Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

CƠ hội và THÁCH THỨC CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH tế ASEAN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (199 KB, 18 trang )

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 6

STT

HỌ VÀ TÊN

MÃ SV

ĐIỂM ĐÁNH GIÁ

1

PHẠM TÚ LINH(Trưởng nhóm)

597485

10

2

NGUYỄN THỊ ÁNH LINH

597269

9

3

NGUYỄN THỊ MỸ LINH

597482



9

4

VŨ CÔNG MẠNH LINH

583063

9

5

NGUYỄN THỊ KHÁNH LINH

573030

Không tham gia

6

NGUYỄN TÙNG LÂM

594614

Không tham gia

1



Mục lục :
I/KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)
1, Lịch sử hình thành cộng đồng kinh tế AEC
2, Các nước thành viên
3, Mục tiêu của AEC
4, Bản chất của AEC
II/ TÓM TẮT MỘT SỐ TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2015
Dẫn nhập
1, Chỉ số kinh tế
2,Một thành phần tổng cầu
3, Một thành phần tổng cung
4, Chính sách kinh tế vĩ mô
Kết luận
III/ Thực trạng kinh tế nội khối ASEAN
1, Thành tựu
2, Khó khăn và thách thức
IV/Cơ hội và thách thức của Doanh Nghiệp Việt Nam khi tham gia khối AEC
1,Cơ hội
2,Thách thức
3,Một số Kiến nghị với nhà nước và doanh nghiệp
V/ Phụ lục
Tài liệu tham khảo
2


I/KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN ECONOMIC
COMMUNITY (AEC)
1, Lịch sử hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
Tại Tuyên bố Tầm nhìn ASEAN 2020 thông qua tháng 12/1997, các nhà lãnh đạo ASEAN
đã định hướng phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN.

Ý tưởng đó được tái khẳng định tại Hội nghị cấp cao ASEAN 9 (tháng 10/2003), thể hiện
trong Tuyên bố Hoà hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II). Theo đó, ASEAN nhất
trí hướng đến mục tiêu hình thành một cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với 3 trụ cột chính là
hợp tác chính trị – an ninh (Cộng đồng an ninh ASEAN – ASC), hợp tác kinh tế (Cộng đồng
Kinh tế ASEAN – AEC) và hợp tác văn hoá xã hội (Cộng đồng Văn hoá Xã hội ASEAN –
ASCC).
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 12 tháng 1/2007 các nước ASEAN đã quyết định rút
ngắn thời hạn hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN từ 2020 xuống 2015. Vì vậy Cộng đồng
AEC đã chính thức được thành lập vào ngày 22/12/2015 và đi vào thực thi ngày 31/12/2015
với sự tham gia của 10 nước thành viên ASEAN.
2, Các nước thành viên
Gồm 10 quốc gia thành viên được liệt kê theo ngày gia nhập:
Các quốc gia sáng lập (ngày 8 tháng 8 năm 1967):
1.
2.
3.
4.
5.

Cộng hoà Indonesia
Liên bang Malaysia
Cộng hoà Philippines
Cộng hòa Singapore
Vương quốc Thái Lan

Các quốc gia gia nhập sau:
1.
2.
3.
4.

5.

Vương quốc Brunei (ngày 8 tháng 1 năm 1984)
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (ngày 28 tháng 7 năm 1995)
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (ngày 23 tháng 7 năm 1997)
Liên bang Myanma (ngày 23 tháng 7 năm 1997)
Vương quốc Campuchia (ngày 30 tháng 4 năm 1999)

3


3, Mục tiêu của AEC

Bốn mục tiêu cũng là bốn yếu tố cấu thành AEC:

Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua: Tự do lưu
chuyển hàng hoá;dịch vụ; đầu tư; vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề.
Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính sách về cạnh
tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và
thương mại điện tử.
Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong
ASEAN.
Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn chặt chẽ trong
đàm phán đối tác và tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu.
4, Bản chất của AEC
-

-


-

Mặc dù được gọi với cái tên “Cộng đồng kinh tế”, AEC thực chất chưa thể được coi là
một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng Kinh tế châu Âu vì AEC chưa có cơ cấu tổ
chức chặt chẽ và những cam kết ràng buộc với lộ trình thực hiện cụ thể.
Là đích hướng tới của các nước ASEAN thông qua việc hiện thực hóa dần dần 4 mục tiêu
trên ( chỉ mục tiêu 1 là được thực hiện tương đối toàn diện và đầy đủ thông qua các hiệp
định và thỏa thuận ràng buộc, các mục tiêu còn lại mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng lộ
trình và thực hiện một số sáng kiến khu vực).
Là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một Thỏa thuận hay Hiệp
định với các cam kết ràng buộc thực chất.
Việc hiện thực hóa AEC đã được triển khai trong cả quá trình dài trước đây (thông qua
việc thực hiện các cam kết tại các Hiệp định cụ thể về thương mại đã ký kết giữa các nước
ASEAN) và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới.

II/ MỘT SỐ TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2015
Dẫn nhập
1, Chỉ số kinh tế
1.1.

