Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

MỘT MÔ HÌNH ĐA DẠNG HOÁ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM KINH NGHIỆM LIÊN KẾT QUỐC TẾ VÀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA KHOA QUỐC TẾ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (426.63 KB, 19 trang )

HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

MỘT MÔ HÌNH ĐA DẠNG HOÁ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM:

KINH NGHIỆM LIÊN KẾT QUỐC TẾ VÀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA KHOA
QUỐC TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
NGUYỄN Trọng Do và NGÔ Tự Lập *
Tóm tắt:
Kể từ năm 1986, cùng với công cuộc Đổi Mới của cả nước, ngành giáo dục đại học Việt Nam
cũng buộc phải đổi mới nhằm đáp ứng được đòi hỏi của xã hội về số lượng, chất lượng và tính chất
quốc tế của nguồn nhân lực. Quá trình đổi mới này vấp phải nhiều khó khăn, thách thức, trong đó gay
gắt nhất là vấn đề đảm bảo tài chính trong bối cảnh nền kinh tế có trình độ phát triển thấp đồng thời
đang trong quá trình chuyển đổi. Dựa trên việc khảo sát các nền giáo dục đại học chuyển đổi trên thế
giới và kinh nghiệm thực tiễn của Khoa Quốc tế, bài nghiên cứu này nhằm chứng minh rằng đa dạng
hóa các nguồn lực tài chính thông qua xã hội hóa và quốc tế hóa là biện pháp khả thi và tối ưu trong
việc đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam.
I. Đặt vấn đề
Chủ đề của cuộc hội thảo này, “Đóng góp của khoa học xã hội và nhân văn đối với sự phát triển
kinh tế xã hội”, tuy không liên hệ trực tiếp, nhưng có phần giao thoa rất lớn với sứ mệnh của trường đại
học hiện đại, một tổ chức đặc biệt, một không gian đặc biệt, một sản phẩm đặc thù của thời hiện đại,
trong đó tri thức đóng vai trò trung tâm, tạo thành thành nền tảng cho mọi hoạt động của nó. Trường
đại học hiện đại dĩ nhiên không phải là nơi độc quyền về nghiên cứu khoa học, nhưng vai trò của nó
trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn, ngày càng quan trọng. Trường Đại
học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực cho xã hội, trong đó có nhân lực nghiên cứu khoa học, mà chính
nó là một môi trường, một cỗ máy nghiên cứu. Xuất phát từ ý tưởng nền tảng của Kant được Humboldt
phát triển và hiện thực hóa sau đó về tự do học thuật, đại học trở thành một thể chế tự trị của trí tuệ, nơi
các ý tưởng mới được sản sinh, các giải pháp điều chỉnh, cải biến và phát triển xã hội được đề xuất.
Vai trò đặc biệt nói trên của trường đại học thể hiện rõ ràng nhất và hiệu quả nhất chính vào
những giai đoạn thay đổi lớn của đời sống xã hội. Đối với Việt Nam, cũng như đối với đa số các nước
thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, những thập kỷ cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI chính là


một giai đoạn như thế. Như chúng ta đã biết, sau những thập kỷ trì trệ, cuối cùng các quốc gia với cơ
chế quản lý kinh tế - xã hội tập trung, quan liêu bao cấp đã buộc phải thay đổi vào cuối thập niên 1980.
*

TSKH. Nguyễn Trọng Do là Chủ nhiệm Khoa Quốc tế - ĐHQGHN; TS. Ngô Tự Lập là chủ nhiệm Bộ môn Khoa học xã
hội, nhân văn và kinh tế, Khoa Quốc tế - ĐHQGHN.

29 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Đa số các quốc gia thuộc hệ thống này, chỉ trừ Cuba và Bắc Triều Tiên (mà gần đây cũng bắt đầu có
dấu hiệu cải cách) đều đã chấp nhận kinh tế thị trường.
Việc nghiên cứu những đóng góp của khoa học xã hội và nhân văn vào quá trình chuyển đổi với
quy mô quốc tế này, dù dưới ánh sáng của những trào lưu chung đó hay đặt trong bối cảnh đặc thù của
từng nước, đều sẽ cho ta những nhận thức bổ ích và lý thú.
Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào một lĩnh vực tương đối hẹp, đó là chính sách quản lý
tài chính đại học. Tuy là một lĩnh vực hẹp, nhưng đó là một lĩnh vực cực kỳ phức tạp và đang gây nhiều
tranh cãi không chỉ tại Việt Nam, mà gần như ở mọi nước, kể cả tại những quốc gia có hệ thống giáo
dục đại học phát triển và tưởng chừng ổn định như Anh, Hoa Kỳ, Pháp. Lý do là chính sách quản lý tài
chính đại học liên quan đến các mối quan hệ kinh tế - xã hội và văn hóa, đồng thời đòi hỏi phải thay đổi
tư duy lại về bản chất cũng như sứ mệnh của đại học trong thời đại mới.
Nghiên cứu này bắt đầu bằng việc đưa ra một bức tranh tổng quát của cơ chế quản lý tài chính
trong bối cảnh chung về hệ thống quản lý đại học Việt Nam cùng với những mâu thuẫn và thách thức
mà nó đang phải đối mặt kể từ 1986, khi công cuộc cải cách bắt đầu. Từ bức tranh thực tiễn đó, chúng
tôi cho rằng đối với Việt Nam và những quốc gia đang phát triển có nền kinh tế chuyển đổi tương tự, xã
hội hóa các nguồn lực tài chính là giải pháp hữu hiệu nhất và cần được thúc đẩy một cách mạnh mẽ để
xây dựng một nền giáo dục đại học đáp ứng được kỳ vọng của cộng đồng. Đây chính là cách mà nghiên

cứu khoa học và nhân văn – trong trường hợp này là khoa học quản lý đại học – có thể đóng góp vào sự
phát triển chung.
Nghiên cứu của chúng tôi dựa rất nhiều vào các hoạt động thực tiễn của Khoa Quốc tê, nơi cả
hai tác giả đều đang công tác.
II. Bức tranh khái quát về hiện trạng và những đổi mới trong quản lý của nền Đại học
Việt Nam từ 1986
2.1. Tác động của cải cách
Chính sách Đổi Mới do ĐCS Việt Nam khởi xướng năm 1986, mà nội dung chủ yếu là từ bỏ
đường lối phát triển kế hoạch hóa tập trung kiểu Liên Xô, là một bước ngoặt trong lịch Việt Nam hiện
đại, dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế- xã hội và văn hóa của đất nước.
Trong một thời gian tương đối ngắn, chính sách cải cách này đã biến Việt Nam từ một quốc gia
bị chiến tranh tàn phá nặng nề và liên tục thiếu lương thực trầm trọng thành một trong những nền kinh
tế phát triển vào loại nhanh nhất thế giới. Bất chấp hai cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 và 2008,
tốc độ tăng trưởng kinh tế tính trung bình của Việt Nam trong 25 năm qua là trên 7%. Năm 2010, tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đạt khoảng 102 tỷ đô la Mỹ, gấp 5 lần GDP năm 1986. GDP

30 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

tính theo đầu người cũng tăng đáng kể từ khoảng 140 đô la Mỹ (1976) lên trên 1200 đô la vào năm
2009 1 , đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước nghèo.
Cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng, nền kinh tế Việt Nam cũng được quốc tế hóa nhanh
chóng. Từ năm 1989 đến năm 2009, Chính phủ Việt Nam đã cấp giấy phép cho 12.575 dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng số vốn là trên 194 tỷ đô la Mỹ. Đồng thời, đầu tư của Việt Nam
cũng tăng đáng kể, đạt 7,7 tỷ đô la Mỹ trong giai đoạn 1989-2009. Tính chất mở của nền kinh tế Việt
Nam còn thể hiện ở sự phụ thuộc của nó vào ngoại thương, với doanh số xuất nhập khẩu hiện tương
đương với 150% GDP.

