ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
DƯƠNG THỦY NGUYÊN
XUNG ĐỘT TRONG GIAO TIẾP GIỮA CHA MẸ
VỚI HỌC SINH LỚP 8, 9 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BIÊN HỊA, ĐỒNG NAI
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÂM LÝ HỌC
DƯƠNG THỦY NGUYÊN
XUNG ĐỘT TRONG GIAO TIẾP GIỮA CHA MẸ
VỚI HỌC SINH LỚP 8, 9 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Tâm lý học
MSSV: K38.611.074
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS. ĐÀO THỊ DUY DUYÊN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Người nghiên cứu xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi và
được sự hướng dẫn của Ths. Đào Thị Duy Duyên. Các nội dung nghiên cứu, kết quả
trong đề tài này là trung thực và chưa cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về nội
dung nghiên cứu của mình.
Tác giả khóa luận
Dương Thủy Ngun
i
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hồn thành được đề tài này, trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến
Ths. Đào Thị Duy Dun đã ln tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cho em những lời
nhận xét góp ý q báu để em có thể hồn thành một cách tốt nhất khóa luận này.
Bên cạnh đó, em cũng xin cám ơn những lời nhận xét, góp ý của Quý thầy cơ, của
Hội đồng khoa học đã giúp em hồn thiện đề tài nghiên cứu.
Tiếp đến, em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và quý thầy cô
trường THCS Lê Quang Định, THCS Lê Lợi, THCS Hiệp Hòa tại thành phố Biên
Hòa, tỉnh Đồng Nai đã tận tình giúp đỡ em thu thập số liệu cho đề tài nghiên cứu.
Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn đến các em học sinh và quý phụ huynh của các trường
THCS đã nhiệt tình hồn thành bản khảo sát và bài phỏng vấn trong quá trình khảo
sát đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô của trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho em
trong suốt thời gian học tập trên giảng đường Đại học.
Với nền kiến thức còn hạn chế, bài viết khơng tránh khỏi những sai sót. Vì thế,
em rất mong nhận được lời nhận xét và góp ý của Quý thầy cô, của Hội đồng khoa
học, để đề tài nghiên cứu của em có thể hồn thiện hơn và có thêm những kinh
nghiệm quý báu nhất.
Xin kính chúc Quý thầy cô, quý phụ huynh và các em học sinh sẽ có thật
nhiều sức khỏe, niềm vui và ln thành cơng trong cuộc sống cũng như trong
cơng việc.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 05 năm 2016.
Tác giả
Dương Thủy Nguyên
ii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................ 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................................ 3
4. Khách thể và đối tượngnghiên cứu.......................................................................... 3
5.Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................... 3
6. Giả thuyết khoa học .................................................................................................. 3
7. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................... 4
8. Đóng góp mới của đề tài ........................................................................................... 5
9. Dự thảo nội dung nghiên cứu ................................................................................... 5
10. Kế hoạch nghiên cứu ............................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT TRONG GIAO TIẾP VỚI
CHA MẸ CỦA HỌC SINH LỚP 8, 9
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................... 8
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ trên thế giới ............ 8
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ ở Việt Nam ........... 12
1.2. Cơ sở lý luận về xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của thiếu niên .............. 15
1.2.1. Xung đột.............................................................................................................. 15
1.2.2. Xung đột trong giao tiếp..................................................................................... 19
1.2.3. Xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của thiếu niên ......................................... 32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ............................................................................................. 54
iii
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUNG ĐỘT TRONG GIAO TIẾP VỚI CHA
MẸ CỦA HỌC SINH LỚP 8, 9 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THCS TẠI THÀNH
PHỐ BIÊN HÒA, ĐỒNG NAI
2.1. Thể thức nghiên cứu ............................................................................................ 55
2.1.1. Nghiên cứu lý luận ............................................................................................. 55
2.1.2. Nghiên cứu thực tiễn ........................................................................................ 55
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học
sinh lớp 8, 9 ở một số trường THCS tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai .......... .58
2.2.1. Đặc điểm của mẫu khách thể nghiên cứu ........................................................ 58
2.2.2. Thực trạng xung đột với cha mẹ của học sinh lớp 8, 9 .................................... 60
2.2.3. Thực trạng mức độ ảnh hưởng và tần suất xảy ra của các vấn đề gây xung
đột giữa thiếu niên với cha mẹ .................................................................................... 67
2.2.4. Thứ bậc điểm trung bình biểu hiện của xung đột giữa thiếu niên với
cha mẹ ........................................................................................................................... 69
2.2.5. Thực trạng phản ứng của học sinh lớp 8, 9 khi xung đột với cha mẹ............. 76
2.2.6. Nguyên nhân xung đột trong giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ ................ 77
2.2.7. Ảnh hưởng của xung đột đến quá trình giao tiếp giữa thiếu niên với
cha mẹ ........................................................................................................................... 87
2.2.8. Những tổn thương và mong muốn của học sinh về cha mẹ ............................ 95
2.2.9. Biện pháp giải quyết và ngăn chặn xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ ...... 97
2.3. Đề xuất biện pháp giải quyết thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha
mẹ của học sinh lớp 8, 9 tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai ................................... 98
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ........................................................................................... 110
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 111
Kết luận ....................................................................................................................... 111
Kiến nghị ..................................................................................................................... 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 114
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 117
Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến.................................................................................. 117
Phụ lục 2: Bảng hỏi ..................................................................................................... 119