Tăng trưởng

Năm 2015 là năm thứ 3 liên tiếp có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn năm trước, đánh dấu
những chuyển biến tích cực của nền kinh tế. Cụ thể tốc độ tăng trưởng kinh tế năm vừa qua
4


ước tính tăng 6,68% so với năm 2014, cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra. Trong đó, quý I tăng
6,12%, quý II tăng 6,47%, quý III tăng 6,87% và quý IV tăng 7,01%. Việc tăng trưởng cao
trong năm nay được cho là do 3 lí do sau:

Thứ nhất, vốn FDI giải ngân cao nhất trong 10 năm qua, tác động tích cực đến tăng trưởng.
Thứ hai, tăng trưởng cao của ngành xây dựng và công nghiệp
Thứ ba, nhu cầu nội địa tăng mạnh, tiêu dùng tăng 9,1% so với cùng kì năm trước đã tạo
động lực cho tăng trưởng.

Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế 2011-2015
(nguồn : Tổng cục thống kê)

Lạm phát

1.2.

Năm 2015 là một năm đánh dấu bước chuyển biến đáng kể khi mức lạm phát bình quân cả
năm (tính theo chỉ số giá tiêu dùng CPI) giảm thấp nhất trong vòng 14 năm qua (ở ngưỡng
0,63% theo Tổng cục Thống kê). Lạm phát cơ bản tăng 2,05% so với năm trước.
Năm 2015, lạm phát tiếp tục đà giảm từ 2014 thông qua các chính sách kiềm chế lạm phát
của Chính phủ kéo dài từ năm 2011 (khi nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng bởi cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới khiến lạm phát đạt đỉnh tại 18,58%) đến nay. Tuy nhiên lí do chính
khiến lạm phát giảm sâu xuống dưới 1% (mức thấp kỉ lục trong 14 năm trở lại đây) là 3
nguyên nhân chính sau:



1.3.

Trong năm 2015, giá dầu đã trải qua tổng cộng 12 lần giảm giá liên tục khiến giá các
mặt hàng, bao gồm cả nguyên liệu thế giới đồng loạt xuống giá.
Chỉ số giá nhóm lương thực năm 2015 giảm 1,06% so với năm 2014 do xuất khẩu gạo
gặp khó khăn đã tác động khiến giá bán buôn, bán lẻ gạo trong nước giảm theo.
Sự thành công trong chính sách tài khóa và quản lí công hiệu quả.

Thất nghiệp

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2015 là 2,31%, cao hơn năm 2014 (2,10%),
năm 2013 (2,18%); trong đó khu vực thành thị là 3,29%, thấp hơn năm 2014 (3,59%), năm
2013 (3,40%); khu vực nông thôn là 1,83%, cao hơn năm 2014 (1,49%), năm 2013 (1,54%).
5


2, Một số thành phần tổng cầu
2.1. Tiêu dùng cá nhân
Tiêu dùng cá nhân đã được cải thiện rõ rệt. Tiêu dùng cuối cùng tăng 9,12% so với năm
2014. Riêng 6 tháng đầu năm tiêu dùng cuối cùng tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2014. Đây là
mức tăng khá cao so với những năm gần đây (2014: 6,2%; 2013: 5,36%). Bên cạnh đó, tiêu
dùng cá nhân chiếm một phần lớn trong GDP.
2.2.Chi tiêu ngân sách
Ngân sách nhà nước thâm hụt 4,27% GDP và nợ công lên tới 61,3% GDP đang trở thành
vấn đề lớn cần giải quyết. Bên cạnh đó cán cân thanh toán năm 2015 cũng có sự biến động thất
thường giữa các quý, thể hiện sự không ổn định của dòng ngoại tệ. Mặt bằnglãi suấtgiảm nhẹ,
tạo điều kiện cho các Tổ chức Tín dụng (TCTD) cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế. Thị
trường chứng khoán có nhiều biến động, mức tăng trưởng không như kì vọng.Chỉ số giá vàng
cũng có xu hướng giảm. Ngược lại, thị trường bất động sản lại có một năm tăng trưởng mạnh,
lượng tồn kho giảm, số lượng giao dịch tăng.

3, Một số thành phần tổng cung
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 ước tính tăng 6,68% so với năm 2014, vượt
kế hoạch so với mục tiêu 6,2% do Quốc hội đề ra và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011 –
2014, cho thấy nền kinh tế phục hồi rõ nét. GDP có xu hướng tăng qua từng quý: GDP quý IV
tăng tới 7,01%, cao hơn mức tăng 6,12% của quý I, 6,47% của quý II và 6,87% trong quý III.
Trong mức tăng trưởng chung: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,41%, thấp hơn
mức 3,44% của năm 2014, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; Khu vực công

nghiệp và xây dựng tăng 9,64%, cao hơn nhiều mức tăng 6,42% của năm trước, đóng góp 3,2
điểm phần trăm, trong đó ngành công nghiệp tăng 9,39% so với năm trước (công nghiệp chế
biến, chế tạo tăng 10,60%), ngành xây dựng tăng 10,82% – mức tăng cao nhất kể từ năm
2010; Khu vực dịch vụ tăng 6,33%, đóng góp 2,43 điểm phần trăm.
4, Chính sách kinh tế vĩ mô
4.1. Chính sách tiền tệ
Lượng tiền cung ứng tiếp tục được điều hành phù hợp theo mục tiêu hỗ trợ ổn định tỷ giá
và thị trường ngoại hối, kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm bảo hài hòa với các mục tiêu giảm
6


