Tải bản đầy đủ (.docx) (52 trang)

Bài tập phát triển khả năng nghe – hiểu ngôn ngữ lời nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (446.85 KB, 52 trang )

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Từ viết tắt

Từ gốc

1

TKT

Trẻ khiếm thính

2

ĐCOT

Máy trợ thính

3

NNKH

Ngôn ngữ kí hiệu

4

CTS


Can thiệp sớm

5

PTCS

Phổ thông cơ sở

1
1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Những năm gần đây, vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật đã được Đảng, Nhà nước
và Xã hội đặc biệt quan tâm. Điều đó được thể hiện trong hàng loạt các văn bản Quốc
gia, Chiến lược giáo dục trẻ khuyết tật của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Tạo cơ hội cho
trẻ khuyết tật được học tập ở một trong hai loại hình trường lớp hoà nhập, bán hoà
nhập hoặc chuyên biệt đạt tỷ lệ 50% vào năm 2005 và 70% vào năm 2010”, Chỉ thị số
01-2006/CT-TTg, ngày 6-1-2006 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo
được giao nhiệm vụ xây dựng “Chiến lược và kế hoạch hành động giáo dục trẻ
khuyết tật giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2015”.
Mục tiêu của chiến lược giáo dục trẻ khuyết tật là đến năm 2015 hầu hết trẻ khuyết
tật Việt Nam có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận một nền giáo dục có chất lượng và được
trợ giúp để phát triển tối đa tiềm năng, tham gia và đóng góp tích cực cho xã hội.
Theo số liệu thống kê, Việt Nam có khoảng 1,2 triệu trẻ khuyết tật, trong đó
trẻ khiếm thính chiếm 12,43%, trẻ khiếm thị chiếm 13,73%, trẻ chậm phát triển trí
tuệ chiếm 28,36%, trẻ khuyết tật ngôn ngữ chiếm 12,57%, trẻ vận động 19,25%,
trẻ đa tật chiếm 12,62% [14]....
Khoa học công nghệ càng ngày càng phát triển và không ngừng quan tâm để giảm

thiểu những khó khăn do khuyết tật mang lại cho người khuyết tật. Cấy điện cực ốc tai
cho người khiếm thính là một trong những thành tựu đó. Ngày nay điện cực ốc tai
phát triển có thể đạt 24 kênh và đáp ứng hết các dải tần của âm thanh lời nói. Trẻ
khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai, luyện tập và hiệu chỉnh máy có thể đạt sức
nghe từ 25 – 35 dB, gần như tương đương với sức nghe của người bình thường.[22]
Thực tế trên thế giới và ở Việt Nam đều cho thấy điện cực ốc tai có hiệu quả
cho những người khiếm thính ở mức độ nặng và sâu trong việc phục hồi khả năng
nghe nói. Đặc biệt với công nghệ và kĩ thuật ngày càng được cải biến tinh vi, điện
cực ốc tai giờ có thể áp dụng cấy cho trẻ 6 tháng tuổi. Do đó trẻ có nhiều cơ hội để
phát triển ngôn ngữ. Nhưng nếu trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai không được
tác động giáo dục đúng cách và kịp thời thì điện cực ốc tai không phát huy tác dụng
lý tưởng. Thực tế cho thấy vấn đề phát huy khả năng nghe và phát triển ngôn ngữ
lời nói trẻ sau cấy điện cực ốc tai ở Việt Nam nói chung, khu vực phía Bắc và Hà

2
2


Nội nói riêng chưa có sự đồng nhất về phương pháp và còn nhiều bất cập. Ngôn
ngữ nói của trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai chưa thực sự được hình thành
và phát triển một cách tự nhiên. Mặc dù trẻ vẫn được can thiệp và hỗ trợ thường
xuyên nhưng một nhóm trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai có ngôn ngữ hiểu
và ngôn ngữ lời nói còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với khả năng nghe.
Theo khảo sát ban đầu tại một số cơ sở hỗ trợ cho trẻ khiếm thính cấy điện
cực ốc tai tại Hà Nội thì việc áp dụng các phương pháp để phát triển ngôn ngữ nói
cho trẻ (bao gồm cả phương pháp AVT) chưa thống nhất và đúng cách. Do đó,
chúng tôi lựa chọn đề tài “Bài tập phát triển khả năng nghe – hiểu ngôn ngữ lời
nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai” làm đề tài nghiên cứu, góp phần
giúp trẻ khiếm thính được phát huy tối đa khả năng nghe để hình thành, phát triển
ngôn ngữ nói một cách tự nhiên sau cấy điện cực ốc tai.

2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng một số bài tập phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho trẻ khiếm
thính sau cấy điện cực ốc tai..
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài, cụ thể là các vấn đề liên quan đến trẻ
khiếm thính cấy điện cực ốc tai, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ sau cấy
điện cực, phương pháp trị liệu ngôn ngữ (VAT).
- Xây dựng các bài tập nhằm phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho trẻ
khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp và phân tích các thông tin, kết
quả nghiên cứu liên quan đến lý luận của đề tài và làm rõ các khái niệm công cụ.
4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thu thập và xử lý thông tin về việc thử
nghiệm các bài tập phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho trẻ khiếm thính sau
cấy điện cực ốc tai tại các cơ sở can thiệp sớm, trường mầm non hòa nhập: Phòng
thực nghiệm giáo dục đặc biệt – Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam; Trường mầm
non thực nghiệm Linh Đàm – Hà Nội.
4.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, giáo viên

3
3


- Tham khảo ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt và giáo viên đang
trực tiếp dạy trẻ khiếm thính về tính khả thi của các bài tập đã xây dựng.
4.4. Phương pháp nghiên cứu khác
- Phương pháp toán học và thống kế để xử lí số liệu, đánh giá và kiểm định
kết quả nghiên cứu.

5. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ đề xuất một số bài tập nhằm nhằm phát triển khả năng nghe – hiểu
ngôn ngữ lời nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai.
- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường mầm non, cơ sở can thiệp sớm có trẻ
khiếm thính cấy điện cực ốc tai đang theo học: Phòng thực nghiệm Giáo dục đặc biệt
– Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, trường mầm non thực nghiệm Linh Đàm.
- Đối tượng nghiên cứu: 5 TKT cấy điện cực ốc tai; 8 giáo viên can thiệp
sớm.

