Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

BÀI GIẢNG TRIẾT CHI TIẾT QUY LUẬT THỐNG NHẤT và đấu TRANH GIỮA các mặt đối lập

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (277.7 KB, 25 trang )

BÀI 9
QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH
CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP
----------------------------------MỤC ĐÍCH
- Nhằm trang bị cho các đồng chí những hiểu biết cơ bản về khái niệm "mâu thuẫn biện
chứng"; về nội dung cơ bản của quy luật "thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập" và về các
loại mâu thuẫn.
- Trên cơ sở đó, rút ra ý nghĩa phương pháp luận và ý nghĩa vận dụng của quy luật vào giải
quyết những vấn đề thực tiễn đặc biệt là thực tiễn đã và đang đặt ra.
YÊU CẦU:
-Chấp hành nghiêm quy định học tập.
-Sau bài học, cần:

+Nắm chắc khái niệm mâu thuẫn biện chứng,
+Phân biệt được các loại mâu thuẫn,

+Đặc biệt lưu ý tới nội dung cơ bản của quy luật.
-Kết hợp nghe, ghi chép đầy đủ nội dung, làm cơ sở cho ôn luyện, kiểm tra và vận dụng vào thực
tiễn học tập, rèn luyện tại trường cũng như quá trình công tác sau này.
NỘI DUNG BÀI GIẢNG: Gồm 4 phần lớn:
I. Khái niệm mâu thuẫn biện chứng (01 tiết)
II. Nội dung cơ bản của quy luật (trọng tâm, 02 tiết).
III. Các loại mâu thuẫn (2/3 tiết, khoảng 35-40 phút).
IV. Ý nghĩa phương pháp luận và ý vận dụng (1/3 tiết, khoảng 10-15 phút).
THỜI GIAN TOÀN BÀI: 04 tiết ( khoảng180 phút).
PHƯƠNG PHÁP:
Chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, kết hợp gợi mở nêu vấn đề, tạo điều kiện cho
người học phát huy tính tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập và ôn luyện.
TÀI LIỆU: Có 2 loại tài liệu (tài liệu bắt buộc và tài liệu tham khảo).
*Tài liệu bắt buộc: Triết học Mác-Lênin (phần II), NXB QĐND, 1985.
*Tài liệu tham khảo, gồm:



1.
2.
3.
1

Giáo trình Triết học Mác-Lênin, NXB CTQG, 1999;
C.Mác và Ph.Ăng ghen toàn tập, tập 20, NXB CTQG, 1999;
V.I Lênin toàn tập, tập 29, NXB Tiến Bộ Matxcơva, 1981;
1


4.

Lịch sử phép BCDV (6 tập), NXB CTQG, 1998;

5. Chủ nghĩa DVBC-Lý luận và vận dụng, NXB Sách Giáo khoa Mác-Lênin, 1985;
6. Nguyên lý Triết học mác-xít, NXB Sự Thật, 1962;
7. Văn kiện Đại hội Đảng các khoá VII, VIII, IX, X, XI, XII
***

NỘI DUNG CỤ THỂ CỦA BÀI GIẢNG
Vào bài:

nghiên cứu các phần trước ta thấy

-Trong hệ thống phép DVBC, các quy luật cơ bản giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Mỗi quy
luật phản ánh một mặt cơ bản trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
-Là một trong 3 quy luật cơ bản của phép BCDV, "quy luật thống nhất và đấu tranh của
các mặt đối lập" giữ vai trò “hạt nhân” của phép biện chứng.

Vì sao khẳng định như vậy?
Vì 3 lý do chủ yếu sau:
+ Quy luật vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển;
+ Quy luật “chìa khoá” để hiểu sâu sắc thực chất của các quy luật và các cặp phạm trù cơ
bản của phép BCDV;
+ Quy luật giúp ta đi sâu vào bản chất của các sự vật, hiện tượng và các quá trình…

Sau đây tôi đi vào nội dung cụ thể của bài giảng.
I. KHÁI NIỆM MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG
1. MÂU THUẪN LÀ GÌ ?
Khi bàn về vấn đề này, có rất nhiều quan điểm:
a. Quan điểm phi mác-xít (gồm quan điểm chủ nghĩa duy tâm chủ quan, chủ nghĩa duy
tâm khách quan và quan điểm siêu hình).
* Quan điểm chủ nghĩa duy tâm chủ quan, cho rằng: Mâu thuẫn chỉ có trong tư tưởng,
trong đầu óc con người; còn bản thân sự vật hiện tượng không hề có mâu thuẫn.
Hoặc: Mâu thuẫn của các sự vật hiện tượng là do ý chí, tư tưởng, tinh thần chủ quan của
con người quyết định.
2

2


* Quan điểm chủ nghĩa duy tâm khách quan, cho rằng: Mâu thuẫn của các sự vật hiện
tượng là do “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” quy định.
* Quan điểm duy vật siêu hình: Mặc dù đã thừa nhận nhưng không thấy được mối quan hệ
hữu cơ của các mặt đối lập. Do đó, không xác định được một cách đúng đắn về mâu thuẫn biện
chứng.
Tóm lại: Các quan điểm phi mác-xít đều không nhận thức đúng đắn và đầy đủ về mâu
thuẫn:
+Quan điểm duy tâm chủ quan chỉ thừa nhận có mâu thuẫn trong suy nghĩ, tư tưởng con

