Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
LỜI NÓI ĐẦU
Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường pháp chế Xã
hội chủ nghĩa, ngoài chức năng của Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án thì
Cơ quan Thi hành án giữ một vai trò đặc biệt trong quá trình tố tụng. Mọi phán
quyết của Tòa án chỉ là những quyết định trên giấy và không thể phát huy trên
thực tế nếu không được thi hành đầy đủ và hiệu quả trong quá trình thi hành án.
Trong quá trình thi hành án thì Cơ quan Thi hành án phải sử dụng biện pháp
cưỡng chế là không thể tránh khỏi. Tuy biện pháp cưỡng chế không phải là lựa
chọn đầu tiên được áp dụng trong hoạt động thi hành án nhưng lại có vai trò rất
quan trọng. Trong các nghĩa vụ phải thi hành án thì thi hành nghĩa vụ trả tiền
phổ biến nhất, đồng nghĩa với đó là có nhiều biện pháp cưỡng chế thi hành
nghĩa vụ trả tiền. Điều đó được thể hiện tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự
năm 2008 quy định 06 biện pháp cưỡng chế thì có đến 04 biện pháp cưỡng chế
thi hành nghĩa vụ trả tiền. Chính vì lý do đó mà học viên chọn đề tài "Cưỡng
chế khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án" để làm tiểu luận nghiên
cứu của khóa học.
Hoạt động thi hành án mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giữ
gìn kỷ cương phép nước, củng cố trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc pháp chế
Xã hội chủ nghĩa và đảm bảo quyền lực Tư pháp được thi hành trên thực tế.
Trong đó cưỡng chế thi hành án là một biện pháp nghiêm khắc được Chấp hành
viên áp dụng trong quá trình thi hành án. Điều đó thể hiện việc Cơ quan Thi
hành án, Chấp hành viên sử dụng quyền lực Nhà nước để buộc người phải thi
hành án thi hành nghĩa vụ mà Bản án, quyết định mà Tòa án đã có hiệu lực. Để
góp phần xây dựng pháp chế Xã hội chủ nghĩa, đảm bảo mọi Bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thi hành trên thực tế thì phải được các
Cơ quan, cá nhân, tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh.
Điều 36 Hiếp pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định "Các
Bản án, quyết định của Tòa án Nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được
các Cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang
nhân dân và mọi công dân tôn trọng, những đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
1
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
chấp hành". Và trải qua một chặng đường dài hình thành và phát triển, hoạt
động thi hành án dân sự nước ta đã có nhiều chuyển biến to lớn, pháp luật về thi
hành án dân sự dần được hoàn thiện với sự ra đời của các văn bản pháp luật
như: Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm
1993, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và đặc biệt là Luật Thi hành án
dân sự năm 2008 ra đời đã nâng tầm vai trò và vị thế của Cơ quanh thi hành án
trong hoạt động thi hành án đối với đời sống xã hội.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật
về biện pháp cưỡng chế thi hành án trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
và đối tượng là người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về tiền, tài sản.
Trong đó tập trung nghiên cứu giữa thi hành án nói chung và thi hành án nghĩa
vụ về tiền, tài sản nói riêng mà người phải thi hành án chỉ có nguồn tài sản duy
nhất.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài được áp dụng là: Phương pháp nghiên
cứu lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp...Trên cơ sở đó
để làm rõ cơ sở lý luận của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người
phải thi hành án, nhằm nhận thức đúng đắn hơn về biện pháp cưỡng chế này.
Trên cơ sở nghiên cứu, từ đó tìm ra những vướng mắc trong quá trình áp dụng
pháp luật về biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
Kết cấu của tiểu luận gồm:
- Lời nói đầu.
- Phần nội dung gồm có
I. Khái quát chung về hoạt động thi hành án dân sự;
II. Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án theo
quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
III. Thuận lợi và khó khăn của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của
người phải thi hành án trong thực tiễn;
IV. Bài học kinh nghiệm trong cưỡng chế trừ vào thu nhập của người
phải thi hành án.
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
2
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
- Phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng vì kiến thức của học viên
còn hạn chế nên tiểu luận không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong sự góp
ý của các thầy, cô Học viện Tư pháp để bản thân được hoàn thiện hơn, đúc rút
được nhiều kinh nghiệm trong công tác thi hành án, từ đó áp dụng vào thực tế
công tác thi hành án dân sự sau này được tốt hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
3
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Hc vin T Pháp
2012
Lp Chp hnh viên Khóa 12 năm
PHầN NộI DUNg
I. KHI QUT CHUNG V HOT NG THI HNH N DN
S
1. c trng ca hot ng thi hnh ỏn dõn s.
Hot ng thi hnh ỏn dõn s c cu thnh t ba b phn l Thi hnh
ỏn dõn s, Thi hnh ỏn hỡnh s, Thi hnh ỏn hnh chớnh. S phõn chia ú da
trờn c s ca cỏc nột c thự ca mi loi hot ng: t tng dõn s, t tng
hỡnh s v t tng hnh chớnh. Hot ng Thi hnh ỏn dõn s l hot ng hnh
chớnh - t phỏp. Tuy nhiờn vi c trng l hot ng va mang tớnh hnh
chớnh, va mang yu t t phỏp ch khụng th ch cú riờng tớnh hnh chớnh,
hoc riờng tớnh t phỏp. Cho nờn thi hnh ỏn dõn s l mt hot ng mang tớnh
quyn lc Nh nc, do C quan Thi hnh ỏn dõn s v Chp hnh viờn thc
hin nhm a cỏc Bn ỏn, quyt nh v dõn s ca To ỏn i vo thc tin
cuc sng. Hot ng thi hnh ỏn dõn s trờn thc t khụng tỏch ri quy trỡnh t
tng, ng thi C quan Thi hnh ỏn dõn s luụn gn vi cỏc c quan tin hnh
t tng. Hot ng thi hnh ỏn dõn s c thc hin thụng qua b mỏy c bit
thuc h thng c quan hnh phỏp v da vo cỏc c quan hnh phỏp thc
hin chc nng ca mỡnh, c bit trong hot ng cng ch.
Vy, C quan Thi hnh ỏn dõn s l: C quan Nh nc cú nhim v trc
tip t chc thi hnh cỏc Bn ỏn, Quyt nh cú hiu lc thi hnh theo trỡnh t,
th tc ca phỏp lut Thi hnh ỏn dõn s.
2. Thi hnh ỏn dõn s cú mt s c im sau
Th nht: Thi hnh ỏn dõn s l hot ng mang tớnh quyn lc Nh
nc: Trong ú bao gm nhiu hot ng ca nhiu ch th khỏc nhau thc
hin. Nờn ũi hi s huy ng lc lng khụng ch cỏc c quan hnh chớnh nh
nc m c cỏc c quan t phỏp v b tr t phỏp. Do ú, vic thc hin quyn
lc nh nc hot ng ny l s phi hp gia quyn hnh phỏp v quyn t
phỏp.