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG NGHE –
HIỂU LỜI NÓI CHO TRẺ KHIẾM THÍNH SAU CẤY ĐIỆN CỰC ỐC TAI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Thế giới
Máy trợ thính ra đời đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc hỗ trợ người
khiếm thính phục hồi khả năng nghe nói. Nhưng không dừng lại ở đó, các nhà khoa
học vẫn không ngừng nghiên cứu để tìm ra phương tiện hữu hiệu hơn giúp những
người khiếm thính ở mức độ nặng và sâu cũng có thể phục hồi khả năng nghe nói
một cách tốt nhất. Ý tưởng đầu tiên xuất hiện năm 1790 khi Alessandro Volta (Ý)
phát hiện ra việc kích thích điện lên hệ thống thính giác tạo ra khả năng tiếp nhận
âm thanh, đến năm 1950, Algerie Adre Djourno và Charles Eyries (Pháp) thực hiện
kích thích trực tiếp lên thần kinh thính giác với một điện cực, nhưng bệnh nhân của
ông chỉ nghe được tiếng ồn. Năm 1961 Tiến sĩ William House, John Doyle (nhà

4
4


giải phẫu thần kinh) và James Doyle ( kỹ sư điện) bắt đầu làm việc trên một thiết bị
kênh đơn ở Los Angeles. Graeme Clark (Úc) phát triển một thiết bị đa kênh kích
thích ốc tai năm 1970 và đã thực hiện cấy ghép trên bệnh nhân đầu tiên tên là Rod

Saunders. [17]
Từ thập niên 1980 đến nay, tổ chức FDA (Food and Drug Administration)
chấp thuận cho cấy điện cực ốc tai ở cả người lớn và trẻ em. Đến năm 1984, tổ
chức này đã . Năm 1990, FDA giảm tuổi được cho phép cấy điện cực xuống 2 tuổi,
sau đó là 18 tháng vào năm 1998, và cuối cùng là 12 tháng vào năm 2002. Thiết bị
cấy điện cực ốc tai vẫn được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và không ngừng
được cải tiến về kĩ thuật. [22]
Cấy điện cực ốc tai mang lại cho người khiếm thính những lợi ích to lớn
nhưng đòi hỏi phải có phương pháp phát triển ngôn ngữ sau cấy điện cực thích hợp
– phương pháp Nghe – Nói. Hiện nay, trên thế giới đang sử dụng phương pháp
AVT (Auditory – Verbal Theorapy: Trị liệu thính giác bằng lời) để trị liệu ngôn
ngữ lời nói cho trẻ khiếm thính cấy điện cực ốc tai. Với phương pháp AVT, trẻ
khiếm thính được tận dụng tối đa sức nghe còn lại qua phương tiện trợ thính (máy
trợ thính hoặc điện cực ốc tai) để phát hiện âm thanh, học cách lắng nghe âm thanh,
hiểu và hình thành ngôn ngữ nói một cách tự nhiên, phát triển trong môi trường
bình thường, có khả năng độc lập và hòa nhập xã hội. Một trong những điểm quan
trọng của phương pháp AVT là lấy phụ huynh/người chăm sóc chính làm trung
tâm, khuyến khích phụ huynh/người chăm sóc chính sử dụng hội thoại và ngôn ngữ
tự nhiên để giao tiếp với trẻ. [18]
1.1.2. Việt Nam
Điện cực ốc tai được đưa vào Việt Nam từ năm 1998 và thực hiện ca cấy
ghép đơn kênh đầu tiên ở Viện Nhi Trung ương 1 Thành phố Hồ Chí Minh do các
bác sỹ của hãng All Hear. Đến năm 2000 bắt đầu thực hiện cấy ốc tai đa kênh. Cho
đến nay việc thực hiện cấy điện cực ốc tai đã được thực hiện rộng khắp ở miền Bắc
và miền Nam tại các bệnh viện lớn như bệnh viện Nhi Đồng 1 Hà Nội, bệnh viện
Đại học Y Hà Nội, bệnh viện Hồng Ngọc, bệnh viện Nhi Đồng 1 Thành phố Hồ
Chí Minh,… với điện cực chủ yếu của hai hãng Cochlear và Medel [24]. Các hãng
điện cực đã tổ chức các khóa tập huấn cho giáo viên và phụ huynh về các phương
pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ sau cấy điện cực, đặc biệt là phương pháp AVT.


5
5


Mặc dù việc cấy điện cực ốc tai được đưa vào Việt Nam khá lâu nhưng cho đến
nay vẫn chưa có nghiên cứu sâu nào về tác động giáo dục nhằm phát triển nhận
thức và khả năng ngôn ngữ nói cho trẻ khiếm thính sau cấy điện cực ốc tai.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Trẻ khiếm thính
1.2.1.1. Khái niệm "trẻ khiếm thính"
Ngành y sử dụng thuật ngữ “điếc” để chỉ sự suy giảm hoặc mất toàn bộ hay
một phần sức nghe ở người. Trong giáo dục sử dụng thuật ngữ ‘khiếm thính” thay
cho thuật ngữ “điếc”, “khuyết tật thính giác”.
Theo quan điểm giáo dục chúng tôi hiểu: trẻ khiếm thính là những trẻ bị
suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau dẫn đến khó khăn về ngôn ngữ và
giao tiếp, ảnh hưởng đến quá trình nhận thức [7].
1.2.1.2. Phân loại, mức độ khiếm thính
Có nhiều cách để phân loại TKT như: phân loại theo mức độ suy giảm thính
lực, phân loại theo thời gian xuất hiện tật điếc, phân loại theo vị trí tổn thương của
cơ quan thính giác. Cách phân loại được sử dụng chủ yếu trong ngành giáo dục là
phân loại theo khả năng nghe còn lại. Căn cứ vào khả năng nghe còn lại được đo
bằng âm thanh đơn trong dải tần từ 500Hz đến 4000Hz, khiếm thính được chia
thành 4 mức độ sau [7]:

Mức
- Mức 1: Điếc nhẹ (từ 20 – 40 dB)
- Mức 2: Điếc vừa (từ 41 – 70 dB)
- Mức 3: Điếc nặng (từ 71 – 90 dB)
- Mức 4: Điếc sâu (trên 90 dB)
Việc xác định mức độ thính lực cho TKT có ý nghĩa thực tiễn cao giúp việc

lựa chọn MTT và lựa chọn các biện pháp can thiệp phù hợp.
Có nhiều nguyên nhân gây khiếm thính ở TKT, theo Ngô Ngọc Liễn (2001)
chia các nhóm nguyên nhân theo thời gian gây khuyết tật thính giác [6].
1.2.1.3. Một số đặc điểm phát triển của trẻ khiếm thính
TKT cũng như mọi trẻ em khác, hình thành và phát triển theo qui luật chung
của con người. Nhưng do những khiếm khuyết về mặt thính giác nên TKT có
những đặc điểm riêng về mặt tâm lý.
- Đặc điểm cảm giác, tri giác của trẻ khiếm thính

6
6


Cảm giác, tri giác đóng vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức của
con người. Do những tổn thương về cơ quan thính giác nên việc tiếp nhận âm thanh
gặp nhiều khó khăn làm ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của TKT [13].
Theo nghiên cứu của N.M.Pheleri và cộng sự, 95% TKT còn cảm giác thính
giác, nhờ đó mà TKT có thể học nói và tiếp thu kiến thức, tuy nhiên phải trải qua quá
trình học và luyện tập lâu dài. Nếu tích cực kích thích phần thính lực còn lại thì chức
năng nghe của TKT sẽ được phát huy. Song sự cải thiện chức năng nghe diễn ra không
phải do cơ chế giải phẫu sinh lý của bộ máy thính giác mà do hệ thống kỹ năng sử
dụng sức nghe còn lại được hình thành [20].
Do mất cảm giác nghe nên cảm giác thị giác có vai trò đặc biệt đối với TKT.
Nó trở thành con đường chủ yếu và chủ đạo trong quá trình nhận thức của trẻ. Trẻ
có khả năng nắm bắt nhanh những chi tiết rất nhỏ của sự vật hiện tượng hay những
đặc điểm nổi bật nào đó mà trẻ tiếp xúc [13].
Đối với TKT cảm giác vận động và xúc giác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc tiếp nhận ngôn ngữ. Cảm giác vận động là phương thức duy nhất giúp
TKT kiểm tra sự phát âm dựa trên cảm giác rung, nhận được từ hoạt động của bộ
máy phát âm. Cảm giác xúc giác – rung có nét độc đáo và đặc trưng. Nó là phương

