PHÂN TÍCH CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH
1. PHÂN TÍCH CƠ SỞ KHOA HỌC
- Chính sách dựa trên cơ chế vận hành của các quy luật khách quan do chính sách
bảo hiểm y tế tự nguyện được áp dụng với mọi công dân Việt Nam (trừ những
người đã có thẻ BHYT bắt buộc được quy định tại Điều lệ BHYT ban hành kèm
theo Nghị định số 63/2005/NĐCP ngày 16/5/2005 của Chính phủ và trẻ em dưới
6 tuổi)”. So với BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện được triển khai theo địa giới
hành chính (áp dụng cho hộ gia đình, tổ chức triển khai theo cấp xã , phường, thị
trấn…), có số lượng tham gia đông đảo, đa dạng về thành phần và nhận thức xã
hội, có điều kiện kinh tế và nhu cầu chăm sóc sức khỏe khác nhau. Bảo hiểm y tế
tự nguyện là hình thức bảo hiểm do Nhà nước thực hiện không vì mục đích lợi
nhuận, chính vì vậy việc áp dụng pháp luật bảo hiểm y tế tự nguyện với mục tiêu
hàng đầu là phục vụ và vì lợi ích cộng đồng.
- Tuy nhiên, hiện đang có sự mâu thuẫn giữa quy định tại Nghị định 63/2005/NĐCP và Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 30 tháng 3 năm 2007
khi quy định về đối tượng tham gia BHYT tự nguyện. Theo quy định tại Điều 25
Nghị định 63/2005/NĐ-CP: những người đã tham gia BHYT bắt buộc nhưng
muốn tham gia BHYT tự nguyện để hưởng mức dịch vụ y tế cao hơn, người tham
gia BHYT bắt buộc có thể tham gia BHYT tự nguyện. Tuy nhiên, Thông tư liên tịch
số 06/2007/TTLT-BYT-BTC , Điểm 2 phần I lại quy định: BHYT tự nguyện không
áp dụng với những người đã có thẻ BHYT bắt buộc. Điều này đã gây khó khăn
cho việc áp dụng pháp luật trên thực tế.
- Mức đóng bảo hiểm y tế tự nguyện theo Thông tư mới này thấp hơn nhiều so với
chi phí khám chữa bệnh bình quân của mỗi người tham gia bảo hiểm y tế (trong
năm 2006 gần 900.000 đồng/người/năm). Với những sửa đổi kể trên, chắc chắn
quỹ bảo hiểm y tế sẽ phải bù lỗ cho những người có thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện
mỗi năm.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
- Chính sách phù hợp với tình hình kinh tế xã hội vì những lý do sau:
+ Thứ nhất BHYT TN chính là biện pháp để xoá đi sự bất công giữa người giàu và
người nghèo, để mọi người có bệnh đều được điều trị với điều kiện họ có tham
gia BH, điều này đã thực sự mang lại sự công bằng trong khám chữa bệnh.
+ Thứ hai: BHYT tự nguyện giúp cho người tham gia khắc phục khó khăn cũng
như ổn định về mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro ốm đau. Như vậy
BHYT tự nguyện ra đời có tác dụng khắc phục hậu quả và kịp thời ổn định được
cuộc sống cho người dân khi họ bị ốm đau, tạo cho họ một niềm lạc quan trong
cuộc sống, từ đó giúp họ yên tâm lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho
chính bản thân họ và sau đó là cho xã hội, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của
xã hội.
I.
+ Thứ ba: Bảo hiểm y tế tự nguyện ra đời còn góp phần giáo dục cho mọi người
dân trong xã hội về tính nhân đạo theo phương châm: “Lá lành đùm lá rách.
+ Thứ tư: BHYT tự nguyện còn có tác dụng góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho
ngân sách Nhà nước.
+ Thứ năm: BHYT tự nguyện là một công cụ vĩ mô của Nhà nước để thực hiện tốt
phúc lợi xã hội, đồng thời tạo nguồn tài chính hỗ trợ, cung cấp cho hoạt động
chăm sóc sức khoẻ của người
dân.
+ Thứ sáu: BHYT tự nguyện còn góp phần đề phòng và hạn chế những bệnh hiểm
nghèo theo phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh.
II.
PHÂN TÍCH THỰC THI CHÍNH SÁCH
1. Lập kế hoạch triển khai chính sách
- Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh
xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống nhân dân lao
động, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước.
- Bộ Y tế và Bộ Tài chính đã ban hành thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT/BYTBTC ngày 30-3-2007 hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) tự nguyện. Qua
thực thi ban hành thông tư xuống các địa phương, tính đến cuối năm 2013, điển
hình toàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre có gần 13.000 người tham gia BHYT tự
nguyện, tăng 30,67% so với cùng kỳ, đạt tỷ lệ 20% so với số đối tượng thuộc diện
vận động tham gia BHYT tự nguyện. Một số xã có tỷ lệ người dân tham gia khá
như An Quy đạt 93,88%, thị trấn Thạnh Phú 88,05%, Bình Thạnh 83,82% so với
kế hoạch UBND huyện giao.