Th hai: Thi hnh ỏn dõn s l hot ng cú mc ớch: ú l vic hin
thc hoỏ ý chớ ca Nh nc thụng qua Bn ỏn, quyt nh ca To ỏn v mt
Tiểu luận Cỡng chế khấu trừ thu nhập
4
Hc viờn: Giỏp Vn Thnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
vụ việc dân sự cụ thể vào thực tiễn cuộc sống được quy định tại khoản 2 Điều
20 Luật thi hành án. Hoạt động thi hành án không chỉ nhằm mục đích giữ vững
kỷ cương, phép nước, giá trị của pháp luật mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân, tổ chức là đối tượng trực tiếp được thi hành án. Đồng thời thi
hành án còn phải đảm bảo lợi ích hợp pháp của những người có liên quan đến
đối tượng là tài sản trong quyết định thi hành án đó.
Thứ ba: Thi hành án là hoạt động chủ yếu là thi hành quyết định dân sự,
phần dân sự trong bản án hình sự của Toà án, nên tính chất của quan hệ pháp
luật là quan hệ pháp luật dân sự. Việc thi hành án mang tính chất tự nguyện, tự
định đoạt từ phía người được, phải thi hành án. Do đó, trong quá trình thi hành
án dân sự, Cơ quan Thi hành án luôn luôn chú ý và tôn trọng quyền tự nguyện,
tự định đoạt và tự chịu trách nhiệm về các hành vi thực hiện, không thực hiện
của người được thi hành án trong khuôn khổ của pháp luật.
Thứ tư: Thi hành án dân sự là hoạt động có ý nghĩa trong việc xác định
tính hiệu quả của hoạt động tố tụng. Bởi vì, trong quá trình thi hành án dân sự,
Cơ quan Thi hành án, Chấp hành viên có thể phát hiện ra những sai sót hoặc
nhầm lẫn của Bản án, quyết định của Toà án mà họ đang thi hành thì có quyền
kiến nghị với người có thẩm quyền kháng nghị hoặc yêu cầu tòa án giải thích
khi chưa rõ.
3. Các nguyên tắc trong hoạt động thi hành án dân sự
Thứ nhất: Nguyên tắc công khai, minh bạch
Đây là một nguyên tắc đòi hỏi trong quá trình Cơ quan Thi hành án dân
sự và Chấp hành viên cùng các cơ quan có liên quan phối hợp với nhau tiến
hành thi hành một bản án, quyết định cụ thể phải đảm bảo tính công khai, minh
bạch trong hoạt động.
Thứ hai: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Với đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự là một hoạt động thi hành
pháp luật đặc thù với cách gọi cụ thể là áp dụng pháp luật, hơn lúc nào hết, hoạt
động thi hành án dân sự phải quán triệt và đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội
chủ nghĩa. Có nghĩa là Cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên, các cá
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
5
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
nhân và tổ chức có liên quan phải thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh,
thống nhất và tự giác. Bản án và quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật
phải được tôn trọng thực hiện.
Thứ ba: Nguyên tắc nhân đạo và công bằng
Hoạt động thi hành án dân sự phải được đặt dưới một yêu cầu cơ bản đó
là đảm bảo duy trì tính nhân đạo. Luật Thi hành án không cho phép sử dụng các
biện pháp cưỡng chế kê biên đối với những đương sự đang có những hoàn cảnh
về sức khoẻ, đối tượng chính sách và đặc biệt là về tuổi tác. Không tiến hành kê
biên tài sản với các loại tài sản mà pháp luật không cho kê biên được quy định
tại Điều 87 Luật Thi hành án như: Lượng thực, thuốc men cần thiết, công cụ lao
động và đồ dùng sinh hoạt thông thường của người phải thi hành án. Hơn thế
nữa, nguyên tắc nhân đạo và công bằng cũng không cho phép hoạt động thi
hành án tiến hành khi các đương sự còn có khả năng thoả thuận với nhau. Nhân
đạo và công bằng cũng đòi hỏi hoạt động thi hành án phải khuyến khích được
sự tự nguyện của người phải thi hành án.
Thứ tư: Nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền tự do cơ bản của con
người và công dân
Đó là tôn trọng danh dự, nhân phẩm và quyền tự do của cả người phải và
người được thi hành án cũng như của những cá nhân, tổ chức có liên quan. Hoạt
động thi hành án là hoạt động nhạy cảm, nếu không tuân thủ trình tự thủ tục luật
định sẽ dễ dẫn đến việc vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công
dân và các quyền nhân thân khác như bí mật thư tín, thu nhập, điện thoại, điện
tín của công dân.
Thứ năm: Nguyên tắc đảm bảo sự phân công, phối hợp giữa Cơ quan
Thi hành án và Cơ quan hữu quan
Đây là một trong những nguyên tắc đặc thù của hoạt động thi hành án dân
sự. Bởi lẽ, hiệu quả hoạt động thi hành án chỉ được đảm bảo khi các cơ quan
hữu quan tham gia một cách chủ động và phối hợp với nhau một cách chặt chẽ.
Nhất là với những trường hợp phải sử dụng biện pháp cưỡng chế. Kỷ cương,
phép nước chỉ có thể được khẳng định khi các cơ quan chức năng, các cấp chính
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
6
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
quyền phối hợp một cách hiệu quả trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Đó là sự
chỉ đạo sát sao của Ban chỉ đạo thi hành án, Ủy ban nhân dân các cấp, sự phối
hợp với các đoàn thể, chính quyền cơ sở trong hoạt động thi hành án dân sự.
Thứ sáu: Đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong thi hành án
Nguyên tắc này xuất phát từ đặc trưng của mối quan hệ pháp luật dân sự
được điều chỉnh bởi nguyên tắc tự do, tự nguyện, tự định đoạt và tự chịu trách
nhiệm. Các quyết định dân sự sau khi đã được Toà án phán quyết đương nhiên
là có hiệu lực pháp luật và có giá trị thi hành. Tuy nhiên, có một phần dân sự
trong Bản hình sự, quyêt định về dân sự có được đưa ra thi hành không lại phụ
thuộc chủ yếu và ý chí của người được thi hành án. Trong trường hợp này, Cơ
quan Thi hành án đều phải căn cứ vào đơn yêu cầu của người được thi hành án
để ban hành quyết định thi hành án. Nếu người được thi hành án không có yêu
cầu hoặc quá thời hạn yêu cầu mới yêu cầu thi hành án thì Cơ quan Thi hành án
không có trách nhiệm thi hành. Như vậy, hoạt động của Cơ quan Thi hành án
luôn phụ thuộc nhiều vào ý chí, sự lựa chọn và cách xử sự của đương sự.
4. Khái niệm, nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi
hành án
Bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật có được thi hành
nghiêm chỉnh, dứt điểm hay không, kỷ cương, pháp luật có được tôn trọng, lợi
ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể, của các tổ chức xã hội và mọi công dân
có được đảm bảo hay không phụ thuộc nhiều vào kết quả của việc thi hành án.