lãi suất, tăng tín dụng hợp lý và xử lý nợ xấu. Tổng phương tiện thanh toán đến ngày
21/12/2015 tăng 13,55% so với cuối năm trước, phù hợp với kinh tế vĩ mô, tiền tệ và các giải
pháp điều hành của NHNN. Mặt bằng lãi suất giảm nhưng huy động vốn vẫn tăng (đến ngày
21/12/2015, huy động vốn tăng 13,59% so với cuối năm trước) tạo điều kiện để các TCTD
cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế.
4.2. Chính sách tài khóa
Tổng thu Ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2015 ước tính đạt 884,8
nghìn tỷ đồng, bằng 97,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 657 nghìn tỷ đồng, bằng
102,9%; thu từ dầu thô 62,4 nghìn tỷ đồng, bằng 67,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động
xuất, nhập khẩu 160 nghìn tỷ đồng, bằng 91,4%. Trong thu nội địa, nhiều khoản thu đạt khá và
vượt dự toán năm. Riêng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt
128 nghìn tỷ đồng, bằng 89,8% dự toán năm; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 204,2
nghìn tỷ đồng, bằng 92,5%.
Nhìn chung chính sách tài khóa chặt chẽ, tiết kiệm vẫn được duy trì. Điểm đáng chú ý
trong năm 2015 là nộp thuế và thủ tục hành chính thuế đã được cải cách, đơn giản hóa giúp
tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả thu Ngân sách Nhà nước. Sau 2 năm
thực hiện Nghị quyết số 19 của Chính phủ, số giờ nộp thuế của các doanh nghiệp đã giảm từ
537 giờ/năm, giảm đến 420 giờ và vượt yêu cầu đề ra.
Kết luận

Như vậy, nền kinh tế Việt Nam đã có những dấu hiệu phục hồi, chủ yếu từ tăng trưởng của
ngành xây dựng và công nghiệp, của tiêu dùng cuối cùng gia tăng và vai trò ngày càng quan
trọng của khu vực FDI. Đồng thời, lạm phát được giữ ở mức thấp, cán cân thanh toán tương
đối ổn định, lãi suất ngân hàng giảm mạnh. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang thiếu một số động
lực cơ bản để vượt qua được vùng trũng suy giảm và đạt được tăng trưởng bền vững nhưng
chất lượng tăng trưởng còn thấp, chưa có dấu hiệu cải thiện; tư duy về kinh tế nhà nước chưa
có thay đổi trong thực tế; khu vực FDI mặc dù đang là động lực tăng trưởng ngắn hạn nhưng
đóng góp vào tăng trưởng dài hạn còn rất hạn chế, trong khi khu vực kinh tế trong nước, đặc
biệt là khu vực tư nhân chưa có nhiều cơ hội để phát triển. Bên cạnh đó, hiệu lực chính sách
tiền tệ chưa cao, cơ chế điều hành tỷ giá đang tạo nhiều sức ép đến tỷ giá và nền kinh tế, thâm
hụt ngân sách lớn và rủi ro nợ công đang gia tăng nhanh chóng.
III/ THỰC TRẠNG KINH TẾ NỘI KHỐI ASEAN
1, Thành tựu
7


Kể từ cột mốc thành lập 1967 cho đến nay, vị thế của ASEAN và bộ mặt của từng quốc gia
đã có những thay đổi đáng kể. Nhờ có các chính sách đổi mới và cải tổ lại thể chế của các
nước mà kinh tế của khu vực đã được vực dậy và hồi sinh mạnh mẽ. Điển hình nhất là thương
mại nội khối ASEAN. Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013, tổng giá trị giao thương
giữa các nước cao gấp 3 lần của Mỹ, đạt 607 tỷ USD. Không chỉ thế, dòng vốn đầu tư chảy
vào các quốc gia ngày một nhiều. Nếu như năm 2000 vốn FDI dành cho khu vực này chỉ là
900 triệu USD thì đến năm 2013 con số đó đã tăng lên 21,3 tỷ USD. Lượng khách du lịch
trong khối tăng vọt từ 15,9 triệu người vào năm 2000 đến 39,9 triệu lượt khách vào năm 2013.
Tổng kim ngạch tăng từ 576 tỷ USD năm 1998 lên đến 2476 tỷ USD vào năm 2012, trong đó
các mặt hàng, dịch vụ giao thương nội khối chủ yếu là thực phẩm, nông sản, phụ tùng, linh
kiện và thiết bị điện tử, vật liệu xây dựng, máy móc, hàng thời trang và du lịch.
Về phía Việt Nam, nước ta chủ yếu xuất sang ASEAN các nhóm hàng chủ lực là gạo, dầu
thô, sắt thép,… và nhập khẩu từ ASEAN các mặt hàng như máy vi tính, sản phẩm điện tử và
linh kiện, xăng dầu các loại,… Hiện nay, ASEAN cũng chính là một trong các đối tác thương

mại quan trọng và hàng đầu của Việt Nam, góp phần vào tăng trưởng xuất khẩu nói riêng và
GDP nói chung. So với năm 2005, thương mại hai chiều Việt Nam – ASEAN năm 2014 tăng
xấp xỉ 4 lần, chiếm gần 20% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước. Tốc độ
tăng trưởng xuất khẩu trung bình của Việt Nam sang các nước trong khối giai đoạn 2005 –
2014 đạt 28,4%/năm và nhập khẩu đạt 27%/năm.
Quy mô