người, còn sự vật hiện tượng không hề có mâu thuẫn.
+Quan điểm duy tâm khách quan thì thừa nhận mâu thuẫn có ở các sự vật hiện tượng,
nhưng mâu thuẫn đó do "ý niệm", "ý niệm tuyệt đối" quy định, chứ không phải do sự vận động nội
tại tạo thành một cách tất yếu.
+Quan điểm siêu hình thừa nhận sự vật hiện tượng có mặt đối lập, nhưng giữa chúng
không hề có mối liên hệ nào hết, nên cũng không thể tạo ra mâu thuẫn.
b. Quan điểm mác-xít (quan điểm DVBC) khẳng định và đưa ra khái niệm mâu thuẫn
như sau: “Mâu thuẫn là phạm trù dùng để chỉ hai mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật hiện
tượng, có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau”.
Có 3 điểm chú ý rút ra từ nội dung khái niệm “mâu thuẫn”, đó là:
*Điểm chú ý thứ nhất: Mâu thuẫn trước hết được tạo nên bởi hai mặt đối lập.
Vậy, “mặt đối lập” là gì?
Theo quan điểm chủ nghĩa DVBC: “Mặt đối lập” là những mặt có những đặc điểm,
những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, cùng tồn tại
trong một sự vật.
Ví dụ:
-Phát triển và thoái hoá;
-Đồng hoá và dị hoá:
-Biến dị và di truyền;
-Áp bức và bị áp bức;
-Tư sản và vô sản…
Tóm lại: Mỗi sự vật hiện tượng là một thể thống nhất của các mặt đối lập, các thuộc
tính, các khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tạo nên sự hoàn chỉnh của sự vật.
* Điểm chú ý thứ hai: Các mặt đối lập luôn liên hệ, tác động lẫn nhau, tạo thành mâu
thuẫn biện chứng.
Điểm chú ý này cho thấy:

3

3



+Nội dung chủ yếu, quan trọng nhất của mâu thuẫn không phải ở sự đối lập của các mặt,
các thuộc tính, những tính quy định mà ở sự liên hệ, tác động lẫn nhau một cách thường xuyên
giữa các mặt, các thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau
trong cùng một sự vật hiện tượng.
+Nội dung điểm chú ý này còn nói lên sự khác biệt giữa quan điểm duy vật biện chứng với
quan điểm duy tâm, siêu hình khi bàn về mâu thuẫn.
Ví dụ:
-Quan điểm siêu hình phủ nhận mâu thuẫn bên trong của sự vật hiện tượng, chỉ thừa nhận
mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng với nhau, hoặc chỉ có mâu thuẫn tồn tại trong tư duy (tức
nhận thức không đúng đắn về sự vật hiện tượng thực)
- Quan điểm DVBC khẳng định: Mọi sự vật hiện tượng đều có mâu thuẫn. Mỗi sự vật hiện
tượng là một thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau. Những
mặt đối lập liên hệ, ràng buộc với nhau tạo thành mâu thuẫn.
=>Ý nghĩa biện chứng chính là sự liên hệ, tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau giữa các
mặt đối lập, làm cơ sở cho đấu tranh, bài trừ, chuyển hoá lẫn nhau, tạo nên sự vận động, phát triển
không ngừng của sự vật hiện tượng.
Không đọc:như vậy Thiếu đi mâu thuẫn biện chứng, (tức thiếu đi quá trình đấu tranh giải
quyết các mâu thuẫn bên trong, mà chỉ nhờ vào sự xung đột, đối kháng giữa các sự vật hiện tượng
từ bên ngoài), thì sẽ không có một sự biến đổi, vận động, phát triển nào hết.
*Điểm chú ý thứ ba: Hai mặt đối lập tuy cùng tồn tại trong một sự vật, nhưng vai trò, vị
trí của chúng không ngang bằng nhau; tương quan lực lượng giữa chúng cũng không cố định mà
có thể thay đổi (mặt này là chủ yếu, mặt kia là thứ yếu; một mặt chiếm ưu thế, một mặt không
chiếm ưu thế).
+ Tính chất sự vật do cả hai mặt đối lập quy định, nhưng cơ bản do mặt chủ yếu, mặt
chiếm ưu thế quyết định.
+Sự chuyển hoá lẫn nhau của hai mặt đối lập chính là sự chuyển hoá về vị trí, vai trò của
hai mặt đối lập (lúc này-lúc đang chuyển hoá-mặt A là chủ yếu, mặt A’ là thứ yếu.; lúc khác-lúc đã
chuyển hoá-mặt A’ lại là chủ yếu, mặt A là thứ yếu).

+Có tình trạng hai mặt đối lập tác dụng ngang nhau, cân bằng nhau, song chỉ là tương
đối, tạm thời.
Lênin nói: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập
là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối”
(Lênin toàn tập, tập 29, tr.379, 380 –NXB Tiến Bộ Matxcơva, 1981).
Ví dụ (về sự ngang nhau tạm thời):

4

4


Khi ta ném một vật lên cao, vật đó lúc đầu đi lên, đến một lúc nhất định thì dừng lại, sau đó
đi xuống.
Lý giải:
-Thời gian đầu lực đẩy lớn hơn lực hút.
-Thời gian sau lực hút lớn hơn lực đẩy;
-Khi vật ở điểm cao nhất, lực hút =lực đẩy.
=>Mà theo quy luật, lực nào chiếm ưu thế sẽ quyết định chiều hướng vận động của sự vật.
Ví dụ khác (về lĩnh vực xã hội):
Trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng, có lúc lực
lượng cách mạng mạnh hơn lực lượng phản cách mạng, song cũng có lúc lực lượng phản cách
mạng lại mạnh hơn lực lượng cách mạng (và có lúc tương quan hai lực lượng bằng nhau) =>Phong
trào cách mạng đi lên hay đi xuống phụ thuộc vào tương quan giữa hai lực lượng này.
2. ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA MÂU THUẪN: Mâu thuẫn có ba đặc trưng cơ bản sau:
a. Mâu thuẫn mang tính khách quan: Căn cứ vào nội dung khái niệm (“Mâu thuẫn là
phạm trù dùng để chỉ hai mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật hiện tượng, có mối liên hệ tác
động qua lại lẫn nhau”), ta khẳng định ngay: Mâu thuân mang tính khách quan.
Vì sao mâu thuẫn mang tính khách quan?
Bởi vì: Chủ nghĩa DVBC đã nghiên cứu, khẳng định: Sự vật hiện tượng tồn tại khách

quan. Do đó, mọi thuộc tính, đặc điểm (trong đó có mâu thuẫn) của sự vật hiện tượng cũng mang
tính khách quan.
Ví dụ:
-Bất kỳ sinh vật nào cũng chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi có sự tác động qua lại
giữa đồng hoá và dị hoá (Đồng hoá và dị hoá là hai quá trình diễn ra hoàn toàn khách quan).
-Sự tiến hoá của giống loài không thể có nếu thiếu đi sự tác động qua lại giữa biến dị và di
truyền (Biến dị và di truyền cũng là hai quá trình diễn ra khách quan).
-Tư tưởng, nhận thức của con người không thể phát triển nếu không có sự cọ sát thường
xuyên với thực tiễn, không có sự tranh luận để làm rõ đúng sai (sự cọ sát, sự tranh luận cũng do
khách quan quy định và đòi hỏi).
b. Mâu thuẫn là một hiện tượng phổ biến:
Vì sao là “phổ biến”?
Vì 2 lý do sau đây:
-Sự vật, hiện tượng tồn tại phổ biến. Mỗi sự vật, hiện tượng lại là một thể thống nhất của các mặt
đối lập, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau.