Không có cưỡng chế thi hành án dân sự, một số lượng không nhỏ Bản án, Quyết
định chỉ của Tòa án có hiệu lực không được thi hành trên thực tế, vì nhiều
trường hợp đương sự có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện, cố tình
trốn tránh, chây ỳ nghĩa vụ thi hành án.
4.1. Khái niệm cưỡng chế thi hành án
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế bắt buộc do Chấp
hành viên quyết định áp dụng theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự (người
phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo
Bản án, Quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
7
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án hoặc trong
trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản theo
quy định tại Điều 66 Luật Thi hành án.
4.2. Nguyễn tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi hành án là sự sử dụng
quyền lực của Nhà nước để đưa Bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực
được thi hành trên thực tế theo các nguyên tắc do pháp luật Thi hành án dân sự
quy định. Các nguyên tắc đó là:
- Chỉ Chấp hành viên mới có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi
hành án.
Theo nguyên tắc này thì Chấp hành viên là công chức, được nhà nước
giao trách nhiệm tổ chức thi hành các Bản án, quyết định của Tòa có hiệu lực
pháp luật thi hành. Việc áp dụng quy định như vậy vừa để tránh tình trạng các
đối tượng khác lạm dụng việc thi hành án để làm ẩu hoặc gây áp lực với người
phải thi hành án. Mặt khác là để tăng cường tính trách nhiệm cá nhân của
Chấp hành viên khi tổ chức hoạt động thi hành án. Khi thực hiện nhiệm vụ
Chấp hành viên chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và
được pháp luật bảo vệ.
- Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của
người phải thi hành án và các chi phí cần thiết.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chếphải căn cứ vào nội dung Bản án,
quyết định, tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án, điều kiện của người phải
thi hành án và đề nghị của đương sự. Nguyên tắc này đặc biệt áp dụng đối với
người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền.
Vì vậy khi xác minh Chấp hành viên phải thực hiện việc ước giá giá trị
tài sản để áp dụng biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên nguyên tắc này cũng có
ngoại lệ là người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều
nghĩa vụ phải thi hành án hoặc tài sản không thể phân chia, thì Chấp hành viên
vẫn có quyền cưỡng chế đối với tài sản đó. Hoặc có tài sản nhưng tài
santvnhor không đủ chi phí mà chỉ có tài sản duy nhất là nguồn thu nhập từ
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
8
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Hc vin T Pháp
2012
Lp Chp hnh viên Khóa 12 năm
tin lng, tin cụng, tin lng hu hoc tr cp mt sc lao ng v cỏc thu
nhp hp phỏp khỏc.
- Khụng c t chc cng ch thi hnh ỏn trong thi gian m lut
cm.
vic cng ch khụng nh hng ti trt t cụng cng, chớnh tr ti
a phng v vỡ mc ớch nhõn o, tụn trng phong tc truyn thng tt p
ca dõn tc. iu ú c th hin ti khon 2 iu 8 Ngh nh s:
58/2009/N-CP quy nh "Ngoi nhng trng hp do Lut Thi hnh ỏn quy
nh, C quan Thi hnh ỏn dõn s khụng c t chc cng ch thi hnh ỏn
cú huy ng lc lng trong thi gian 15 ngy trc v sau tt Nguyờn ỏn,
cỏc ngy truyn thng i vi cỏc i tng chớnh sỏch, nu h l ngi phi
thi hnh ỏn".
II. BIN PHP CNG CH trừ vào thu nhập của ngời
phải thi hành án THEO QUY NH CA LUT THI HNH N
DN S NM 2008
1. Khỏi quỏt v thi hnh ngha v tr tin
Ngi phi thi hnh ỏn phi thi hnh ngha v tr tin hay cũn gi l
ngha v thanh toỏn l loi ngha v ph bin trong cỏc quan h dõn s, nú
phỏt sinh t quan h hp ng, quan h bi thng thit hi ngoi hp ng v
cho n trỏch nhim thanh toỏn cỏc ngha v ca cụng dõn i vi nh nc.
Chớnh vỡ vy, vic thi hnh ngha v tr tin chim s lng ln trong cỏc
ngha v thi hnh ỏn, bi nhng tranh chp liờn quan n ngha v tr tin phỏt
sinh rt ph bin trong cỏc quan h dõn s thng ngy cng nh hot ng
kinh doanh. Trong thc tin hot ng thi hnh ỏn, loi ngha v ny chim s
lng rt ln ti mt s a phng nh H Ni, TP H Chớ Minh hoc nhng
a phng ang cú nn kinh t phỏt trin. S lng v vic m C quan Thi
hnh ỏn phi ỏp dng bin phỏp cng ch cng chim t l ch yu trong
tng s v vic ỏp dng bin phỏp cng ch. Trong 06 bin phỏp cng ch
thỡ cú n n 04 bin phỏp cng ch thi hnh ỏn liờn quan n ngha v v
tin c quy nh ti iu 71 Lut Thi hnh ỏn nhm núi nờn s bao quỏt, a
Tiểu luận Cỡng chế khấu trừ thu nhập
9
Hc viờn: Giỏp Vn Thnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
dạng về mặt vật chất, sự rộng rãi về mặt không gian hiện hữu, và cả tài sản
hình thành trong tương lai.
Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiển có những đặc điểm riêng
như sau:
- Người phải thi hành án theo bản án, quyết định có nghĩa vụ phải trả
tiền. Nghĩa vụ trả tiền được xác lập bởi bản án, quyết định có hiệu lực thi hành
và việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là để thực hiện những nghĩa vụ trả tiền.
- Đối tượng mà biện pháp cưỡng chế tác động là tiền, tài sản thuộc sở
hữu hợp pháp của người phải thi hành án.
- Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nghĩa vụ trả tiền phải
đảm bảo nguyên tắc tương ứng với nghĩa vụ thi hành án của người phải thi
hành án theo bản án, quyết định.
Các đặc điểm đó được thể hiện tại Điều 8 Nghị định số: 58/2009/NĐ-CP
quy định “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương
ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết”.
2. Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành
án
Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là một trong sáu biện pháp
cưỡng chế được quy định tại khoản 2 Điều 71 và được cụ thể hóa tại Điều 78
Luật Thi hành án. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là việc Chấp
hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, bảo hiểm xã hội
nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ
cấp mất sức lao động và các thu nhập hợp pháp khác chuyển cho Cơ quan Thi
hành án hoặc người được thi hành án một phần hay toàn bộ thu nhập của
người phải thi hành án để thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Bản án, Quyết định
của Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Việc áp dụng
biện pháp này được xác định khi người phải thi hành án có thu nhập tương đối
ổn định và không tự nguyện.
2.1. Điều kiện áp dụng
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
10
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
Tại khoản 2 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định việc
trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong những
trường hợp sau đây:
- Do đương sự thỏa thuận;
- Bản án, Quyết định của tòa án ấn định biện pháp trừ vào thu nhập của
người phải thi hành án để thi hành án;
-Thi hành án các khoản cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ hoặc
khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi
hành án không đủ để thi hành án.