tiện trợ giúp quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ của TKT [13].
- Đặc điểm trí nhớ của trẻ khiếm thính
TKT có khả năng ghi nhớ có chủ định về vị trí của các đồ vật không thua kém
so với trẻ bình thường. Khả năng ghi nhớ bằng lời của trẻ hạn chế, chủ yếu trẻ tái tạo
lại bằng ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ. Ghi nhớ có ý nghĩa của TKT không bền vững [13].
- Đặc điểm tư duy của trẻ khiếm thính
Tư duy trực quan hành động cụ thể ở TKT phát triển khá bình thường, nhưng tư
duy trừu tượng ở TKT gặp nhiều khó khăn. Thao tác tư duy của trẻ cũng gặp nhiều khó
khăn, đặc biệt là thao tác khái quát hóa và trừu tượng hóa [13].
- Đặc điểm tưởng tượng của trẻ khiếm thính
Khả năng tưởng tượng gắn liền với hình ảnh ở TKT phát triển như những trẻ
bình thường. Trẻ gặp khó khăn khi tưởng tượng tái tạo những sự kiện lịch sử và
tưởng tượng sự vật, hiện tượng mà trẻ chưa được trực quan. Do những hạn chế về
nghe nên khả năng tưởng tượng sáng tạo của TKT gặp khó khăn, đặc biệt là việc tiếp
thu những kiến thức tự nhiên, văn học. Tưởng tượng sáng tạo gắn liền với tri giác
nhìn và thao tác hành động ở trẻ khá tốt. [13]
- Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính

7
7


Sự phát triển ngôn ngữ của TKT phụ thuộc vào các yếu tố: thời điểm và
mức độ mất thính lực. Sự tổn thương chức năng nghe càng sớm thì khả năng phát
triển ngôn ngữ càng hạn chế, được thể hiện ở các yếu tố cấu thành ngôn ngữ như:
thiếu về ngữ âm, sai lệch về ngữ pháp, rời rạc về ngữ điệu, nghèo nàn về từ vựng…
Trong trường hợp trẻ bị mất thính lực ở mức độ nặng hoặc sâu, ngôn ngữ nói có thể
hình thành và phát triển nhưng chỉ khi trẻ được giáo dục tốt dưới sự hướng dẫn của
cha mẹ, giáo viên.
TKT cũng như trẻ bình thường, không thể thiếu nhu cầu giao tiếp với thế giới

xung quanh. Nhưng khả năng nghe hạn chế gây cho trẻ những khó khăn trong học tập
và hòa nhập cộng đồng. Thực tế này đã đòi hỏi TKT phải sử dụng loại hình ngôn ngữ
khác để đáp ứng nhu cầu giao tiếp - Đó là ngôn ngữ kí hiệu (NNKH). NNKH mang đậm
nét văn hóa riêng của cộng đồng người khiếm thính, là sự kết hợp các động tác của tay,
điệu bộ và nét mặt [13]. TKT mất thính lực ở mức độ nặng và sâu nếu không được hỗ
trợ tích cực của MTT và sự luyện nghe, luyện nói đúng cách thì ngôn ngữ của TKT phát
triển rất hạn chế.
Sự phát triển ngôn ngữ viết ở TKT khác so với trẻ bình thường. Ngôn ngữ
viết và ngôn ngữ nói ở TKT có thể diễn ra song song hoặc bằng ngôn ngữ viết và
diễn ra trước ngôn ngữ nói. Ngoài ra còn có hệ thống chữ cái ngón tay hỗ trợ TKT
trong học tập và giao tiếp [13].
Ngôn ngữ biểu đạt của TKT có nhiều đặc điểm riêng. Do hạn chế về khả năng
nghe ảnh hưởng đến việc nắm bắt các cấu trúc ngữ pháp, các khái niệm mới. Cho
nên khả năng diễn đạt ngôn ngữ nói, viết của TKT thường bị đảo lộn trật tự ngữ
pháp, thiếu từ, sai lệch ngữ pháp, thiếu logic,… Do không điều khiển được luồng hơi
từ phổi đi ra nên TKT phát âm nguyên âm dễ hơn phụ âm, câu nói của trẻ thường bị
ngắt quãng, giọng yếu…. [13].
- Mối quan hệ giữa sự suy giảm thính giác và khả năng phát triển ngôn ngữ nói
Khi tai người tiếp nhận âm thanh truyền lên trung ương thần kinh thính giác.
Dao động cơ học sẽ biến đổi âm thanh thành các tín hiệu điện để truyền vào não bộ.
Để sản sinh ra tiếng nói cần sự tham gia của các bộ phận: phổi, khí quản,
thanh quản, họng, hốc mũi và khoang miệng. Nguồn năng lượng chính trong việc sản
sinh ra tiếng nói chính là luồng không khí đi ra từ phổi. Sự biến đổi liên tục của
luồng không khí thở ra tạo thành âm thanh tiếng nói. [20]
Ở người bình thường, âm thanh thu nhận được không bị méo mó, nguyên
vẹn. Sau khi được xử lý và tạo thành tiếng nói qua cơ quan phát âm. Âm thanh phát

8
8



ra được tròn tiếng, rõ ràng. Nhưng ở người khiếm thính, do bị suy giảm về thính
lực nên âm thanh đầu vào không đầy đủ khiến cho việc xử lý tín hiệu âm thanh và
tạo ra các âm sẽ bị méo mó. Do vậy khi đeo MTT, TKT cần được luyện nghe để có
khả năng cảm nhận, nhận diện, phân biệt âm thanh và kết hợp với luyện tập bộ máy
cấu âm sao cho luồng hơi đi ra vừa đủ để tiếng nói được sản sinh cũng như giữ hơi
thở, nhịp điệu sao cho câu nói được diễn đạt đầy đủ, không bị ngắt quãng.
Đặc điểm suy giảm thính lực, ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ của
TKT [20]: Khả năng nghe phải đạt được ở tần số 3000Hz thì mới có thể nghe được
các nguyên âm. Khả năng nghe phải đạt được ở tần số 6.000 Hz thì mới có thể nghe
được các phụ âm.
1.2.2. Điện cực ốc tai (ĐCOT)
1.2.2.1. Khái niệm "điện cực ốc tai"
Dưới đây là một số quan điểm về ĐCOT:
Điện cực ốc tai (Cochlear Implants) là thiết bị biến đổi năng lượng âm thanh
thành dấu hiệu điện kích thích lên thần kinh ốc tai của những cá thể điếc sâu. [22]
Ốc tai điện tử là một thiết bị vi mạch điện tử cấy vào trong ốc tai giúp cho
bệnh nhân bị điếc nặng có thể nghe được nhờ vào một hệ thống tiếp nhận, dẫn
truyền và khuếch đại các âm thanh từ môi trường bên ngoài vào đến ốc tai và
truyền các tín hiệu điện lên não giúp cho bệnh nhân nghe được.[24]
Theo giáo dục có thể hiểu: ĐCOT là một thiết bị điện tử được cấy bên
trong ốc tai có tác dụng tiếp nhận, khuếch đại và truyền tín hiệu điện lên não
giúp người khiếm thính có thể nghe và phát triển được ngôn ngữ nói.
1.2.2.2. Hệ thống ĐCOT
* Cấu tạo

