Tải bản đầy đủ (.doc) (3 trang)

phuong huong doi moi HDND xay dung doi ngu can bo

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (119.18 KB, 3 trang )

Câu 2. Phân tích phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội
đồng nhân dân trong giai đoạn hiện nay?
Điều 113 hiến pháp nước CHXNCNVN năm 2013
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương,
đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân
dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ
quan nhà nước cấp trên.
Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật
định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc
thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Đổi mới về tổ chức:
+ Nâng cao nhận thức về vị trí vai trò nhiệm vụ quyền hạn của
HĐND trong cả hệ thống chính trị
Tổ chức và hoạt động của HĐND xã, thị trấn không ngừng được
củng cố, phát triển, đã và đang phát huy vai trò quan trọng của mình trong sự
nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân,
do dân và vì dân, đã từng bước khẳng định vị trí, vai trò của HĐND ở cơ sở;
HĐND đã có nhiều đổi mới về tổ chức và hoạt động, nguyên tắc tập trung
dân chủ được tôn trọng, dân chủ trong sinh hoạt được phát huy, tính hình
thức trong hoạt động của HĐND giảm dần; chất lượng các kỳ họp HĐND
từng bước được nâng lên. việc xây dựng và ban hành nghị quyết của HĐND
có chất lượng, các nghị quyết đề ra đảm bảo đúng luật và phù hợp với tình
hình thực tế của địa phương; chất lượng và hiệu quả của hoạt động giám sát
từng bước được nâng lên.Việc gần dân và lắng nghe ý kiến của nhân dân
được tăng cường, các đại biểu đã thường xuyên tiếp xúc cử tri để lắng nghe
tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và vận động nhân dân thực hiện chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của
HĐND.
Tuy nhiên, thực tế hoạt động của HĐND xã, thị trấn từng lúc chưa
phát huy đầy đủ vị trí, vai trò của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương,
còn tồn tại, hạn chế một số mặt như: Công tác tham gia xây dựng và tuyên


truyền, phổ biến pháp luật, chủ trương của Đảng, Nhà nước, nghị quyết của
HĐND còn thiếu chủ động; việc xem xét, quyết định những vấn đề quan
trọng, nhất là về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, xây dựng cơ bản có lúc
còn mang tính hình thức; hoạt động giám sát hiệu quả chưa cao, nhiều kiến
nghị thông qua hoạt động giám sát chưa được các cơ quan có trách nhiệm
quan tâm giải quyết kịp thời.
+ Xây dựng cơ chế phối hợp trong tổ chức thực hiện chức năng
nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND thuộc phạm vi cấp thẩn quyền
giữa HĐND và UBND cùng cấp không mang tính chất là mối
quan hệ giữa hai thiết chế nhà nước riêng biệt, tách rời ở địa phương mà là
mối quan hệ phối hợp, gắn bó chặt chẽ trong một chỉnh thể thống nhất là
chính quyền địa phương, cùng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính
quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các
cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền
địa phương. Sự phối hợp tốt giữa hai cơ quan này có vai trò quyết định trong
việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật ở địa phương (tổ chức và
bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các
vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan
nhà nước cấp trên - Điều 112 của Hiến pháp). Mặc khác, một khi UBND do
HĐND bầu và chịu trách nhiệm trước HĐND thì hiệu quả hoạt động của
HĐND cũng được bảo đảm bằng chính hiệu quả hoạt động của UBND.
Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Kiên Giang hiện nay có 03 đồng chí:
01. Đồng chí Đặng Tuyết Em, P Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân
tỉnh;
02. Đồng chí Nguyễn Hoàng Thăng, UVBTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Hội đồng
nhân dân tỉnh;
03. Đồng chí Lưu Thị Ngọc Sương, UVBCH Tỉnh ủy, Ủy viên thường trực
Hội đồng nhân dân tỉnh
+ Thực hiện có hiệu quả cơ chế bầu cử, ứng cử, đảm bảo cho nhân
dân đề cử, ứng cử lựa chọn các đại biểu HĐND thực sự là người đại diện cho