Phụ lục 3: Biên bản phỏng vấn ................................................................................... 128
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Viết đầy đủ
Viết tắt
1
Trung học cơ sở
THCS
2
Học sinh
HS
3
Điểm trung bình
ĐTB
4
Người phỏng vấn
NPV
5
Nhà xuất bản
NXB
6
Thành phố Hồ Chí Minh
TP HCM
7
Đại học Sư phạm
ĐHSP
8
Xung đột
XĐ
v
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1. Đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu............................................................ 59
Bảng 2.2. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS khối lớp 8, 9 .......... 60
Bảng 2.3. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS năm học lớp 8, 9 ... 62
Bảng 2.4. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS lớp 8, 9 ở các khu
vực ................................................................................................................................. 63
Bảng 2.5. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS lớp 8, 9 theo giới
tính ................................................................................................................................. 64
Bảng 2.6. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS lớp 8, 9 theo tình
trạng gia đình. .............................................................................................................. 66
Bảng 2.7. Tần suất xảy ra XĐ trong giao tiếp với cha mẹ của HS lớp 8, 9 theo điều
kiện kinh tế .................................................................................................................... 67
Bảng 2.8. Điểm trung bình tần suất xảy ra và mức độ ảnh hưởng của các vấn đề gây
XĐ đến chất lượng giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ.............................................. 70
Bảng 2.9. Điểm trung bình các mặt biểu hiện của XĐ trong giao tiếp với cha mẹ
của học sinh lớp 8, 9 trên toàn mẫu ............................................................................. 70
Bảng 2.10. Thứ bậc các biểu hiện về mặt cảm xúc của học sinh lớp 8, 9 khi xảy ra
XĐ trong giao tiếp với cha mẹ ...................................................................................... 70
Bảng 2.11. Thứ bậc các biểu hiện về mặt nhận thức của học sinh lớp 8, 9 khi xảy ra
XĐ trong giao tiếp với cha mẹ ...................................................................................... 73
Bảng 2.12. Thứ bậc các biểu hiện về mặt hành vi của học sinh lớp 8, 9 khi xảy ra
XĐ trong giao tiếp với cha mẹ ..................................................................................... 75
Bảng 2.13. Điểm trung bình các cách phản ứng của học sinh lớp 8, 9 khi xảy ra
XĐ trong giao tiếp với cha mẹ .................................................................................... 76
Bảng 2.14. Điểm trung bình các nhóm ngun nhân gây nên XĐ trong giao tiếp
giữa thiếu niên với cha mẹ ............................................................................................ 78
Bảng 2.15. Thứ bậc điểm trung bình của các yếu tố tác động thuộc nhóm mơi
trường xã hội ................................................................................................................. 78
Bảng 2.16. Thứ bậc điểm trung bình của các yếu tố tác động thuộc nhóm các đặc
điểm giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ .................................................................... 80
Bảng 2.17. Thứ bậc điểm trung bình của các yếu tố tác động thuộc nhóm các đặc
điểm phát triển tuổi thiếu niên ...................................................................................... 82
Bảng 2.18. Thứ bậc điểm trung bình của các yếu tố tác động thuộc nhóm nhu cầu
tình cảm của thiếu niên ................................................................................................ 84
Bảng 2.19. Thứ bậc điểm trung bình của các yếu tố tác động thuộc nhóm khác biệt
nhận thức giữa cha mẹ và thiếu niên trong một số lĩnh vực ......................................... 85
Bảng 2.20. Điểm trung bình của sự ảnh hưởng đến các quá trình giao tiếp ................. 88
vi
Bảng 2.21. Thứ hạng của sự ảnh hưởng của XĐ đến quá trình nhận thức
lẫn nhau ......................................................................................................................... 89
Bảng 2.22. Thứ hạng của sự ảnh hưởng của XĐ đến quá trình trao đổi thông tin hai
chiều .............................................................................................................................. 91
Bảng 2.23. Thứ hạng của sự ảnh hưởng của XĐ đến nhóm chức năng tác động qua
lại, ảnh hưởng lẫn nhau ................................................................................................. 93
Bảng 2.24. Tỷ lệ những tổn thương và mong muốn về cha mẹ của học sinh lớp 8, 9
khi XĐ trong giao tiếp với cha mẹ xảy ra ................................................................... 95
Bảng 2.25. Những biện pháp giải quyết và ngăn chặn XĐ trong giao tiếp với cha
mẹ của học sinh lớp 8, 9 ................................................................................................ 98
vii
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xung đột trong giao tiếp là một vấn đề không thể tránh khỏi trong bất kỳ mối
quan hệ nào. Ngay từ khi sinh ra, cuộc sống mỗi người đều bắt đầu trong các mối
quan hệ gia đình. Trong đó, mối quan hệ cha mẹ và con cái là một trong những yếu
tố có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân. Quá trình vận
động và phát triển của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái cũng vậy, sẽ ln nảy
sinh những mâu thuẫn, xung đột.
Khó khăn trong giao tiếp giữa cha mẹ và con cái xuất hiện từ rất sớm và ở độ
tuổi thiếu niên biểu hiện xung đột giữa thiếu niên và cha mẹ là rõ ràng hơn cả, nhất
là cuối độ tuổi thiếu niên tương ứng với độ tuổi học sinh lớp 8, 9. Đây là độ tuổi
phải trải qua nhiều thay đổi của cơ thể và tâm lý. Những nhu cầu mới xuất hiện chi
phối suy nghĩ, hành động của các em, điển hình là nhu cầu độc lập và tự khẳng định
mình. Nhưng nhiều bậc cha mẹ chưa có sự ý thức rõ ràng về sự thay đổi của các em
và thích ứng với sự thay đổi đó nên dẫn đến những xung đột trong giao tiếp. Điều
đáng lưu ý là cách cư xử của người lớn có sự ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành
và phát triển nhân cách trẻ. Mâu thuẫn trong giao tiếp giữa thiếu niên và cha mẹ nếu
không được giải quyết tốt sẽ để lại hậu quả xấu cho sự phát triển của các em ở
những giai đoạn tiếp theo.
Hiện nay, cùng với sự biến động phức tạp của xã hội, xung đột giữa cha mẹ
và con cái trong các vấn đề kinh tế, đạo đức, thói quen, nếp sống... xuất hiện ngày
càng nhiều và rõ rệt. Phần lớn mọi bất đồng quan điểm giữa hai đối tượng này đều
xuất phát từ sự giao tiếp không hiệu quả. Tiến sĩ Haim G. Ginott, tác giả sách
“Between parent and teenager” (1967, Macmillan) nhận định rằng: “Cha mẹ muốn
con cái cần đến mình, cịn nhu cầu của những đứa trẻ lứa tuổi thiếu niên là không
cần đến cha mẹ” [36].
Xung đột tâm lý trong giao tiếp giữa cha mẹ và học sinh lớp 8, 9 nếu không
được giải quyết ổn thỏa sẽ để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho mối quan hệ gia
đình. Bầu khơng khí gia đình không lành mạnh sẽ kéo theo sự nảy sinh những cảm
xúc tiêu cực trong gia đình như tâm trạng chán nản, cảm giác bất mãn, đối địch...