- Để có được kết quả này, BHXH huyện luôn tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo của
BHXH tỉnh, Huyện ủy, UBND huyện, sự phối hợp tích cực của các ban ngành đoàn
thể có liên quan từ huyện đến xã, ấp. Năm 2013, ngay khi triển khai thực hiện
BHYT tự nguyện nhân dân, BHXH huyện đã tham mưu Huyện ủy xây dựng các
văn bản chỉ đạo các chi bộ triển khai thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW, tham mưu
UBND huyện xây dựng kế hoạch thực hiện BHYT theo lộ trình giai đoạn 20122015 và 2020, thành lập đoàn kiểm tra thực hiện BHYT tự nguyện nhân dân trên
địa bàn huyện, giám sát công tác triển khai vận động nhân dân tham gia BHYT
tại một số xã. Phối hợp với Phòng Y tế huyện kiểm tra công tác khám chữa bệnh
BHYT tại một số trạm y tế xã. Kiểm tra việc đăng nộp quyết toán và phát thẻ
BHYT ở các đại lý nhằm ngăn chặn tình trạng chiếm dụng tiền BHYT của người
dân.
2. Tuyên truyền
Tuyên truyền rộng rãi chính sách BHYTTN đến các tầng lớp nhân dân thông qua
chuyên mục định kỳ trên Đài truyền thanh huyện. Phát tờ rơi đến tận các hộ dân,
in và dán áp phích tại các nơi công cộng như bệnh viện, trạm y tế xã, trụ sở làm
việc…BHXH huyện đã phối hợp với Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Liên
-
-
-
-
đoàn lao động huyện, Mặt trận tổ quốc, Hội Nông dân huyện, Hội Chữ thập đỏ,
Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn Thanh niên qua đó lồng ghép tuyên truyền chính
sách BHYT sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân.
Xây dựng đội ngũ báo cáo viên về BHYTTN: Đội ngũ báo cáo viên trước hết là
thầy thuốc: mỗi thầy thuốc phải trở thành một tuyên truyền viên về BHYT, bởi vì
người bệnh luôn luôn nghe theo lời khuyên của thầy thuốc, thầy thuốc là những
người chẳng những cứu chữa người bệnh mà còn là người nâng đỡ tinh thần ốm
yếu của người bệnh. Ngoài ra cần đào tạo một đội ngũ tuyên truyền viên chuyên
nghiệp về BHYTTN (tương tự như đội ngũ trình dược viên hiện nay đang tuyên
truyền và quảng cáo cho các hãng dược) và có chính sách khen thưởng cho họ khi
họ vận động được nhiều người tham gia BHYTTN, nhất là với những đối tượng
khó vận động (đối tượng tham gia BHYT tự nguyện, doanh nghiệp tư nhân…).
Đẩy mạnh việc tuyên truyền miệng về BHYTTN: tuyên truyền miệng là loại tuyên
truyền có thế mạnh vì nó lan truyền nhanh và thấm dần, ai cũng có thể tham gia.
Tuy vậy muốn tuyên truyền miệng đạt kết quả thì cơ quan BHYT phải thường
xuyên định hướng tuyên truyền và hướng dẫn cho các báo cáo viên nòng cốt. Bồi
dưỡng đào tạo đội ngũ các đại lý chi trả tại các xã phường thực sự trở thành các
tuyên truyền viên chuyên nghiệp về BHYT, BHXH. Có chính sách đãi ngộ khen
thưởng kịp thời.
Nâng cao chất lượng tuyên truyền qua hệ thống loa phát thanh tại các xã
phường: Đây là hình thức tuyên truyền tưởng như đã lỗi thời, nhưng hiện nay tại
các vùng nông thôn hình thức này vẫn đang phát huy rất hiệu quả và tiết kiệm
được các nguồn lực nếu chúng ta biết vận dụng một cách sáng tạo. Vì người
tuyên truyền viên là người của dân, biết dân cần gì, chúng ta chỉ cần cung cấp
cho họ kiến thức về BHYT, giúp họ biết cách soạn lại theo “ngôn ngữ” bản địa, có
như thế dân mới hiểu và mới làm theo một cách tự giác.
Tăng cường các giải pháp tuyên truyền các điển hình tốt, tiên tiến trong thực
hiện chính sách BHYTTN và có hính thức khen thưởng thích đáng cho họ (cá
nhân hay đơn vị). Hiện nay giữa một doanh nghiệp (hay địa phương) thực hiện
tốt về chính sách BHYTTN với một doanh nghiệp (hay địa phương) không thực
hiện chính sách BHYTTN, chúng ta chưa có những chế tài và hình thích hợp ( kể
cả vật chất lẫn tinh thần ) để khen thưởng hay kỷ luật thích đáng. Nên chăng có
hình thức khen như khuyến khích việc khám bệnh định kỳ để phát hiện sớm bệnh
tật, du lịch, nghỉ dưỡng…..cho đến tuyên dương trên các phương tiện thông tin
đại chúngChuẩn bị các tài liệu tuyên truyền về BHYT với các loại hình đa dạng và
hấp dẫn. Các phương tiện truyền thông và báo chí cần dành những thời lượng và
bài viết về BHYT. Khuyến khích các hình thức thi hiểu biết vè BHYT, sáng tác các
tác phẩm nghẹ thuật về BHYT.