5

5


-Mâu thuẫn là vốn có, tồn tại một cách khách quan trong mọi sự vật, hiện tượng, mọi lĩnh
vực, mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Không có sự vật nào, không có
giai đoạn phát triển nào của sự vật hiện tượng lại không tồn tại mâu thuẫn.
Ăng-ghen viết: “Nếu bản thân sự di động máy móc, giản đơn chứa đựng mâu thuẫn thì tất
nhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt là của sự sống hữu cơ càng phải
chứa đựng mâu thuẫn”.
(Ăng-ghen, “Chống Đuy-rinh”, NXB Sự Thật-1984, trang 202).
Ví dụ về sự tồn tại phổ biến của mâu thuẫn trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy:
-Trong tự nhiên:

+Khoa học đã chứng minh: Mỗi nguyên tử đều bao hàm mâu thuẫn-đó chính là sự tác
động lẫn nhau của các mặt đối lập: Hạt nhân mang điện tích dương và các điện tử bao quanh
mang điện tích âm.
+Trong giới sinh vật, mâu thuẫn thể hiện ở sự liên hệ, tác động lẫn nhau giữa các quá trình
đối lập trong cơ thể sinh vật như: Đồng hoá và dị hoá; biến dị và di truyền.
-Trong xã hội: Mâu thuẫn được thể hiện ở sự đối kháng giai cấp tư sản và vô sản, giữa
thống trị và bị trị, giữa bóc lột và bị bóc lột.
(Ở xã hội tư bản, mâu thuẫn gay gắt và thường xuyên giữa trình độ phát triển cao của
LLSX với QHSX chiếm hữu tư nhân đã lỗi thời và lạc hậu).
-Trong tư duy: Đó là mâu thuẫn giữa chân lý và sai lầm, giữa tư tưởng tiến bộ và tư tưởng
lạc hậu.
-Trong lĩnh vực quân sự cũng có mâu thuẫn: Đó là mâu thuẫn giữa tiến công và phòng ngự,
giữa yêu cầu nhiệm vụ và trình độ, khả năng của cán bộ, chiến sĩ.
Ví dụ:
Mâu thuẫn xảy ra trong quá trình đào tạo tại các nhà trường quân sự, như:
- Ở mỗi học viên, mâu thuẫn diễn ra trong suốt quá trình học tập, rèn luyện là mâu thuẫn
giữa trình độ, khả năng học tập, rèn luyện với mục tiêu, yêu cầu đào tạo.
- Khi mâu thuẫn này được giải quyết (tức sau khi đã tốt nghiệp ra trường), người học viên
đã trở thành sĩ quan, ở người cán bộ sĩ quan lại xuất hiện mâu thuẫn mới-đó là mâu thuẫn giữa
trình độ, năng lực công tác với yêu cầu lãnh đạo, chỉ huy đơn vị.
- Giải quyết xong mâu thuẫn ở cương vị công tác này, người cán bộ sĩ quan phát triển lên
cương vị công tác cao hơn, lại tiếp tục xuất hiện mâu thuẫn mới với yêu cầu nhiệm vụ mới… Quá
trình nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn cứ liên tiếp diễn ra như vậy, giúp cho người cán bộ sĩ quan
liên tục tiến bộ, trưởng thành.
c. Mâu thuẫn có tính đa dạng và phức tạp.
Vì sao mâu thuẫn có tính đa dạng và phức tạp?
6

6



Vì 2 lý do sau đây:
-Thế giới vật chất vốn đa dạng, phức tạp, bao gồm vô số sự vật hiện tượng, nhiều lĩnh vực
và nhiều quá trình khác nhau, mà mâu thuẫn luôn tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng, mọi lĩnh
vực và mọi quá trình một cách khách quan. Do đó mâu thuẫn tất yếu mang tính đa dạng, phức tạp.
-Trình độ, quy mô của sự vật, hiện tượng như thế nào thì đặc điểm, tính chất của mâu
thuẫn như thế ấy.
Ví dụ: Mâu thuẫn trong giới sinh vật (đồng hoá và dị hoá, biến dị và di truyền) khác với
mâu thuẫn trong xã hội (LLSX và QHSX) và cũng không giống với mâu thuẫn trong tư duy (nhận
thức đúng và nhận thức sai, chân lý và sai lầm).
***
PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN HOẶC

XUYÊN TẠC

TÍNH KHÁCH QUAN CỦA MÂU THUẪN
-A-ri-xtôt (384-322 tr.CN-Nhà Triết học cổ Hy Lạp): Ông chỉ thừa nhận mâu thuẫn tồn tại
trong tư duy con người, còn hiện thực khách quan hoàn toàn không chứa đựng mâu thuẫn. Ông
khẳng định: Nếu tư duy có sự mâu thuẫn là tư duy sai lầm, vì hiện thực khách quan vốn không
chứa đựng mâu thuẫn.
-Can-tơ (1724-1804)-Nhà Triết học và bác học Đức: Ông cũng đồng quan điểm với A-rixtôt, chỉ thừa nhận có mâu thuẫn trong tư tưởng lý tính của con người mà phủ nhận mâu thuẫn của
hiện thực khách quan. Ngoài ra, việc giải thích mâu thuẫn của ông mới chỉ dừng lại ở phân tích các
mặt đối lập sau đó kết luận đúng sai, chứ chưa thấy được quá trình nhận thức và giải quyết mâu
thuẫn là động lực của sự phát triển.
-Hê-ghen (1770-1831) - Nhà Triết học Đức, nhà duy tâm khách quan-đại diện của nền
Triết học cổ điển Đức: Mặc dù đã có sự tiến bộ vượt bậc so với các nhà Triết học trước đó và
đương thời về mâu thuẫn và vai trò của mâu thuẫn (ông từng khẳng định: Sự thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực sự phát triển), song do bị chi phối bởi lập trường
và lợi ích giai cấp, nên quan niệm về mâu thuẫn của ông không triệt để.
Biểu hiện: Ông cho, cách giải quyết mâu thuẫn chỉ bằng điều hoà chứ không bằng đấu