Một đặc điểm nội bật trong hoạt động thực tiễn áp dụng biện pháp
cưỡng chế này là chỉ áp dụng với cá nhân mặc dù trong nội dung điều luật chỉ
quy định chung là người phải thi hành án, mà người phải thi hành án thì bao
gồm cả cá nhân và pháp nhân. Với việc Luật Thi hành án dân sự đưa ra khái
niệm thu nhập nhấn mạnh vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu thì chỉ có
cá nhân mới là đối tượng được hưởng các loại hình thu nhập này chứ không
phải là pháp nhân.
Thu nhập của người thi hành án được Luật Thi hành án quy định bao
gồm: Tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và
thu nhập hợp pháp khác. Các khoản thu nhập khác có thể là khoản thu nhập
của cán bộ, công nhân trong các tổ chức kinh tế, thu nhập của xã viên hợp tác
xã, mà người phải thi hành án được nhận từ một tổ chức, cá nhân quản lý thu
nhập đó.
Việc quy định cụ thể các điều riêng của biện pháp cưỡng chế này là do
tính đặc thù của nó. Vì hậu quả pháp lý của biện pháp cưỡng chế này có thể
gây ảnh hưởng lớn tới bản thân người phải thi hành án và gia đình của họ. Do
khi thu nhập của người phải thi hành án bị giảm, do đó cuộc sống hàng ngày sẽ
bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vì vậy, khoản 3 Điều 78 Luật Thi hành án đã quy
định mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ
cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền người phải thi hành án được nhận
hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với thu nhập
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
11
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án,
nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được
nuôi dưỡng. Việc xác định mức sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án
và người mà người đó có nghĩa vụ nuôi dưỡng, được căn cứ vào điều kiện cụ
thể từng địa phương nơi họ sinh sống và được quy định cụ thể tại khoản 2
Điều 13, Điều 32 Nghị định số: 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính
phủ. Thu nhập của người phải thi hành án được Luật Thi hành án dân sự quy
định bao gồm: tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao
động và thu nhập hợp pháp khác. Các khoản thu nhập khác có thể là khoản thu
nhập của cán bộ, công nhân trong các tổ chức kinh tế, thu nhập của xã viên
hợp tác xã, mà người phải thi hành án được nhận từ tổ chức, cá nhân quản lý
thu nhập đó.
2.2. Nguyên tắc áp dụng
Chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ thu nhập của người phải thi
hành án khi thời hạn tự nguyện đã hết theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành
án. Tức là, sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án nếu xác định được
người phải thi hành án có thu nhập tương đối ổn định mà không tự nguyện thì
Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 45 cũng chỉ
rõ: “ Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán,
hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền
áp dụng ngay các biện pháp quy định tại chương IV Luật thi hành án”.
+ Mức trừ vào thu nhập phải phù hợp với tỷ lệ pháp luật quy định.
- Để đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu theo quy định tại khoản 2
Điều 13 Nghị định số: 58/NĐ-CP ngày 13 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ
quy định “ Mức để lại …phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho người
phải thi hành án và người được nuôi dưỡng. Việc xác định mức…căn cứ vào
chuẩn nghèo áp dụng đối với địa phương nơi họ sinh sống”. Mức trừ theo
khoản 3 Điều 78 Luật Thi hành án cao nhất là 30%, trừ trường hợp đương sự
có thỏa thuận khác. Như vậy, khi áp dụng Chấp hành viên phải tính toán và
quyết định mức trừ nhưng không được quá 30% số tiền mà người phải thi hành
án được nhận hàng tháng.
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
12
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
- Đối với thu nhập hợp pháp khác mà không phải là tiền lương, tiền
công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động thì mức khấu trừ có thể
không bắt buộc phải thấp hơn hoăc bằng 30% thu nhập hàng tháng, tuy nhiên
mức trừ cần căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng
phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho người phải thi hành án và người
được nuôi dưỡng.
+ Việc chỉ xác định được thời gian bất đầu khấu trừ chứ không xác định
được thời gian kết thúc, vì việc tổ chức cưỡng chế kéo dài trong một khoảng
thời gian nhất định, theo phương thức trừ nhiều lần.
Thủ tục áp dụng biện pháp này khá đơn giản, sau khi có đủ căn cứ xác
định các điều kiện chung và riêng được thỏa mãn, Chấp hành viên ban hành
quyết định trừ vào thu nhập và gửi cho đương sự và cơ quan tổ chức, cá nhân
chi trả thu nhập của người phải thi hành án. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng
lao động, Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thi hành quyết định của Chấp hành
viên.
Trong biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền, chỉ có duy nhất
biện pháp cưỡng chế này là quyết định cưỡng chế có hiệu lực áp dụng nhiều
lần. Ví dụ: Để thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng, Chấp hành viên ban hành quyết
định cưỡng chế khấu trừ vào thu nhập và người sử dụng lao động phải khấu
trừ tiền lương hàng tháng của người phải thi hành án để chuyển tiền cho Cơ
quan Thi hành án.
Như vậy, quyết định cưỡng chế có hiệu lực rất dài, có thể lên tới 5, 6
năm hoặc lâu hơn nữa. Quyết định chỉ chấm dứt hiệu lực khi nghĩa vụ đã được
thi hành xong hoặc nguồn thu nhập của người phải thi hành án bị chấm dứt.
2.3. Các loại thu nhập của người phải thi hành án
Theo quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì
thu nhập của người phải thi hành án gồm: Tiền lương, tiền công, tiền lương hưu,
tiền trợ cấp mất sức lao động và các thu nhập hợp pháp khác. Các khoản thu
nhập hợp pháp của người phải thi hành án ngoài tiền lương, tiền công, tiền
lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động có thể là tiền thưởng, tiền phụ cấp
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
13
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
chức vụ… do cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý thu nhập của người phải thi
hành án trả cho người phải thi hành án. Thu nhập khác của người phải thi hành
án trong trường hợp này là những khoản được nhận gắn liền với tiền lương, tiền
công từ các tổ chức, cơ quan, cá nhân đang quản lý thu nhập đó. Trong trường
hợp này chúng ta không được coi việc được nhận một khoản tiền do tặng cho,
thừa kế, trúng sổ số… là khoản thu nhập thường xuyên. Tuy nhiên, những
khoản thu nhập này đều được coi là thu nhập hợp pháp của một cá nhân nhưng
không thể được coi là thu nhập thường xuyên của người phải thi hành án để áp
dụng việc khấu trừ thu nhập của họ. Vì vậy, khi xác minh người phải thi hành
án có tài sản là những khoản tiền trên thì Chấp hành viên không được áp dụng
biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập mà lựa chọn biện pháp cưỡng chế khác
phù hợp với quy định của Luật Thi hành án dân sự, như biện pháp khấu trừ tiền,
thu hồi, xử lý tiền của người phải thi hành án theo khoản 1 Điều 71 Luật Thi
hành án dân sự.