Phát động một cuộc vận động toàn dân tham gia BHYT với tinh thần tham gia
BHYTTN như là một hoạt động nhân đạo, là bổn phận của người dân yêu nước.
Thành lập ban vận động ở các cấp và do những vị lãnh đạo đứng đầu mỗi cấp
làm trưởng ban.
3. Phân công phối hợp
- Nhận thức được tầm quan trọng của chính sách BHYTTN trong thực hiện chính
sách an sinh xã hội, việc phát triển đối tượng tham gia BHYTTN đã được các cấp,
ngành, tổ chức chính trị - xã hội…trên địa bàn cả nước.
- Tập trung chỉ đạo:
+ Điều đầu tiên phải kể đến công tác tham mưu và phối hợp giữa BHXH, Sở Y tế
tỉnh với các sở, ban, ngành và các tổ chức đoàn thể trong triển khai thực hiện, mở
rộng các đối tượng tham gia BHYTTN.
+ Sở Y tế tỉnh phối hợp với BHXH tỉnh và các sở, ban, ngành trong tỉnh tham mưu
cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành các văn bản chỉ đạo
triển khai thực hiện BHYTTN. Có thể nói, đây là nền tảng pháp lý cho việc thực
hiện chính sách BHYTTN. Đây là sự thống nhất chỉ đạo, huy động sự vào cuộc của
cả hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở đối với việc thực hiện chính sách
BHYT.
- Chú trọng công tác tham mưu, phối hợp:
+ Việc phối kết hợp chặt chẽ, tích cực của các cấp, các ngành liên quan giữ vai trò
rất quan trọng trong thực hiện chính sách BHYTTN. Trên địa bàn tỉnh, nhiệm vụ
của các sở, ban, ngành cùng và công tác phối hợp triển khai, thực hiện trong việc
phát triển các đối tượng tham gia BHYT, được phân công cụ thể, rõ ràng.
+ BHXH tỉnh: Phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan và UBND các huyện,
thành phố tăng cường công tác tuyên truyền về chính sách BHYTTN của Đảng và
Nhà nước; Tăng cường công tác quản lý, đổi mới điều hành, kiện toàn tổ chức bộ
máy BHXH các cấp, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống BHYTTN theo
hướng phục vụ đảm bảo quyền lợi, giảm phiền hà cho người tham gia BHYT. Bên
cạnh đó, BHXH tỉnh hướng dẫn quy định về quản lý thu, cấp và quản lý thẻ
BHYTTN cho các đối tượng trên địa bàn tỉnh theo hướng cải cách thủ tục hành
chính thuận lợi nhất cho người tham gia BHYT.
+ Sở Y tế: phối hợp với BHXH tỉnh, các sở, ban, ngành liên quan triển khai xây
dựng chương trình cụ thể để thực hiện chính sách BHYTTN; Tăng cường chỉ đạo
nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, bảo đảm quyền lợi và sự hài lòng cho
người có thẻ BHYTTN, nhất là năng lực KCB tại các trạm y tế. Đẩy mạnh đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị; Cải cách thủ tục hành chính trong KCB; Đào tạo, bổ
sung nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin; đổi mới phong cách phục vụ từng bước đáp ứng sự hài lòng của người
bệnh, coi người bệnh là khách hàng; Chỉ đạo Trung tâm Y tế thành lập Đại lý bán
BHYTTN tại các Trạm Y tế xã/phường/thị trấn để thực hiện việc bán thẻ
-
BHYTTN cho nhân dân đưa chi tiêu bán thẻ BHYTTN vào công tác thi đua khen
thưởng của cá nhân và đơn vị; phát động phong trào mua tặng thẻ BHYTTN cho
người thân.
+ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội: Hàng năm chỉ đạo công tác bình xét hộ
nghèo, hộ cận nghèo, hộ cận nghèo mới thoát nghèo theo Quyết định 705/QĐTTg, hộ gia đình nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình, lập danh sách
chuyển cho cơ quan BHXH kịp thời để có cơ sở cấp, bán thẻ BHYTTN cho các đối
tượng; Chỉ đạo việc lập danh sách mua BHYTTN, chuyển kinh phí đóng BHYTTN
cho các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước đóng BHYTTN đảm bảo đúng
đối tượng, kịp thời theo quy định của luật BHYTTN; Xây dựng và thực hiện tốt
chương trình phối hợp giữa Sở Lao động-Thương binh và Xã hội và BHXH tỉnh về
thực hiện chính sách pháp luật BHXH, BHYT trên địa bàn tỉnh; Tăng cường công
tác thanh tra, kiểm tra tình hình chấp hành pháp luật về lao động của các doanh
nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh. Chủ trì, phối hợp với BHXH tỉnh kiểm tra việc triển
khai thực hiện chính sách BHYTTN cho các đối tượng chính sách, đối tượng bảo
trợ xã hội, người nghèo, cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi ở cơ sở…
+ Sở Thông tin và Truyền thông: Phối hợp với BHXH tỉnh xây dựng chương trình,
kế hoạch tuyên truyền, vận động toàn dân tham gia BHYTTN; Chỉ đạo các cơ
quan báo chí, phát thanh, truyền hình của tỉnh thực hiện tuyên truyền Luật BHYT,
chính sách BHYTTN toàn dân với nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phù hợp
với tính chất đặc thù của các loại hình báo đài.
- UBND các huyện, thị, thành phố chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về tổ chức
thực hiện các chỉ tiêu bao phủ BHYTTN hàng năm tại địa phương. Đưa mục tiêu,
kế hoạch, tỷ lệ bao phủ BHYTTN là một chỉ tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội dài hạn và ngắn hạn của địa phương đến tận xã/phường/thị trấn, xem
kết quả thực hiện chính sách BHYTTN là một chỉ tiêu đánh giá nhiệm vụ chính trị
của địa phương; thực hiện công tác sơ kết, tổng kết đánh giá kết quả thực hiện.
Triển khai thực hiện mục tiêu BHYTTN toàn dân gắn với Chương trình xây dựng
nông thôn mới.Các sở, ban, ngành, tổ chức chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh phối
hợp chặt chẽ với ngành BHXH, Y tế để thực hiện tốt nhất việc phát triển đối
thượng tham gia BHYT.
4. Huy động nguồn lực
- Mở rộng hỗ trợ người tham gia BHYT tự nguyện lúc đầu
+ Theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam: "Chúng ta có lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y
tế hướng tới mục tiêu các cơ sở y tế cơ bản tự chủ về tiền lương, phụ cấp sau khi
tính vào giá dịch vụ trong khi hiện 1 năm chúng ta dành 11.000 tỷ đồng chi lương
cho ngành y tế. Tôi đề nghị ngân sách không giảm khoản này và chuyển sang hỗ
trợ cho một số đối tượng mua BHYT tự nguyện lần đầu từ năm 2017. Các bộ cần
bàn cụ thể không chỉ hỗ trợ cho nông dân, ngư dân nghèo, cận nghèo mà cần mở
-
-
rộng hỗ trợ người mua lần đầu, mua theo hộ gia đình, để người dân quen dần với
việc mua và sử dụng BHYT".
+ Đối với chương trình tin học hóa, kết nối liên thông trong giám định, thanh
toán BHYT tại 14.000 cơ sở y tế trên toàn quốc, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn
mạnh đây là công việc rất lớn, quan trọng khi tổng lượng thanh toán BHYT trong
năm 2015 là 50.000 tỷ đồng và sẽ tiến tới hàng trăm nghìn tỷ một năm. Nếu bệnh
viện nào không thực hiện kết nối liên thông dữ liệu phục vụ giám định, thanh
toán BHYT thì BHYT treo lại không thanh toán.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh cần làm rõ trách nhiệm về vấn đề mở rộng tỉ lệ bao
phủ BHYT, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT. Để bán
BHYT tự nguyện, BHXH phải coi người mua là khách hàng, dùng cơ chế như
doanh nghiệp, mở hệ thống đại lý. Về lâu dài phải mở ra thị trường BHYT TN cao
cấp hơn, phát triển thị trường bảo hiểm.
III.
Kết quả thực hiện chính sách.
Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh
xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống nhân dân lao
động, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước. Nhìn chung, số
lượng người tham gia vào loại hình BHYT tự nguyện tăng dần theo các năm. Sau
đây là số liệu thống kê của một số địa phương tiêu biểu:
TP Hồ Chí Minh: Chỉ riêng trong năm 2008, số người mua bảo hiểm y tế (BHYT)
tự nguyện tại TP.HCM đã tăng hơn gấp đôi tổng số người mua 4 năm trước. Theo
thống kê của Bảo hiểm xã hội (BHXH) TP.HCM, tính dồn từ 2004 (năm đầu tiên
triển khai BHYT tự nguyện) đến cuối năm 2007, tổng cộng có 111.600 người
tham gia, thì đến cuối năm 2008, số thẻ BHYT tự nguyện ở TP.HCM đã lên đến
359.000. Số người tham gia BHYT tự nguyện tại TP.HCM là 247.400, cao hơn gấp
đôi tổng số người tham gia của 4 năm trước. Đó là chưa kể số thẻ BHYT tự
nguyện mà học sinh - sinh viên tham gia, cộng dồn đến nay là 851.000 thẻ. "Đến
nay, tại TP.HCM số người tham gia BHYT tự nguyện và BHYT bắt buộc đã gần
ngang nhau, khoảng hơn 1,2 triệu thẻ BHYT tự nguyện và khoảng 1,5 triệu thẻ
BHYT bắt buộc" (ông Bùi Đức Tráng, Phó giám đốc BHXH TP.HCM).
Tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (NDVN) và Bảo hiểm xã hội
(BHXH) Việt Nam tổ chức hội nghị tổng kết “Chương trình phối hợp thực hiện
chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2015” và lễ ký
“Chương trình phối hợp giai đoạn 2016 – 2020”. Trong 4 năm (2012 – 2105) các
cấp Hội ND đã xây dựng 369 mô hình vận động hội viên, ND tham gia BHXH tự
nguyện; xây dựng 1.435 mô hình vận động hội viên, ND tham gia BHYT. Đến nay,
các cấp Hội đã vận động được 38.424 người tham gia BHXH tự nguyện và
1.899.966 người tham gia BHYT; thành lập được hơn 1.500 đại lý thu BHXH do
Hội ND quản lý, góp phần vào thực hiện thành công lộ trình BHYT toàn dân. Chỉ
tiêu phấn đấu đến năm 2020, có 90% hộ hội viên, ND trở lên có thẻ BHYT và 10%
lao động nông thôn tham gia BHXH tự nguyện.
- Các tỉnh khác:
+Thanh Hóa: Năm 2009 toàn tỉnh có 2.218.972 người tham gia BHYT, đến nay đã
có trên 2,4 triệu người tham gia BHYT, chiếm 71% dân số toàn tỉnh. Trong đó,
BHYT người nghèo trên 1.006.959 người, tăng 25,2% so với năm 2010; BHYT tự
nguyện nhân dân 64.800 người, tăng 15% so với năm 2010
+Thừa thiên huế: Tính đến thời điểm 31/12/2008, đã có 2.234 đơn vị tham gia
BHXH, BHYT bắt buộc cho 272.960 người với số thu được 314,253 tỷ đồng, đạt tỷ
lệ 104,75% kế hoạch năm. Tham gia BHYT tự nguyện có 345.783 người với số thu
đựợc 58,133 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 114,68% kế hoạch năm. Tổng thu 2 nguồn được
372,386 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 106, 19% (tăng hơn 1,6% so với cùng kỳ năm trước).
+Kontum: Tính đến cuối ngày 30/6/2011, tổng số thu BHXH, BHYT, BH thất
nghiệp là 169,435 tỷ đồng, đạt 49,7% kế hoạch năm, tăng 39,101 tỷ đồng (vượt
30%) so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, thu BHXH, BHYT là: 158,253 tỷ đồng,
đạt 48,9% kế hoạch năm (tăng 29%); thu BHXH tự nguyện là 193,866 triệu đồng,
đạt 54,2% kế hoạch năm; thu bảo hiểm thất nghiệp là 10,987 tỷ đồng (kể cả số
ghi thu tại BHXH Việt Nam), đạt 63,7% kế hoạch năm.
+ Nam Định: Qua hơn 5 năm thực hiện, Luật BHYT đã đi vào cuộc sống; tỷ lệ bao
phủ BHYT ngày càng mở rộng. Chất lượng các dịch vụ y tế dần được cải thiện,
quyền lợi của người có BHYT ngày càng được đảm bảo do mở rộng phạm vi
thanh toán. Luật BHYT cũng đã tạo được hành lang pháp lý cho cơ quan BHXH
thuận lợi trong việc triển khai và thực hiện công tác mở rộng đối tượng tham gia.
Nếu như năm 2009, nhóm tự nguyện tham gia và tự đóng BHYT là 21.264 người
thì đến hết tháng 6-2014, nhóm đối tượng này đã đạt 75 nghìn người. Mặc dù số
người tham gia BHYT tự nguyện năm sau đều tăng hơn năm trước nhưng so với
yêu cầu đặt ra, tỷ lệ tham gia vẫn đạt quá thấp.
- Quỹ BHYTTN: Năm 2005, Quỹ Bảo hiểm y tế bội chi 138 tỷ đồng; năm 2006 bội
chi 1.210 tỷ đồng; năm 2007 bội chi 1.837 tỷ đồng; năm 2008 bội chi 1.476 tỷ
đồng. Tức là nguồn thu từ Quỹ Bảo hiểm y tế những năm gần đây luôn thấp hơn
nguồn chi và mỗi năm thâm hụt một gia tăng. Tuy nhiên, sau nhiều năm liên tục
bội chi, năm 2010 quỹ BHYT đã cân đối và có kết dư.
IV.