1
Cô Đỗ Hạnh Nga, tác giả sách “Xung đột tâm lý giữa cha mẹ và con lứa tuổi học
sinh THCS về nhu cầu độc lập”, cho biết: “Trong quan hệ cha mẹ - con cái, nếu
xung đột tâm lý diễn ra quá lâu và không được giải quyết một cách có hiệu quả thì
nó sẽ làm giảm sự gắn bó giữa các thành viên trong gia đình, làm xấu đi quan hệ
giao tiếp và tin cậy lẫn nhau.” Việc sử dụng lời lẽ nặng nề với thanh thiếu niên có
thể khiến chúng có những hành vi tồi tệ hơn. Các nhà tư vấn đã nhận được rất nhiều
lời chia sẻ của các em như cha mẹ có bao nhiêu điều bực dọc hàng ngày đều trút lên
thiếu niên, các em khao khát cử chỉ âu yếm từ cha mẹ. Năm 2013, thông tin về một
thiếu niên Ấn Độ tự tử sau khi cãi vã với cha mẹ về việc tham gia mạng xã hội được
các báo mạng đồng loạt đăng tải. Có thể thấy, xung đột trong giao tiếp giữa cha mẹ
và thiếu niên ngày càng nhiều và phức tạp, để lại nhiều hậu quả đáng tiếc cho gia
đình và chính bản thân các em.
Hiện đã có một số nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến mối quan hệ
giữa cha mẹ và học sinh lớp 8, 9 nhưng chưa khai thác sâu vấn đề xung đột trong
giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ trong giai đoạn hiện nay. Việc nghiên cứu về
những xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh cuối cấp THCS sẽ đưa ra
cái nhìn tổng quan về thực trạng, nguyên nhân dẫn đến thực trạng, cũng như đề xuất
một số cách ứng xử hợp lí cho các bậc cha mẹ và các em thiếu niên, nhằm làm cho
mối quan hệ này trở nên hài hòa và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về mặt
nhân cách cho trẻ.
Đã có một số nghiên cứu những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa cha
mẹ và học sinh lớp 8, 9 ở các tỉnh thành như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, nhưng chưa
có nghiên cứu liên quan đến vấn đề này tại TP Biên Hòa, Đồng Nai.
Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp 8, 9 ở một số
trường THCS tại Thành Phố Biên Hịa, Đồng Nai.”
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng, xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp 8,
9 ở một số trường THCS tại TP Biên Hòa, Đồng Nai từ đó đề xuất biện pháp để
2
giúp học sinh và cha mẹ có thể hạn chế được xung đột và biết cách giải quyết xung
đột tốt hơn.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết, làm cơ sở lý luận cho đề tài.
- Điều tra thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp
8, 9 ở một số trường THCS tại TP Biên Hòa, Đồng Nai và đề xuất giải pháp cho vấn
đề do thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
a. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu chính là học sinh lớp 8, 9 ở một số trường THCS tại
TP Biên Hòa, Đồng Nai.
b. Đối tượng nghiên cứu
Những xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp 8, 9.
5. Phạm vi nghiên cứu
a. Nội dung nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu về thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học
sinh lớp 8, 9 ở một số trường THCS tại TP Biên Hòa, Đồng Nai gồm: thực trạng
mức độ xung đột, thực trạng các vấn đề gây xung đột, nguyên nhân của thực trạng,
tác động của xung đột đến học sinh lớp 8, 9 và cách ứng xử của các em khi có
xung đột.
b. Mẫu nghiên cứu
400 học sinh lớp 8, 9 ở trường THCS Lê Quang Định, THCS Hiệp Hòa và
THCS Lê Lợi.
c. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/2015 đến 5/2016.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Phần lớn học sinh lớp 8, 9 ở TP Biên Hòa, Đồng Nai có tần suất xảy ra xung
đột với mẹ cao hơn với cha, chủ yếu về vấn đề học tập và mối quan hệ bạn bè. Có
sự khác biệt về tần suất xung đột giữa các nhóm khách thể với một số đặc điểm về
giới tính, tình trạng gia đình, điều kiện kinh tế, trường nội thành, ngoại thành.
3
Nguyên nhân của thực trạng xung đột với cha mẹ của thiếu niên xuất phát chủ yếu
từ yếu tố môi trường xã hội và sự thay đổi đặc điểm giao tiếp với cha mẹ của thiếu
niên. Đa phần học sinh lựa chọn né tránh khi mâu thuẫn xảy ra. Bên cạnh đó, xung
đột với cha mẹ sẽ tác động tiêu cực đến ba mặt chức năng trong giao tiếp: trao đổi
thông tin hai chiều, nhận thức đánh giá và tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau ở
mức độ, trong đó tác động đến phần nhận thức, đánh giá lẫn nhau là chủ yếu.
7. Phương pháp nghiên cứu
a. Cơ sở phương pháp luận
i. Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc trong việc nghiên cứu lý luận về
xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp 8, 9 ở một số trường THCS tại
TP Biên Hòa, Đồng Nai gồm những mặt như: Khái niệm, ý nghĩa, nội dung, mối
tương quan, kết luận.
ii. Quan điểm thực tiễn
Ngày nay, cuộc sống ngày càng phát triển kéo theo nhiều sự thay đổi trong
mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Khoảng cách thế hệ đã gây ra rất nhiều xung
đột về giao tiếp trong mối quan hệ này. Nhận biết được những khó khăn đó, người
nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra góc nhìn tổng qt về thực
trạng và từ đó có những biện pháp thích hợp để giải quyết vấn đề do thực tiễn đặt ra
trong nghiên cứu.
b. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
i. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích
Khái qt hóa, hệ thống hóa những tri thức lý luận và thực tiễn có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu nhằm xác định cơ sở lý luận cho vấn đề và định hướng
nghiên cứu thực tiễn.