9
9



Điện cực ốc tai
1. Bộ phận bên trong (A) bao gồm:
- Con chip xử lý và kích phát xung điện được cấy dưới da, phía sau tai
- Dãy điện cực được làm băng platin trên khuôn mềm silicon, uốn vòng
theo trục xoắn của ốc tai
2. Bộ phận bên ngoài bao gồm
- Bộ phận B, được thiết kế nhỏ gọn có hình dáng tương tự máy trợ thính
sau tai, có microphone thu nhận âm thanh từ môi trường bên ngoài và bộ
phận xử lý âm thanh.
- Bộ phận C: là cuộn nam châm được đặt ở vị trí tương ứng với con chíp
bên dưới da đầu và được kết nối với bộ phận thu nhận và xử lý âm thanh
B bằng sợi dây nhỏ
Như vậy có thể thấy, mỗi điện cực ốc tai gồm hai bộ phận chính: bộ phận
bên ngoài (A, B) và bộ phận bên trong (C). Bộ phận bên ngoài có chức năng như
bộ phận ngoài của tai là thu nhận, xử lý các tín hiệu âm thanh và truyền vào tai
trong. Bộ phận bên trong có chức năng như tai trong, sau khi nhận được các tín
hiệu âm thanh, chuyển chúng thành các xung động điện truyền qua dây thần kinh
thính giác kích thích lên vỏ não. [23]
* Cơ chế hoạt động

10
10


Điện cực ốc tai sau khi cấy
Sau khi cấy, điện cực ốc tai hoạt động như một chiếc tai của người bình
thường với cơ chế như sau:
1. Âm thanh được thu nhận qua microphine. Sau đó, bộ phận xử lý lời nói mã hóa
và chuyển thành tín hiệu số.
2. Tín hiệu được truyền vào trong bộ phận cấy dưới da đầu. Con chíp này chuyển

các tín hiệu thành xung điện
3. Các xung điện được truyền tới điện dãy điện cực đặt trong ốc tai.
4. Các điện cực kích thích dây thần kinh thính giác, não bộ thu nhận tín hiệu âm
thanh.
1.2.2.3. Lợi ích của việc cấy ĐCOT
Cấy ĐCOT không phải là cách chữa trị tật điếc. Tuy nhiên, cấy ghép ốc tai
điện tử có thể mang lại nhiều lợi ích, bao gồm nghe được giọng nói, âm thanh của
môi trường và âm nhạc. Các lợi ích có thể ảnh hưởng khác nhau đối với mỗi người

11
11


tùy thuộc vào: độ tuổi, mức độ và thời gian mất thính lực, tình trạng của ốc tai và các
điều kiện y khoa khác. Cấy ĐCOT giúp trẻ khiếm thính:[22]
Nghe được âm thanh hằng ngày
Gần như tất cả những người cấy ghép ĐCOT đều nghe được âm thanh bên
ngoài, giúp họ giữ liên lạc với xung quanh, ví dụ như: âm thanh xe cộ, chuông cửa,
báo động, v.v. Hầu hết người cấy ốc tai đều nói rằng họ nghe được nhiều âm thanh
hằng ngày có khác biệt rõ ràng, như tiếng chim hót, tiếng lá xào xạc, tiếng nước
chảy nhỏ giọt và nhiều hơn nữa.
Hiểu được giọng nói
Đa số những người cấy ghép ĐCOT nghe được giọng nói. Với một chương
trình hỗ trợ và can thiệp hiệu quả, trẻ được học để hiểu giọng nói và dần dần trở nên
dễ dàng hơn khi trẻ đã có kinh nghiệm. Nhiều người cấy ốc tai điện tử tiếp tục hiểu
giọng nói rất tốt, không cần dựa trên việc đọc hình miệng.
Tăng cường khả năng nói
Bằng việc nghe người khác nói chuyện cũng như nghe giọng nói của chính
mình, người cấy ghép ốc tai điện tử có thể tạo ra sự cải thiện lớn trong khả năng
nói.

Sử dụng được điện thoại
Nhiều người cấy ghép ốc tai điện tử thành công trong việc sử dụng điện
thoại cố định và di động.
Nghe nhạc
Công nghệ ngày nay giúp cho người dùng cấy ghép ốc tai điện tử có khả
năng thưởng thức âm nhạc. Cũng như việc hiểu giọng nói, kỹ năng nghe nhạc có
thể được phát triển và cải thiện thông qua thực tế.

Như vậy có thể thấy ĐCOT mang lại nhiều lợi ích TKT và gia đình trẻ.

12
12


Nhưng để có thể đạt được tất cả các hữu ích trên của ĐCOT thì đòi hỏi trẻ khiếm
thính được cấy phải được hỗ trợ một cách thường xuyên, tích cực để trẻ có thể tận
dụng tối đa khả năng nghe và phát huy mạnh mẽ trong việc phát triển khả năng
nghe nói và các lĩnh vực phát triển khác.
1. 3. Phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho TKT sau cấy ĐCOT
1.3.1. Phát triển khả năng nghe cho TKT
Chúng ta biết rằng vào thời kỳ La Mã, con người đã chú ý tới việc dạy
người điếc nói, khi đó sức nghe của người điếc được chứng minh là có. Itard đã chỉ
ra rằng người khiếm thính còn lại sức nghe và sức nghe đó ở dạng “tiềm ẩn” và
phải được “đánh thức”. Ông đã xây dựng các bài tập luyện nghe để kích thích khả
năng nghe của người điếc. Như vậy chúng ta có thể nhận thấy vai trò đầu tiên của
viêc luyện nghe với TKT là: tận dụng sức nghe còn lại để phát triển khả năng nghe
của trẻ. [15]
Các kỹ năng nghe của trẻ phát triển qua bốn giai đoạn, mất thính lực ảnh
hưởng tới các kỹ năng nghe của trẻ. Nhưng với TKT thì dù mất thính lực ở mức độ
nào thì đa số trẻ vẫn có khả năng nghe được các âm thanh có cường độ lớn như

tiếng trống, tiếng sấm…. Do đó luyện nghe có tác dụng tận dụng sức nghe còn lại
của trẻ. Hơn nữa, việc luyện nghe còn là điều kiện để trẻ phát triển ngôn ngữ lời
nói. TKT sau khi cấy ĐCOT khả năng nghe của trẻ rất tốt. Do vậy việc luyện nghe
lại càng đóng vai trò quan trọng đối với TKT sau khi cấy ĐCOT. Nếu được luyện
nghe, trẻ sẽ phát triển và biết tận dụng tối đa khả năng nghe còn lại của mình. Tuỳ
theo mức độ nghe của trẻ, sự can thiệp sớm hay muộn, sự phù hợp của máy trợ
thính mà khả năng nghe và ngôn ngữ nói được hình thành và phát triển ở các mức
độ khác nhau. Việc tận dụng phần còn lại của thính lực (khả năng nghe của trẻ) có
một ý nghĩa đặc biệt trong hình thành và phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ. [2]
TKT trước khi cấy ĐCOT ở mức độ điếc sâu, hầu như không nghe thấy âm
thanh lời nói. Sau khi cấy ĐCOT ngưỡng nghe của trẻ sẽ thấp xuống. Nhưng trẻ
không thể nghe thấy âm thanh ngay được vì trẻ chưa có kinh nghiệm nghe và chưa
nghe được âm thanh.