tranh của các mặt đối lập. Theo ông, không phải làm cách mạng xã hội (vì ông là đại biểu giai cấp
tư sản, cho nhà nước Đức lúc bấy giờ).
Tóm lại: Dựa trên những thành tựu khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa DVBC đã tìm thấy
nguồn gốc, động lực sự phát triển là ở mâu thuẫn, ở sự đấu tranh của các khuynh hướng, các mặt
đối lập tồn tại trong tất cả các sự vật hiện tượng. Mâu thuẫn là vốn có trong các sự vật, hiện
tượng do kết cấu bên trong của sự vật, hiện tượng quy định, nó tồn tại khách quan, không lệ thuộc
vào ý thức con người, là nguồn gốc, động lực sự vận động, phát triển.
7

7


Vậy nên, trong xem xét, cải tạo sự vật, hiện tượng, chủ thể phải phát hiện ra mâu thuẫn
vốn có của nó để tìm cách giải quyết, chống áp đặt mâu thuẫn.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT
“Thống nhất và đấu tranh là hai trạng thái đối lập của một mâu thuẫn. Sự thống
nhất (trong đấu tranh) của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời, là tiền đề cho sự tồn tại
của mọi sự vật, hiện tượng; sự đấu tranh (trên cơ sở của thống nhất) của các mặt đối lập
là tuyệt đối, vĩnh viễn, là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động, phát triển của
mọi sự vật, hiện tượng”.
1. MỌI SỰ VẬT, HIỆN TƯỢNG ĐỀU LÀ SỰ THỐNG NHẤT CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP:
a,Sự thống nhất của các mặt đối lập là gì?
Là một trạng thái của mâu thuẫn, trong đó các mặt đối lập cùng tồn tại bởi sự ràng buộc,
nương tựa vào nhau trong thế tác dụng ngang nhau và trên cơ sở có sự giống nhau, sự đồng nhất
giữa chúng.
Hay nói cách khác: Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại
không tách rời nhau giữa các mặt đối lập; sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia
làm tiền đề.
Ví dụ: Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản cùng tồn tại trong một chế đô xã hội-chế độ
TBCN.

b. Biểu hiện (gồm 4 biểu hiện):
*Sự thống nhất của các mặt đối lập là một trạng thái đặc biệt của mâu thuẫn. Ở đó
các mặt đối lập tạm thời gác đi sự đối lập để duy trì sự phát triển và làm tiền đề tồn tại cho
nhau (mặt đối lập này phải dựa vào mặt đối lập kia để tồn tại, thiếu mặt đối lập kia thì mặt
đối lập này cũng không thể tồn tại).
Ví dụ:
- Không có lực hút thì không có lực đẩy.
- Không có đồng hoá thì không có dị hoá ( thiếu một trong hai quá trình này thì sinh vật sẽ
chết).
- Trong xã hội tư bản, nếu không có giai cấp vô sản tồn tại với tư cách là một giai cấp bán
sức lao động cho nhà tư bản thì cũng không có giai cấp tư sản tồn tại với tư cách một giai cấp mua
sức lao động của giai cấp vô sản, bóc lột giá trị thặng dư.
*Sự thống nhất của các mặt đối lập được biểu hiện như một thời điểm đặc biệt xuất
hiện trong quá trình phát triển của mâu thuẫn, ở đó tương quan so sánh lực lượng giữa các
mặt là ngang bằng nhau.
Ví dụ:
8

8


+Khi ta ném một vật lên cao, lúc vật đó ở vị trí cao nhất thì lực hút bằng lực đẩy (lúc này
vật đó dừng lại trong khoảng thời gian tuyệt đối ngắn trước khi bị lực hút đất kéo về phía trái
đất).
+Trong xã hội, cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng,
có lúc tương quan hai lực lượng ngang bằng nhau (lúc này phong trào cách mạng tạm thời không
đi lên và cũng không đi xuống).
Về điều này, Lênin viết: “Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của
các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối”. (Lênin toàn tập, tập 29, trang
379-380 NXB Tiến Bộ Mat-xcơva-1981).

*Sự thống nhất của các mặt đối lập được biểu hiện như một trường hợp đặc biệt về sự
đối lập giữa các mặt, đó là việc giữa chúng có những đặc trưng, những yếu tố nào đó giống
nhau, “đồng nhất” với nhau. Đây chính là cơ sở để các mặt đối lập có thể chuyển hoá được
cho nhau.
Ví dụ: Sự thống nhất và đấu tranh của hai mặt đối lập giữa giai cấp vô sản trong cách
mạng dân chủ tư sản. Lúc đầu giai cấp tư sản giữ vai trò chủ yếu, chi phối xu hướng vận động,
phát triển của xã hội, về sau trở thành lực lượng phản động, bảo thủ, kìm hãm sự vận động, phát
triển của xã hội; còn giai cấp vô sản thì phát triển cả về số lượng và chất lượng, trở thành lực
lượng cách mạng đại diện cho PTSX mới, do đó trở thành mặt tích cực, giữ vai trò chủ đạo, quy
định xu hướng phát triển của xã hội.
Chú ý: “Sự đồng nhất”, giống nhau ở đây là: Ở từng thời điểm khác nhau, hai giai cấp tư
sản và vô sản giữ vai trò là lực lượng, là mặt tích cực, quy định xu hướng phát triển, vận động của
xã hội trong các giai đoạn nhất định. Nhưng do thường xuyên phát triển cả về số và chất lượng,
giai cấp vô sản trở thành lực lượng cách mạng đại diện cho PTSX mới, tiến bộ hơn nên tất yếu
chiến thắng giai cấp tư sản và giữ vai trò quyết định xu hướng phát triển của xã hội).
*Thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời, thoáng qua, có điều kiện và
là tiền đề, điều kiện để đấu tranh, phát triển.
Vì sao?
Bởi vì:
-Nó luôn gắn liền với tình trạng đứng im tương đối của của sự vật hiện tượng.
- Nó tạo ra môi trường, địa bàn cho đấu tranh diễn ra.
Chú ý: Cần phân biệt khái niệm “Thống nhất biện chứng” với “Thống nhất” trong lĩnh
vực chính trị-xã hội.
-“Thống nhất biện chứng” nói lên tính chỉnh thể của sự vật, hiện tượng, hay một lĩnh vực,
một quá trình nào đó.
-“Thống nhất” trong lĩnh vực chính trị-xã hội có ý nói lên sự “Quy về một”.
9