nhân dân
công dân được lựa chọn để bầu người xứng đáng, đại diện cho
mình ở các cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương mà không bị bất kỳ
sự cản trở nào. Công dân từ đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử đại
biểu hội đồng nhân dân. Quyền bầu cử bao gồm: quyền giới thiệu người ứng
cử (đề cử), quyền tham gia các hoạt động bầu cử và quyền bỏ phiếu bầu.
Công dân có thể tự ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân nếu tự thấy mình có
đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, có điều kiện và nguyện vọng đóng
góp trí tuệ cho đất nước.
Ví dụ: Kết quả bầu cử hội đồng nhân dân các xã, thị trấn (nhiệm kỳ 20112016) trên địa bàn tỉnh Kiên Giang: Toàn tỉnh đã bầu được 130 cơ quan Hội
đồng nhân dân xã, thị trấn với tổng số người trúng cử là 3.650 đại biểu, đại
diện cho mọi thành phần cụ thể cơ cấu có: Nữ 929 người bằng 25,45%; trẻ
tuổi 1.175 người bằng 32,19%; tôn giáo 255 người bằng 6,98%; dân tộc
thiểu số 321 người bằng 8,79%. (Theo http/www.kiengiang.gov.vn ngày
21/6/2011).
+ Thực hiện có hiệu quả hoạt động chất vấn, giám sát của HĐND
trong phạm vi cấp thẩm quyền
Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng
nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án
Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan
chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Người bị chất vấn phải trả lời
về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn.
Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, đại biểu Hội đồng nhân
dân gửi chất vấn đến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Người bị tiếp

Câu 3. Phân tích nội dung phương hướng xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất
đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
của nhân dân, do dân, vì dân để xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN ở nước ta hiện nay?

Điều 2 hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013
1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân
dân, vì Nhân dân.
2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân
làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà
nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức.
3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối
hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Nhà nước PQXHCNVN có những đặc trưng sau:
- Là NN thực sự của dân, doo dân và vì dân, bảo đảm tất cả
quyền lực thuộc về nhân dân.
-Là NN tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc quyền lực NN là
thống nhất, nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan NN
- Là NN được tổ chức, hoạt động trên cơ sở hiến pháp và
pháp luật, bảo đảm tính tối cao của hiến pháp và PL
- Là NN tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, tất
cả vì hạnh phúc của con người
- Là NN do ĐCSVN lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát
của nhân dân
- Là NN thực hiện đười lối hòa bình, hữu nghị với các dân tộc
và các nước trên thế giới
Trong hà nước pháp quyền XHCN cùa dân, do dân,
vì dân đội ngũ các bộ cần phải đáp ứng những yêu cầu sau
đây:
Một là có năng lực chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng
yêu cầu công việc mà mình đảm nhiệm. Năng lực chuyên

môn nghiệp vụ được hình thành trong quá trình đào tạo, bồi
dưỡng; trong thực tiễn công tác và thực tiễn đời sống xã hội
Hai là tận tâm, mẫn cán với công việc, thể hiện trách
nhiệm và đạo đức công cụ trong khi thực hiện công việc được
giao. Có tinh thần hợp tác giúp đỡ đồng nghiệp
Ba là thực hiện đúng các quy định của pháp luật có ý
thức tự giác và kỷ luật nghiêm minh
Bốn là kính trọng, lễ phép với nhân dân, tôn trọng
quyền con người, quyền công dân; gần dân, lắng nghe ý kiến
nguyện vọng của dân và khiêm tốn học hỏi dân
Năm là gương mẫu trong việc chấp hành đười lối
chính sách, pháp luật; tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức,
nhân cách, phong cách làm việc
Trải qua thực tiễn đổi mới vừa qua nhìn chung đội
ngũ cán bộ, công chức NN ta có nhiều ưu điểm và tiến bô:
Hầu hết đội ngũ cán bộ, công chức được đào tạo bồi dưỡng và
được nâng lên cả về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp
vụ cũng như đười lối, chính sách pháp luật của Đảng và NN,
nên đáp ứng được các công việc được giao; một bộ phận
trưởng thành nhanh chóng thích ứng được với những yêu cầu,
thách thức trong quá trình cải cách nhà nước, phục vụ sự
nghiệp đổi mới nhất là đổi mới về kinh tế; tính chủ động, tinh
thần trách nhiệm được nâng lên một bước; phần đông về cơ
bản vẫn giữ được phẩm chất chính trị đạo đức tốt, khiêm tốt,
gần gũi, tôn trong nhân dân, có ý thức chấp hành đường lối,
chính sách, pháp luật.
Tuy nhiên, so với yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức
tronf một NNPQXHCN của dân, do dân, vì dân thì đội ngũ
cán bộ, công chức hiện nay cũng bộ lộ không ít yếu kém, bất
cập: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa tương xứng và

chưa đáp ứng yêu cầu công việc; tính chủ động, ý thức trách
nhiệm với công việc được gia còn thấp, kỷ luật chưa nghiêm;
kỹ năng quản lý điều hành còn nhiều hạn chế; một bộ phận
cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất, tham ô, buôn lậu,
nhũng nhiễu phiền hà, thiếu công tâm, khách quan khi giải