13
13


Các nghiên cứu khoa học cho thấy ngay từ khi nằm trong bụng mẹ trẻ đã có
thể nghe được âm thanh và có thể phản ứng lại với các âm thanh nghe được. Con
đường nghe của trẻ phát triển một cách tự nhiên. Còn với trẻ cấy ĐCOT việc nghe
sẽ khác với trẻ bình thường:
- Trẻ bình thường nghe thông qua việc tiếp nhận âm thanh một cách tự
nhiên.
- Trẻ đeo máy trợ thính nghe qua máy trợ thính.
- Trẻ cấy ĐCOT nghe qua các thiết bị ốc tai điện tử.
- Nguyên lý nghe của tai nghe bình thường khác với nguyên lý nghe của
điện cực ốc tai. Tai nghe bình thường là có sự rung động của các tế bào lông tạo
nên các điện thế hoạt động kích thích dây thần kinh thính giác qua đó tới não bộ để
phân tích và phản hồi lại. Còn cấy ĐCOT là bộ phận cấy sẽ truyền các tín hiệu đến

các điện cực nằm trong ốc tai, thần kinh thính giác sẽ thu nhận các tín hiệu và
truyền nó đến não, não sẽ nhận biết tín hiệu này như là âm thanh.
Trước khi cấy ĐCOT hầu như trẻ bị điếc sâu không nghe thấy âm thanh, trẻ
không có kinh nghiệm nghe và máy trợ thính cũng không có tác dụng với trẻ.
Nhưng sau khi cấy ngưỡng nghe của trẻ giảm xuống. Trẻ có thể nghe thấy âm
thanh nhưng phải tập luyện. Vì những gì trẻ nghe thấy là các tín hiệu, nên luyện
nghe nhiều lần trẻ sẽ có kỹ năng nghe. Do vậy trẻ sau khi cấy ốc tai nên tiến hành
luyện nghe càng sớm càng tốt, trẻ càng có cơ hội phát triển ngôn ngữ. Trẻ cũng rèn
luyện và dần hình thành kỹ năng nghe bằng ốc tai điện tử.
Trẻ nghe (bình thường) học ngôn ngữ trong môi trường giàu âm thanh lời
nói. Sau khi có những kỹ năng tiếp nhận tiếng nói, các kỹ năng biểu đạt bằng lời
nói dần dần được hình thành và phát triển. Trẻ bắt đầu nói từng tiếng một rồi sau
đó nhiều tiếng, rồi thành câu… TKT không thể học nói theo cách trên, tuy rằng các
bước học nói cũng có những điểm giống như trẻ nghe được. Hơn nữa, nếu không
được luyện tập đúng phương pháp,và thường xuyên TKT sẽ khó có thể có tiếng nói
rõ ràng, dễ hiểu. TKT có thể học chiếm lĩnh ngôn ngữ nói trong môi trường tự
nhiên qua các trò chơi có được thiết kế cụ thể. Do vậy trẻ cần được luyện tập việc

14
14


nghe âm thanh thường xuyên thông qua các hoạt động hàng ngày. Điều đó cho thấy
vai trò quan trọng của việc luyện nghe đối với trẻ khiếm thính.
Thông qua việc luyện nghe sẽ giúp trẻ rèn luyện thói quen tri giác âm thanh,
để trẻ có thói quen nghe và sử dụng ngôn ngữ nói với sự hỗ trợ cuả ốc tai điện tử.
Khi đó sẽ giúp các em hòa nhập cộng đồng tốt hơn.
Như vậy có thể thấy được các vai trò quan trọng của việc luyện nghe là: Tận
dụng sức nghe còn lại để phát triển khả năng nghe của trẻ, qua đó trẻ có kinh
nghiệm, hình thành kỹ năng nghe bằng ốc tai điện tử, giúp trẻ hiểu về thế giới xung

quanh, tránh các rủi ro,….Kinh nghiệm và các kĩ năng nghe có được là cơ sở tiền đề
để trẻ học nói tốt hơn. Rèn luyện thói quen tri giác âm thanh, kỹ năng nghe và sử
dụng ngôn ngữ nói với sự hỗ trợ của các phương tiện trợ thính. Thông qua luyện
nghe trẻ có thể nghe được âm thanh lời nói và phát triển ngôn ngữ một cách tự
nhiên.
1.3.2. Khả năng nghe hiểu lời nói
Khả năng nghe – hiểu lời nói là khả năng xử lý các thông tin lời nói thu
được qua bộ máy thính giác thành các tín hiệu được truyền lên não bộ, mã hóa và
thể hiện ra bên ngoài bằng tiếng nói, cử chỉ điệu bộ có ý nghĩa.
Ở trẻ bình thường, khả năng ngôn ngữ phát triển cả về lượng và về chất qua
các giai đoạn, theo các bước phát triển khác nhau, từ thấp đến cao. Khả năng hiểu
ngôn ngữ của mỗi trẻ là khác nhau. Cá nhân mỗi trẻ đều có những trải nghiệm riêng,
và trải nghiệm càng phong phú thì khả năng ngôn ngữ nói chung và khả năng hiểu
ngôn ngữ nói riêng của trẻ dày dạn và linh hoạt hơn. Do đó khả năng hiểu ngôn ngữ
nói của trẻ cũng được tích lũy dần và khả năng xử lý các thông tin nghe được ngày
càng nhanh và tinh tế hơn. [5]
Chúng ta điều biết rằng chúng ta nghe được khi âm thanh đến ốc tai và được
thần kinh thính giác truyền đến thông tin thính giác của não bộ . Khi âm thanh lời
nói đến não, tiến trình lắng nghe và hiểu ngôn ngữ lời nói bắt đầu xảy ra.
Trẻ càng có nhiều kinh nghiệm lắng nghe thì càng giỏi nhận ra và hiểu âm thanh.
Âm thanh lời nói là một trong những âm thanh quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với trẻ,
và cũng là một trong những âm thanh phức tạp và khó hiểu nhất .Lời nói có thể là từ,
câu hay đoạn hình thành từ một loạt những âm đơn.

15
15


1.


2.

3.

4.
5.