Một thay đổi quan trọng khác của nền kinh tế Việt Nam là sự gia tăng nhanh chóng của tỷ trọng
và vai trò của khu vực kinh tế tư nhân. Trong giai đoạn 2000-2009, số công ty tư nhân tăng với tốc độ
trung bình hàng năm khoảng 22%, và năm 2008 khu vực tư nhân đóng góp 47% tổng sản phẩm quốc
nội (Huỳnh Bửu Sơn, 2010).
Chính sách Đổi Mới có ảnh hưởng cực kỳ to lớn đối với hệ thống giáo dục quốc dân nói chung,
ngành giáo dục đại học nói riêng.
Như chúng ta đều biết, trước năm 1986, nói đúng hơn là từ năm 1975 đến năm 1986, nền giáo
dục đại học Việt Nam được tổ chức theo mô hình Liên Xô. Vào năm học 1980-1981, cả nước có tổng
cộng 85 trường đại học và cao đẳng, với khoảng 140.000 sinh viên (Nguyễn, T.H., 2009). Hệ thống
giáo dục đại học này có những đặc điểm cơ bản như sau: 1) Tất cả các cơ sở đào tạo đều là trường
công; 2) Tuyệt đại đa số các trường đại học và cao đẳng có quy mô nhỏ, tổ chức theo chuyên ngành; 3)
Mọi hoạt động đào tạo và nghiên cứu đều do dựa vào nguồn kinh phí do nhà nước cấp; 4) Giảng viên
và cán bộ quản lý được coi như những công chức nhà nước; 5) Toàn bộ nội dung giảng dạy do nhà
nước quy định và kiểm soát; 7) Các trường đại học có xu hướng tập trung vào giảng dạy, trong khi các
hoạt động nghiên cứu chủ yếu tập trung trong các viện nghiên cứu; 9) Phương thức và quy mô tuyển
sinh do nhà nước quyết định, nhằm đào tạo nhân lực để thực hiên các kế hoạch của nhà nước chứ
không phải theo yêu cầu của thị trường.
Nền giáo dục đại học này dựa trên một quan niệm nền tảng, coi giáo dục đại học là một hoạt
động công ích. Nó không phải là không có những ưu điểm, đặc biệt là trong mối tương quan với hệ
thống kinh tế xã hội tập trung, bao cấp theo mô hình Xô Viết.
Tuy nhiên, khi Việt Nam cải cách và phát triển kinh tế thị trường, nền giáo dục với quan niệm
cũ và hệ thống quản lý cũ đã để lộ ra nhiều điểm không tương thích. Những thách thức lớn nhất đối với
hệ thống quản lý giáo dục đại học Việt Nam có cội nguồn sâu xa là sự không tương thích giữa nguyên
tắc quản lý tập trung và mang nặng tính chính trị với nhu cầu đào tạo nhân lực cho một nền kinh tế cải
cách. Nền kinh tế thị trường đa thành phần và ngày càng quốc tế hóa của Việt Nam đòi hỏi một nguồn
1

According to CIA’s Factbook, Vietnam’s GDP - per capita (PPP) in 2009 is $2,900 (est.)

31 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO



HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

nhân lực 1) có trình độ đại học chất lượng cao, 2) với số lượng ngày càng nhiều, đa dạng và 3) có trình
độ quốc tế hóa phù hợp.
Để thích ứng với những đòi hỏi của tình hình mới, các nhà quản lý giáo dục Việt Nam đã tiến
hành rất nhiều thay đổi, trong đó có cả những thay đổi thành công lẫn những thay đổi thất bại. Những
thay đổi được thực hiện ở tất cả các cấp và lĩnh vực quản lý. Dưới đây là những ví dụ nổi bật nhất.
2.2. Thay đổi về tổ chức hành chính
+ Cơ quan quản lý cấp bộ: Trước năm 1987, ngành giáo dục Việt Nam có ba cơ quan quản lý
cấp bộ, đó là: Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, và Tổng cục Đạy nghề, ngoài ra
còn có Uỷ ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em.
Năm 1987, theo “Nghị quyết số 782NQ/HĐNN7 ngày 16-02-1987 của Hội đồng Nhà Nước về
việc kiện toàn một bước các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, cử và miễn nhiệm một số thành viên
của Hội đồng Bộ Trưởng”, Uỷ ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em được sáp nhập vào Bộ Giáo dục, đồng
thời Tổng cục Dạy nghề được sáp nhập vào Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp và Dạy nghề.
Năm 1990, các cơ quan quản lý cấp bộ của ngành giáo dục một lần nữa lại được tái tổ chức. Lần
này, Bộ Giáo dục và Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp và Dạy nghề được hợp nhất để tạo
thành Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Mặc dù trên lý thuyết, Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý các hoạt động trong cả nước,
trên thực tế việc quản lý phức tạp hơn nhiều. Rất nhiều trường đại học và cao đẳng chuyên ngành còn
chịu sự quản lý của các bộ, ngành, tổng cục, địa phương. Chẳng hạn, trường Đại học Luật còn chịu sự
quản lý của Bộ Tư Pháp, Đại học Văn hóa chịu sự quản lý của Bộ Văn hóa…Gần đây, một số Tổng
công ty, Tập đoàn cũng mở trường đại học dưới sự quản lý của họ. Chẳng hạn, Đại học FPT chịu sự
quản lý của Tập đoàn FPT, Đại học Điện lực chịu sự quản lý của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, Đại
học Dầu khí chịu sự quản lý của Tâp đoàn Dầu khí Việt Nam…Ngoài ra, trong hệ thống giáo dục đại
học Việt Nam còn có hai Đại học Quốc gia và ba Đại học Vùng với những quy định riêng sẽ nghiên
cứu dưới đây.

2.3. Vấn đề số lượng: quá trình phổ cập hóa đại học và sự gia tăng của khu vực học ngoài
công lập
Đây chắc chắn là thay đổi lớn nhất và có nhiều ảnh hưởng nhất của hệ thống giáo dục đại học kể
từ 1986. Thành công ấn tượng của công cuộc Đổi Mới dẫn đến sự nâng cao đáng kể mức sống của
người dân, đồng thời gia tăng đòi hỏi về nhân lực chất lượng cao. Điều này, đến lượt nó, dẫn đến sự gia
tăng nhanh chóng số trường đại học và cao đẳng. Nhưng sự gia tăng mạnh mẽ nhất là ở khu vực ngoài
công lập, bất chấp những bất cập của khuôn khổ pháp lý.
Nếu nghiên cứu kinh nghiệm phát triển đại học của các quốc gia chuyển đổi khác, chúng ta sẽ
thấy rằng sự phổ cập hóa đại học dường như là một xu thế phổ biến. Trong nghiên cứu của mình về