Dân số

GDP bình

Tỉ lệ tăng

của nền

(triệu

quân đầu

trưởng

kinh tế

người)

người

qua các

(đô la)


năm (tính

(tỷ đô
la)

theo GDP
thực)
(2013-

ASEAN

2397,5

625,31

3770

2018) (%)
5,64

Brunei

4
16,18

0,42

38,760


3,10

Campuchi

16,20

15,24

1070

7,44

a
8


Indonesia

868,35

250,80

3460

6,18

Lào

11,00


6,78

1620

7,35

Malaysia

313,16

29,72

10538

5,64

Philipin

272,07

98,39

2770

5,94

Singapore

297,94


5,40

55183

4,76

Thái Lan

387,25

67,01

5780

4,49

Việt Nam

170,55

89,71

1901

6,38

Bảng một vài số liệu thống kê kinh tế tổng quát về ASEAN và các nước thành viên
Nguồn: aseaninsight.economist

2, Khó khăn và thách thức

Trước mắt, ngay sau khi AEC – một trong ba trụ cột chính của khối đã chính thức được
thành lập, các quốc gia trong ASEAN vẫn chưa thể giải quyết triệt để những khó khăn còn
tồn tại trước đó để đạt được mục tiêu trong tiến trình hội nhập. Dẫu biết đây là những vấn đề
không thể kết thúc “một sớm, một chiều” song nó chắc chắn sẽ là rào cản ngáng đường, có
thể làm “bể” lộ trình đã vạch ra. Cụ thể chúng là:


Thứ nhất, kết quả hợp tác giữa các nước ASEAN chưa thực sự tạo ra bước phát triển đột
biến trong quan hệ kinh tế thương mại. Mặc dù, thương mại nội khối duy trì ở mức ổn
định 24,3% tổng khối lượng thương mại toàn khu vực nhưng nếu so với của EU – hơn



70% thì mức hội nhập và liên kết giữa các thành viên chưa cao.
Thứ hai, mức chênh lệch phát triển giữa các quốc gia phát triển ASEAN-6 (Brunei,
Indonesia, Thái Lan, Singapore, Malaysia và Philipin) và ASEAN-4 (Việt Nam, Lào,
Campuchia, Myanmar) khá cao, chủ yếu tập trung ở bốn lĩnh vực: kết cấu hạ tầng, thu



nhập, liên kết và thể chế.
Thứ ba, ngoài việc đẩy mạnh hội nhập kinh tế nội khối, các hợp tác của ASEAN kí kết
với đối tác bên ngoài đến nay vẫn chưa nhìn thấy rõ hiệu quả. Tỷ lệ hàng hóa ASEAN

9


tham gia thị trường toàn cầu chỉ ở mức 6% - mức còn “khiêm tốn” nếu so với GDP của
khối.
IV/ CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA DOANH NGHIỆP VN KHI THAM GIA AEC

Năm 2015, nền kinh tế Việt Nam đã có bước chuyển mình quan trọng trong tiến trình gia
nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). AEC ra đời là một bước ngoặt, đánh dấu sự hòa
nhập toàn diện các nền kinh tế Đông Nam Á được định hướng sẽ trở thành một khu vực kinh
tế ổn định và là thị trường thống nhất của 10 nước ASEAN (trong đó có Việt Nam), thúc đẩy
sự lưu thông tự do của hàng hóa, vốn, dịch vụ, đầu tư, lao động có tay nghề trong các nước
với mục tiêu phát triển kinh tế một cách công bằng, các rào cản pháp lý về ngăn cản thương
mại, thu hút đầu tư của một nước ASEAN này trên một nước ASEAN khác được dỡ bỏ,
mang lại cơ hội lớn cho các nước ASEAN thông qua một thị trường rộng lớn và bình đẳng
với 650 triệu dân và tổng GDP mỗi năm khoảng 3.000 tỷ USD. AEC đi vào hoạt động tạo ra
thị trường đơn nhất, thuế suất lưu thông hàng hóa giữa các nước trong khu vực được cắt giảm
dần về 0%. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), khi tham gia vào AEC, kinh tế Việt Nam
sẽ có cơ hội tăng trưởng thêm 14,5%, người tiêu dùng có cơ hội được dùng các loại hàng hóa
tốt hơn, rẻ hơn, dòng vốn ngoại đầu tư vàoViệt Nam hứa hẹn sẽ nhiều hơn. Các doanh nghiệp
(DN) Việt Nam sẽ có thị trường rộng hơn, có thể bán hàng sang các nước ASEAN gần như
bán hàng trong nước.
Nhưng dường như các doanh nghiệp Việt không biết đến những cơ hội mà AEC mang
lại, nó còn quá mới mẻ đối với họ. Cũng như chưa nhận thức được tầm quan trọng của AEC,
thách thức mà AEC đặt ra cho doanh nghiệp nói riêng, cho Việt Nam nói chung.
1,Cơ hội
Thứ nhất, AEC mở ra một khu vực thị trường rộng lớn
Thị trường đầu vào
Với nguyên vật liệu, chi phí trung gian cho thành phẩm: Theo hiệp định thương mại hàng
hóa ASEAN (ATIGA) và các hiệp định thương mại hàng hóa khác mà ASEAN đã ký kết với
Trung Quốc, Hàn Quốc, New Zealand, Ấn Độ, Úc thì hàng ngàn mặt hàng nhập khẩu vào Việt
Nam trong đó có nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị sẽ có mức thuế bằng 0 hoặc rất thấp.
10