Phương pháp
Đọc tài liệu, tham khảo một số cơng trình có liên quan đến đề tài, tìm ra cơ
sở lý luận cho đề tài nghiên cứu.
ii.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
4
Để thực hiện đề tài, người nghiên cứu định hướng sẽ sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài để thu thập thông tin
về thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp 8, 9 ở một số
trường THCS tại TP Biên Hòa, Đồng Nai. Phương pháp này sử dụng phiếu trưng
cầu ý kiến với một hệ thống câu hỏi được soạn thảo dựa trên mục đích nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này sử dụng những câu hỏi trực tiếp để phân tích sâu cho kết
quả thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của học sinh lớp 8, 9 ở một số
trường THCS tại TP Biên Hòa, Đồng Nai.
- Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệu thu được từ phương pháp
điều tra bằng bảng hỏi.
8. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài sẽ làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành trong việc tìm
hiểu, nghiên cứu những vấn đề liên quan.
Đề tài đưa ra một bức tranh tổng quát về xung đột trong giao tiếp của lứa
tuổi thiếu niên nhằm tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu dễ tiếp cận với vấn đề và
tìm ra những phương hướng giải quyết cho vấn đề của thực trạng đề ra.
9. Dự thảo nội dung nghiên cứu
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề xung đột trong giao tiếp với cha mẹ
của học sinh lớp 8, 9
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề xung đột giữa thiếu niên và cha mẹ trên thế giới
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ ở Việt Nam
1.2.
Lý luận liên quan đến xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của thiếu niên
1.2.1. Xung đột tâm lý
1.2.1.1.
Định nghĩa xung đột
5
1.2.1.2.
Phân loại xung đột
1.2.2. Xung đột tâm lý trong giao tiếp
1.2.2.1.
Khái niệm giao tiếp
1.2.2.2.
Xung đột tâm lý trong giao tiếp
1.2.2.3.
Biểu hiện của xung đột trong giao tiếp
1.2.2.4.
Nguyên nhân gây xung đột
1.2.3. Xung đột trong giao tiếp giữa cha mẹ với thiếu niên
1.2.3.1.
Biểu hiện xung đột giữa cha mẹ với thiếu niên
1.2.3.2.
Các yếu tố ảnh hưởng đến xung đột giữa cha mẹ với thiếu niên
1.2.3.3.
Phản ứng của thiếu niên khi xảy ra xung đột
1.2.3.4.
Hậu quả của xung đột giữa cha mẹ với thiếu niên
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUNG ĐỘT TRONG GIAO TIếP VỚI CHA
MẸ CỦA HỌC SINH LỚP 8, 9 ở MỘT SỐ TRƯỜNG THCS TẠI THÀNH PHỐ
BIÊN HÒA, ĐỒNG NAI
2.1. Thể thức và tổ chức nghiên cứu
2.1.1. Nghiên cứu lý luận
2.1.1.1. Mục đích nghiên cứu
2.1.1.2. Phương pháp nghiên cứu
2.1.2. Nghiên cứu thực tiễn
2.1.2.1. Mục đích nghiên cứu
2.1.2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng xung đột trong giao tiếp giữa cha mẹ với học
sinh lớp 8, 9 ở một số trường THCS tại địa bàn thành phố Biên Hòa, Đồng Nai
2.2.1. Đặc điểm mẫu khách thể nghiên cứu
2.2.2. Thực trạng xung đột của thiếu niên với cha mẹ trong các năm học lớp 8, 9
2.2.3. Thực trạng mức độ ảnh hưởng và tần suất xảy ra của các vấn đề gây
xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ
2.2.4. Thứ bậc điểm trung bình biểu hiện của xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ
2.2.5. Thực trạng phản ứng của học sinh lớp 8, 9 khi xảy ra xung đột với cha mẹ
2.2.6. Nguyên nhân gây ra xung đột trong giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ
6
2.2.7. Ảnh hưởng của xung đột đến quá trình giao tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ
2.2.8. Những tổn thương và mong muốn của học sinh khi xung đột với cha mẹ
2.2.9. Biện pháp giải quyết và ngăn chặn xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ
2.3. Đề xuất biện pháp giải quyết thực trạng xung đột trong giao tiếp với cha mẹ
của học sinh lớp 8, 9 ở một số trường THCS tại TP Biên Hòa, Đồng Nai
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
10. Kế hoạch nghiên cứu
THỜI GIAN
Tháng 9 – 10
Tháng 10 – 01
Tháng 02 – 04
Tháng 05
GIAI ĐOẠN
NỘI DUNG CÔNG VIỆC
- Chọn, xác định giới hạn đề tài.
- Thu thập tài liệu.
- Soạn đề cương nghiên cứu, trình Hội Đồng
Giảng viên.
Thực hiện
- Tham khảo tài liệu.
- Soạn, thử công cụ nghiên cứu.
- Triển khai các phương pháp nghiên cứu (thu và
xử lý số liệu)
Hoàn thành
- Đánh máy bản thảo.
- Trình bản thảo lên giảng viên hướng dẫn.
- Chỉnh sửa và hồn thành khóa luận.
Nắm vững nội dung đề tài nghiên cứu và tiến hành bảo vệ
Chuẩn bị
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT TRONG GIAO TIẾP VỚI
CHA MẸ CỦA HỌC SINH LỚP 8, 9
1.1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu xung đột giữa thiếu niên và cha mẹ trên thế giới
1.1.1.1. Nghiên cứu lý luận
Xung đột là vấn đề xuất hiện rất sớm, tồn tại từ khi con người bắt đầu xuất
hiện. Các nhà triết học đã cho rằng nơi nào có con người sẽ xảy ra xung đột [1.39].
Sự xung đột được biết đến với các hình thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền, nịi giống,
lãnh thổ... là các hình thức bảo vệ quyền lợi cá nhân nói chung. Ngay từ thời cổ đại,
con người đã bắt đầu quan tâm đến các vấn đề liên quan đến xung đột. Nhà Triết
học Heerraclit (530 – 470 TCN) nhận định rằng “vạn vật kể cả các quy tắc giao tiếp
của con người biến đổi khơng ngừng và chuyển hóa lẫn nhau”. Với luận điểm đó,
ơng chứng minh các cuộc xung đột hiện diện với tính cách là thuộc tính, điều kiện
quan trọng và tất yếu của đời sống xã hội. Vào thế kỷ XIX, nhà Triết học Karl Marx
(1818 – 1883) nghiên cứu về bản chất của mâu thuẫn. Ông nhận ra mâu thuẫn là cơ
sở của xung đột, là điều kiện tất yếu cho sự phát triển của các mặt đời sống xã hội
[40]. Từ đó, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu xung đột ở nhiều góc độ và lĩnh
vực như kinh tế học, giáo dục học, y học và tâm lý học… Trong đó, các vấn đề về
xung đột trong lứa tuổi thiếu niên cũng được các nhà xã hội học và tâm lý học
quan tâm.