32 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

giáo dục đại học của các nước cựu xã hội chủ nghĩa Đông và Trung Âu, tác giả Marek Kwiek viết:
“Mức khởi điểm vào năm 1989 về tổng số sinh viên nhập học là dưới 10% ở Albania và Romania, giữa
10% và 15% ở Hungary, Slovakia và đa số các nước cộng hòa Trung Á của Liên Xô cũ (Kyrgizia,
Tajikistan, Turmenistan, Uzbekistan), giữa 15% và 20% ở Croatia, Cộng hòa Czech, Belarus,
Macedonia, Moldova và Ba Lan, giữa 20% và 25% ở Belarus, Bulgaria, Latvia, Nga, Slovenia và
Ucraine – và tỷ lệ cao nhất là ở hai quốc gia nhỏ vùng Baltic – Estonia (36%) và Lithuania (28%). Một
thập niên sau đó, năm 1999, một số quốc gia chuyển đổi đã có tỷ lệ tuyển sinh trên 40%: Estonia (45%)
và Lithuania (40%), Ba Lan (43) và Slovenia (51%)” (Marek Kwiek, 2008).
Như vậy, sự gia tăng của số trường cũng như của số sinh viên đại học của Việt Nam tuy khá
nhanh nhưng chắc chắn còn xa mới đáp dứng được nhu cầu của xã hội, nếu chúng ta so sánh với các
nước khác. Tác giả Mỹ Chico Harlan, trong bài viết “Vietnamese teens' thirst for college outpaces
country's educational system” (Nhu cầu học đại học của thanh niên Việt Nam vượt quá khả năng đáp
ứng của hệ thống giáo dục quốc dân) trên tờ Washington Post, so sánh rằng với dân số gần 89 triệu
dân, Việt Nam có chưa tới 400 trường đại học và cao đẳng, trong khi Mỹ, với dân số 310 triệu, có tới

hơn 4.400 trường. Tác giả này cũng cho biết, tỷ lệ sinh viên so với dân số của Việt Nam chỉ bằng một
nửa của Thái Lan và một phần ba của Hàn Quốc 2 . Số liệu của Ngân hàng Thế giới cho biết tỷ lệ sinh
viên so với dân số của Việt Nam năm 2006 là 13% (Vietnam Country Summary 3 ), thấp hơn rất nhiều
so với các nước phát triển, như 70% tại Mỹ, Na Uy, Úc, hay giữa 70%-80% ở Phần Lan, New Zealand
và Thuỵ Điển (Kwiek Marek, 2008).
2.4. Vấn đề chất lượng: những thay đổi về mô hình nhà trường
Như trên đã nói, một trong những đặc điểm của nền giáo dục đại học Việt Nam trước 1986 là
quy mô nhỏ và tính đơn ngành và sự thiếu quan tâm về nghiên cứu của phần lớn các cơ sở đào tạo.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thứ bậc của các trường đại học trong các bảng xếp hạng, mà thực tế
còn làm giảm tính năng động và mối gắn kết giữa đại học với thị trường lao động và các ngành sản xuất
– kinh doanh.
Ý thức được điều này, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập 2 Đại học Quốc gia với
những quy chế đặc biệt. Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập ngày 10 tháng 12 năm 1993 trên cơ
sở sáp nhập 3 trường đại học lớn là Đại học tổng hợp Hà Nội, Đại học sư Phạm Hà nội 1 và Đại học sư
phạm ngoại ngữ Hà Nội. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập ngày 27 tháng 01
năm 1995, trên cơ sở sáp nhập 9 trường đại học và phân hiệu đại học, đó là: Trường Đại học Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức, Trường Đại học Bách khoa
Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tài chính Kế toán Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học
2

/> />3

33 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh, Phân hiệu Đại

học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, ĐHQG Hà Nội có 10 cơ sở đào tạo thành viên, còn
ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh có 07 cơ sở đào tạo thành viên.
Theo quyết định số 15/2001/QĐ-TTg (ngày 12 tháng 2 năm 2001) của Thủ tướng Chính phủ về
việc tổ chức lại hai đại học quốc gia tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các Đại học Quốc gia có
quy chế tổ chức và hoạt động đặc biệt, có vai trò như những trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học–
công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học Việt
Nam. Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg Ngày 12/2/2001 của Thủ tướng Chính phủ “khẳng định và tăng
cường hơn nữa quyền tự chủ của các Đại học Quốc gia trong nhiều lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là đào
tạo, nghiên cứu khoa học - công nghệ, tổ chức cán bộ, kế hoạch - tài chính và hợp tác quốc tế”.
(Website của ĐHQGHN).
Ngoài hai Đại học Quốc gia, năm 1994 Chính phủ Việt Nam còn quyết định thành lập 3 Đại học
Vùng, đó là Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng. Hiện nay, Đại học Thái Nguyên
có 09 cơ sở đào tạo thành viên. (Website của Đại học Thái Nguyên), Đại học Huế hiện có 07 trường đại
học thành viên (Website của Đại học Huế) và Đại học Đà Nẵng có 07 cơ sở đào tạo thành viên.
(Website của Đại học Đà Nẵng). Các Đại học Vùng có nhiều quyền tự chủ hơn so với các đại học khác,
tuy không bằng các Đại học Quốc gia.
Việc áp dụng mô hình đại học nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực được thực hiện không chỉ tại
hai Đại học Quốc gia và 03 Đại học Vùng, mà còn cả ở nhiều trường đại học khác, đặc biệc là các
trường “trọng điểm”. Các trường mới thành lập, đặc biệt là các trường tư tuy quy mô nhỏ, cũng có xu
hướng áp dụng mô hình này.
Việc áp dụng một hình mô hình đại học nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực cũng ít nhiều liên
quan đến chủ trương áp dụng hệ thống tín chỉ thay cho hệ thống niên chế trong đào tạo đang được triển
khai dần tại các trường đại học trong cả nước.
Để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, Việt Nam cũng áp dụng một biện pháp thí điểm
khác là tổ chức các chương trình đào tạo “theo chuẩn quốc tế”, được gọi là các “chương trình tiên tiến”.
Các chương trình này thường được thiết kế dựa trên các chương trình nước ngoài, trong những năm học
cuối sử dụng ngoại ngữ để dạy và học.
2.5. Vấn đề quốc tế hóa: mở rộng hợp tác và liên kết quốc tế
Giống như tất cả các nước đang phát triển khác, Việt Nam đang nỗ lực quốc tế hóa nền giáo dục
đại học của mình. Nhưng với một quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào ngoại thương và đầu tư

nước ngoài như Việt Nam, vấn đề quốc tế hóa đại học còn cấp bách hơn nhiều. Nhiệm vụ này được tiến
hành bằng nhiều biện pháp khác nhau. Trước hết là nỗ lực gửi sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài – hoạt
động quốc tế hóa chủ yếu của Việt Nam trước năm 1986 và bị suy giảm đáng kể sau khi các nước xã
hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ. Năm 2000, sau hơn một thập kỷ cải cách tương đối thành công, Việt
34 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Nam đã nỗ lực phục hồi lại hoạt động quan trọng này bằng việc khởi động một dự án, gọi là “Dự Án
322”, có nhiệm vụ hàng năm gửi khoảng 450 sinh viên du học ở nước ngoài bằng một nguồn kinh phí
vào khoảng 100 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước. Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra một đề án
thậm chí còn tham vọng hơn, đó là đào tạo 20,000 Tiến sĩ từ 2008 đến 2020, trong đó khoảng 50%
được đào tạo ở nước ngoài.
Biện pháp quan trọng thứ hai là khuyến khích sự tham gia của các có sở đào tạo và nghiên cứu
nước ngoài, kể cả việc mở trường hoặc phân hiệu tại Việt Nam. Trường đại học 100% vốn nước ngoài
đầu tiên được thành lập tại Việt Nam là RMIT, khai giảng lần đầu tiên tại phân hiệu thành phố Hồ Chí
Minh năm 2001 và tại phân hiệu Hà Nội năm 2004.
Nhưng hình thức quốc tế hóa phổ biến hơn là các chương trình liên kết. Hiện nay, các trường
liên kết đào tạo quốc tế không đơn thuần là một giải pháp nhằm cải thiện hoặc quốc tế hóa nền giáo dục
đại học về mặt hàn lâm, mà còn là một giải pháp trong chính sách quản lý tài chính đại học. Chúng tôi
sẽ nghiên cứu kỹ hơn khía cạnh tài chính của liên kết đào tạo đại học trong những phần tiếp theo.
III. Vấn đề quản lý tài chính và đa dạng hóa các nguồn tài chính Đại học ở Việt Nam
Như ở trên đã nói, ba nhiệm vụ quan trọng nhất của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là
nâng cao chất lượng, đa dạng hóa ngành nghề và quốc tế hóa. Cả ba nhiệm vụ này đều đòi hỏi một
nguồn tài chính dồi dào để cải thiện cơ sở vật chất và chất lượng đào tạo và nghiên cứu của các cơ sở
đào tạo đang tăng lên nhanh chóng. Điều này cực kỳ khó khăn, nếu không nói là bất khả thi nếu chỉ dựa
vào nguồn kinh phí hạn chế từ ngân sách.
Chi tiêu cho giáo dục nói chung, và cho giáo dục đại học nói riêng, của Việt Nam chiếm một tỷ