Trong khi đó, nước ta đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
gia tăng tỉ trọng sản xuất công nghiệp nên phải cần nhập một khối lượng lớn máy móc, công

nghệ, thiết bị hiện đại từ nước ngoài, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt
Nam.Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp Việt Nam có nhiều lựa chọn hơn với các loại sản
phẩm nhập khẩu như máy móc, thiết bị với chất lượng tốt hơn, hiện đại hơn mà không cần
phải tốn nhiều chi phí, từ đó hạ giá thành sản phẩm, tăng cạnh tranh về giá cho hàng hóa trong
nước và xuất khẩu.
Với lao động, Hiệp định AEC cho phép tư do di chuyển lao động có tay nghề giữa các
quốc gia trong khu vực. Tính đến ngày 31/12/2015 có 8 ngành nghề được phép tự do di
chuyển lao động trong nội khối các nước ASEAN là kế toán, kiến trúc sư, kỹ sư, nha sĩ, bác sĩ,
y tá, vận chuyển và nhân viên ngành du lịch với yêu cầu cao về trình độ chuyên môn, kỹ năng,
kinh nghiệm trong nghề. Như vậy, doanh nghiệp Việt Nam có thể tuyển dụng, lựa chọn được
nguồn nhân lực có chất lượng cao, không chỉ trong nước mà còn ở các quốc gia khác trong
khu vực, từ đó, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, với việc tự do
hóa di chuyển giữa các nước tạo ra những cơ hội cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
cũng như lượng khách hàng tiềm năng dồi dào trong khu vực, đồng thời, các doanh nghiệp
xuất khẩu Việt Nam sẽ được làm việc với một thị trường lao động rộng lớn, cạnh tranh với các
cấp độ kỹ năng chuyên môn khác nhau.
Với nguồn vốn, Một trong bốn mục tiêu quan trọng của AEC là hình thành một thị trường
chung đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, xây dựng thông qua: tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch
vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề. Như vậy, vốn là một nhân tố vô cùng quan trọng để
hình thành nên mục tiêu và muốn thu hút được nhiều vốn từ các nhà đầu tư thì buộc các doanh
nghiệp tại Việt Nam phải đảm bảo các yếu tố môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh, môi
trường pháp lý… Tính đến năm 2015, các nhà đầu tư từ khu vực ASEAN đã đầu tư tại 55/63
tình thành Việt Nam với 2431 dự án có tổng vốn đăng ký đạt 51,8 tỷ USD, chiếm 14,2% số dự
án FDI và trên 21,4% tổng vốn FDI đăng ký tại Việt Nam. Đây là cơ hội rất tốt để các doanh
nghiệp Việt Nam mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng hàng xuất khẩu và
khả năng cạnh tranh ra thị trường nước ngoài, đặc biệt là các sản phẩm của công nghệ chế
biến, chế tạo.
Thị trường đầu ra
Khi gia nhập vào AEC, không chỉ hàng hóa của các nước trong khối vào Việt Nam mà còn
các hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang các nước đều được áp dụng các mức thuế suất ưu

đãi với trên 99% dòng thuế của ASEAN-6 đã về mức 0% theo hiệp định ATIGA. Và ASEAN
là thị trường xuất khẩu thứ 3 của Việt Nam sau EU và Hoa Kỳ. Điều này lại càng khiến cho
11