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
1. Tác động tích cực của chính sách
BHYTTN là một chính sách xã hội quan trọng, mang ý nghĩa nhân đạo và có tính
chia sẻ cộng đồng sâu sắc thể hiện ở tính hiệu quả của nó:
- Thứ nhất, mở rộng quyền lợi tham gia, người tham gia bảo hiểm sẽ được thanh
toán những chi phí khám chữa bệnh mà trước đây không có như:
Chi phí điều trị do tai nạn giao thông. Việc thanh toán sẽ tính đến nguyên nhân
gây tai nạn, ví dụ những trường hợp chấn thương do đua xe chắc chắn sẽ không
-
-
-
2.
-
-
được bảo hiểm (để giảm bớt ngân sách cho nhà nước khi chi cho những tệ nạn
của xã hội).
Chi phí phục hồi chức năng trong thời gian điều trị, khám chữa bệnh.
Chi phí vận chuyển chuyển tuyến, áp dụng cho một số đối tượng như người
nghèo, người có công với cách mạng, người công tác ở vùng sâu vùng xa…
Hỗ trợ chi trả cho các dịch vụ kỹ thuật cao như chẩn đoán hình ảnh, can thiệp tim
mạch… Những ca bệnh cần biệt dược đắt tiền hay điều trị kinh niên (như chạy
thận, ghép gan…) cũng sẽ được hỗ trợ trong giới hạn quy định.
Tất cả với mục đích tạo sự đa dạng trong quy định của BHYTTN khuyến khích
mọi người tham gia ngày càng nhiều để giảm bớt ngân sách cho nhà nước trong
quá trình bù lổ. Đây cũng chính là hiệu quả tích cực khi mà ngân sách nhà nước
ta đã phải bỏ khá nhiều trong những năm qua cho BHYTTN.
Thứ hai: việc mở rông đối tượng tham gia. Từ ngày có BHYTTN thì người nào có
nhu cầu khám chữa bệnh kể cả đối tượng thuộc hộ nghèo và cận nghèo đều được
tham gia và đã mang đến kết quả sức khỏe của những người bệnh mà không
nằm trong đối tượng tham gia BHYT bắt buộc trước đây được chăm sóc tốt hơn.
Ước tính năm 2008 tổng số sẽ có khoảng 13 triệu người tham gia BHYTTN, với số
phí thu được là 2.200 tỷ đồng.
Thứ ba: Với sự tham gia của khu vực tư nhân vào BHYTTN sẽ góp phần làm đa
dạng và chất lượng phục vụ sẽ được cải thiện. giảm bớt sự ùn tắc bệnh nhân khi
số lượng đông, cũng như với sực cạnh tranh gữa các bệnh viện tư sẽ làm cho hiệu
quả phục vụ ngày càng được nâng lên.
Thứ tư: số lượng người tham gia BHYTTN hàng năm tăng lên. Điểm khác biệt so
với các mô hình trước đây là chế độ BHYT tự nguyện được triển khai thống nhất
trên địa bàn cả nước, quyền lợi của người tham gia BHYT tự nguyện gần giống
như BHYT bắt buộc, việc chi trả gồm cả ngoại trú, nội trú và chăm sóc sức khỏe
tại tuyến y tế cơ sở.
Tác động tiêu cực
Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu song việc phát triển nhóm đối
tượng BHYT tự nguyện vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Đa số người dân thuộc
đối tượng tự nguyện chỉ khi ốm đau hoặc có nguy cơ ốm đau cao mới tham gia
BHYT; số người tham gia để dự phòng rủi ro chiếm tỷ lệ thấp. Nhiều trường hợp
duy trì tham gia BHYT đều mấy năm liền nhưng sau thấy không phải dùng đến
nên cũng không mua thẻ BHYT nữa.
Trên thực tế còn tồn tại sự không cân bằng giữa những người tham gia BHYT bắt
buộc và những người tham gia BHYT tự nguyện. Những người tham gia bảo
hiểm y tế bắt buộc thì có những người đóng mức phí rất cao. Tuy nhiên, do họ
phải gánh quá nhiều nên đến khi họ rơi vào trường hợp được thụ hưởng bảo
hiểm, chất lượng của dịch vụ trở nên rất kém. Điều này như tạt một gáo nước
lạnh vào họ. Ngược lại, đối với những người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện,
-
-
-
-
-
do đa số những người tham gia đều là những người có nhu cầu khám chữa bệnh,
do đó những người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện không thể « gánh » cho
nhau. Vì thế, nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa người có thu nhập cao và thu nhập
thấp, giữa những người có nhiều bệnh và những người ít bệnh chỉ hoạt động đối
với những đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc. Trong khi đó, nguyên tắc
này không vận hành được đối với loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện.
Tồn tại tình trạng cán bộ y tế cáu gắt, mắng mỏ bệnh nhân. Chính phủ đã tạo ra
hướng mở cho người bệnh, có thẻ- họ có thể không phải chi trả khi khám chữa
bệnh, lực lượng cán bộ y tế chưa đáp ứng đủ so với tần suất khám chữa bệnh nên
nhiều khi cơ sở y tế không khám kịp dẫn đến chuyện cáu gắt, mắng mỏ, không
nhiệt tình với bệnh nhân.