Tiep Câu 3 quyết công việc, kỷ luật hành chính lỏng
lẻo, thiếu trách nhiệm với công việc được giao.
Tóm lại để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp
ứng yêu cầu xây dựng nhà nước PQXHCN thực sự của dân,
do dân vì dân trong tình hình hiện nay của nước ta đòi hỏi
phải đổi mới đồng bộcác nội dung, các khâu của công tác cán
bộ trong bộ máy nhà nước, cụ thể như sau:
Một là xây dựng và thực hiện tốt chiến lược và quy
hoạch cán bộ. trong đó chú ý xây dựng cơ cấu cán bộ cấp
chiến lược, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học công nghệ có
trình độ cao
Hai là đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức đảm bảo nâng cao trình độ lí luận, chuyên môn
nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, rèn luyện đạo đức, phẩm chất
cán bộ.
Ba là đổi mới cơ chế đánh giá, tuyển dụng cán bộ,
công chức đảm bảo dân chủ, công khai, khách quan và khoa
học để đánh giá đúng đắn, bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ hợp
lý, tuyển dụng đúng người đáp ứng được yêu cầu công việc.
Bôn là đổi mới chế độ chính sách đối với cán bộ,
công chức bảo đảm thu nhập, đãi ngọ thỏa đáng, kích thích
được tính tích cực phấn đấu của cán bộ công chức phù hợp
với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, cán bộ, công chức

an tâm, tận tâm với công việc.
Năm là tăng cường công tác quản lý, kiểm tra giám
sát công việc của cán bộ, công chức để đánh giá đúng đắn, bố
trí hợp lí, có chế độ chính sách thích hợp và ngăn chặn sớm
những tiêu cực của họ.

Tiep câu 2 chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân tại kỳ
họp đó. Trong trường hợp cần điều tra, xác minh thì Hội đồng nhân dân có
thể quyết định cho trả lời tại kỳ họp sau của Hội đồng nhân dân hoặc cho trả
lời bằng văn bản gửi đến đại biểu đã chất vấn và Thường trực Hội đồng nhân
dân.
Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, chất vấn của
đại biểu Hội đồng nhân dân được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân
cùng cấp để chuyển đến người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất
vấn.”
Tuy nhiên trong thực tiễn vẫn còn một số quan niệm chưa đúng về chất vấn
và trả lời chất vấn. Đối với người chất vấn (là các đại biểu HĐND), còn
có một số người nhận thức hoặc đơn giản hoặc phiến diện về quyền chất vấn
của các đại biểu. Điều này có thể thấy qua bản tổng hợp ý kiến chất vấn của
đại biểu. Trong đó, nhiều chất vấn chỉ là những câu hỏi thông thường, với
mục đích nhận được thông tin về vấn đề nào đó mà mình chưa rõ, hoặc để
được giải thích rõ hơn về điểm này hay điểm khác trong các báo cáo công tác
hoặc các đề án do các cơ quan nhà nước trình bày tại kỳ họp; người chất vấn
không nắm được thẩm quyền việc này do ai, cấp nào giải quyết; hoặc hỏi
những câu rất đơn giản, giống như kiến nghị của cử tri…Mặt khác lại có
những đại biểu chất vấn với thái độ gay gắt, thiếu thuyết phục, làm cho
người trả lời chất vấn bị ức chế và không khí phiên chất vấn trở nên căng
thẳng không cần thiết. Cá biệt có những đại biểu suốt cả nhiệm kỳ không một
lần thực hiện quyền chất vấn hoặc truy vấn. Một phần do tâm lý nể nang, ngại
va chạm; phần khác do năng lực, trình độ, khả năng cập nhật thông tin còn