9



Ví dụ:
-Đất nước thống nhất, Bắc-Nam liền một dải.
- Mọi học viên đều thống nhất nhận thức về mục tiêu, yêu cầu đào tạo.
-Quân đội đẹp ở tính thống nhất (về ý chí, hành động, lễ tiết tác phong).
Tóm lại: Sự thống nhất của các mặt đối lập là cơ sở cho sự tồn tại của mọi sự vật, hiện
tượng. Không có sự thống nhất thì không có sự tồn tại thực tế của mọi sự vật, hiện tượng.
Ý nghĩa (có 3 ý nghĩa):
-Khi xem xét sự vật phải thừa nhận sự vật như một chỉnh thể thống nhất, nhưng không
được tuyệt đối hoá nó, mà phải tìm ra sự khác nhau, sự đối lập trong sự thống nhất ấy (tức phải
phân tích sự vật để tìm ra mâu thuẫn).
-Phải phân tích mặt đối lập của mâu thuẫn bằng cách phân đôi cái thống nhất thành các
mặt đối lập và phải nhận thức chúng, nhận thức mối quan hệ giữa chúng.
Chú ý:
-Không phải là sự phân đối sự vật trên thực tế mà là phân đôi trong tư duy, suy nghĩ của
con người trong quá trình xem xét, đánh giá, phân tích sự vật hiện tượng.
-Chống sự lợi dụng, xuyên tạc tư tưởng Lênin, rồi đưa ra công thức “1 chia 2” để gây chia
rẽ, mất đoàn kết nội bộ tổ chức đơn vị, hoặc thuyết “2 nhập 1” để đi đến “hoà tan”, thủ tiêu đấu
tranh giai cấp của các thế lực thù địch, phản động, xét lại.
2. MỌI SỰ VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỌI SỰ VẬT, HIỆN TƯỢNG ĐỀU LÀ SỰ
ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP.
a. Sự đấu tranh của các mặt đối lập là gì?
Là một trạng thái của mâu thuẫn. Ở đó các mặt đối lập tác động qua lại theo xu hướng bài
trừ và phủ định lẫn nhau, dẫn đến sự chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng.
b. Biểu hiện (có 4 biểu hiện):
*Sự đẩu tranh của các mặt đối được thể hiện như một quá trình các mặt đối lập lấy
nhau làm đối tượng để thâm nhập vào nhau, làm cho cả mặt này và mặt kia luôn vận động,
biến đổi.
Ví dụ:
+Trong xã hội tư bản, giai cấp tư sản phải lấy giai cấp vô sản làm đối tượng để bóc lột sức

lao động phục vụ cho việc duy trì địa vị và phát triển lực lượng của mình; mặt khác, giai cấp vô
sản (vì không có TLSX) nên phải gắn bó với các công trường, xí nghiệp của nhà tư bản để mưu
sinh, tồn tại. Quá trình quan hệ đó, buộc nhà tư bản phải luôn tìm cách cải tiến máy móc, cải
thiện quan hệ, tăng cường khả năng thích nghi; còn giai cấp vô sản cũng không ngừng tích luỹ tri
thức, kinh nghiệm đấu tranh và trình độ giác ngộ. Như vậy, trong chừng mực nào đó đã tạo ra cả
sự phát triển cho cả hai giai cấp.
10

10


+Quá trình hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế, nhằm khai thác lợi thế của nhau (vốn, công
nghệ, thị trường, nhân lực…) đã tạo điều kiện cho cả hai bên cùng có lợi và phát triển.
+Trong một nước, các thành phần kinh tế hoặc các lĩnh vực sản xuất cũng luôn thâm nhập
vào nhau để phát triển (căn cứ nhu cầu của nhau để xác định loại sản phẩm, tiếp thu công nghệ
của nhau…để phát triển sản xuất).
*Sự đấu tranh của các mặt đối lập được hiểu như một quá trình phá vỡ sự thống nhất
vốn có giữa các mặt đố lập, do việc tăng cường xu hương biến đổi trái ngược nhau giữa
chúng.
Ví dụ: Trong xã hội tư bản với ý nghĩa là một chỉnh thể thống nhất bao gồm hai giai cấp
cơ bản (tư sản và vô sản) cấu thành với PTSX TBCN là đặc trưng dựa trên QHSX chiếm hữu tư
nhân về TLSX. ở đó luôn xảy ra và ngày càng gia tăng trầm trọng mâu thuẫn của hai mặt đối lập:
LLSX phát triển ở trình độ xã hội hoá cao với QHSX chiếm hữu tư nhân về TLSX đã lỗi thời, lạc
hậu, kìm hãm xã hội vận động, phát triển. Sự tất yếu sẽ xảy ra là QHSX cũ đó phải được thay thế
bằng chế độ công hữu. Chủ nghĩa tư bản bị phá vỡ, thay thế vào đó bằng chế độ XHCN tiến bộ.
*Đấu tranh của các mặt đối lập được hiểu như một phương thức giải quyết mâu
thuẫn của sự vật, hiện tượng, bằng việc các mặt đối lập bài trừ và chuyển hoá cho nhau.
Có hai hình thức chuyển hoá cơ bản:
-Chuyển hoá lẫn nhau giữa hai mặt đối lập.
-Cả hai cùng chuyển hoá thành những chất mới.