Để trẻ hiểu lời nói, trước hết âm thanh lời nói phải được chuyển tới não của
trẻ. Khi âm thanh lời nói đến não, trung tâm thính giác của não phải có khả năng
dịch nghĩa, hoặc thực hiện một loạt chức năng làm cho âm thanh đó có ý nghĩa.
Với TKT cấy ĐCOT cũng vậy. Quá trình hình thành kĩ năng nghe và phát
triển ngôn ngữ nói cũng theo qui luật phát triển chung ở trẻ bình thường. Nhưng
điều đặc biệt và quan trọng là người lớn cần tạo được điều kiện thuận lợi để trẻ có
thể làm quen với chiếc tai mới và sử dụng chúng. Do đó để phát triển được ngôn
ngữ nói cho trẻ cần thời gian luyện tập để có thể hình thành các kĩ năng nghe, nói.
Điều đó đòi hỏi người chăm sóc, nhà giáo dục cần tạo được môi trường nghe cũng
như môi trường ngôn ngữ nói tự nhiên thuận lợi để trẻ có phát triển khả năng nghe
hiểu ngôn ngữ nói.
1.3.3. Kĩ năng nghe hiểu lời nói
Khi lắng nghe, trẻ sử dụng một loạt kỹ năng để hiểu những điều người khác
nói với trẻ. Những kỹ năng đó là :
Tập trung chú ý: Trẻ tập trung chú ý vào âm thanh lời nói, lờ đi những âm thanh
không phải lời nói. Dù có âm thanh phát ra từ radio, trẻ vẫn nhận ra lời nói của mẹ:
"Tới giờ ăn trưa rồi.”
Phân biệt: trẻ có thể phân biệt , hoặc nghe thấy sự khác nhau giữa âm đơn và âm
kết hợp. Trẻ phân biệt từ "mở” với từ "đi”, và nếu được thực hành nhiều , trẻ sẽ có
thể nhận thấy sự khác biệt giữa từ "hai” và từ "mai”.
Kết hợp các âm thanh thành từ: trẻ có khả năng kết hợp một loạt những âm thanh
lời nói đơn lẻ và nghe chúng như nghe một từ: từ "chó” gồm những âm đơn "c” –
"h” – "ó” ; trẻ biết nghe là "chó” thay vì nghe các âm "c” – "h” – "ó” rời rạc.

Nhớ: khi trẻ đã biết kết hợp các âm đơn thành từ , trẻ có khả năng nhớ một loạt từ
để hiểu nghĩa của cụm từ hay câu.
Xâu chuỗi: ngoài ra, trẻ còn phải có khả năng nhớ các âm và từ theo thứ tự chúng
xuất hiện để hiểu những gì người khác nói với trẻ.
Nếu não bộ của trẻ thực hiện tốt tất cả những chức năng này, trẻ sẽ hiểu được
lời nói; nếu không, trẻ sẽ không hiểu đúng lời nói của người khác.
Tật khiếm thính thường xuyên ảnh hưởng đến một trong 5 kỹ năng nêu trên.
Trẻ khiếm thính có thể khó phân biệt hai từ "hai” và "mai”; nhưng nếu quan sát
người nói, trẻ có thể phân biệt nhờ việc nhìn hình miệng. Ngoài ra, còn có những
gợi ý khác giúp trẻ hiểu lời nói.
Dưới đây là các gợi ý giúp TKT phân biệt lời nói:

16
16


1. Ngữ cảnh hoặc tình huống: Trẻ có những mong đợi nào đó ở sự việc đang xảy ra.

2.

3.
4.
5.
6.
7.
8.

Nếu trẻ đang nhìn thấy tấm hình hoa mai hoặc đang nói chuyện về ngày tết thì trẻ
sẽ có khuynh hướng nghe từ "mai: hơn từ "hai”.
Các từ khác trong câu: Trẻ có thể đoán ra sự hiện diện của một từ vì ý nghĩa nó gắn

với từ khác trong câu. Ví dụ, nếu trẻ khó nhận ra sự khác nhau giữa hai từ "hai” và
"mai”, trẻ sẽ biết mẹ đã nói từ "hai” vì trẻ cũng có nghe từ "kẹo ", vì "mai cái kẹo”
thì vô nghĩa.
Số vần: Trẻ có thể phân biệt các từ vì chúng có số vần khác nhau , chẳng hạn như
từ "airplane” và "hair” (đặc thù tiếng đa âm ).
Các nguyên âm: một số từ có phụ âm giống nhau nhưng nguyên âm khác nhau,
chẳng hạn như từ "hát” và "hót”.
Các phụ âm: một số từ có nguyên âm giống nhau nhưng phụ âm khác nhau, chẳng
hạn như từ "gạch” và "sạch”.
Ngữ điệu: trẻ có thể dựa vào sự lên xuống của độ cao giọng nói để hiểu nghĩa của
lời nói.
Độ dài: đây là độ dài của âm , từ, cụm từ hoặc câu. "Dừng lại!” ngắn hơn "Lại đây
mẹ bảo!”.
Nhịp điệu: Nhịp điệu là sự nhanh, chậm, mạnh, yếu khi người ta nói một từ, cụm từ
hay câu. Cùng một câu sẽ mang nhiều ý nghĩa khác nhau nếu được nói với các nhịp
điệu khác nhau.
Để có thể thực hiện được tất cả các gợi ý trên, TKT cần nhiều thời gian
luyện tập sử dụng chiếc tai mới và được trải nghiệm qua nhiều tình huống thực tế
để có thể tích lũy được kinh nghiệm lắng nghe, phát triển ngôn ngữ nói và hiểu
được ngôn ngữ nói. Cũng như bất cứ kỹ năng nào khác, càng thực hành nhiều thì
kỹ năng lắng nghe lời nói càng được cải thiện. Có thể trẻ sẽ chưa hiểu ngay những
điều chúng ta nói với trẻ. Những gì trẻ nghe và hiểu được sau vài tháng mang máy
trợ thính hay cấy ĐCOT mới chỉ là sự khởi đầu. Trẻ cần được hiệu chỉnh độ
khuếch đại thích hợp và nói chuyện về những điều chúng thích. Chúng ta sẽ ngạc
nhiên khi thấy trẻ sử dụng những gợi ý rất nhỏ để hiểu những điều chúng ta nói với
trẻ. [25]
1.3.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nghe – hiểu lời nói của TKT sau cấy
ĐCOT
Khả năng phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói của TKT sau cấy ĐCOT
phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

17
17


-

Thời điểm mất thính lực của trẻ. Trẻ mất thính lực sau khi có ngôn ngữ thì
khi cấy ĐCOT có khả năng phát triển ngôn ngữ nói hơn trẻ mất thính lực
trước khi có ngôn ngữ.

-

Chất lượng hiệu chỉnh giúp trẻ có thể đạt tối đa sức nghe sau cấy ĐCOT là
một trong những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nghe, chất lượng lời nói và
khả năng hiểu ngôn ngữ của trẻ.

-

Chất lượng việc tổ chức huấn luyện sau cấy ĐCOT cho trẻ cũng ảnh hưởng đến
khả năng phát triển ngôn ngữ nói chung và khả năng nghe – hiểu nói riêng. Các
bài tập luyện nghe, phát triển ngôn ngữ cho trẻ phải phù hợp và đúng cách.
Người chăm sóc, giáo viên cần nhận thức đúng đắn lợi ích, chức năng của
ĐCOT đối với TKT. Bởi vì, sau cấy ĐCOT, trẻ như có được chiếc tai mới nên
quá trình nghe, phát triển ngôn ngữ ở trẻ không khác qui luật phát triển của trẻ
bình thường. Do vậy việc huấn luyện thính giác sau cấy cho trẻ cần được làm
theo từng bước, không quá nóng vội để trẻ có cơ hội phát triển khả năng nghe –
nói – hiểu ngôn ngữ một cách tự nhiên nhất thông qua các hoạt động của người
chăm sóc và giáo viên.

-


Điều kiện nghe: TKT cần được trải nghiệm trong môi trường ngôn ngữ tự
nhiên cả ngày với âm thanh nền không quá 45 dB.