Năm 1904, G.S.Hall (1846-1924) đã nhận định lứa tuổi thiếu niên là thời kỳ
“bão táp và giông tố”, ám chỉ sự biến động tâm lý của các em. Từ đó đến thập niên
1980, hàng loạt các nghiên cứu về lứa tuổi này ra đời bởi các nhà tâm lý học như S.
Freud, Anna Freud, P. Blos (1979), E. Erikson (1902-1994), J. Piaget (1896-1980),
A.Maslow (1908-1970), L. S. Vygotsky (1896-1934),… với các hướng tiếp cận
khác nhau.
- Tiếp theo nhận định của Hall, S. Freud (1856-1939) và Anna Freud
(1895-1982) nhận thấy mối liên hệ của sự phát triển tính dục và gia đình đối với sự
biến động tâm lý thiếu niên. Anna cho rằng đây là “biểu hiện bình thường của một
8
q trình tách ra và là một kích thích cần thiết cho quá trình phát triển”. Các nhà
phân tâm học xem “sự hòa hợp với cha mẹ là dấu hiệu của sự chưa trưởng thành về
mặt tâm lý bên trong" [2; 14]. Theo cách phân tích trên, xung đột của thiếu niên
trong gia đình được nhìn nhận như nhân tố thúc đẩy sự phát triển và có vai trị quan
trọng trong sự trưởng thành về mặt nhận thức của thiếu niên.
- Thuyết “Q trình cá thể hóa” của Peter Blos đã nêu lên quan điểm giai
đoạn khủng hoảng tuổi dậy thì của thiếu niên chính là cơ hội để các em “tích lũy
những khác biệt và khoảng cách với cha mẹ mình để vượt qua ràng buộc từ thời thơ
ấu”. Nhận định này đã góp phần lý giải cho những mối bất hòa giữa cha mẹ và con
cái ở lứa tuổi này. Trong q trình cá thể hóa, thiếu niên được “hình thành cảm giác
nhạy bén để phân biệt mình với người khác và nâng cao nhận thức về những giới
hạn của bản thân” [3; 14]. Đồng thời, những phát hiện của học thuyết làm tiền đề
cho những nghiên cứu về mối liên hệ giữa xung đột với sự khác biệt và khoảng cách
thế hệ của thiếu niên với cha mẹ.
- Dựa theo cách tiếp cận tâm lý học nhận thức, J. Piaget (1896-1980) đề cập
đến nguyên nhân làm xuất hiện xung đột ở tuổi thiếu niên là sự phát triển các năng
lực nhận thức “vì tính hay lý luận và không chịu lắng nghe người khác” [5;14].
- Các nhà tâm lý học hoạt động như Vygotsky nhận thấy dấu hiệu của giai
đoạn khủng hoảng là triệu chứng khó giáo dục. Trong giai đoạn này, đứa trẻ phải
đối mặt với nhiều sự thay đổi về các đặc điểm nhân cách, nảy sinh nhiều mâu thuẫn
nội tâm và xung đột với mọi người xung quanh. Bên cạnh đó, Leontiev (1903-1979)
cho rằng sự thay đổi hoạt động chủ đạo của lứa tuổi cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ
đến sự khủng hoảng. Theo quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động, để giải
quyết xung đột tâm lý giữa cha mẹ và thiếu niên, cha mẹ cần có sự thay đổi về cách
ứng xử, khắc phục sự khơng tương thích trong mối quan hệ với con cái.
Nhìn chung, vào khoảng thời gian này, các nghiên cứu tập trung giải thích và
gọi tên hiện tượng xung đột xảy ra ở đứa trẻ với nhiều hướng tiếp cận khác nhau
nhằm tạo cơ sở vững chắc cho việc tìm ra giải pháp. Phần lớn nghiên cứu trong thời
kì này đều xem xét nguyên nhân xảy ra xung đột xuất phát từ sự thay đổi về tâm lý
và sinh lý của thiếu niên. Trên cơ sở đó, một số nhà tâm lý học bắt đầu đề cập đến
9
những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết xung đột của thiếu
niên trong gia đình nhưng chưa đi sâu vào cách giải quyết cụ thể.
1.1.1.2. Nghiên cứu thực tiễn
Giai đoạn từ thập niên 1980 đến nay, các nghiên cứu về vấn đề xung đột giữa
thiếu niên và cha mẹ xuất hiện ngày càng nhiều. Quan điểm của Vygotsky khi nhìn
sự phát triển tâm lý gắn liền với các yếu tố văn hóa lịch sử được quan tâm trong thế
kỷ XXI. Đặc biệt trong thời kì này có nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong những
gia đình có con tuổi đầu vị thành niên, đánh dấu bước tiến mới trong lĩnh vực
nghiên cứu về lứa tuổi này [14]. Nhiều nghiên cứu đã bác bỏ quan điểm tuổi thiếu
niên đầy bão táp và giơng tố, sự nhìn nhận bi quan về lứa tuổi này và xây dựng khái
niệm mới thay thế. Các nhà tâm lý học hiện đại nhận thấy có sự liên quan giữa mức
độ gần gũi trong gia đình với khuynh hướng xảy ra xung đột. Các nghiên cứu cho
rằng mức độ gần gũi trung bình giữa cha mẹ và con là tốt nhất, nếu có sự chênh lệch
như nhiều q hoặc ít q đều có thể dẫn đến sự bất hịa trong mối quan hệ đó.
Trong giai đoạn này, các khía cạnh của xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ như
nguyên nhân, giải pháp, kết quả, biểu hiện... được nghiên cứu sâu hơn.
- Nghiên cứu về kết quả của xung đột, các nhà tâm lý đưa ra khái niệm về
“xung đột có lợi” và “xung đột có hại”. Theo Robert Fosterb (1989), Reed &
Duboro (1997), xung đột có hại bao gồm gia đình khơng êm ấm, hay tranh chấp, cãi
vã dẫn đến khó khăn trong giải quyết xung đột và gây ra nhiều xung đột hơn nữa.