việc xuất khẩu của Việt Nam sang các nước trong khu vực tăng trưởng ổn định hơn, kim ngạch
xuất khẩu tăng nhanh hơn, nhiều thị trường mới được mở ra như: Thái Lan, Malaysisa,
Singapore… tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Theo số liệu của
Tổng cục Thống kê, 9 tháng đầu năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN của Việt
Nam là 13.724 triệu USD, so với cùng kỳ năm 2014 tăng 5,9 %. Cùng với đó, các thủ tục xuấtnhập khẩu được đơn giản hóa, bớt rườm rà, thực hiện nhanh, tiết kiệm thời gian. Như vậy, việc
ký kết hiệp định AEC giúp cho các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng
tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm, giá thành hạ, nâng cao năng lực cạnh tranh về giá.
Thứ hai, cơ hội đẩy mạnh cải cách, hoàn thiện thể chế kinh tế
Giúp Việt Nam đẩy mạnh cải cách trong nước, đặc biệt là hoàn thiện thể chế kinh tế và
hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế trong bối cảnh mới, cũng như thúc đẩy các DN nâng
cao khả năng cạnh tranh khi gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN. Đồng thời, Việt Nam có cơ
hội đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào nền hành chính điện tử với
việc Hiệp định khung e-ASEAN đã được ký kết bởi các nhà lãnh đạo ASEAN vào tháng
11/2000. Do đó, khuyến khích sự tăng trưởng của thương mại điện tử trong khu vực ASEAN,
tự do hóa thương mại trong các sản phẩm công nghệ thông tin, dịch vụ và đầu tư, và phát triển
một xã hội điện tử trong ASEAN, thúc đẩy xây dựng năng lực để thu hẹp khoảng cách kỹ thuật
số trong từng nước thành viên ASEAN.
Thứ ba, cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam
Khi gia nhập AEC, Việt Nam phải chịu áp lực cạnh tranh từ các đối tác khu vực cả về trình
độ quản lý, KHCN, nguồn nhân lực cho tới các sản phẩm hàng hóa tạo ra. Các nước trong khu
vực có một hệ thống máy móc tiên tiến, quy trình sản xuất hiện đại, nguồn lao động có chuyên
môn, họ sản xuất ra được các sản phẩm có chất lượng, mẫu mã đa dạng, giá thành rẻ, phù hợp
với thị hiếu. Nên sản phẩm của họ rất được ưa chuộng trên thị trường, điều đó có nghĩa,sản
phẩm của Việt Nam có nguy cơ bị đào thải, không được người tiêu dùng sử dụng. Vậy yêu cầu
đặt ra với các doanh nghiệp của Việt Nam là phải tự cải tổ, nâng cao năng lực cạnh tranh

doanh nghiệp thông qua nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phầm để có thể tồn tại.
Thứ tư, AEC mở ra cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Những ưu đãi về tự do di chuyển vốn sẽ gia tăng đầu tư lẫn nhau giữa các nước
ASEAN, môi trường đầu tư của các nước ngày càng được cải thiện theo hướng minh bạch và
bình đẳng hơn, cụ thể: thuế, thủ tục hành chính giảm... từ đó hình thành một môi trường đầu
tư chung có tính cạnh tranh cao trong việc thu hút vốn đầu tư của toàn khu vực. Là một thành
viên trong ASEAN với những nỗ lực trong việc cải thiện môi trường đầu tư, Việt Nam ngày
12


càng thu hút được nhiều các nhà đầu tư không chỉ trong ASEAN mà còn cả các nhà đầu tư
trên khắp thế giới, đặc biệt là các nước đối tác thương mại của ASEAN vào Việt Nam để
tham gia vào chuỗi giá trị khu vực: Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, trong năm 2015, đã có 7 quốc gia trong khu vực ASEAN đầu tư vào Việt Nam là:
Malaysia, Thái Lan, Brunei, Indonesia, Philippine, Singapore và Lào với 197 dự án cấp mới
với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm gần 4 tỉ USD, chiếm 17,6% trong tổng vốn đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam Nam .Như vậy, nguồn vốn FDI của các nước ASEAN vào Việt
Nam ngày càng tăng mạnh, chiếm tỉ trọng cao trong tổng nguồn vốn FDI của nước ngoài vào
Việt Nam, từ đó thấy được các nước trong khối đã có sự quan tâm hơn tới thị trường nước ta.
2,Thách thức
Thứ nhất, thách thức do cơ chế thị trường còn nhiều hạn chế
Do đặc điểm của một nền kinh tế chuyển đổi và kém phát triển, khả năng hoạch định, thực
thi pháp luật tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhiều yếu tố của môi trường kinh doanh chưa
phù hợp với cơ chế thị trường, đồng thời năng lực quản lý còn yếu kém, nhiều thủ tục rườm rà,
tư duy về thị trường còn nhiều hạn chế... dẫn đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế yếu kém
ở cả 3 cấp độ quốc gia, ngành/sản phẩm và doanh nghiệp, gây tốn kém chi phí, thơi gian và
tiền bạc của doanh nghiệp, cản trở sự lớn mạnh của các doanh nghiệp trong nước. Điều đó,
được biểu hiện cụ thể:
Hiện nay, thể chế kinh tế thị trường Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện so với một số nước
trong khu vực, đặc biệt trong chính sách thương mại quốc tế, Việt Nam chưa có nhiều kinh

nghiệm đối phó với các rào cản kỹ thuật mà các đối tác thương mại dựng nên nhằm bảo hộ sản
xuất trong nước. Rào cản phi thuế quan là trở ngại lớn vì đi đôi với xóa bỏ hàng rào thuế quan,
các nước sẽ tìm cách dựng các rào cản phi thuế để bảo vệ sản xuất trong nước.
Ví dụ : một tỷ lệ cao của nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp ô tô phải chịu các
biện pháp phi thương mại như thuế bổ sung và chi phí, cũng như các quy chuẩn kỹ thuật
(Singapore áp đặt), cấp giấy phép nhập khẩu tự động (Brunei và Malaysia sử dụng) và nhập
khẩu không tự động cấp giấy phép (Indonesia và Philippines sử dụng).
Thực tế này cho thấy, cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ khoa học-công
nghệ và năng lực cạnh tranh đang là đòi hỏi cấp thiết đặt ra cho Việt Nam khi gia nhập AEC.
Xếp hạng về thể chế của Việt Nam