Ví dụ:
+Thanh nam châm lúc đầu gồm một cực âm và một cực dương. Khi bị gãy đôi, mỗi nửa lại
có một cực âm và một cực dương mới.
+Khi cách mạng XHCN thành công, người lao động trước đây ở vị trí nô lệ nay lên địa vị
mới, làm chủ xã hội.
*Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối, là vĩnh viễn; là nguồn gốc, động lực sự
phát triển của sự vật, hiện tượng.
-Là tuyệt đối, vĩnh viễn, vì: Nó gắn liền với tình trạng vận động tuyệt đối, vĩnh viễn của vật
chất.
-Là động lực sự phát triển, vì: Ở đó mâu thuẫn được giải quyết, sự vật, hiện tượng phát
triển tíến lên.
- Quá trình diễn ra: Từ đồng nhất-> Khác biệt -> Mâu thuẫn -> Mâu thuẫn gay gắt ->
Chuyển hoá -> Sự vật có sự phát triển mới về chất.
Ý nghĩa: Khi xem xét sự vật, không dừng lại ở việc phát hiện mâu thuẫn mà phải tiến hành
giải quyết mâu thuẫn. Song không được tuyệt đối hoá đấu tranh mà xem nhẹ vai trò sự thống nhất.
Vì thống nhất là điều kiện cho đấu tranh. Hai mặt đối lập muốn đấu tranh được với nhau phải
11

11


cùng nằm trong một chỉnh thể thống nhất, phải liên hệ với nhau trong một khoảng thời gian và
không gian nhất định.
Chú ý: Lý do khẳng định đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối, vĩnh viễn vì:
-Nó diễn ra trong suốt quá trình của sự thống nhất. Đấu tranh làm cho thể thống nhất bị
phá vỡ, chuyển sang sự thống nhất mới.
-Trong sự thống nhất mới lại xuất hiện những mặt đối lập mới tiếp tục đấu tranh với
nhau…Vì vậy, sự vật mới liên tục có được sự vận động, phát triển.
3. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC
MẶT ĐỐI LẬP.

a. Sự thống nhất của các mặt đối lập được nói tới là thống nhất trong sự đấu tranh, bao
hàm sự đấu tranh và được tạo dựng bởi đấu tranh. Không có sự thống nhất thuần tuý, tuyệt
đối, tách rời sự đấu tranh.
+Thống nhất của các mặt đối lập là tiền đề cho đấu tranh.
+Thống nhất của các mặt đối lập chỉ là tương đối, tạm thời.
Vì sao như vậy?
Bởi vì: Sự vật, hiện tượng nào cũng chỉ là một chỉnh thể thống nhất tồn tại trong một thời
gian nhất định rồi biến đi ngay, thay bằng sự vật mới, tức một thể thống nhất mới.
Ví dụ:
+Thể thống nhất của xã hội tư bản bao gồm hai giai cấp: Tư sản và vô sản (tạo nên một
chỉnh thể xã hội tư bản). Hai giai cấp này thường xuyên đấu tranh với nhau ngay từ khi vừa mới
ra đời chủ nghĩa tư bản. Nhờ quá trình đấu tranh liên tục đó mà giai cấp vô sản lật đổ giai cấp tư
sản, đánh đổ chủ nghĩa tư bản, cho ra đời một hình thái kinh tế-xã hội cao hơn, đó là hình thái
kinh tế XHCN (nếu thiếu đấu tranh giai cấp thì xã hội sẽ vĩnh viễn không có sự vận động, phát
triển nào hết).
+Sinh vật từ khi ra đời đến khi chết đi là quá trình liên tục diễn ra hiện tượng đồng hoá và
dị hoá.
b. Sự đấu tranh được nói tới là sự đấu tranh trên cơ sở sự thống nhất, trên địa bàn của
sự thống nhất, trong suốt quá trình của sự thống nhất với mục đích phá vỡ sự thống nhất cũ,
thiết lập sự thống nhất mới cao hơn. Không có cuộc đáu tranh chung chung, tách rời nền tảng
của sự thống nhất, đứng ngoài sự thống nhất.
Ví dụ: Giai cấp tư sản đánh đổ chế độ phong kiến, thiết lập chế độ mới TBCN. Giai cấp vô
sản đấu tranh lật đổ chế độ TBCN, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ-chế độ XHCN… Và theo
đó, trong lịch sử không có cuộc đấu tranh nào lại diễn ra chung chung, không nhằm một mục đích
nào đó.
*Tóm lại:
12