Barrera & Stice (1998), Fuller & Krupinski (1994), Shek (1991) nhận thấy xung đột
có hại liên quan đến sự lo âu, buồn khổ của mỗi cá nhân nói chung và đặc biệt là
tính khó kiểm sốt ở thiếu niên. Nghiên cứu cho thấy xung đột gia đình là nguyên
nhân gây ra tình trạng trẻ đi bụi đời, có sự phát triển tiêu cực về tinh thần và thể
chất của trẻ (Fuller &Kavpinski, 1994). Montemayor (1983) nhận định rằng xung
đột với mức độ thấp hoặc trong quá trình xảy ra xung đột có sự giao tiếp hiệu quả,
có giải pháp giải quyết xung đột và không để lại hậu quả cho thiếu niên, cha mẹ lẫn
mối quan hệ gia đình được xem là xung đột có lợi – tạo điều kiện để thiếu niên và
cha mẹ xác lập lại mối quan hệ gia đình và thỏa mãn nhu cầu độc lập của bản thân.
Những nghiên cứu này đã có sự thay đổi so với giai đoạn trước, không xem xét
10
xung đột như đối tượng gây hại (Robin & Foster (1989), Smetana (1989)) [42].
Hướng nghiên cứu này đã làm bật lên tầm quan trọng của sự hiểu biết về xung đột
nhằm đề ra phương pháp cải thiện cách cha mẹ và con cái đối diện với xung đột, gia
tăng kết quả tích cực trong mối quan hệ và bản thân mỗi người.
- Nghiên cứu về giải pháp giải quyết xung đột giữa cha mẹ và thiếu niên,
Roseblum & O’Leary (1978), Steinberg (1990), Vincent Roehling & Robin (1986)
nhận thấy những yếu tố liên quan đến hệ thống niềm tin của gia đình, sự ấm áp, gần
gũi và tin tưởng trong mối quan hệ có ảnh hưởng quan trọng đến giải quyết xung
đột. Những giải pháp của xung đột phụ thuộc vào khả năng giao tiếp và xử lý vấn
đề gây nên xung đột [43]. N.L. Galambos & D.M. Almeida (1992) cho rằng sự hợp
tác và bàn bạc giữa cha mẹ và con sẽ tạo nên những hiệu quả tích cực cho mối quan
hệ giữa cha mẹ và con khi xảy ra xung đột.
- Nghiên cứu về những vấn đề gây nên xung đột giữa cha mẹ và con,
Smetana & Asquirth (1994) và Barber (1994) nhận thấy những công việc nhà, dọn
dẹp phòng riêng, bài tập về nhà, kết quả học tập, thời gian xem tivi, giờ giấc sinh
hoạt, thiếu tập trung, cách cư xử gây khó chịu, xung đột với anh chị em và tính chất
mối quan hệ gia đình. Ngồi ra, những vấn đề về đạo đức và quy chuẩn xã hội cũng
tác động đến xung đột giữa cha mẹ và con. Nghiên cứu của Allison & Schultz
(2004) cho thấy vấn đề đáng được quan tâm là không tuân thủ quy tắc của gia đình,
những phẩm chất nhân cách tiêu cực như nói dối, gây sự, gặp rắc rối với người
khác..., những vấn đề liên quan đến nhu cầu độc lập như đi chơi một mình, thời gian
rảnh rỗi, quan hệ bạn bè, sử dụng tiền bạc, sự công nhận [43].
- Các nhà nghiên cứu nhận thấy sự vi phạm những quy định trong gia đình,
đặc điểm cấu trúc gia đình, sự khác biệt giới tính của cha mẹ và giới tính của con là
một trong những nguyên nhân gây nên xung đột giữa cha mẹ và con. Trong đó,
V.Ia.Titarencơ cho rằng nguyên nhân chính gây nên những hành vi ứng xử chống
đối của con là “hành vi áp đặt vô căn cứ, bất công của cha mẹ với con hoặc cha mẹ
làm mất đi uy tín của mình trước con” [13;14].
Ngồi ra, tìm kiếm trên trang google với cụm từ “Study on parent –
adolescent conflict” có trên 8.000 bài nghiên cứu từ nhiều quốc gia với các vấn đề
11
khác nhau xoay quanh “xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ”. Điều này cho thấy
đây là đề tài đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm
tìm ra giải pháp hiệu quả cho vấn đề.
Nhìn chung, các nhà khoa học trên thế giới đã sớm nhận thức được tầm quan
trọng của thời kì khủng hoảng tuổi thiếu niên. Từ đó, nhiều nghiên cứu liên quan
đến vấn đề này ra đời, trong đó có vấn đề xung đột giữa cha mẹ và thiếu niên.
Trải qua hai giai đoạn nghiên cứu, giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến thập niên 1980,
các nghiên cứu chủ yếu mang tính lý luận, định hướng cho các nghiên cứu sau này
và tập trung vào đặc điểm tâm lý của thiếu niên. Giai đoạn thứ hai, từ thập niên
1980 đến này, một số nghiên cứu chú trọng đến kết quả thực nghiệm để đối chứng
bên cạnh mặt lý luận và xem xét trên nhiều đối tượng như gia đình, trường học, môi
trường... Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy xung đột tuổi thiếu niên với gia đình
có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách lâu dài của đứa trẻ.
Chính vì thế, có thể thấy đây là vấn đề đáng được quan tâm, nhất là trong thời kì
xã hội đang có nhiều biến động như hiện nay.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ ở Việt Nam
1.1.2.1. Nghiên cứu lý luận
Hiện nay, tại Việt Nam, vấn đề xung đột giữa thiếu niên và cha mẹ vẫn chưa
được nghiên cứu nhiều, hệ thống lý luận chung cho vấn đề được hình thành dựa trên
kiến thức về Tâm lý học gia đình, Tâm lý học lứa tuổi nhưng chỉ được đề cập ở một
khía cạnh đặc điểm, bản chất của vấn đề, chưa đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng và
giải pháp.