+ Tiền lương
Tiền lương là khoản tiền trả cho cán bộ, công chức làm việc trong các Cơ
quan hành chính Nhà nước, các tổ chức chính trị và chính trị xã hội, được trả từ
ngân sách nhà nước, trả qua hệ thống kế toán tài vụ của cơ quan, tổ chức nơi
cán bộ, công chức đó làm việc. Lương, bảng lương, hệ số lương... đều được thể
hiện rõ trên sổ sách kế toán của cơ quan. Theo quy định của pháp luật hiện
hành, thông thường cứ ba năm cán bộ, công chức sẽ được nâng lương một lần
theo ngạch mà công chức, cán bộ đó đang được hưởng. Như vậy, mức lương sẽ
được tăng lên theo thời gian hoặc khi Nhà nước tăng lương tối thiểu. Ngoài mức
lương chính cán bộ, công chức còn có thể có phụ cấp, chẳng hạn như phụ cấp
chức vụ, phụ cấp nghề nghiệp, phụ cấp vùng miền...
+ Tiền lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động
Tiền lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động là khoản tiền trả cho cán
bộ, công chức đã làm việc trong các Cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị và
chính trị xã hội sau khi đã đủ năm công tác và đã đủ tuổi nghỉ hưu hoặc theo
quy định của pháp luật họ được hưởng theo chế độ hưu trí hoặc mất sức lao
động. Khoản tiền này được nhận từ nguồn ngân sách Nhà nước. Thông thường
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
14
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
khoản tiền này do cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp huyện, thành phố, thị xã quản lý
và chi trả cho người nghỉ hưu hoặc mất sức lao động.
+ Tiền công
Tiền công là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao
động theo sự thỏa thuận hoặc theo hợp đồng lao động,... Ví dụ thu nhập của
người giúp việc, cán bộ, công nhân trong các tổ chức kinh tế, các văn phòng dự
án. Như vậy, tiền công nội hàm của nó rộng hơn và bao hàm cả tiền lương. Tuy
nhiên, từ trước tới nay khái niệm tiền lương thường xuất hiện trong quan hệ lao
động giữa Nhà nước (người sử dụng lao động) và người lao động, nhưng trong
bối cảnh hiện nay các quan hệ lao động đã và đang phát triển mạnh mẽ nó
không chỉ bó hẹp trong quan hệ lao động giữa Nhà nước và người lao động mà
còn là những quan hệ giữa cá nhân (người sử dụng lao động) hoặc tổ chức... với
người lao động. Chính vì vậy, Luật Thi hành án dân sự đã bổ sung khoản tiền
công cũng được coi là nguồn thu nhập tương đối ổn định và Cơ quan Thi hành
án dân sự được áp dụng biện pháp trừ vào tiền công của người phải thi hành án
để thi hành được quy định tại Điều 78 của Luật Thi hành án. Đây là nội dung
mới của Luật Thi hành án dân sự mà trước đây Pháp lệnh Thi hành án dân sự
năm 2004 chưa quy định về nội dung này.
+ Các thu nhập hợp pháp khác
Các thu nhập hợp pháp khác của người phải thi hành án được hiểu theo
nghĩa hẹp là các khoản thu nhập của người phải thi hành án ngoài khoản tiền
lương, tiền công do các cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức đang quản thu nhập chi
trả thêm cho người lao động như tiền thưởng hàng tháng, tiền phụ cấp chức vụ,
phụ cấp độc hại, phụ cấp vùng, miền… Khoản thu nhập này người được thi
hành án được hưởng tương đối thường xuyên, ổn định đang do cá nhân hoặc Cơ
quan, tổ chức nào đó quản lý và chi trả cho người lao động như thu nhập của
công nhân trong các tổ chức kinh tế, các văn phòng dự án...
Thu nhập hợp pháp được hiểu theo nghĩa rộng là khoản thu nhập ngoài
tiền lương, tiền công, thu nhập hợp pháp của một người có thể từ nhiều nguồn
thu khác nhau như, tài sản được tặng cho, do được thừa kế, hoặc do trúng sổ số
kiến thiết… nhưng những nguồn thu nhập này Chấp hành viên không được áp
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
15
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án mà phải
lựa chọn biện pháp cưỡng chế khác vì đây là những khoản thu nhập không
thường xuyên của người phải thi hành án.
3. Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ thu nhập
của người phải thi hành án
3.1. Xác minh điều kiện thi hành án .
Sau khi được phân công tổ chức thi hành quyết định thi hành án có
khoản phải trả tiền, Chấp hành viên trước tiên phải tiến hành các thủ tục cần
thiết và vận dụng các hiểu biết về pháp luật, đương sự cũng như phối hợp với
toàn thể hệ thống chính trị tại địa phương để vận động người phải thi hành án
tự nguyện thi hành. Sau khi việc giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án
tự nguyện không có kết quả, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều
kiện của người phải thi hành án. Xác minh trong thi hành án dân sự là hoạt
động không thể thiếu trong các hoạt động chuyên môn thi hành án. Mục đích
của xác minh là giải quyết hồ sơ thi hành án cho đúng pháp luật bảo đảm
quyền và nghĩa vụ của các bên. Đối với việc thi hành án trong trường hợp này
công tác xác minh cần áp dụng trong các trường hợp sau:
Cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án so với những biện
pháp cưỡng chế khác là tương đối “nhẹ nhàng”. Tuy nhiên, để thực hiện được
việc trừ vào thu nhập thành công, Chấp hành viên cũng cần xác minh tình trạng
nhân thân của người phải thi hành án.
Xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án là trách nhiệm
của Chấp hành viên được quy định tại Điều 20 Luật Thi hành án dân sự. Để trừ
vào thu nhập của người phải thi hành án với các điều kiện phân tích ở trên thì
Chấp hành viên lưu ý khi xác minh các trường hợp sau:
- Đối với trường hợp thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng, hoặc theo thỏa thuận
của các đương sự hoặc bản án, quyết định đã ấn định trừ vào thu nhập hoặc tài
sản phải thi hành án không lớn. Chấp hành viên chỉ tiến hành xác minh người
phải thi hành án có thu nhập thường xuyên hay không? Trong trường hợp người
phải thi hành án vừa có thu nhập thường xuyên vừa có các tài sản khác (động
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
16
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
sản hoặc bất động sản) thì Chấp hành viên vẫn ra ngay được quyết định trừ vào
thu nhập của người phải thi hành án khi người phải thi hành án không tự nguyện
thi hành.
- Đối với các trường hợp thi hành nghĩa vụ khác: Nội dung xác minh về
điều kiện thi hành án của người phải thi hành án phải gồm hai nội dung: Đó là
người phải thi hành án không có tài sản nào để thi hành án hoặc có tài sản
nhưng tài sản đó có giá trị nhỏ không đủ để thi hành án và người phải thi hành
án phải có thu nhập thường xuyên.
Để áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi
hành án, Chấp hành viên phải trực tiếp tiến hành xác minh điều kiện thi hành án
của người phải thi hành án. Khi xác minh về thu nhập của người phải thi hành
án, Chấp hành viên cần tập trung vào một số nội dung chính sau: Tổng số tiền
thu nhập hàng tháng là bao nhiêu? Ai là người đang trực tiếp quản lý các nguồn
thu nhập đó? Thời gian mà người phải thi hành án được nhận các khoản thu
nhập đó?