lệ cao hay thấp trong cơ cấu chi tiêu quốc gia? Ấn tượng thông thường là cao. Thực ra không đúng. Chi
tiêu cho giáo dục của Việt Nam trong nhiều năm qua ở vào khoảng 12% ngân sách quốc gia, trong đó
chi tiêu cho giáo dục đại học chiếm khoảng 5% ngân sách quốc gia (Xem bảng 1). Nếu tính theo GDP,
chi tiêu cho giáo dục của Việt Nam là khoảng 3%, thấp hơn đáng kể so với 4,2% ở Philippines, 5,4% ở
Thái Lan, 6,7% ở Malaysia (theo Ngô Doãn Đãi, Higher Education in South East Asia - UNESCO).
Bảng 1: Chi cho giáo dục và đào tạo (% ngân sách nhà nước)
Năm

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Chi tiêu cho giáo
dục và đào tạo

11,63


11,89

12,04

12,63

11,83

10,89

12,12

13,46

12,85

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam 4
4

/>
35 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Trong bức tranh chúng đó, chi tiêu cho giáo dục đại học của Việt Nam, tính theo phần trăm
GPD, cũng thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia khác. Theo Đặng Quế Anh, chi tiêu cho giáo dục
đại học ở Việt Nam năm 2002 chiếm 0,41% GDP, thấp hơn nhiều so mức mức bình quân của thế giới

là 1,22%. Bảng (2) dưới đây so sánh mức đầu tư cho giáo dục đại học (bao gồm cả đầu tư công và đầu
tư tư nhân) tính theo GDP của Việt Nam và một số nước:
Bảng 2: Chi phí cho giáo dục đại học của một số nước châu ÂU
Quốc gia

Ý

Pháp

Đức

Anh

Ireland

Đơn vị: % GDP
Hà Lan

Tây Ban
Nha

Đầu tư cho
1,0
1,1
1,1
1,1
1,3
1,3
1,3
Đại học

Nguồn: European Higher Education in a Worldwide Perspective, do Marek Kwiek trích dẫn

Đan
Mạch
1,8

Tỷ lệ đầu tư thấp cho giáo dục đại học ở Việt Nam có lý do là GDP tính theo đầu người còn
tương đối thấp (mới đạt khoảng hơn 1200 USD vào năm 2010), Việt Nam buộc phải phải ưu tiên cho
các chi tiêu cấp bách khác như y tế, giao thông…
Với tỷ lệ đầu tư thấp như vậy, trong khi giá trị tuyệt đối của GDP đã thấp, trên thực tế, tình
trạng thiếu hụt tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam diễn ra rất trầm trọng. Trong bối cảnh số
trường và sinh viên tăng lên nhanh hơn nhiều so với tốc tộc tăng GDP, suất đầu tư cho một sinh viên ở
mức rất thấp. Trong bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ ngày 07/06/2010, ông Đào Trọng Thi, chủ
nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, cho biết rằng suất
đầu tư cho một sinh viên tại trường công cách đây năm sáu năm vào khoảng 6.000.000 đồng (khoảng
200 Euros)/sinh viên, nay chỉ đạt khoảng 2.500.000 đồng (Khoảng 80 Euros)/sinh viên 5 . Đó là mức đầu
tư hết sức thấp nếu so sánh không chỉ với mức đầu tư ở các nước phát triển (Chẳng hạn: Na Uy: 12.000
Euros; Đan Mạch: 13.600 Euros; Thụy Điển: 14.000 Euros; Thụy Sĩ: 19.000 Euros – Theo Marek
Kwiek). Chính vì lý do đó, tất cả các trường đại học Việt Nam đều đang bị lạc hậu nhanh chóng về cơ
sở vật chất.
Tình trạng thiếu hụt tài chính cũng dẫn đến tình trạng thu nhập thấp của giảng viên khiến cho
nhiều trí thức giỏi có xu hướng lựa chọn những ngành nghề có thu nhập cao hơn. Thu nhập thấp cũng là
một lý do khiến tình trạng tiêu cực trong giáo dục cũng trở nên nghiêm trọng.
Nhà nước Việt Nam từ lâu đã ý thức được vấn đề này. Năm 1987, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa
ra một chính sách tài chính mới theo hướng đa dạng hóa các nguồn tài chính, được gọi là “xã hội hóa
giáo dục”. Cần phải nói là trái với cách hiểu thông thường ở phương Tây, “xã hội hóa” ở Việt Nam về
5

/>
36 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO



HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

bản chất là thu hút các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước và từ bỏ sự phụ thuộc hoàn toàn vào
nguồn tài chính do nhà nước cấp. Như vậy, về bản chất, khái niệm này khá gần gũi với “tư nhân hóa”.
Như trên đã nói, trước Đổi Mới, tất cả các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam đều là trường
công và gần như toàn bộ chi phí cho giáo dục đại học là lấy từ ngân sách nhà nước. Bước đi đầu tiên
theo hướng “xã hội hóa” các nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học được Bộ Giáo dục và Đào tạo
thực hiện vào năm 1987 với việc cho phép các trường đại học tổ chức những chương trình không chính
quy (hệ B) song song với chương trình chính thức. Các sinh viên theo học hệ B phải trả học phí, trong
khi các sinh viên chính thức hầu như được miễn hoàn toàn học phí. Tác giả Ngô Doãn Đãi cho biết
rằng số sinh viên hệ B tăng nhanh hơn nhiều so với sinh viên chính thức. Trong năm 1987-1988, tổng
số sinh viên là 133.136, trong đó 91.182 sinh viên hệ chính quy (không phải nộp phí) và 41.954 sinh
viên phải nộp học phía. Trong năm học 1988-1989, số sinh viên hệ B (phải nộp học phí) đã gấp bốn lần
số sinh viên chính thức được miễn học phí (UNESCO, “Higher Education in South East Asia”, 2006,
phần nói về Việt Nam).
Cùng với những chương trình không chính quy này là sự nở rộ của các chương trình đào tạo tại
chức, chuyên tu, từ lâu đã trở thành một nguồn thu đáng kể của nhiều trường đại học. Tờ Tuổi trẻ, số ra
ngày 11/12/2010 cho biết, “Hiện tại, cứ ba người học ĐH, CĐ thì có một người học hệ tại chức. Thậm
chí ở một số trường ĐH, tỉ lệ này là 1/1. Đó là kết quả của sự bùng nổ quy mô đào tạo tại chức vài năm
gần đây. Năm 2010, các trường ĐH, CĐ được Bộ GD-ĐT giao tổng chỉ tiêu đào tạo tại chức, văn bằng
2, liên thông với hơn 322.000 chỉ tiêu, tương đương tới 62,9% so với tổng chỉ tiêu đào tạo của hệ chính
quy. Trong đó, hệ vừa học vừa làm (tại chức) có “phần bánh” to nhất. Tổng chỉ tiêu tại chức của các
trường ĐH, CĐ tăng đáng kể so với vài năm trước và hiện đã vượt qua tỉ lệ 50% so với hệ chính quy”.
(Minh Giảng-Hà Bình, 2010)
Việc cho phép phát triển khu vực ngoài công lập là một hướng đi khác của chính sách xã hội
hóa. Hai mươi hai năm kể từ khi cơ sở đào tạo đại học ngoài công lập đầu tiên được thành lập (trường
đại học Thăng Long, thành lập năm 1988 với tên gọi ban đầu là Trung tâm Đại học Dân lập Thăng

Long), khu vực ngoài công lập đã có 77 trường đại học và cao đẳng trong tổng số 403 trường. Hơn nữa,
theo các thống kê, tốc độ phát triển của khu vực ngoài công lập ngày càng tăng lên trong những năm
gần đây (xem bảng 3). Khu vực đại học ngoài công lập có ba hình thức khác nhau, đó là trường bán
công (semi-public), trường dân lập (people-founded) và trường tư. Trường bán công là trường do nhà
nước và các tổ chức kinh tế - xã hội hoặc cá nhân cùng làm. Thông thường các trường bán công được
nhà nước xây dựng và trang bị cơ sở hạ tầng, còn chi thường xuyên dựa vào nguồn thu từ học phí.
Trường dân lập do các tổ chức kinh tế - xã hội và nghề nghiệp lập ra và đầu tư, hoạt động dựa vào
nguồn thu từ học phí. Các trường tư do các cá nhân thành lập, đầu tư và sở hữu.