13


Xếp
Chỉ tiêu
1
2
3
4
5
năm

Điểm thấp

hạng trên 144 nhất đến cao

Thể chế
Thể chế công
Luật về sở hữu

Chi phí ngoài pháp luật và đút lót cho xuất, nhập khẩu
Chi phí ngoài pháp luật và đút lót cho nộp thuế hàng

Chi phí ngoài pháp luật và đút lót để nhận được kết quả
6
tư pháp thuận lợi
7
Hiệu quả của Chính phủ
8
Gánh nặng của Chính phủ
9
Gánh nặng của quy định của Chính phủ
Tính minh bạch của quá trình soạn thảo chính sách của
1
Chính phủ

nước
92
85
104
109

nhất là (1-7)
3.5
3.5
3.4
3.2

121


2.6

104

3.5

117
91
101

2.9
3.2
3.1

116

3.5

Nguồn: Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2014-2015

Thứ ba, thách thức về chất lượng nguồn nhân lực
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công
nhân kỹ thuật bậc cao. Nếu lấy thang điểm 10 thì chất lượng nhân lực VN chỉ đạt 3,79 điểm,
xếp thứ 11/12 nước châu Á. Do vậy nên năng suất lao động VN thuộc nhóm thấp ở châu Á Thái Bình Dương và bằng 2/5 Thái Lan. AEC mở ra cơ hội tự do di chuyển của lực lượng lao
động, nhưng là lực lượng lao động có tay nghề: được đào tạo chuyên môn hoặc có trình độ đại
học trở lên, thông thạo ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh. Đây sẽ là thách thức rất lớn cho doanh
nghiệp Việt nam khi đầu tư vào các nước ASEAN, do thiếu tay nghề và kỹ năng, cũng như
trình độ tiếng Anh kém.
Những quốc gia giàu có trong khối ASEAN như Thái Lan, Singapore,… với chính sách
lao động, môi trường làm việc, mức đãi ngộ tốt,...sẽ là nơi tập trung đông nguồn nhân lực có

chất lượng cao, còn Việt Nam sẽ phải đối mặt với thực tế là: hiện tượng chảy máu chất xám,
ngày càng thiếu nhân lực chất lượng cao. Do đó, việc cấp bách hiện nay là bên cạnh xây dựng
chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phải có những giải pháp tránh chảy máu chất
xám, chính sách lao động – việc làm và đãi ngộ hợp lý.
14


Thứ tư, thách thức về sự canh tranh của hàng hóa nhập khẩu và sự cạnh tranh của các
nước trong khu vực về xuất khẩu
Trong bối cảnh hội nhập, các nước sẽ mở rộng thị trường xuất khẩu cho hàng hóa của Việt
Nam nhưng đồng thời Việt Nam cũng phải mở cửa cho hàng hóa cạnh tranh của các nước.
Những doanh nghiệp có lợi thế xuất khẩu sẽ ngày càng lớn mạnh hơn, trong khi doanh nghiệp
có khả năng cạnh tranh yếu đối với hàng hóa nhập khẩu sẽ gặp thách thức nghiêm trọng. Hiện
nay, đa số doanh nghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ, năng lực cạnh tranh hạn chế, bước
vào “sân chơi” AEC, các doanh nghiệp Việt Nam đối mặt không ít khó khăn, thách thức các
doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh sẽ phải thu hẹp sản xuất hay thậm chí rút khỏi thị
trường.
Hàng hoá ở các nước thành viên ASEAN sẽ có mức thuế ưu đãi như nhau, khi đó sức cạnh
tranh sẽ tập trung vào chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm. Trong khi đó, với thiết bị,
công nghệ hiện nay, sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam khó có thể cạnh tranh với sản phẩm
xuất khẩu của các nước trong khối. Mặt khác, thị trường ASEAN vốn là thị trường có mức tiêu
dùng cao, không chuộng sản phẩm kém chấtlượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ. Khi ASEAN
thực hiện tự do hóa thương mại với các đối tác như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ,
EU..., các sản phẩm có chất lượng cao của Nhật Bản, Hàn Quốc, EU sẽ có nhiều thuận lợi khi
thâm nhập thị trường ASEAN. Như vậy, sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN sẽ
càng gặp khó khăn hơn.
3,Một số kiến nghị với nhà nước và doanh nghiệp
3.1. Đối với nhà nước





Thứ nhất, Nhà nước cần có những hỗ trợ về thông tin qua các cuộc hội thảo giới thiệu về
thị trường trong ASEAN, giới thiệu những ưu đãi và thuận lợi mà doanh nghiệp VN được
hưởng cũng như những khó khăn mà doanh nghiệp có thể gặp phải nhằm giúp cho doanh
nghiệp định hướng chiến lược phát triển sản phẩm tại các thị trường này.
Thứ hai,Chính phủ cần giao cho các bộ ngành liên quan xây dựng cơ chế tạo lập môi
trường kinh doanh bình đẳng, tiến hành điều tra, phân loại, đánh giá năng lực cạnh tranh
của từng sản phẩm,từng dịch vụ,từng doanh nghiệp, từng địa phương để xây dựng kế
hoạch thiết thực nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của một số hàng hóa dịch vụ nhằm
thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam.Đồng thời,giao cho các bộ,ngành quản lý các
ngành sản xuất xây dựng chiến lược phát triển mạng lưới tiêu thụ sản phẩm bảo đảm lưu
thông trong nước và giữ vững thị trường nội địa cho hàng hóa của mình.