Việc xác minh thu nhập của người phải thi hành án do Chấp hành viên
tiến hành trực tiếp tại nơi người phải thi hành án làm việc (cơ quan, tổ chức, xí
nghiệp...) hoặc nơi sinh sống, cư trú, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người
phải thi hành án (Ủy ban nhân dân cấp xã, Bảo hiểm xã hội cấp huyện nơi người
phải thi hành án cư trú hoặc có hộ khẩu thường trú). Chấp hành viên cũng có thể
xác minh bằng hình thức gửi văn bản yêu cầu Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang
quản lý thu nhập của người phải thi hành án cung cấp các thông tin cần thiết
liên quan đến thu nhập của người phải thi hành án. Văn bản trả lời của cơ quan,
tổ chức, xí nghiệp, cá nhân đang quản lý thu nhập của người phải thi hành án có
giá trị pháp lý và là cơ sở để Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ
vào thu nhập của người phải thi hành án.
Khi tiến hành xác minh tại Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý thu
nhập của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải trực tiếp gặp những
người có trách nhiệm như: Thủ trưởng cơ quan, kế toán trưởng… để xác minh
thu nhập của người phải thi hành án. Kết thúc việc xác minh, Chấp hành viên
phải lập biên bản xác minh có đầy đủ chữ ký của người cung cấp thông tin và
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
17
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
những người tham gia và phải đóng dấu của Cơ quan, tổ chức đó. Trong quá
trình xác minh, Chấp hành viên cũng có thể thông báo thời gian, địa điểm xác
minh và yêu cầu người phải thi hành án có mặt để xác nhận nguồn thu nhập
thực tế của họ và yêu cầu người phải thi hành án ký vào biên bản.
Khi xác minh, Chấp hành viên nên thông báo trước về thời gian, nội
dung làm việc cho cơ quan, tổ chức, xí nghiệp, cá nhân đang quản lý thu nhập
để buổi xác minh đạt hiệu quả.
Việc yêu cầu người phải thi hành án có mặt tại buổi xác minh này là việc
làm không bắt buộc. Vì vậy, tùy từng vụ việc cụ thể chấp hành viên có thể yêu
cầu hoặc không yêu cầu người phải thi hành án có mặt tại buổi xác minh.
Trong thực tế, khi xác minh thu nhập của người phải thi hành án, Cơ
quan Thi hành án đã gặp trường hợp Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý thu
nhập của người phải thi hành án từ chối cung cấp những thông tin về thu nhập
của người phải thi hành án. Trong trường hợp này Chấp hành viên cần phải vận
dụng các quy định của pháp luật, kiên trì giải thích, thuyết phục để họ hiểu được
trách nhiệm của họ là phải cung cấp thông tin cho Cơ quan Thi hành án.
Trong trường hợp người phải thi hành án có mức lương hoặc mức thu
nhập thấp chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người phải thi hành án và gia
đình hoặc không có tài sản nào khác tại thời điểm xác minh hoặc tuy có tài sản
nhưng tài sản có giá trị nhỏ không đủ chi phí về thi hành án. Trường hợp này thì
Chấp hành viên đề xuất với Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án ra Quyết định trả
đơn yêu cầu thi hành án theo Điều 51 Luật Thi hành án dân sự, hoặc ra Quyết
định hoãn thi hành án theo điểm c khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự nếu
là khoản nộp ngân sách Nhà nước.
Trường hợp xác định người phải thi hành án có thu nhập và mức thu nhập
đó có thể khấu trừ để thi hành án, thì Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế
bằng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án và tiến hành thực
hiện quyết định đó.
3.2. Ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
18
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
Nội dung quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án thi hành
án, Chấp hành viên phải đúng biểu mẫu được quy định tại thông tư số:
09/2011/TT-BTP ngày 30 tháng 5 năm 2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành
và hướng dẫn việc quản lý, sử dụng các loại biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án dân
sự.
Quyết định gồm những nội dung chính sau đây:
- Phần căn cứ ra quyết định: khoản 5 Điều 20, khoản 2 Điều 71, Điều 78
Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Bản án, Quyết định số, ngày, tháng, năm
của Tòa án nào; Quyết định thi hành án số, ngày, tháng, năm của Cục trưởng
hay Chi cục trưởng.
- Phần nội dung Quyết định:
+ Biện pháp thực hiện: Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, tên,
địa chỉ của người phải thi hành án, số tiền trừ, Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang
quản lý số tiền thu nhập của người phải thi hành án có trách nhiệm khấu trừ số
tiền đúng như trong nội dung Quyết định để thi hành án;
+ Xác định Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành Quyết
định;
+ Ngày có hiệu lực của quyết định;
- Phần cuối quyết định;
+ Nơi nhận;
+ Chấp hành viên ký tên và đóng dấu.
Trong trường hợp này thông thường Chấp hành viên chỉ xác định được
thời điểm bắt đầu trừ, còn thời điểm kết thúc khấu trừ (đến thời gian nào) thì
khó có thể xác định được cho nên Chấp hành viên nên ghi là “đến khi thi hành
án xong khoản nghĩa vụ trong bản án, quyết định”.
3.3. Thi hành quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành
án
Thông thường các Quyết định cưỡng chế đã được ban hành phải được Cơ
quan Thi hành án chuẩn bị rất chu đáo, tỉ mỉ như: xây dựng kế hoạch cưỡng chế,
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
19
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
xác minh... nhưng do đặc thù của biện pháp cưỡng chế này thuộc loại cưỡng chế
không cần phải huy động lực lượng bảo vệ vì người phải thi hành án là người
không trực tiếp quản lý tài sản thi hành án. Mà tài sản thi hành án đang do
người thứ ba quản lý (có thể là Cơ quan Nhà nước, có thể là các tổ chức xã hội
hoặc chủ sử dụng lao động). Vì vậy, Chấp hành viên không nhất thiết phải xây
dựng kế hoạch cưỡng chế theo quy định tại Điều 72 Luật Thi hành án.
Việc thực hiện Quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi
hành án chính là việc tổ chức giao quyết định cưỡng chế cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân đang quản lý thu nhập của người phải thi hành án và yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân đó thực hiện quyết định khấu trừ tiền của người phải thi hành
án để thi hành. Việc giao Quyết định thường được tiến hành tại trụ sở của cơ
quan, tổ chức, cá nhân quản lý thu nhập của người phải thi hành án. Ngoài ra,
Quyết định này còn được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, người được
thi hành án, người phải thi hành án theo quy định tại Điều 38 và Điều 39 Luật
Thi hành án dân sự năm 2008.
Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội nơi
người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp
và các thu nhập hợp pháp khác khi nhận được Quyết định cưỡng chế trừ vào thu
nhập của Chấp hành viên phải có trách nhiệm thực hiện quyết định đó theo đúng
các nội dung của quyết định đó.