12



-Thừa nhận sự thống nhất nhưng không tuyệt đối hoá nó mà phủ nhận sự đấu tranh. Cần
phê phán tư tưởng hữu khuynh trong thực tiễn, dẫn đến điều hoà mâu thuẫn, triệt tiêu động lực sự
phát triển.
-Khẳng định đấu tranh là nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát triển để tiến hành
kiên quyết cuộc đấu tranh nhằm giải quyết mâu thuẫn của sự vật. Song không được tuyệt đối hoá
đấu tranh mà coi nhẹ vai trò của sự thống nhất. Cần phê phán quan điểm "tả -khuynh” trong thực
tiễn, dẫn tới nóng vội, đốt cháy giai đoạn, cuối cùng sẽ rơi vào quan điểm duy tâm, duy ý chí, thất
bại trong hoạt động.
Ý nghĩa: Trong công tác quản lý, chỉ huy, người cán bộ phải luôn sâu sát, nắm chắc tình
hình đơn vị, kịp thời phát hiện và giải quyết có hiệu quả những mâu thuẫn nảy sinh, làm cơ sở
thúc đẩy đơn vị không ngừng phát triển đi lên.
III. MỘT SỐ LỌAI MÂU THUẪN
1. NGUYÊN TẮC XEM XÉT VÀ CĂN CỨ PHÂN LOẠI:
a. Nguyên tắc xem xét: Khi phân tích, xem xét và giải quyết mâu thuẫn phải tuân thủ hệ
thống các phương pháp luận của phép biện chứng duy vật. Trong đó, đặc biệt chú ý tới nguyên
tắc lịch sử –cụ thể.
Vì sao xem xét phải theo nguyên tắc này?
Vì 3 lý do cơ bản sau:
- Phải phân tích một tình hình, một sự vật cụ thể, một mâu thuẫn cụ thể để xác định những
biện pháp cụ thể để giải quyết mâu thuẫn.
- Phân tích cụ thể một mâu thuẫn để thấy được tính riêng biệt của nó trong quan hệ với tính
phổ biến của mâu thuẫn; thấy được vai trò, vị trí của từng loại cũng như của từng mâu thuẫn trong
hệ thống các mâu thuẫn của sự vật.
-Vấn đề có tính nguyên tắc để giải quyết mâu thuẫn là phải sử dụng tổng hợp các biện
pháp, nhưng tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn biện pháp cơ bản, phù hợp và tối
ưu.
b. Căn cứ để phân loại (có 4 căn cứ):
-Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập với một sự cụ thể có: Mâu thuẫn bên trong và mâu
thuẫn bên ngoài.

-Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, các mâu thuẫn được
chia thành: Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
-Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất
định, có: Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu.
-Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập tạo thành mâu thuẫn xã hội, có: Mâu thuẫn đối
kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
13

13


2. CÁC LOẠI MÂU THUẪN:
a. Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài:
– Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt , các khuynh hướng đối lập
nhau của cùng một sự vật.
- Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa những mặt đối lập thuộc các sự vật khác nhau.
Chú ý: Sự phân biệt hai loại mâu thuẫn này chỉ có ý nghĩa tương đối. Có mâu thuẫn trong
mối quan hệ này là mâu thuẫn bên ngoài, nhưng trong mối quan hệ khác lại là mâu thuẫn bên
trong.
Ví dụ:
Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và CNXH là mâu thuẫn bên ngoài xét trong mối quan hệ
giữa nước XHCN với nước TBCN, ĐQCN, nhưng lại là mâu thuẫn bên trong khi xét trong tính
chỉnh thể toàn thế giới.
*Vai trò của mâu thuẫn bên trong và bên ngoài:
-Mâu thuẫn bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự
vật, nó là nguồn gốc, động lực của sự phát triển.
-Mâu thũân bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của sự vật, song mâu thuẫn
bên ngoài phải thông qua mâu thuẫn bên trong mới phát huy được tác dụng.
ý nghĩa:
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải phát hiện và giải quyết mâu thuẫn bên trong

của sự vật, đồng thời không xem nhẹ việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài.
Vận dụng: Trong phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước ta chủ trương kết hợp chặt chẽ nội
lực và ngoại lực, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc
tế, nhằm khắc phục các nguy cơ, tận dụng các cơ hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
b. Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản:
*Mâu thuẫn cơ bản: Là mâu thuẫn qui định bản chất sự vật, qui định sự phát triển trong
tất cả các giai đoạn của sự vật, nó xuất hiện trong suốt quá trình tồn tại của sự vật.
Chú ý:
+ Mâu thuẫn cơ bản là một trong những mâu thuẫn bên trong của sự vật. Khi mâu thuẫn
cơ bản được giải quyết thì bản chất sự vật đã thay đổi.
+ Trong một sự vật hiện tượng phức tạp có thể tồn tại nhiều mâu thuẫn cơ bản, đồng thời
cũng có những mâu thuẫn không cơ bản.
Ví dụ:
+ Mâu thuẫn giữa đồng hoá và dị hoá là mâu thuẫn cơ bản trong sinh vật.
+ Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá cao của LLSX với tính chất chiếm hữu tư nhân về
TLSX là mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản.
14

14


+ Đối với người học viên, mâu thuẫn giữa mục tiêu yêu cầu đào tạo với khả năng học tập là
mâu thuẫn cơ bản.
* Mâu thuẫn không cơ bản: Là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó của sự
vật, nó qui định sự vận động và phát triển của một mặt nào đó của sự vật hiện tượng.
Ví dụ: Đối với người học viên sĩ quan, ngoài mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa mục
tiêu yêu cầu đào tạo với khả năng học tập còn có những mâu thuẫn không cơ bản như: sức khoẻ,
hoàn cảnh gia đình, điều kiện, cơ sở vật chất bảo đảm cho nhiệm vụ học tập.
Ý nghĩa: Trong lĩnh vực đời sống xã hội, việc phân tích mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong lãnh đạo cách mạng, xác định được mâu thuẫn cơ bản là

cơ sở vạch ra đường lối chiến lược cho cách mạng.
Ý nghĩa vận dụng: Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH”, mặc dù Đảng ta không dùng thuật ngữ “Mâu thuẫn cơ bản”, nhưng trình bày như sau:
“Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo con
đường xã hội chủ nghĩa, điều quan trọng nhất là cải biến căn bản tình trạng kinh tế –xã hội kém
phát triển, chiến thắng những lực lượng cản trở đến việc thực hiện mục tiêu đó, trước hết là các
thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và CNXH”- (NXB Sự Thật-Hà Nội-1991, trang 9) => Có
thể coi đây là mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Thực chất đó là mâu thuẫn giữa
hai con đường, nhưng thể hiện ở những nội dung cụ thể hơn.
c. Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu:
- Mâu thuẫn chủ yếu là những mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất
định của sự vật, giải quyết nó sẽ tạo điều kiện để giải quyết các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó.
+ Mâu thuẫn chủ yếu không thay đổi theo điều kiện, hoàn cảnh trong quá trình phát triển
của sự vật.
+ Có mâu thuẫn ở giai đoạn này là chủ yếu nhưng sang giai đoạn khác lại không là chủ yếu
nữa.
+ Mâu thuẫn chủ yếu là biểu hiện của mâu thuẫn cơ bản.
+ Nếu sự vật có nhiều mâu thuẫn cơ bản thì mâu thuẫn chủ yếu là biểu hiện của sự vậ động
tổng hợp của những mâu thuẫn cơ bản trong giai doạn đó.
+ Giải quyết mâu thuẫn chủ yếu là quá trình từng bước giải quyết mâu thuẫn cơ bản.
Ví dụ:
Thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước,
chính là từng bước thực hiện mục tiêu, giải quyết mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ lên
CNXH ở nước ta-đó là mâu thuẫn giữa hai con đường XHCN và TBCN.