Việc thực hiện Luật BHYT còn chưa nghiêm, nhiều quy định còn rườm rà, chưa
thuận tiện do vậy nhìn chung tỉ lệ người tham gia BHYT tự nguyện còn thấp.
Tình trạng lạm dụng quỹ BHYT còn xảy ra ở nhiều cơ sở khám chữa bệnh biểu
hiện bằng các hình thức như:
+ Chỉ định thực hiện các dịch vụ kỹ thuật sử dụng máy móc, thiết bị được trang bị
tự nguồn vốn xã hội và cao quá mức cần thiết so với tình trạng bệnh lý;
+Lập hồ sơ bệnh án khống để thanh toán BHYT;
+Thống kê những chi phí không thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT;
+Thanh toán trùng lặp, chênh lệch so với thực tế, kê sai số lượng, đơn giá thuốc,
lạm dụng khám cận lâm sàng…
Cơ chế quản lý thuốc chữa bệnh chưa đồng bộ và thiếu hiệu quả, chi phí cho
thuốc chiếm tỉ trọng lớn, từ 60-70% tổng chi phí khám, chữa bệnh trong khi giá
thuốc ở nước ta cao hơn trong khu vực từ 10-20% và không ổn định, có xu hướng
tăng liên tục…
Theo quy định, đối với các trường hợp tham gia BHYT tự nguyện lần đầu hoặc
tham gia lại sau một thời gian gián đoạn (vì bất cứ lý do gì) thì thẻ BHYT có giá
trị sử dụng và được hưởng quyền lợi theo quy định sau 30 ngày, kể từ ngày đóng
BHYT. Trường hợp sử dụng các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn thì sau 180 ngày
kể từ ngày mua BHYT và trong trường hợp hưởng các quyền lợi về chăm sóc thai
sản, sinh đẻ thì sau 270 ngày từ ngày mua BHYT, còn để được hưởng 50% chi phí
sử dụng thuốc trị ung thư, thuốc chống thải ghép ngoài danh mục quy định, thì
người bệnh phải tham gia liên tục trong 36 tháng, và từ tháng 7 trở đi sẽ được
hưởng. Việc quy định thời gian như vậy phần thiệt thòi (không được hưởng chế
độ kỹ thuật cao, thai sản thuốc và vật cầu hoặc bị gián đoạn tư y tế đặc biệt…) lại
thuộc về những trường hợp không mua được BHYT tự nguyện theo nhu cầu.
Đối với khám chữa bệnh (KCB) ngoại trú, người bệnh sẽ được thanh toán 100%
nếu chi phí đó dưới 100 ngàn đồng cho một đợt KCB ngoại trú. Người bệnh chỉ
được thanh toán 80% nếu đợt KCB ngoại trú từ 100 ngàn đồng trở lên, 20% còn
lại người bệnh phải tự trả! Nhiều người cho rằng, tại sao lại "bóp" ở mức 100
ngàn đồng, vì mỗi đợt KCB, tiền khám, tiền thuốc, xét nghiệm (nếu cần)... ít khi
dưới 100 ngàn đồng! Đối với trường hợp KCB nội trú, người tham gia BHYTTN
chỉ được thanh toán 80%, và phải chi trả 20% còn lại.
- Xét tổng thể, năm 2010, quỹ BHYT đã cân đối và có kết dư nhưng vẫn còn sự mất
cân đối thu chi ở nhóm đối tượng tự nguyện nhân dân. Số chi của đối tượng tham
gia BHYT tự nguyện nhân dân luôn lớn hơn nhiều lần so với số thu, ví dụ như:
Năm 2009 chi gấp 2,8 lần so với thu, năm 2010 chi gấp hơn 2 lần so với thu. Mặt
khác, tần suất khám chữa bệnh của nhóm này khoảng từ 3,7 đến 3,9 lần/năm,
gấp gần 2 lần so với tần suất khám chữa bệnh chung.
Một trong số những lý do người dân ít tham gia BHYT tự nguyện và việc triển
khai thu bảo hiểm y tế tự nguyện trong nhân dân còn khó khăn vì nhóm dân cư
này gặp khó khăn về kinh tế, nhận thức về chính sách bảo hiểm y tế chưa thấu
đáo; không mang ý thức phòng xa. Nhiều người dân hiện vẫn mang tâm lý khi đi
khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế sẽ bị nhân viên trong ngành y tế có thái
độ thờ ơ, khó chịu…nên khám tư nhân cho vừa nhanh, vừa thoải mái, tốn kém
một chút cũng được.
V.
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH.