Tại khoản 4 Điều 78 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 không quy định
cụ thể mà chỉ quy định:
“Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người
phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các
thu nhập khác có trách nhiệm thực hiện các quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều
78 Luật Thi hành án dân sự”.
Tuy không quy định cụ thể về thời gian thực hiện quyết định, nhưng theo
quy định của Luật Thi hành án dân sự thì đã quy định trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức, người sử dụng lao động thực hiện đúng các nội dung trong quyết
định trừ vào thu nhập của Chấp hành viên đã ban hành. Trách nhiệm phối hợp
của Cơ quan, tổ chức, cá nhân với Cơ quan Thi hành án, Chấp hành viên thi
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
20
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
hành quyết định trừ vào thu nhập của Chấp hành viên còn được quy định tại
Điều 11 và Điều 177 Luật Thi hành án.
Trên thực tế, một số trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý
thu nhập của người phải thi hành án có thể chuyển trực tiếp số tiền khấu trừ cho
người được thi hành án theo Quyết định khấu trừ thu nhập. Đó là, loại việc thi
hành án về cấp dưỡng (loại việc không phải thu phí thi hành án), việc chuyển
tiền trực tiếp cho người phải thi hành án của các cơ quan, tổ chức, người sử
dụng lao động đã tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều cho người được thi hành. Vì
vậy, tùy từng trường hợp cụ thể mà Chấp hành viên có thể lựa chọn biện pháp
thực hiện chuyển tiền cho Cơ quan Thi hành án dân sự hoặc chuyển tiền cho
người được thi hành để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người được thi hành án
mà không trái với quy định của pháp luật.
III. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ
TRỪ VÀO THU NHẬP CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN TRONG
THỰC TIỄN
1. Một số tình huống thực tiễn
Việc ban hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã tạo ra nhiều thuận
lợi trong áp dụng pháp luật và nâng cao vai trò của Chấp hành viên. Sau chặng
đường dài hình thành và phát triển ngành thi hành án cho đến khi có Luật Thi
hành án năm 2008 thì giải quyết việc thi hành án gặp không ít khó khăn, do
vướng mắc về thủ tục, do không có một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao
là Luật. Luật thi hành án năm 2008 là công cụ đắc lực được Nhà nước trang bị
cho Cơ quan Thi hành án để chuyển hóa ý chí của Nhà nước cho việc đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ về dân sự. Và sau hơn 2
năm thực hiện Luật đã và đang được chuyển hóa vào cuộc sống, lần đầu chúng
ta có một văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất, điều chỉnh một lĩnh vực bức xúc
hiện nay, nhiều những quy định mới thay thế các quy định thiếu tính khả thi
trước đây, khắc phục được các tư duy lối mòn đặc biệt là thiếu chế tài đủ mạnh
để thi hành cho nên gây ra tình trạng tồn đọng án ngày càng tăng.
Mặc dù có nhiều thuận lợi nhưng quá trình thực hiện nhiệm vụ, Cơ quan
Thi hành án cũng gặp không ít khó khăn nhất là trong công tác phối hợp với các
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
21
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
cơ quan hữu quan. Sau đây là một số tình huống cụ thể về việc cưỡng chế thi
hành án khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án trong thực tế.
Tình huống 1:
Bản án số: 02/2010/DSST ngày 01/02/2010 của Tòa án nhân dân huyện
Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tuyên buộc:
Bà Nguyễn Thị Hiệp, sinh năm 1957, trú quán Phố Gia Lâm - thị trấn Bố
Hạ - huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang phải trả cho ông Vũ Văn Độ, sinh năm
1943, trú tại Phố Gia Lâm - thị trấn Bố Hạ - huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang số
tiền 18.480.700 đồng và lãi suất chậm thi hành án.
Ngày 01/4/2010, ông Vũ Văn Độ gửi đơn yêu cầu thi hành án đề nghị Cơ
quan Thi hành án buộc bà Nguyễn Thị Hiệp phải trả nợ cho ông. Theo đơn yêu
cầu ông cung cấp thông tin bà Nguyễn Thị Hiệp đang công tác tại Bưu điện Bố
Hạ - huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ vào đơn yêu cầu thi hành án của ông Độ, ngày 02/4/2010 Chi cục
trưởng chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế đã ra Quyết định thi hành án
số: 182/QĐ-CCTHA và giao Chấp hành viên tổ chức thi hành. Chấp hành viên
đã ra Giấy báo tự nguyện thi hành án số: 115/GB- THA ngày 02/4/2010. Ngày
04/4/2010 Chấp hành viên đã tống đạt Quyết định và Giấy báo tự nguyên nói
trên cho bà Hiệp. Đã hết thời gian tự nguyện thi hành án nhưng bà Hiệp không
tự nguyện thi hành.
Sau khi xác minh lại các thông tin do đương sự cung cấp cũng như xác
minh tại Bưu Điện huyện Yên Thế thì được bà Nguyễn Thị Kim Thúy- phó
Giám đốc phụ trách Bưu điện huyện Yên Thế cho biết trước bà Hiệp là cán bộ
của Bưu Điện và được phân công công tác tại Bưu điện Bố Hạ. Hiện bà Hiệp
đã được nghỉ hưu trước tuổi. Chấp hành viên xác định bà Hiệp chỉ có điều kiện
thi hành án duy nhất là nguồn thu nhập từ lương hưu do Bảo hiểm xã hội huyện
Yên Thế đang chi trả là 1.800.000đ/tháng. Xác định bà Hiệp không phải chu
cấp hoặc nuôi dưỡng ai vì chồng bà cũng là cán bộ nghỉ hưu có lương và các
con cũng đã trưởng thành, cũng như căc cứ vào các quy định của pháp luật
khác.
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
22
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
Ngày 22/5/2010 Chấp hành viên ra Quyết định cưỡng chế " Khấu trừ thu
nhập của người phải thi hành án” số: 04/QĐ - CCTHA. Chấp hành viên đã
thông báo hợp lệ cho bà Hiệp và Bưu điện huyện Yên Thế để thực hiện việc
khấu trừ tiền lương của bà Hiệp số tiền 540.000 đồng/tháng kể từ ngày
01/6/2010.
Để đảm bảo thuận lợi cho việc phối hợp thi hành án, Chấp hành viên đề
nghị Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án ra Công văn đề nghị phối hợp thi hành án
gửi Bảo hiểm xã hội huyện Yên Thế. Ngày 27/5/2010 Chi cục trưởng Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Yên Thế có Công văn số: 101/CV- THA về việc phối
hợp thi hành án theo quy định của pháp luật. Sau khi Bảo hiểm xã hội huyện
Yên Thế làm việc với bà Hiệp và bà Hiệp đồng ý việc khấu trừ thu nhập của
mình để thi hành án và việc khấu trừ theo Quyết định được tiến hành thuận lợi
cho đến hôm nay.