15

15



- Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn phát triển nào đó
của sự vật, nó chịu sự chi phối của mâu thuẫn chủ yếu.
*Quan hệ giữa mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu:
Ranh giới của hai loại mâu thuẫn này chỉ là tương đối. Tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể, có
những mâu thuẫn trong điều kiện này là chủ yếu, sang điều kiện khác lại là thứ yếu và ngược lại.
ý nghĩa: Trong tiến trình cách mạng, việc phát hiện ra mâu thuẫn chủ yếu của xã hội trong
từng thời kỳ là vô cùng quan trọng. Nó là cơ sở để xác định kẻ thù trước mắt, đề ra nhiệm vụ trung
tâm cần giải quyết, đưa cách mạng tiến lên.
Bác Hồ dạy: “Bất cứ địa phương nào, cơ quan nào thường trong một lúc có nhiều công
việc trọng yếu . Trong thời gian đó lại có một việc trọng yếu nhất và vài ba việc trọng yếu vừa.
Người lãnh đạo địa phương hoặc cơ quan đó phải xét kỹ hoàn cảnh để mà sứp đặt công việc cho
đúng. Việc chính, gấp thì làm trước, không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào làm
việc ấy, thành thử việc nào cũng là chính, lộn xộn, không ngăn nắp ”…
(Hồ Chí Minh-“Sửa đổi lối làm việc”-NXB Sự Thật-1971, trang 72-73).
d. Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng:
(Chú ý: Đây là mâu thuẫn đặc thù chỉ có trong xã hội).
-Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người có lợi
ích cơ bản đối lập nhau.
Ví dụ:
+Mâu thuẫn giữa giai cấp nô lệ và giai cấp chủ nô;
+Mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ;
+Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.
(Đó là những mâu thuẫn giữa giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột; giai cấp bị trị và giai
cấp thống trị).
-Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản
thống nhất với nhau, chỉ đối lập về những lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời.
Ví dụ:
Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, hay trong nội bộ nhân dân lao
động…
Chú ý:

-Theo quy luật chung, mâu thuẫn đối kháng đòi hỏi giải quyết bằng đấu tranh cách mạng.
- Mâu thuẫn không đối kháng thì biện pháp đấu tranh giải quyết chủ yếu bằng tổ chức
giáo dục, thuyết phục, hành chính, kinh tế, tự phê bình và phê bình…

16

16


+ Phương pháp giải quyết mâu thuẫn xã hội cụ thể là do bản chất khách quancủa mâu
thuẫn quy định.
+ Mặt khác, những điều kiện bên trong và bên ngoài, tương quan lực lượng trong phạm vi
quốc tế và trong nước, phạm vi tác động của mâu thuẫn cũng quy định hình thức, biện pháp cụ thể
của việc giải quyết mâu thuẫn.
Ý nghĩa: Phân biệt mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý nghĩa hết sức quan
trọng, làm cơ sở cho việc lựa chọn hình thức, biện pháp đấu tranh giải quyết đúng đắn, thích hợp,
mang lại kết quả tốt. Mâu thuẫn đối kháng tất nhiên đấu tranh giải quyết khá gay go, phức tạp. Tuy
nhiên, mâu thuẫn không đối kháng nếu không quan tâm giải quyết hay giải quyết sai lầm thì cũng
có thể dẫn đến những tiêu cực xã hôi gay gắt không thể xem thường.
Ý nghĩa vận dụng: Việc xem xét, giải quyết các “điểm nóng” xã hội diễn ra thời gian qua
hoàn toàn không phải là “điều hoà mâu thuẫn”, mà là chúng ta đã lựa chọn, sử dụng đúng đắn hình
thức, biện pháp đấu tranh giải quyết, phù hợp vớp tính chất của mâu thuẫn.
Chú ý: Cần phân biệt rõ “đối lập” với “đối kháng”.
+“Đối lập”: Mang tính chất bộ phận, chỉ những đặc điểm, những thuộc tính, khuynh
hướng vận động, biến đổi trái ngược nhau nói chung của sự vật, hiện tượng diễn ra cả trong tự
nhiên, xã hội và tư duy. "Đối lập" là yếu tố tạo nên mâu thuẫn.
+"Đối kháng”: Tình trạng tạo nên mâu thuẫn về lợi ích, chỉ diễn ra trong xã hội giữa các
giai cấp, tập đoàn người có địa vị khác nhau.
IV. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ Ý NGHĨA VẬN DỤNG
1. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:

– Cần nhận thức tính khách quan của mâu thuẫn, đồng thời phải phân tích toàn diện các
mâu thuẫn của sự vật, các mặt đối lập của mâu thuẫn để nắm được bản chất, khuynh hướng phát
triển của mâu thuẫn.
– Phải biết xác định các hình thức, phương pháp phù hợp để giải quyết mâu thuẫn, chống
thụ động, điều hoà mâu thuẫn, thoả hiệp một cách vô nguyên tắc.
-2. Ý NGHĨA VẬN DỤNG:
-Thực tiễn cách mạng nước ta đặt ra cho Đảng ta không những nhận thức đúng đắn từng
loại mâu thuẫn mà còn vạch ra cách thức giải quyết khoa học nhất. Thực hiện quan điểm “Vừa
hợp tác vừa đâu tranh”, thực chất là nhằm phát triển lực lượng cách mạng đủ mạnh đến mức
chiếm ưu thế, khẳng định con đường, mục tiêu CNXH chứ không phải hợp tác để "hoà tan", đi
theo con đường TBCN như các quan điểm phản động từng xuyên tạc.

17

17


18

18



×