương tích vậy mà tên tài xế lại là một trong
những người cười vui vẻ nhất. Tình yêu cổ điển bắt đầu như chuyện đồng thoại tốt đẹp của
đôi tài tử giai nhân, kết cục lại là sự tan vỡ trong ảo tưởng đầy tiếc nuối. Sự báo thù của
thiếu niên trong Hoa mai máu đỏ, không thể trở thành đại hiệp để báo thù thành công, anh ta
mãi là người ngoài cuộc. Còn nhân vật trong Một loại hiện thực đều biến thành ác quỷ dù họ

là người thân của nhau, cuối cùng tiến đến với cái chết đáng sợ, tàn nhẫn.
Sáng tác về sau của Dư Hoa tràn ngập tự thuật bạo lực và đen tối, Dư Hoa nói: “tôi
say mê cách kể bạo lực, hiện tại nhớ lại những việc thời thơ ấu trải qua…Cha của tôi mỗi
khi từ phòng giải phẫu đi ra, trên mình quần áo phòng mổ đầy máu” (Tôi chỉ muốn sáng
tác, chính là muốn về nhà). Các truyện ngắn Năm 1986, Lỗi lầm ven sông, Một loại hiện
thực là những truyện ngắc tiên phong đặc sắc, trong đó miêu tả cuộc sinh tồn và thế giới
hiện thực tràn đầy hỗn loạn.

22


Nếu nói Kawabata đã dạy Dư Hoa những nguyên tắc sáng tác cơ bản nhất, miêu tả
phóng đại cái chi tiết, Kafka lại giúp Dư Hoa giải phóng về tư tưởng, tức là cách kể kiềm
chế làm cho người ta kinh hoảng về sự tàn nhẫn. Lỗi lầm ven sông kể về kẻ điên liên tiếp
giết người, Năm 1986 về kẻ điên tự sát, Một loại hiện thực thì người một nhà giết hại lẫn
nhau, Tình yêu cổ điển thì khiến người ta khiếp sợ vì cảnh ăn thịt người và tình yêu dị
thường. Chính màu sắc bạo lực là lí do dẫn đến tính hoang đường làm cho người đọc cảm
giác “đột ngột”, đạt được hiệu quả ghê sợ. Tiểu thuyết Dư Hoa giai đoạn đầu có nhiều nhân
vật độc ác, điên dại, dị thường. Nhà văn chú trọng hiện thực trần trụi, xấu xí. Nhân vật chính
bị vây hãm trong xã hội hung ác khắc nghiệt, không ai cứu giúp.
Thời kì này, Dư Hoa tiếp tục cảm nhận hiện thực không như người bình thường,
thêm vào đó lại càng phóng đại hơn để nhất định theo đuổi nghệ thuật thể nghiệm dữ dội;
không hề tiết chế những biểu hiện của cái ác, tàn nhẫn, hiện thực trần trụi đáng sợ mà không
hề bình luận, can thiệp. Nhà văn càng nhạy cảm, có tài năng, dũng cảm quan sát cái xấu và
suy ngẫm, càng dễ cảm nhận được cái đen tối chiếm giữ tâm hồn. Góc nhìn ngôi thứ ba bình
tĩnh, lạnh lùng, thái độ không quan tâm, tính cách kiên cường, hay dùng vạn tấm khiên cũng
không chống đỡ nổi mọi thứ. Nhà nghiên cứu Trần Hiểu Minh trong Bình luận nhà văn
đương đại nhận xét “thời đại chúng ta là người khiêu chiến kiêu ngạo nhất đã muốn vứt bỏ
hết tất cả nhưng cũng bị viên đạn thờ ơ đánh bại, cuối cùng đã không đứng dậy được”. Khi
tiểu thuyết tiên phong dần thoái trào, thì giai đoạn về sau của Dư Hoa hình thành rõ rệt, nhà

văn thay đổi quan niệm sáng tác hướng về đời sống nhân sinh bằng ngòi bút hiện thực nhân
đạo chủ nghĩa.
Giai đoạn thứ ba từ những thay đổi trong sáng tác tiểu thuyết năm 1992 đến nay, bắt
đầu với tiểu thuyết là Gào thét trong mưa bụi, sau đó là Sống, Chuyện bán máu của Hứa
Tam Quan, Huynh đệ. Nhà văn chuyển hướng trở về với văn học hiện thực. Dư Hoa phát
hiện nhân vật cũng có tiếng nói riêng và nhà văn cần tôn trọng điều đó; việc ép buộc nhân
vật theo ý đồ của mình chỉ đem lại một tác phẩm gượng ép, không có giá trị. Nhà văn để
nhân vật bộc lộ nội tâm làm cho tác phẩm càng thêm chân thực, mang ý nghĩa nhân sinh sâu
sắc.
Tiểu thuyết đầu tay Gào thét trong mưa bụi của Dư Hoa, chưa hoàn toàn thoát khỏi
phương thức sáng tác văn học tiên phong, nhưng đã bắt đầu định hướng sáng tác theo văn
học hiện thực chủ nghĩa. Tác giả lắng nghe tiếng nói của ký ức, cảm thụ thời gian trong kí
ức. Một thế hệ gia đình ba đời với mối quan hệ rời rạc, tất yếu dẫn đến sự tan rã của hình
23


×