15






Thứ ba,nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp
nhà nước, tư nhân hoạt động trong 12 lĩnh vực ưu tiên của tiến trình AEC. Cần tập trung
cải thiện bộ máy điều hành, nâng cao trình độ sản xuất- kinh doanh của các doanh nghiệp
nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi và ưu đãi cho các doanh nghiệp tư nhân để có
thể cạnh tranh với các doanh nghiệp trong khối ASEAN, bên cạnh đó nên có các chính
sách khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư cho nghiên cứu phát triển hơn, bởi
điều đó sẽ mang lại chuyển giao công nghệ tốt hơn từ đó cạnh tranh cao hơn.
Thứ tư, Nhà nước cần chú trọng đầu tư vốn để phát triển đội ngũ lao động có tay nghề cao
bằng cách liên kết với các đối tác Nước ngoài, cũng như đổi mới chương trình giảng dạy

tại các cơ sở dạy nghề, trường Đại học…Đổi mới chương trình giảng dạy, đặc biệt là với
bậc Đại học, chú trọng thực hành nhiều, cũng như lượt bỏ các môn không cần thiết. Ngoài
ra, cũng nên phổ cập Anh Văn cho toàn bộ các bậc trong hệ thống giáo dục giúp lao động
Việt Nam có thể vượt qua được những rào cản do bất đồng ngôn ngữ mang lại.

3.2. Đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, để nắm bắt cơ hội cũng như tăng trưởng một cách bền vững tại thị trường
ASEAN thì các doanh nghiệp VN cần linh hoạt nhạy bén, sớm nhận diện và nắm bắt cơ hội
tăng trưởng xuất khẩu, nhanh chóng tận dụng những lợi thế và ưu đãi để xúc tiến xuất khẩu
sang thị trường các nước ASEAN như Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Trước mắt, các doanh
nghiệp trong nước cần nỗ lực hơn nữa đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường các nước trong
khu vực này để trong một vài năm tới các doanh nghiệp VN sẽ vừa tăng thị phần vừa giảm
nhập siêu và tiến tới từng bước cân bằng cán cân thương mại trong buôn bán với các quốc gia
thành viên ASEAN.
Thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần chủ
động trong việc nâng cao năng lực kinh doanh phù hợp với điều kiện và môi trường của
Cộng đồng kinh tế ASEAN: tự nỗ lực để đổi mới công nghệ, cải tiến quá trình kinh doanh;
xây dựng thương hiệu dựa trên chất lượng và giá trị gia tăng cao, dần dần dịch chuyển từ
cạnh tranh về giá sang cạnh tranh phi giá; đẩy mạnh quan hệ liên kết và hợp tác giữa các DN,
hình thành chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng trong nước; đầu tư cho nguồn nhân lực và có chính
sách đãi ngộ để thu hút nhân lực chất lượng cao đồng thời đổi mới về quản trị để nâng cao
năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam cần trang bị cho mình những phương thức hiệu quả
trong quản lý rủi ro như hiểu và sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro biến động, nhận
thức và đảm bảo yêu cầu tiêu chuẩn, hàng rào kỹ thuật cũng như vấn đề về ổn định kinh tế vĩ
mô, thay đổi chính sách.
16


Thứ tư, các doanh nghiệp cần tăng cường năng lực cập nhật thông tin và xử lý hiệu quả,

tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, những lĩnh vực tiềm năng và mới như đầu tư phát
triển kết cấu hạ tầng, tăng trưởng xanh. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần nhận thức và đảm
bảo các tiêu chuẩn, các hàng rào kĩ thuật nhất là tại các thị trường phát triển, mở rộng thị
trường xuất khẩu dựa trên các cam kết và lợi thế so sánh, tham gia sản xuất kinh doanh theo
phân khúc, theo mạng, cụm, chuỗi. Đặc biệt các doanh nghiệp phải chuyển dần từ cách thức
cạnh tranh bằng giá sang chú trọng cạnh tranh phi giá gắn với tiêu chuẩn, mẫu mã giao dịch.
Thứ năm, các doanh nghiệp cần đồng hành với Chính phủ thông qua việc tăng cường trao
đổi, đối thoại với các cơ quan Chính phủ, hiệp hội, kịp thời nắm bắt chính sách để thực thi
đồng thời phản ánh những khó khăn trở ngại để các cơ quan chức năng kịp thời điều chỉnh
phù hợp với thực tế và đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp.
V/ PHỤ LỤC
NGUỒN :
 Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) – Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam”

– Bài viết đăng trong tạp chí phát triển và hội nhập của tác giả Trần Văn Hùng, Lê Thị Mai
Hương, MBA Nguyễn Lê Anh
 Trên trang doanhnghiepvn.vn có bài viết: “Vào AEC- thách thức không nhỏ đối với doanh
nghiệp Việt Nam”


Trên trang Đổi mới và phát triển có bài viết: “Cộng đồng kinh tế ASEAN – Cơ hội và thách
thức đối với Việt Nam”.





Tổng cục thống kê
Thông báo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 (2015).
Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính Việt Nam.


17



×