-

Việc chăm sóc thính học sau cấy cũng là nhân tố góp phần thúc đẩy quá
trình phát triển ngôn ngữ của TKT. Cho nên TKT cần được chăm sóc thính
học định kì để đảm bảo ĐCOT luôn được hoạt động và trẻ đạt được sức
nghe tốt nhất.
Việc phát triển khả năng nghe – hiểu ngôn ngữ lời nói cho TKT phụ thuộc

vào nhiều yếu tố. Phụ huynh, người chăm sóc, giáo viên cần nhận thức đúng đắn về
lợi ích, chức năng ĐCOT mang lại, các yêu cầu chăm sóc thính học và hỗ trợ sau
cấy cho trẻ cần được quan tâm để trẻ đạt sức nghe tốt nhất, có môi trường giao tiếp
thuận lợi nhất thì khả năng phát triển ngôn ngữ nói nói chung và khả năng nghe –
hiểu lời nói nói riêng có được nền tảng đảm bảo cho sự phát triển, giúp trẻ hòa
nhập cộng đồng một cách sớm nhất.

18
18


Việc sử dụng MTT đạt hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố và các yếu tố
này phải được liên kết chặt chẽ với nhau mới có thể mang lại hiệu quả cao cho
người sử dụng MTT.
Kết luận chương 1
TKT bị suy giảm về thính lực nên việc tiếp nhận âm thanh gặp nhiều khó
khăn, làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển ngôn ngữ nói và nhận thức. Trẻ bị tổn
thương chức năng nghe càng sớm thì khả năng phát triển ngôn ngữ càng hạn chế.

Thực tế, các nhà khoa học đã chứng minh đa số TKT vẫn còn cảm giác thính giác,
do vậy việc phát triển nhận thức, ngôn ngữ cho trẻ cần một quá trình học và luyện
tập lâu dài và có sự tác động tích cực từ phụ huynh và giáo viên.
Khoa học ngày càng phát triển và ĐCOT là một trong những giải pháp tối ưu
cho việc phục hồi chức năng nghe nói cho TKT mức độ nặng và sâu. Các nhà khoa
học đã chứng minh tính ưu việt ĐCOT mang lại cho TKT sau khi cấy – trẻ có thể đạt
sức nghe lý tưởng 25dB. Điều này giúp trẻ có thể dễ dàng nghe được âm thanh trong
cuộc sống hàng ngày, khả năng nghe và phát triển ngôn ngữ nói, trẻ có thể nói
chuyện được điện thoại hay nghe nhạc không thua kém gì trẻ bình thường. Nhưng để
đạt được hết tính năng ưu việt đó của ĐCOT thì đòi hỏi quá trình huấn luyện thính
giác sau cấy cho trẻ phải tích cực, bài bản và có hệ thống . Điều này cũng đòi hỏi sự
nhận thức đúng đắn của phụ huynh, giáo viên để chương trinh huấn luyện sau cấy
đạt hiệu quả cao nhất, tạo cơ hội cho TKT phát triển được ngôn ngữ nói tự nhiên và
hòa nhập cộng đồng sớm nhất có thể.

19
19


CHƯƠNG 2. BÀI TẬP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG NGHE – HIỂU NGÔN LỜI
NÓI CHO TRẺ KHIẾM THÍNH CẤY ĐIỆN CỰC ỐC TAI
VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
2.1. Những nguyên tắc cơ bản định hướng cho việc xây dựng các bài tập phát
triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho TKT sau cấy ĐCOT
Việc thực hiện các bài tập phát triển khả năng nghe – hiểu lời nói cho TKT
sau cấy ĐCOT phải đảm bảo 3 nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính cá biệt hóa: Mỗi trẻ TKT sau cấy ĐCOT có khả năng nghe –
hiểu lời nói và có sở thích khác nhau. Xây dựng và lựa mỗi bài tập cho trẻ
phải dựa trên khả năng thực tế và sở thích của trẻ để có bài tập và yêu cầu phù
hợp, vừa sức với trẻ, đồng thời cũng phát huy được tối đa sức nghe, sự hứng

thú của trẻ để bài tập đạt hiệu quả cao nhất.
Đảm bảo tính linh hoạt trong các hình thức và phương pháp phát triển khả
năng nghe – hiểu lời nói cho TKT sau cấy ĐCOT. Việc áp dụng linh hoạt
các hình thức và phương pháp dạy học giúp trẻ hứng thú với bài học, học
được những kinh nghiệm mới (khả năng luân phiên, bắt chước) từ các bạn
trong nhóm hoặc từ các tình huống và môi trường học tập khác nhau.
- Đảm bảo việc sử dụng phương tiện và đồ dung học tập một cách hợp lý.
TKT sau cấy ĐCOT vẫn còn hạn chế về ngôn ngữ nên việc xây dựng các bài
tập phát triển khả năng nghe hiểu lời nói cho trẻ sau cấy phải chú ý đến việc
lựa chọn phương tiện và đồ dung học tập phù hợp với từng nội dung của bài
học, các tranh ảnh, mô hình, vật thật cần phong phú và sinh động, gần gũi
với cuộc sống thực của trẻ.
Điều kiện thực hiện
20
20


- Giáo viên, phụ huynh cần nắm rõ sức nghe của trẻ. Đây là điều kiện đảm
bảo cho việc luyện nghe và phát triển ngôn ngữ nói của trẻ có hiệu quả;
đồng thời cũng là cơ sở để lập kế hoạch luỵên nghe và phát triển ngôn ngữ
cho trẻ.
- Đảm bảo ĐCOT hoặc phương tiện trợ thính luôn hoạt động.
- Địa điểm: đảm bảo phòng học yên tĩnh để trẻ có thể nghe trong điều kiện
tốt nhất và phát huy tối đa sức nghe của mình.
- Vị trí ngồi: Đảm bảo âm thanh tiếp cận được với tai nghe tốt nhất của trẻ.
Do đó yêu cầu giáo viên, phụ huynh luôn ngồi ở bên tai cấy ĐCOT hoặc bên
tai có sức nghe tốt hơn.
Cấu trúc của bài tập
Mỗi bài tập được thiết kế như sau:
- Mục đích: Sau mỗi bài tập trẻ đạt được một mức độ kỹ năng cụ thể.

- Chuẩn bị: Các đồ dùng, đồ chơi, phương tiện dạy học phù hợp
- Cách hướng dẫn: Đưa ra những gợi ý để tiến hành thực hiện bài tập
- Đánh giá: Đánh giá và ghi kết quả thực hiện theo bảng sau:

21
21


BẢNG THEO DÕI KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Thời gian thực hiện: Từ ngày …… đến ngày ……
Họ và tên trẻ:……………………

Tuổi thực:……….

Tuổi nghe:……..