Từ những năm 1990, những nghiên cứu lý luận về xung đột xuất hiện bởi các
nhà Tâm lý học xã hội, Xã hội học, Tâm lý học gia đình, Tâm lý học quản lý với
các tác giả tiêu biểu như Ngơ Cơng Hồn, Vũ Dũng, Nguyễn Khắc Viện.. Các
nghiên cứu này đã đóng góp cơ sở lý luận về xung đột trong các mối quan hệ gia
đình hay trong quản lý.
Ngơ Cơng Hồn (1993) đã nghiên cứu về bản chất xung đột, cho rằng sự
xung đột trong gia đình là “sự xung đột về nhận thức, quan điểm, thái độ và những
thói quen hành vi ứng xử trong tổ chức đời sống sinh hoạt của các thành viên ở gia
12
đình”. Tác giả nhấn mạnh sự bất hịa, xung đột trong nhận thức phải bộc lộ qua
hành vi và thái độ của các thành viên mới được xem là xung đột [15; 8]. Bên cạnh
đó, Vũ Dũng đã đưa ra khái niệm phân biệt giữa mâu thuẫn và xung đột, trong đó
xung đột là mức độ cao hơn của mâu thuẫn và là sự va chạm của các “xu hướng đối
lập nhau trong tâm lí của các cá nhân trong hoạt động chung của tổ chức” [325; 5].
Nhận định của các tác giả trên khẳng định xung đột xuất phát từ những sự đối lập,
va chạm về nhận thức, quan điểm, phải bộc lộ qua thái độ và hành vi ứng xử, “nếu
chỉ dừng lại ở nhận thức thì chưa phải xung đột” [15; 14].
1.1.2.2. Nghiên cứu thực tiễn
Vào thập niên 1990, những nghiên cứu thực tiễn về vấn đề xung đột xuất
hiện góp phần xác minh tính xác thực của các nghiên cứu lý luận. Giai đoạn này có
nhiều nghiên cứu về đề tài gia đình từ góc độ xã hội học, xem xét nguyên nhân và
hậu quả của các cuộc xung đột trong gia đình. Qua đó các nhà nghiên cứu “xác
nhận tình trạng đáng lo ngại về mối quan hệ ít gần gũi, gắn bó giữa cha mẹ và con”,
đồng thời đưa ra nguyên nhân quan trọng gây nên xung đột với con cái là cha mẹ
thiếu kiến thức tâm lý, không biết cư xử với con cho phù hợp với từng giai đoạn
phát triển tâm lý của chúng [16; 14]. Nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Hạc cho
thấy sự thờ ơ, không quan tâm đến giáo dục con, sử dụng bạo lực với con sẽ dẫn
đến tình trạng trẻ em phạm pháp, khó giáo dục [14]. Tương tự, bản báo cáo “Bảo vệ
và chăm sóc sức khỏe tâm thần (SKTT) trẻ em” – Hoàng Cẩm Tú, đề cập đến một
số vấn đề như nguyên nhân tạo ra xung đột kéo dài ở trẻ là sự thiếu gắn bó giữa các
thành viên trong gia đình. Chỉ ra những sai lầm ở cha mẹ trong quá trình giáo dục
con cái [11]. Các kết quả nghiên cứu này đã bước đầu cho thấy vai trị của gia đình
với chất lượng mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, cũng như sự ảnh hưởng đến sự
phát triển của chúng. Qua đó, những vấn đề tâm lý trong lĩnh vực gia đình dần được
quan tâm nghiên cứu vào đầu thế kỷ XXI.
Một số nghiên cứu về xung đột trong các mối quan hệ liên nhân cách như
“Nghiên cứu sự xung đột trong quan hệ vợ chồng” (2001) của tác giả Cao Thị
Huyền Nga phân tích thực trạng trên 450 có gia đình và 30 cặp hiện có xung đột,
Nguyễn Đình Mạnh (2006) tiến hành nghiên cứu vấn đề “Xung đột tâm lý trong
13
tình yêu nam nữ của sinh viên” trên 624 sinh viên và 15 cặp sinh viên, vấn đề
“Xung đột gia đình ở vùng ven đơ đang trong q trình đơ thị hóa” được Trần Thu
Hương (2007) trên 475 người. Các nghiên cứu đều nhằm tìm hiểu nhận thức, quan
điểm chung về vấn đề xung đột, nguyên nhân của vấn đề và từ đó đề xuất biện pháp
tác động. Các biện pháp đề xuất của tác giả khơng chỉ có thể ứng dụng trong xung
đột của mối quan hệ vợ chồng, tình u nam nữ mà cịn đóng góp vào cơ sở lý luận
chung về vấn đề xung đột những cách thức, giải pháp để giải quyết cho các vấn đề
xung đột liên nhân cách [12], [15].
Năm 2001, cơng trình nghiên cứu thực tiễn của Lê Văn Hảo về vấn đề
“Quan hệ cha mẹ - con là thanh niên: bất đồng và ứng xử” ở học sinh lớp 11, 12,
tuổi từ 17 – 25 tại các trường trung học phổ thông thuộc 5 tỉnh và thành phố vào
năm 1988 đã tìm ra nguyên nhân phổ biến gây nên xung đột giữa cha mẹ và con cái,
trong đó những vấn đề hàng ngày trong cuộc sống là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất
đến sự “va chạm” giữa cha mẹ và con. Năm 2003, Lê Đức Phúc, Mạc Văn Trang đã
có một số bài nghiên cứu về mặt lý luận, tìm ra các cấp độ xung đột trong gia đình
và đưa ra nhận định tầm quan trọng của chức năng của gia đình đến việc giáo dục
con cái, nâng đỡ chúng vượt qua giai đoạn khó khăn [14].
Năm 2009, Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh đã xuất bản bộ sách Tư vấn tâm lý học
đường gồm những mẩu tư vấn tâm lý của tác giả, được tập hợp theo các chủ đề
chính: gia đình; cảm nghĩ về bản thân và các giá trị sống; chuyện học hành, hướng
nghiệp; tình bạn, tình yêu… Những tình huống thực tế trong bộ sách giúp người
nghiên cứu có thể khái quát sơ bộ tình hình thực tế các vấn đề phổ biến của tuổi
thiếu niên cũng như về mối quan hệ với cha mẹ và cũng cấp nhiều góc nhìn trong
việc giải quyết các vấn đề này [17].