1. Nhóm giải pháp nhằm mở rộng đối tượng tham gia BHYTTN
- Thứ nhất, việc quy định một trong những điều kiện triển khai BHYT tự nguyện là
phải đạt tỷ lệ % cố định người tham gia BHYT cho mọi địa bàn như trong Thông
tư liên tịch số 22/2005/TTLT-BYT-BTC là một điều không hợp lý vì mỗi vùng,
miền có thể có điều kiện phát triển kinh tế xã hội khác nhau, nhận thức của người
dân không giống nhau về BHYT nói chung, BHYT tự nguyện nói riêng, do đó sẽ
khó đạt được mục tiêu xã hội hoá công tác BHYT.
Nên chăng, có thể áp dụng tỷ lệ % khác nhau đối với các khu vực khác nhau. Khu
vực thành thị, thị xã nên áp dụng tỷ lệ % cao hơn so với các khu vực miền núi,
vùng sâu, vùng mà điều kiện kinh tế còn khó khăn. Hoặc có thể áp dụng các tỷ lệ
% thấp hơn đối với các trường học lần đầu tiên tham gia BHYT tự nguyện cho
học sinh, sinh viên. Như vậy sẽ đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho người tham gia,
đảm bảo mục đích an sinh xã hội của loại hình BHYT này.
- Thứ hai, về việc xác định hình thức tham gia BHYT cho nhóm đối tượng không có
quan hệ lao động: vào thời điểm hiện tại việc đưa nhóm đối tượng này tham gia
BHYT bắt buộc rất khó khăn. Nên chăng, trước mắt nhóm đối tượng này sẽ được
vận động để tham gia BHYT tự nguyện theo hộ gia đình.
- Thứ ba, nên thực hiện BHYT bắt buộc với nhóm đối tượng là học sinh, sinh viên.
Đây là nhóm đối tượng có tiềm năng, không chỉ chiếm số lượng đông đảo mà còn
là nhóm đối tượng có nhận thức tốt về mọi mặt. Đây là một giải pháp nhằm giáo
dục cho tuổi trẻ ý thức được sự cần thiết và bắt buộc đối với bản thân khi lớn lên
phải có trách nhiệm tham gia BHYT.
Thứ tư, xem xét bổ sung các quy định về BHYT đối với đối tượng là trẻ em dưới 6
tuổi. Hiện nay, nước ta đang thực hiện chế độ KCB miễn phí cho trẻ em dưới 6
tuổi. Theo Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em thì việc
KCB cho trẻ em dưới 6 tuổi được thực hiện theo hình thức thực thanh, thực chi.
Để thực hiện quy định này, nhiều tỉnh đã dành riêng một khoản ngân sách hàng
năm để chi trả tiền KCB cho trẻ em dưới 6 tuổi nhưng chưa có mô hình thống
nhất. Qua hai năm thực hiện chính sách này, đã nảy sinh nhiều bất cập như: hầu
hết các cơ sở y tế không sử dụng hết dự toán kinh phí KCB dành cho trẻ em trong
khi nhiều gia đình vẫn phải tự chi trả cho con em mình; các cơ sở y tế gặp nhiều
khó khăn khi lập chứng từ thanh, quyết toán. Thậm chí, có nơi không thể quyết
toán được do thiếu hoá đơn, chứng từ hoặc có địa phương còn chưa thực hiện
được phát thẻ KCB miễn phí cho trẻ em. Những bất cập này làm cho quyền lợi của
các em không được đảm bảo và các bệnh viện cũng không muốn thực hiện cơ chế
này do thủ tục thanh, quyết toán rất phức tạp. Vì vậy, giải pháp tối ưu là thực
hiện BHYT cho trẻ em. Bằng cách này có thể giúp các gia đình chủ động về kinh tế
cho các em. Các bệnh viện cũng chủ động hơn trong việc KCB.
2. Việc tham gia BHXH tự nguyện phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập của người lao
động. Với mức đóng phí BHXH tự nguyện hiện nay theo quy định bằng 22% mức
tiền lương tối thiểu chung là khá cao so với người lao động thu nhập thấp, công
việc bấp bênh, không ổn định. Do vậy, việc xây dựng chính sách hỗ trợ một phần
kinh phí đóng BHXH tự nguyện cho nhóm lao động này là rất cần thiết để họ có
thể tham gia BHXH tự nguyện.
3. Đồng thời cần xác định tuổi nghỉ hưu cho người người nông dân tham gia
BHXHTN sao cho phù hợp với môi trường, điều kiện, ngành nghề, tính chất công
việc của người lao động.
4. Cần nghiên cứu thêm về mức đóng- mức hưởng sao cho linh hoạt và hợp lý. Ví dụ
như cho phép lựa chọn mức đóng thấp hơn, theo đó khi đến tuổi về hưu thì mức
hưởng cũng sẽ thấp hơn.
Quỹ BHXHTN là một quỹ tiền tệ tập trung do người lao động tham gia đóng
góp. Trong quá trình thu – chi có thể dư ra một khoản tiền nhàn rỗi. Số tiền này
có thể đem đi đầu tư sinh lời, từ đó góp phần vào sự tăng trưởng và ổn định của
quỹ.
-