37 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Bảng 3: Số trường đại học và cao đẳng của Việt Nam
2000

2001

2002

Tổng số
178
191
202
Công lập
148
168
179

Ngoài
30
23
23
công lập
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

214
187

230
201

277
243


322
275

369
305

393
322

403
326

27

29

34

47

64

71

77

Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2009, cả nước có 1.796.200 sinh viên,
trong đó 248.800 theo học tại các trường đại học ngoài công lập. Trong10 năm qua, số sinh viên tại các
trường công lập tăng 5.2%, trong khi đó số sinh viên tại các trường ngoài công lập tăng 17%. Bảng (4)
dưới đây mô tả sự gia tăng về số lượng sinh viên đại học và cao đẳng ở Việt Nam trong giai đoạn 20002009.

Bảng 4: Số sinh viên (ngàn)

Tổng số
Công lập
Ngoài
Công lập

2000
899.5
795.6

2001
974.1
873.0

2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
1020.7 1131.0 1319.8 1387.1 1666.2 1603.5 1719.5 1796.2
908.8 993.9 1182.0 1226.7 1456.7 1414.7 1501.3 1547.4

103.9

101.1


111.9

137.1

137.8

160.4

209.5

188.8

218.2

248.8

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Hướng quan trọng thứ ba trong chính sách đa dạng hóa các nguồn lực tài chính cho đại học là
kêu gọi đầu tư nước ngoài thông qua việc mở trường hoặc chi nhánh tại Việt Nam hoặc tổ chức các
chương trình đào tạo liên kết. Việc kêu gọi các trường đại học nước ngoài đầu tư mở trường nước ngoài
từng được nhiều nước áp dụng nhưng không nhiều trường hợp nào thành công. Lý do, theo tôi, chủ yếu
là chính sách. Một ví dụ là Hàn Quốc. Theo Kiyong Byun và Minjung, Hàn Quốc tuyên bố mở thị
trường giáo dục đại học năm 1996, một năm sau khi gia nhập WTO. Luật Trường Tư (Private School
Act) sửa đổi năm 1997 chính thức cho phép các tổ chức nước ngoài mở trường tại Hàn Quốc. Tuy
nhiên, với những ràng buộc khá ngặt nghèo, đặc biệt là chỉ cho phép các tổ chức phi lợi nhuận mở
trường (nghĩa là các trường nước ngoài không có quyền chuyển lợi nhuận ra khỏi Hàn Quốc) khiến cho
rất ít, nếu không nói là không hề có, đối tác nước ngoài quan tâm đến việc mở trường tại nước này. Mãi
đến giữa thập niên 2000, chính phủ Hàn Quốc mới thay đổi quan điểm. “Luật đặc biệt về thành lập và
vận hành các tổ chức giáo dục 2005” (Special Act on the Establishment and Operation of Foreign
Educational Institutions in 2005) mới nới lỏng các hạn chế đối với các tổ chức giáo dục nước ngoài,

đặc biệt là cho phép chuyển lợi nhuận ra khỏi Hàn Quốc, cho phép chính phủ Hàn Quốc tài trợ các tổ
chức giáo dục nước ngoài và cho phép các tổ chức này tự chủ trong tuyển sinh, trừ một số lĩnh vực như
38 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

sư phạm và y học. Tuy nhiên, cho đến nay, mới chỉ duy nhất một trường nước ngoài là Netherlands’
Shipping and Transport College mở phân hiệu tại Hàn Quốc (STC-Korea). (Byun & Kim, 2010). Một ví
dụ khác là Nhật Bản. Theo Futao Huang, trong những năm 1980, số phân hiệu của các trường đại học
Hoa Kỳ tại Nhật bản tăng nhanh chóng từ 1 (năm 1982) lên 18 (năm 1990). Tổng số phân hiệu của các
đại học nước ngoài tại Nhật Bản lên tới 36 vào năm 1990. Tuy nhiên, cho đến năm 2005 tất cả các cơ
sở này đều không được chính phủ Nhật công nhận là cơ sở đào tạo đại học chính thức, vì thế các tín chỉ
nhận được tại các cơ sở này không được các trường đại học Nhật công nhận, sinh viên tốt nghiệp các
phân hiệu này không thể học lên các cấp học cao hơn tại các trường của Nhật. Vì vậy, trong bối cảnh số
sinh viên Nhật giảm nhanh, số các cơ sở nước ngoài giảm xuống dưới 10 vào năm 2005. Mãi đến năm
2005, Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (MEXT) mới chính thức
công nhận Temple University Japan (TUJ) - trường đại học Hoa Kỳ lâu đời nhất tại Nhật.
Chính sách của Việt Nam cởi mở hơn, và có vẻ cũng thành công hơn. RMIT, trường đại học
100% vốn nước ngoài đầu tiên được thành lập tại Việt Nam, là một ví dụ thành công trong lĩnh vực đầu
tư giáo dục đại học. Theo website của RMIT, số sinh viên của 2 phân hiệu đã vượt 5000 vào năm 2008.
Năm 2008, chính phủ Việt Nam công bố một dự án đầy tham vọng, đó là thành lập 4 đại học “đẳng cấp
thế giới” với sự hợp tác của đối tác Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Anh. Trường đại học Việt-Đức đã được
thành lập vào năm 2008.
Nhưng hình thức phổ biến hơn trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài là các chương trình
liên kết đào tạo quốc tế. Như đã nói ở trên, tổ chức các chương trình liên kết đào tạo không đơn thuần
là một giải pháp quốc tế hóa, mà còn là một giải pháp xã hội hóa các nguồn lực tài chính. Liên kết đào
tạo quốc tế cho phép sinh viên và giảng viên tiếp cận cơ sở vật chất, sử dụng chương trình đào tạo và
học liệu, áp dụng công nghệ và phương pháp đào tạo, đồng thời nâng cao chất lượng nghiên cứu trong

những môi trường học thuật và nghiên cứu tiên tiến trong khi các trường đại học Việt Nam chưa có đủ
điều kiện đầu tư, hoặc cần phải có thời gian để đầu tư hoàn chỉnh.
Từ khi chương trình liên kết đào tạo đầu tiên, chương trình MTESOL liên kết giữa Đại học
Ngoại ngữ Hà Nội và Đại học Victoria (Úc), được cấp phép năm 1998, các chương trình liên kết đào
tạo quốc tế đã phát triển nhanh chóng. Năm 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố danh sách 112
chương trình liên kết được Bộ cấp giấy phép. Danh sách này chưa kể mấy chục chương trình đang được
tổ chức tại ĐHQG Hà Nội, ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh, ĐH Thái Nguyên, ĐH Đà Năng, và ĐH
Huế, những đại học Vùng có quyền cấp giấy phép cho các chương trình liên kết quốc tế.
IV. Đa dạng hóa các nguồn lực tài chính thông qua Quốc tế hóa tại Khoa Quốc tế - Đại
học Quốc gia Hà Nội
Khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, tiền thân là Khoa Quốc tế Việt-Nga trực thuộc
ĐHQGHN, được thành lập vào tháng 7 năm 2002, là cơ sở đào tạo đặc biệt của ĐHQGHN, có nhiệm