Thực tế hiện nay cho thấy vấn đề xung đột giữa cha mẹ và con cái, đặc biệt
là thiếu niên dần được quan tâm nhưng vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Các
nghiên cứu chủ yếu tập trung giải quyết về mặt lý luận và mang tính định hướng,
cịn bỏ ngõ nhiều vấn đề về nhu cầu tâm lý của các em được nảy sinh trong quá
trình phát triển. Nhận biết được tình hình, cơ Đỗ Hạnh Nga (2005) đã tiến hành
nghiên cứu sâu về vấn đề “xung đột tâm lí giữa cha mẹ và con lứa tuổi học sinh
14
trung học cơ sở về nhu cầu độc lập” trên 1460 học sinh trung học cơ sở và 1460 cha
mẹ của học sinh các trường trung học cơ sở. Nghiên cứu đã đưa ra một hệ thống lý
luận chung nhất về xung đột như bản chất của xung đột, đồng thời có nghiên cứu
thực nghiệm nhằm có góc nhìn tồn diện nhất về vấn đề này [14].
Sơ lược các nghiên cứu cho thấy hiện tượng xung đột trong các mối quan hệ
đã được quan tâm bởi nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực xã hội khác nhau. Tuy
nhiên, vấn đề xung đột trong các mối quan hệ gia đình, đặc biệt là giữa cha mẹ và
con cái ở lứa tuổi thiếu niên ở nước ta vẫn chưa được nghiên cứu rộng rãi. Nhận
thấy, trong giai đoạn xã hội có nhiều thay đổi lớn như sự xuất hiện của mạng xã hội,
cơng nghệ điện tử và nhiều nên văn hóa ngoài nước du nhập vào nước ta và những
bước chuyển trên đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con
cái. Do vậy, người nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu về vấn đề xung đột trong giao
tiếp giữa thiếu niên với cha mẹ của học sinh lớp 8, 9 trên cơ sở kế thừa và phát huy
các hệ thống lý luận sẵn có nhằm góp phần đưa thêm góc nhìn về vấn đề này.
1.2. Cơ sở lý luận về xung đột trong giao tiếp với cha mẹ của thiếu niên
1.2.1. Xung đột
1.2.1.1. Định nghĩa
Xung đột (conflict) có nguồn gốc từ tiếng Latinh: conflictus, có nghĩa là sự
va chạm.Trong từ điển tiếng Việt, “xung đột” được định nghĩa là “sự va chạm,
chống chọi nhau do có mâu thuẫn gay gắt”. Bên cạnh đó, từ điển tiếng Anh diễn
giải xung đột là “sự đối nghịch về quan điểm, ý kiến, cảm xúc” hoặc “tình trạng
chống đối giữa những người, nhóm người hoặc quốc gia với nhau” [28], [29].
Các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
xung đột, có thể tạm nhóm thành ba hướng chính:
Hướng thứ nhất: Những định nghĩa theo hướng tiếp cận này đi sâu vào
nguồn gốc của xung đột, xem xét xung đột như một giai đoạn đỉnh điểm của
“mâu thuẫn”
- Tiêu biểu là nhà triết học K. Marx, F. Engel, V.I. Lenin, họ nghiên cứu và
phân loại các dạng mâu thuẫn, từ đó xếp “xung đột” vào kết quả có thể xảy ra của
sự “mâu thuẫn đối kháng”. Thuyết xung đột xã hội, bắt nguồn từ thuyết xung đột
15
của Karl Marx (1818 – 1883), xác định xung đột xã hội là giai đoạn phát triển cao
nhất của các mâu thuẫn trong hệ thống các quan hệ giữa con người với con người,
các tập đoàn xã hội và xã hội nói chung.
- Một số nhà tâm lý học xã hội nước ta cũng đi sâu vào khái niệm xung đột
theo hướng tiếp cận này. TS. Đỗ Hạnh Nga khẳng định cần phải làm rõ hai thuật
ngữ “mâu thuẫn” và “xung đột”. Giáo trình Tâm lý học xã hội của Trần Quốc
Thành và Nguyễn Đức Sơn chỉ ra sự khác nhau giữa mâu thuẫn và xung đột:
“Không phải mâu thuẫn nào cũng biến thành xung đột, mà chỉ khi mâu thuẫn đó
bùng nổ thì xung đột mới xuất hiện”. Trần Anh Thụ đã nhận định rằng: “Xung đột
là cái đến sau mâu thuẫn, nhằm giải quyết mâu thuẫn”[14], [12], [26].
Hướng tiếp cận này chỉ ra nguồn gốc của xung đột là mâu thuẫn. Nói cách
khác, mâu thuẫn là cơ sở của xung đột. Tuy nhiên, những định nghĩa này chưa làm
rõ được nguyên nhân và tác động đến đời sống cá nhân của xung đột.
Hướng thứ hai: Một số tác giả muốn làm rõ hơn bản chất của xung đột. Do
đó, có những định nghĩa nhấn mạnh về nguyên nhân gây ra xung đột.
- Vũ Dũng định nghĩa xung đột là “sự va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao của
các xu hướng đối lập nhau trong tâm lí của các cá nhân, trong hoạt động chung của
tổ chức”.
-A.V. Pétrovski cho rằng “xung đột là sự va chạm của những quan điểm, lợi
ích, hồi bão đối lập nhau.”
- Lewis Coser nhận thấy xung đột xảy ra là do “sự thiếu hụt quyền lực, vị trí
hay cơng cụ cần thiết để thỏa mãn những đòi hỏi, kỳ vọng” dẫn đến sự đấu tranh
nhằm hòa hợp, lấn át hoặc loại bỏ đối phương.
- Follet định nghĩa xung đột bắt nguồn từ mâu thuẫn do sự khác biệt về
ý kiến và lợi ích.
- B.G. Meseriakova và V.P.Zinchenko đề cập đến sự mâu thuẫn về “quyền
lợi, mục tiêu, quan điểm, ý kiến của một cá nhân hay các chủ thể có mối quan hệ
với nhau”.
Hướng tiếp cận thứ hai cho thấy xung đột có sự gắn bó với các hiện tượng
tâm lý người, xung đột được thể hiện qua những dấu hiệu: “sự khác biệt”, “sự va
16