hạn chế. Một số đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, bận công tác chuyên môn, ít
có thời gian chuẩn bị cho kỳ họp, nên chất lượng chất vấn không cao.
Đổi mới về hoạt động:
+ Tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của hội đồng nhân dân
và đại biểu hội đồng nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đại
biểu tại kì họp và ngoài kỳ họp đó, đặc biệt là hoạt động chất vấn và tính khả
thi của các nghị quyết
+Quan tâm đến việc đào tạo bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao năng
lực, kỹ năng phương pháp hoạt động của đại biểu HĐN
+ Đảm bảo các điều kiện trang thiết bị, cơ sở vật chất trong các
hoạt động giám sát, chất vấn, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu
HĐND trong phạm vi cấp thẩm quyền
HĐND các cấp nói chung đã có nhiều đổi mới trong hoạt động, đạt được
những kết quả quan trọng, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của địa phương,
đất nước theo đường lối đổi mới của Đảng, các Nghị quyết của Hội đồng
nhân dân đang góp phần to lốn vào sự phát triển kinh tế- xã hội của các địa
phương nói riêng và cả nước nói chung, cũng như trong việc nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân địa phương
Tuy nhiên việc ban hành các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân có lúc còn
kém chất lượng, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn, tổ chức thực hiện chưa
đạt hiệu quả đề ra.
Các đại biểu Hội đồng nhân dân có lúc chưa thật sự gần gũi, sâu sát với cử
tri; việc nắm bắt và giải quyết các yêu cầu, kiến nghị của cử tri có lúc còn
chậm, chưa kịp thời.
Điều kiện vật chất, kinh phí phục vụ cho hoạt động của Hội đồng nhân dân
còn rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với cấp huyện, cấp xã.
Tóm lại để đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND có hiệu quả trong thời
gian tới, ngoài việc nâng cao vai trò, trách nhiệm, đổi mới và nâng cao chất
lượng hoạt động của Thường trực, các Ban HĐND, Tổ đại biểu, đại biểu
HĐND và đội ngũ tham mưu giúp việc, cần được sự quan tâm hơn nữa của

cấp thẩm quyền đối với một số vấn đề sau:
Một là, tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với hoạt
động của HĐND, đặc biệt, là việc quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ có năng
lực bảo đảm các chức danh trong HĐND tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.
Tăng số lượng cấp ủy cùng cấp trong Thường trực và Ban của HĐND.
Hai là, sửa đổi Luật Tổ chức HĐND và UBND cho phù hợp với Hiến pháp
năm 2013 và sát với thực tiễn hoạt động của HĐND các cấp hơn, tập trung
vào các vấn đề: tăng đại biểu HĐND chuyên trách, cụ thể như quy định


Thường trực HĐND tỉnh gồm Chủ tịch và 02 Phó Chủ tịch (bỏ chức danh Ủy
viên thường trực); các Ban HĐND tỉnh có Trưởng Ban và Phó Ban chuyên
trách; HĐND cấp huyện được thành lập 03 Ban như cấp tỉnh hiện nay, theo
đó tách Ban Kinh tế - Xã hội để thành lập Ban Kinh tế - Ngân sách và Ban
Văn hóa - Xã hội, đồng thời, quy định mỗi Ban có Trưởng hoặc Phó Ban
chuyên trách. Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể về khen thưởng, bãi nhiệm,
miễn nhiệm đối với đại biểu HĐND; về thời gian tham gia hoạt động công
tác HĐND đối với thành viên không chuyên trách của các Ban HĐND...
Ba là, ban hành Luật giám sát của HĐND, theo đó cần quy định cụ thể về
những vấn đề như thẩm quyền, trình tự, thủ tục, phương thức giám sát của
HĐND; cơ chế, nguồn lực để sử dụng tư vấn thẩm định phản biện, phục vụ
cho công tác thẩm tra, giám sát của HĐND; nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ
quan liên quan như UBND, các cơ quan chuyên môn trong việc chuẩn bị nội
dung phục vụ hoạt động giám sát của HĐND; trách nhiệm xử lý, giải quyết,
thực hiện các kiến nghị sau giám sát của HĐND; các chế tài áp dụng khi các
cơ quan chức năng không thực hiện các kiến nghị sau giám sát... làm cơ sở
pháp lý cụ thể để HĐND thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của mình.
Bốn là, đề nghị cấp thẩm quyền quy định cụ thể hơn về bộ máy giúp việc của
HĐND các cấp, trong đó, cần tách Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội

đồng nhân dân; đặc biệt chú ý đến Văn phòng giúp việc cho HĐND cấp
huyện cần có bộ máy riêng, không chung với UBND; đối với cấp xã cũng cần
có chuyên viên giúp việc riêng cho HĐND./.



×