39 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

vụ thực hiện các thí điểm về xã hội hóa và quốc tế hóa giáo dục đại học. Tám năm hoạt động và phát
triển của Khoa Quốc tế không chỉ phản ánh một cách cụ thể mà còn là bằng chứng về hiệu qủa của
những thay đổi trong chính sách quản lý tài chính đại học nói trên.
Về mặt tài chính, Khoa Quốc tế có những đặc điểm chính sau đây:
1. Là cơ sở đào tạo công nhưng hoàn toàn không được cấp kinh phí từ nguồn ngân sách nhà
nước.
2. Toàn bộ chi phí đầu tư và hoạt động dựa vào các nguồn thu đa dạng, bao gồm học phí, tài trợ,
viện trợ, hiến tặng và dịch vụ.
3. Phi lợi nhuận (toàn bộ các nguồn thu dùng để xây dựng cơ sở vật chất, vận hành và thực hiện
các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và ĐHQGHN).
2.1. Sơ lược về quá trình phát triển của Khoa Quốc tế

Được thành lập từ năm 2002, mặc dù không nhận kinh phí từ ngân sách Nhà nước, Khoa Quốc
tế đã nhanh chóng phát triển thành một cơ sở đào tạo đại học, sau đại học tương đối lớn và có uy tín, có
tổ chức quản lý khoa học, tự đảm bảo được kinh phí hoạt động, đồng thời đóng góp đầy đủ thuế và các
nghĩa vụ khác.
Trong gần 9 năm qua, Khoa Quốc tế đã triển khai thực hiện hàng chục chương trình liên kết
đào tạo đại học và sau đại học bằng 4 thứ tiếng là Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc. Tất cả các chương
trình đào tạo đang được triển khai tại Khoa Quốc tế đều là các chương trình được kiểm định bởi các cơ
quan chức năng có thẩm quyền kiểm định của các nước đối tác và được ĐHQGHN thẩm định và cấp
phép. Khi tốt nghiệp, sinh viên được nhận văn bằng phù hợp với chương trình đào tạo: văn bằng của
trường đại học đối tác hoặc/và văn bằng của ĐHQGHN.
Tất cả các thí sinh sau khi trúng tuyển, nếu chưa có chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế, sẽ phải theo học
chương trình ngoại ngữ do Khoa Quốc tế xây dựng và được các trường đại học đối tác công nhận. Các hoạt
động dạy, học và đánh giá được thực hiện hoàn toàn theo quy trình và chuẩn của đối tác nước ngoài.
Môi trường dạy và học tại Khoa Quốc tế, với tính quốc tế về giảng viên, ngôn ngữ giảng dạy và
học liệu, đã phát huy được tính chủ động và sáng tạo của sinh viên, giúp sinh viên hình thành phương
pháp và kĩ năng học tập và nghiên cứu tiên tiến. Khoa Quốc tế đã phát triển được hệ thống giảng
đường, phòng thực hành máy tính, phòng thí nghiệm, thư viện và hạ tầng công nghệ thông tin khá hiện
đại đáp ứng đầy đủ nhu cầu của giảng viên và sinh viên theo học các chương trình liên kết quốc tế.
Vào năm 2002, Khoa Quốc tế chỉ có 44 sinh viên, năm 2005 có khoảng 200 sinh viên. Hiện
Khoa quốc tế có khoảng 2200 sinh viên và học viên theo học các chương trình chất lượng cao (số lượng
trên bao gồm cả sinh viên đã chuyển tiếp sang nước ngoài). Số lượng và thành phần sinh viên của Khoa
Quốc tế trong năm học 2009-2010 được thể hiện trong bảng 5 dưới đây:

40 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Bảng 5: Số lượng và thành phần sinh viên của Khoa Quốc tế (2009-2010)

Tống số
1825

Dự bị
đại học
393

Đại học

Sau đại học

Ngắn hạn

778

518

136

Chuyển tiếp ra
nước ngoài
400

Ngoài ra, hiện có 136 sinh viên nước ngoài (Canada, Nga, Trung Quốc, Lào và Hàn Quốc), chủ
yếu theo học các khóa ngắn hạn. Với quy mô tuyển sinh hàng năm vào khoảng 550 sinh viên đại học và
dự bị đại học và 200 học viên cao học, số sinh viên và học viên của Khoa Quốc tế sẽ tiếp tục gia tăng
trong năm tiếp theo.
2.2. Hiệu quả đa dạng hóa cơ chế tài chính tại Khoa Quốc tế
Hoạt động tài chính đóng vai trò hậu cần nền tảng cho sự phát triển của Khoa đồng thời cũng là
một đặc điểm riêng biệt của Khoa Quốc tế so với các đơn vị thành viên khác của ĐHQGHN nói riêng

và đa số các cơ sở đào tạo đại học Việt Nam nói chung – cả các có sở công lập và dân lập.
Mặc dù là một đơn vị đào tạo công lập, Khoa Quốc tế về cơ bản không sử dụng ngân sách nhà
nước. Khoa Quốc tế là đơn vị tự cân đối thu – chi và tự trang bị toàn bộ cơ sở vật chất, trang thiết bị và các
yêu cầu khác của mọi hoạt động. Khoa Quốc tế tồn tại và phát triển nhờ sự tăng cường và mở rộng các
nguồn tài chính của đơn vị, nhằm đảm bảo cơ sở vật chất tốt phục vụ giảng dạy và học tập.
Dựa trên các nguồn lực xã hội khác nhau, các chương trình liên kết đào tạo được tiến hành chọn
lọc với các tiêu chí về chất lượng, việc tính toán chi phí đầu tư hợp lí về giảng đường, thư viện thiết bị
và phòng thí nghiệm.
Tổng diện tích hiện tại đang sử dụng do Khoa Quốc tế xây dựng, khai thác và quản lí là 6618
m2 (8,5 m2/ 1 sinh viên đại học) bao gồm các giảng đường, phòng thực hành máy tính, phòng thí
nghiệm Nha khoa, thư viện, các phòng hội thảo và khu làm việc tại Nhà G7-G8, 144 Xuân Thủy, Cầu
Giấy, Hà Nội (khoảng 1118 m2); Nhà C (khoảng 4000 m2), Nhà E (khoảng 850 m2) và Nhà 21 tầng
(650 m2) tại Làng Sinh viên HACINCO, 99 Ngụy Như Kon Tum, Thanh Xuân, Hà Nội. Các giảng
đường, phòng hội thảo, phòng thực hành, phòng làm việc đều được trang bị hiện đại theo chuẩn quốc
tế có kết nối với hệ thống mạng LAN (mạng nội bộ) và WAN (mạng diện rộng) hiện đại.
Sinh viên đại học và học viên cao học được sử dụng các tài liệu học tập và nghiên cứu của
Trung tâm Thông tin – Thư viện của ĐHQGHN. Ngoài ra, Thư viện của Khoa Quốc tế cũng luôn đảm
bảo đầy đủ các giáo trình, sách, báo bằng tiếng nước ngoài cho các chương trình đào tạo với trên
11.000 đầu sách bằng 5 thứ tiếng, riêng bằng tiếng Anh có gần 6000 đầu sách. Đặc biệt, cán bộ, sinh
viên và học viên của Khoa Quốc tế có quyền được truy cập vào thư viện điện tử của các trường đối tác
nước ngoài và các thư viện điện tử do Quỹ Thế giới Nga tài trợ.