Tình huống 2:
Theo bản án số hình sự sơ thẩm số: 75/2009/HSST ngày 12 tháng 5 năm
2009 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế thì ông Nguyễn Văn Vũ, trú tại bản
Trại Lốt, xã Tam Tiến, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang phải bồi thường cho chị
Trần Thị Dung, trú tại Đền Cô, xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
số tiền 11.200.000đồng.
Ngày 17/6/2009 bà Dung có đơn yêu cầu thi hành án gửi đên Chi cục thi
hành án Yên Thế, căn cứ vào đơn yêu cầu của bà Dung ngày 20/6/2009 Chi cục
thi hành án dan sự huyện Yên Thế ra Quyết định thi hành án số: 357/QĐCCTHA. Trong quá trình thi hành án, Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Yên Thế đã tiến hành các thủ tục tống đạt Quyết định thi hành án, đôn
đốc, giáo dục, thuyết phục ông Vũ tự nguyện thi hành nhưng ông Vũ không tự
nguyện, luôn có thái độ chống đối, chây ỳ không phối hợp với Cơ quan Thi
hành án. Chấp hành viên đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của ông
Vũ và qua xác minh của Chấp hành viên cho thấy ông Vũ đang sống chung với
con trai tại bản Trại Lốt, xã Tam Tiến, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, ông Vũ
không có tài sản gì có giá trị lớn; ông Vũ là cán bộ hạt quản lý giao thông
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
23
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
đường bộ huyện Yên Thế đã về hưu, tiền lương hưu hiện hưởng là
4.300.000đồng/tháng do Bảo hiểm xã hội huyện Yên Thế quản lý và chi trả.
Sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên đã ra Quyết
định cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án số: 13/QĐCCTHA ngày 21/7/2009, mức trừ là 30% thu nhập hàng tháng của ông Vũ cho
đến khi trừ đủ số tiền nói trên. Quyết định cưỡng chế đã được tống đạt hợp lệ
cho ông Vũ và Bảo hiểm xã hội huyện Yên Thế. Bảo hiểm xã hội huyện Yên
Thế có trách nhiệm khấu trừ số tiền bằng 30% trên tổng số tiền 4.300.000đ mà
ông Vũ được hưởng hàng tháng để Cơ quan Thi hành án thu và chi trả cho
người được thi hành án. Bảo hiểm xã hội huyện Yên Thế nhận quyết định
nhưng không thực hiện việc khấu trừ tiền lương hưu hàng tháng của ông Vũ với
lý do phải chờ xin ý kiến chỉ đạo của Bảo hiểm xã hội tỉnh vì chưa có hướng
dẫn thống nhất của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về vấn đề này.
Căn cứ vào các quy định tại Điều 11 và 177 Luật Thi hành án năm 2008
về việc phối hợp giữa Cơ quan hữu quan với Cơ quan Thi hành án, Chấp hành
viên trong công tác phối hợp thi hành án. Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Yên Thế đã ban hành công văn số: 42/CCTHA ngày 30/7/2009
gửi Bảo hiểm xã hội huyện Yên Thế. Đến ngày 30 tháng 12 năm 2010 Bảo
hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành Công văn số: 5847/BHXH-BC hướng dẫn
việc khấu trừ tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng của người
hưởng để thi hành án dân sự. Căn cứ vào công văn trên Bảo hiểm xã hội huyện
Yên Thế đã thực hiện trừ vào thu nhập của ông Vũ theo quyết định của Cơ quan
Thi hành án để đảm bảo thi hành án.
Như vậy là hơn một năm sau việc khấu trừ mới được thực hiện vì lý do
trong việc phối hợp giữa các cơ quan còn gặp vướng mắc.
2. Thuận lợi và khó khăn của biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập
của người phải thi hành án trước khi có Luật Thi hành án năm 2008
Thực tiễn thi hành án dân sự thời gian qua cho thấy cơ quan thi hành án
dân sự gặp khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ
vào thu nhập của người phải thi hành án theo quy định của các văn bản pháp
luật về Thi hành án.
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
24
Học viên: Giáp Văn Thịnh
Học viện Tư Ph¸p
2012
Lớp Chấp hành viªn Khãa 12 n¨m
Quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải
thi hành án theo quy định tại Điều 40 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc mà nguyên nhân là do các cơ quan Bảo
hiểm xã hội không thực hiện việc chuyển tiền lương hưu, trợ cấp của người phải
thi hành án cho Cơ quan Thi hành án theo quyết định cưỡng chế của Chấp hành
viên... Do vậy, không ít hồ sơ thi hành án tồn đọng, không thi hành được mặc
dù người phải thi hành án có tiền lương hưu, tiền trợ cấp hàng tháng đang do
Bảo hiểm xã hội quản lý và chi trả. Dẫn đến người dân giảm lòng tin vào Cơ
quan Thi hành án dân sự, cho rằng Cơ quan Thi hành án dân sự chưa làm hết
trách nhiệm trong việc thi hành án, gây nhiều bức xúc trong xã hội.
Lý do mà Bảo hiểm xã hội không thực hiện việc khấu trừ thu nhập của
Cơ quan Thi hành án vì Bảo hiểm xã hội cho rằng: Mặc dù khoản 3 Điều 40
Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã quy định trách nhiệm của cơ quan,
tổ chức, cá nhân quản lý thu nhập của người phải thi hành án (trong đó có Bảo
hiểm xã hội) trong việc thực hiện việc khấu trừ thu nhập của người phải thi
hành án theo Quyết định cưỡng chế của Chấp hành viên. Đó là: " Cơ quan, tổ
chức, cá nhân quản lý thu nhập của người phải thi hành án thực hiện việc khấu
trừ thu nhập của người phải thi hành án. Trong thời hạn không quá 7 ngày làm
việc, kể từ ngày khấu trừ thu nhập, cơ quan, tổ chức, cá nhân nói trên có nghĩa
vụ chuyển cho cơ quan Thi hành án số tiền đó để chi trả cho người được thi
hành án ". Nhưng vì Pháp lệnh chưa quy định trách nhiệm cụ thể của Bảo hiểm
xã hội, mặt khác về mặt hiệu lực pháp lý thì Pháp lệnh Thi hành án dân sự có
hiệu lực pháp lý thấp hơn Luật Bảo hiểm xã hội. Trong khi đó, khoản 3 Điều 20
Luật Bảo hiểm xã hội ngày 29 tháng 6 năm 2006 quy định rõ: Tổ chức bảo hiểm
xã hội có trách nhiệm “thực hiện việc trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội
đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn ” cho người lao động. Do vậy, các cơ quan
Bảo hiểm xã hội chỉ thực hiện việc cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến thu
nhập của người phải thi hành án mà không thực hiện việc khấu trừ thu nhập
theo yêu cầu của Chấp hành viên.
Quy định mới của Luật Thi hành án dân sự về trách nhiệm của Bảo hiểm
xã hội trong thi hành án dân sự. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã dành hẳn
TiÓu luËn Cìng chÕ khÊu trõ thu nhËp
25
Học viên: Giáp Văn Thịnh