Sức nghe:……

Kết quả
Stt

Nội dung

Biện pháp

Lần 1

Lần 2

Lần 3


2.2 Các bài tập

22

22


Căn cứ vào kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, chúng tôi xây dựng ngân hàng bài tập phát triển khả năng nghe – hiểu
lời nói cho trẻ khiếm thính cấy ĐCÔT như sau:
2.2.1 Bài tập nhận thức âm thanh
2.2.1.1 Bài tập phát hiện âm thanh
Bài 1: Phát hiện âm thanh môi trường
Mục đích: Trẻ phản ứng với các âm thanh các đồ vật như : trống, kèn, thanh la, chuông, xúc xắc, tiếng vỗ tay, gõ cửa,….
Chuẩn bị: Trống, kèn, sáo, thanh la, chuông, xúc xắc….., bộ xâu hạt
Người thực hiện: giáo viên, phụ huynh, trẻ
Cách tiến hành: Giáo viên tạo các âm thanh, trẻ nghe và phản ứng bằng cách xâu hạt vào dây. Giáo viên có thể sử dụng
cách này với các dụng cụ khác.
Bước 1: Giáo viên kiểm tra máy của trẻ.
Bước 2: Giáo viên làm mẫu trên mẹ để hướng dẫn trẻ cách phản ứng: “Khi mẹ nghe thấy tiếng trống, mẹ hãy thổi kèn
nhé”. Yêu cầu mẹ ngồi quay lưng với giáo viên. Trẻ quan sát hành động mẫu.
Bước 3: Giáo viên đánh trống, trẻ nghe và phản ứng lại bằng cách thổi kèn. Giáo viên, phụ huynh và trẻ làm luân phiên và có thể
trao đổi dụng cụ cho nhau.
Bước 4: Giáo viên ghi kết quả trẻ thực hiện vào bảng theo dõi kết quả luyện nghe của trẻ:
Bài 2: Phát hiện các nguyên âm Tiếng Việt
Mục đích: Trẻ phản ứng với các nguyên âm Tiếng Việt như: a, u, o,
Chuẩn bị: Băng casset có âm thanh của các nguyên âm, đồ chơi xâu hạt
Người thực hiện: giáo viên, phụ huynh, trẻ
Cách tiến hành: Giáo viên phát âm từng nguyên âm, trẻ nghe thấy thì xâu hạt. Giáo viên có thể sử dụng cách này với các
nguyên âm còn lại.

Bước 1: Giáo viên kiểm tra máy của trẻ.
23

23


Bước 2: Giáo viên làm mẫu trên mẹ để hướng dẫn trẻ cách phản ứng: “Khi mẹ nghe thấy âm thanh, mẹ hãy xâu hạt vào
dây nhé”. Yêu cầu mẹ ngồi quay lưng với giáo viên. Trẻ quan sát hành động mẫu.
Bước 3: Giáo viên và phụ huynh luân phiên tạo âm thanh các nguyên âm, trẻ nghe và xâu hạt. Giáo viên, phụ huynh và trẻ
có thể đổi vai khi trẻ đã hiểu và phản ứng được với các nguyên âm để tăng hứng thú học cho trẻ.
Bước 4: Giáo viên ghi kết quả trẻ thực
Bài 3: Phát hiện âm thì thầm /h/, /p/
Mục đích: Trẻ phản ứng với âm thì thầm /h/, /p/
Chuẩn bị: Băng casset có âm thanh của các nguyên âm, đồ chơi thả khối gỗ vào lọ.
Người thực hiện: giáo viên, phụ huynh, trẻ
Cách tiến hành: Giáo viên phát âm từng âm, trẻ nghe thấy thì thả khối gỗ vào lọ.
Bước 1: Giáo viên kiểm tra máy của trẻ.
Bước 2: Giáo viên làm mẫu trên mẹ để hướng dẫn trẻ cách phản ứng: “Khi mẹ nghe thấy âm thanh, mẹ hãy thả khối gỗ
vào lọ nhé”. Yêu cầu mẹ ngồi quay lưng với giáo viên. Trẻ quan sát hành động mẫu.
Bước 3: Giáo viên và phụ huynh luân phiên tạo âm thanh, trẻ nghe và thả khối gỗ vào lọ. Giáo viên, phụ huynh và trẻ có
thể đổi vai khi trẻ đã hiểu và phản ứng được với các âm để tăng hứng thú học cho trẻ.
Bước 4: Giáo viên ghi kết quả trẻ thực
Bài 4: Phát hiện âm thanh môi trường ở khoảng cách khác nhau
Mục đích: Rèn luyện kĩ năng nghe để trẻ phản ứng với các âm thanh các đồ vật như : trống, kèn, thanh la, chuông, xúc
xắc, tiếng vỗ tay, gõ cửa,…. ở các khoảng cách xa 2m, 3,5m và hơn 3,5m
Chuẩn bị: Trống, kèn, sáo, thanh la, chuông, xúc xắc….., bộ xâu hạt
Người thực hiện: giáo viên, phụ huynh, trẻ
Cách tiến hành: Giáo viên đứng phía sau trẻ, ở khoảng cách 2m, tạo các âm thanh, trẻ nghe và phản ứng bằng cách xâu
hạt vào dây. Giáo viên có thể sử dụng cách này với các dụng cụ khác và các khoảng cách 3,5m và hơn 3,5m. Nếu âm nào đó, trẻ
24


24


không có phản ứng thì giáo viên, phụ huynh điều chỉnh khoảng cách bằng cách tiến gần đến trẻ hơn, không điều chỉnh âm lượng
bằng cách nói to hơn.
Bước 1: Giáo viên kiểm tra máy của trẻ.
Bước 2: Giáo viên làm mẫu trên mẹ để hướng dẫn trẻ cách phản ứng: “Khi mẹ nghe thấy tiếng trống, mẹ hãy thổi kèn
nhé”. Yêu cầu mẹ ngồi cạnh trẻ. Trẻ quan sát hành động mẫu.
Bước 3: Giáo viên đánh trống, trẻ nghe và phản ứng lại bằng cách thổi kèn. Giáo viên, phụ huynh và trẻ làm luân phiên và có thể
trao đổi dụng cụ cho nhau.
Bước 4: Giáo viên ghi kết quả trẻ thực hiện vào bảng theo dõi kết quả luyện nghe của trẻ.
Bài 5: Phản ứng với 6 âm Ling
Mục đích: Trẻ phản xạ khi nghe 6 âm Ling :/m/, /u/, /a/, /i/, /s/, /x/.
Chuẩn bị: hạt – dây xâu
Người thực hiện: giáo viên, phụ huynh, trẻ
Cách tiến hành :
Bước 1: Kiểm tra máy nghe của trẻ.
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn trẻ cách phản ứng, khi nghe thấy âm thanh thì xâu hạt vào dây.
Bước 3: Giáo viên thực hiện, trẻ lắng nghe và phản ứng.
Bước 4: Giáo viên ghi kết quả vào bẳng theo dõi.
Bài 6: Phản ứng với 6 âm Ling ở các khoảng cách khác nhau
Mục đích: Trẻ phản xạ khi nghe 6 âm Ling :/m/, /u/, /a/, /i/, /s/, /x/ ở các khoảng cách 2m, 3,5m, hơn 3,5m
Chuẩn bị: hạt – dây xâu
Người thực hiện: giáo viên, phụ huynh, trẻ
Cách tiến hành : Giáo viên đứng phía sau trẻ, ở khoảng cách 2m, tạo từng âm Ling, trẻ nghe và phản ứng bằng cách xâu
hạt vào dây. Giáo viên có thể sử dụng cách này với các dụng cụ khác và các khoảng cách 3,5m và hơn 3,5m. Nếu âm nào đó, trẻ
25

25



×