41 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Với tư cách một đơn vị sự nghiệp có thu, tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên,
Khoa luôn chú trọng phát triển các nguồn tài chính thông qua xã hội hóa giáo dục, huy động sự đóng

góp tài chính hợp lí của người học, thực hiện chính sách học phí linh hoạt theo ngành, bậc và mô hình
đào tạo. Thành công của Khoa dựa trên nguyên tắc tạo cơ hội nghề nghiệp tối đa cho người học, đảm
bảo lấy thu bù chi đồng thời tạo nguồn tài chính phòng tránh rủi ro.
Khoa Quốc tế đã và đang tìm kiếm và khai thác các nguồn tài chính từ các doanh nghiệp cũng
như các tổ chức xã hội và phi chính phủ để có thêm các nguồn lực phục vụ đào tạo và chuyển giao công
nghệ giáo dục, bao gồm: thiết bị - vật tư, phòng thực hành, thí nghiệm, các nguồn học liệu, các nguồn
học bổng hỗ trợ người học. Sự cải thiện các nguồn tài chính cũng cho phép Khoa có được chính sách
tiền lương và cơ chế tiền công hợp lí để tạo việc làm cho khoảng 150 người Việt Nam và khoảng 50
người nước ngoài. Chính sách lương và tiền công này đã góp phần giúp Khoa Quốc tế thu hút được một
lực lượng giảng viên và chuyên gia giỏi, qua đó xây dựng được đội ngũ giảng viên có trình độ quốc tế.
Các số liệu trong bảng (6) cho thấy trong những năm qua, quy mô, nguồn lực tài chính của Khoa
không ngừng tăng lên (quy mô nguồn thu sự nghiệp năm 2009 đã tăng 7,4 lần so với năm 2005).
Ngoài nguồn thu sự nghiệp, trong những năm vừa qua Khoa Quốc tế còn nhận được các nguồn tài
trợ, viện trợ của các trường đại học đối tác, các đơn vị ở nước ngoài:
- Quỹ học bổng do Đại học HELP, Malaysia cấp cho sinh viên của Khoa học chương trình đại học,
giá trị tương đương 5% tổng số tiền Đại học HELP nhận được để thực hiện các nhiệm vụ theo Thoả thuận
giữa Khoa Quốc tế và Đại học HELP, giá trị hàng năm khoảng 200 triệu.
- Đại học Nantes, Cộng hoà Pháp hỗ trợ toàn bộ chi phí giảng dạy của giảng viên do Đại học
Nantes cử tới Khoa tham gia chương trình đào tạo Bác sỹ Nha Khoa liên kết giữa Khoa và Đại học Nantes,
giá trị 108.000 Euro/ năm.
- Tháng 6/2010 Quỹ “Thế giới Nga” viện trợ kinh phí đầu tư phòng đọc “Thế giới Nga” tại Khoa
Quốc tế khoảng 39.000 (USD) và hỗ trợ kinh phí để duy trì và phát triển hoạt động của phòng đọc này, giá
trị trung bình hàng năm khoảng 15.000 USD.
- Trong khuôn khổ chương trình đào tạo Bác sỹ Nha Khoa, Đại học Nantes viện trợ cho Khoa toàn
bộ thiết bị thực hành tiền lâm sàng; các trường đại học đối tác, tổ chức viện trợ sách, cơ sở học liệu (băng,
đĩa, thư viện điện tử…).
- Giai đoạn 2011-2014, Quỹ học bổng của Liên minh Châu Âu Erasmus Mundus, cấp cho cán bộ,
sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh của Khoa Quốc tế và ĐHQGHN 16 suất học bổng, giá trị tương
đương 384.000 Euro.
- Cơ quan Đại học Pháp ngữ (AUF) đã ký văn bản cam kết hỗ trợ một số chương trình đào tạo

bằng tiếng Pháp đang được thực hiện tại Khoa Quốc tế.
Bảng 6: Các nguồn kinh phí của Khoa QT trong những năm 2005-2009
42 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Đơn vị tính: triệu đồng
Năm 2005
Nội
dung
Giá trị


cấu
nguồn
thu %

Năm 2006

Giá trị


cấu
nguồn
thu %

Năm 2007


Giá trị


cấu
nguồn
thu %

Năm 2008

Năm 2009


cấu
nguồn
thu %

Giá trị


cấu
nguồn
thu %

1,356

3

1,748

2


44,149

94

79,631

95

Giá trị

Nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN)cấp *
NSNN
(trong
khuôn
khổ
PUF)

0

0

0

0

1,680

6.3


Nguồn thu sự nghiệp
Thu sự
nghiệp

8,372

100

13,967

100

24,933

93.7

Nguồn tài trợ, viện trợ của các đơn vị trong và ngoài nước
Học
bổng,
Viện
trợ
Tổng
cộng

8,372

100

13,967


100

26,613

100

1,356

3

2,280

3

46,861

100

83,659

100

Nguồn: Dự án đầu tư thành lập Trường Đại học Quốc tế trên cơ sở nâng cấp Khoa Quốc tế thuộc Đại
học Quốc Gia Hà Nội
CHÚ THÍCH:
(*) Nguồn NSNN cấp năm 2007, 2008, 2009 là thuộc nguồn kinh phí đối ứng của Chính phủ Việt Nam
trong khuôn khổ Dự án các Trung tâm Đại học Pháp tại Việt Nam. Kinh phí được cấp cho Khoa Quốc
tế để tổ chức đào tạo Chương trình Cử nhân Kinh tế và Quản lí thuộc Dự án Trung tâm Đại học Pháp
tại ĐHQGHN (PUF).
Hiện nay, Khoa Quốc tế đang trong quá trình nâng cấp thành Trường Đại học Quốc tế. Khoa

Quốc tế khẳng định rằng chính sách đa dạng hóa các nguồn lực tài chính sẽ được tiếp tục thực hiện sau
khi được nâng cấp lên thành trường đại học thành viên của ĐHQGHN. Bảng (7) thể hiện kế hoạch tài
chính dự kiến của trường trong 10 năm tới.
Bảng 7: Kế hoạch tài chính giai đoạn 2010-2020

43 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Đơn vị tính: triệu đồng
Nguồn thu sự nghiệp

Nguồn tài trợ, viện trợ của các
đơn vị trong và ngoài nước
Chi sự nghiệp (chi thường
(viện trợ bằng tài sản, cấp học
xuyên, chi chuyển cho đối tác bổng và cung cấp nguồn nhân
theo hợp đồng)
lực)

Năm tài
chính

Thu sự nghiệp (thu
học phí LKĐT, thu
khác)

2010


95.000

93.100

11.530

2011

104.500

102.410

5.580

2012

114.950

112.650

6.000

2013

126.445

123.915

6.500


2014

139.100

136.320

6.800

2015

153.000

150.000

4.000

2016

168.300

164.930

4.400

2017

185.130

181.430


4.840

2018

203.640

199.570

5.320

2019

224.000

219.500

5.850

2020
246.400
241.470
Nguồn: Dự án đầu tư thành lập Trường Đại học Quốc tế

6.430

CHÚ THÍCH:
* Kế hoạch tài chính không bao gồm các khoản do NSNN cấp để thực hiện các nhiệm vụ do
ĐHQGHN và Nhà nước giao, kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở tại Hoà Lạc.
* Năm 2010, nguồn viện trợ bao gồm cả thiết bị thực hành tiền lâm sàng, do Đại học

Nantes cấp cho chương trình đào tạo Bác sỹ Nha khoa, Quỹ “Thế giới Nga” viện trợ
kinh
phí đầu tư phòng đọc tại Khoa Quốc tế, Quỹ học bổng liên minh Châu Âu Erasmus Mundus và tài trợ
của Cơ quan Đại học Pháp ngữ AUF.
Hồ sơ “Dự án đầu tư thành lập Trường Đại học Quốc tế trên cơ sở nâng cấp Khoa Quốc tế
thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội’ khẳng định rằng “với nguồn lực tài chính hiện có và dự kiến quy mô
tài chính trong những năm đầu sau khi được thành lập, Trường Đại học Quốc tế sẽ có cơ sở, nguồn lực
tài chính mạnh. Cùng với cơ chế tự chủ cao, đây là điều kiện rất quan trọng để Trường thực hiện tốt sứ
mạng của mình”.
V. Kết luận: Đa dạng hóa các nguồn lực tài chính thông qua xã hội và Quốc tế hóa ở khu
vực công lập

44 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

5.1. Đa dạng hóa các nguồn tài chính thông qua xã hội hóa và quốc tế hóa là biện pháp tối
ưu đối với nền đại học Việt Nam
Đảm bảo tài chính cho đại học là một vấn đề cực kỳ nan giải của hầu hết các quốc gia, kể cả
những quốc gia có nền đại học phát triển đã được đầu tư lớn từ hàng thế kỷ. Nền giáo dục đại học Pháp
chẳng hạn, theo các nghiên cứu gần đây, hiện kém sức cạnh tranh hơn so với các trường đại học của
nhiều nước khác, nhất là Hoa Kỳ. Do không thu học phí, các đại học Pháp luôn luôn phải vật lộn với
tình trạng thiếu hụt tài chính, dẫn đến sự lạc hậu về cơ sở vật chất. Tờ “The Economist” số ngày 5
tháng Bảy, 2007, dẫn lời tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy: “Tại sao ở Pháp lại không có những giảng
đường xứng với tên gọi của nó, không có sân thể thao, một điểm kỳ lạ nữa: không có những thư viện
mở cửa vào chủ nhật?” (“WHY in France are there no campuses worthy of the name, no sports
grounds, and another extraordinary thing: no libraries that open on Sundays?”). 6 Có thể những lời nói
này hơi cường điệu, nhưng có một thực tế là nền đại học Pháp đang đứng trước vấn đề nan giải: áp

dụng cơ chế thị trường, trước hết là thu học phí, để có điều kiện cải thiện cơ sở vật chất và chất lượng,
hay giữ nguyên cơ chế hiện nay để đảm bảo tính công bằng cơ hội học tập.
Thế nhưng chính nền đại học Hoa Kỳ cũng không thoát khỏi khó khăn. Tác giả Philip G.
Altbach, trong nghiên cứu đã trích dẫn, “Peripheries and Centres: Research Universities in Developing
Countries”, cho biết rằng nhiều trường đại học công hàng đầu của nước này cũng liên tục bị thiếu hụt
tài chính. Một số trường chỉ nhận được từ ngân sách công khoảng 15% mức cần thiết cho các hoạt động
của mình.
Đối với Việt Nam. Một nước đang phát triển, đồng thời lại đang trong quá trình chuyển đổi,
những khó khăn này càng lớn gấp bội. Rõ ràng, trong xu thế tăng nhanh chóng số lượng sinh viên như
hiện nay, nếu chỉ dựa vào ngân sách công thì ngay cả việc đảm bảo mức đầu tư trên đầu sinh viên rất
thấp hiện nay cũng là điều không thể.
5.2. Đa dạng hóa các nguồn lực tài chính có thể thực hiện không chỉ thông qua mở rộng
khu vực ngoài công lập, mà cả ở khu vực công lập
Xã hội hóa giáo dục thường được hiểu như là mở rộng khu vực ngoài công lập. Tuy nhiên, thực
tiễn cho thấy ngay cả các trường công lập cũng có thể tham gia một cách thành công vào quá trình này.
Xác hội hóa các nguồn lực tài chính ở đại học công cũng có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức, từ
việc nghiên cứu áp dụng một chế độ học phí hợp lý, đảm bảo tính cạnh tranh và công bằng xã hội,
tương thích với trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân, đến việc hợp tác với các đối tác trong nước
và nước ngoài.
5.3. Liên kết đào tạo không chỉ là một giải pháp quốc tế hóa, mà còn có thể là một giải
pháp tài chính hiệu quả cao
6

/>
45 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI


Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng sinh viên và ngành nghề đào tạo ở Khoa Quốc tế cho thấy
nhu cầu của xã hội đối với loại hình đào tạo này rất lớn, đồng thời cũng chứng tỏ rằng chi phí học tập ở
Khoa là tương đối phù hợp với khả năng tài chính của người dân. Với việc lựa chọn đối tác nước ngoài
và chính sách học phí hợp lý, liên kết đào tạo không chỉ đáp ứng mục đích trước mắt là giải quyết nơi
học và đáp ứng nhu cầu nhân lực quốc tế hóa chất lượng cao cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, tiếp
nhận chuyển giao công nghệ giáo dục tiên tiến, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và góp phần hiện đại hóa
nền giáo dục đại học Việt Nam và còn là một biện pháp thu hút tài chính trong và ngoài nước cho
nhiệm vụ phát triển của đơn vị mà không cần đến ngân sách nhà nước cấp. Điều này có nghĩa là
chương trình xã hội hóa sẽ cho phép nhà nước tập trung đầu tư vào các trường và các ngành nghề trọng
điểm, tạo đột phá cho nền giáo dục Việt Nam.
Tóm lại, sự đa dạng hóa các nguồn lực tài chính là giải pháp tối ưu hiện tại cũng như lâu dài để
phát triển nền giáo dục đại học Việt Nam cả về quy mô, chất lượng và tính quốc tế.

46 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO


HỘI THẢO QUỐC TẾ
ĐÓNG GÓP CỦA KHOA HỌC XÃ HỘI – NHÂN VĂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Altbach, Philip G., “Peripheries and Centres: Research Universities in Developing Countries”,
Higher Education Management and Policy, Volume 19, No 2. 2007, pp 111-128.
2. Byun, Kiyong & Minjung Kim, “Shifting Patterns of the Government’s Policies for the
Internationalization of Korean Higher Education”, Journal of Studies in International Education,
XX(X), July 6, 2010. pp.1-20.
3. Đào Trọng Thi, “Cần giải thể một số trường đại học”, phỏng vấn, Tuổi trẻ,
/>4. The Economist, “French higher education”, />5. The Economist, “Shaking them up: A much-needed but still half-hearted set of reforms”,
/>6. Đặng, Quế Anh, “Recent Higher Education Reforms in Vietnam: the Role of the World Bank”,
Master thesis, Danish School of Education, Aarhus University, />7. Kant, Immanuel, The Conflict of the Faculties [1798], trans. Mary J. Gregor, New York: Abaris
Books, 1979.

8. Kant, Immanuel, What is Enlightenment?, 1784, < />9. Kwiek Marek, “Accessibility and Equity, Market Forces and Entrepreneurship: Developments
in Higher Education in Central and Eastern Europe”, Higher Education management and Policy,
Volume 20, No 1, 2008. Pp 89-110.
10. Khoa Quốc tế-ĐHQGHN, “Hồ sơ Dự án đầu tư thành lập trường Đại học Quốc tế trên cơ sở
nâng cấp Khoa Quốc tế thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội”, Tài liệu nội bộ, HN, 2011.
11. Minh Giảng-Hà Bình, “Thả nổi đào tạo tại chức”, />12. Renaut, Alain, “Quel avenir pour nos universités?”, Timée-Édition, Paris, 2008.
13. Readings, Bill, The University in Ruins, Cambridge: Harvard U.P., 1996.
14. UNESCO,
“Higher
Education
in
South
East
Asia”,
Bangkok,
2006,
/>15. Website của Tổng cục Thống kê Việt Nam
16. Website Bộ GD và ĐT.
17. Wesite ĐHQG Hà Nội.
18. Website ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh.
19. Website ĐH Thái Nguyên.
20. Website ĐH Huế.
21. Website ĐH Đà Nẵng.

47 TÀI LIỆU PHÁT TRONG HỘI THẢO



×