Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
MỤC LỤC
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 1
Khởi sự kinh doanh
I.
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH Ý TƯỞNG
1. Thông tin về nhu cầu thị trường
Để hình thành được ý tưởng mang tính khả thi cao, nhóm thực hiện tìm kiếm, nghiên
cứu các thông tin về các nhu cầu của khách hàng trong thị trường hiện tại và nhận thấy
một số nhu cầu cần thiết của thị trường như sau:
1.1 Nhu cầu du lịch tại Việt Nam
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hoạt động phổ biến không chỉ ở các nước phát
triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Cuộc sống con người
ngày càng được cải thiện, thì nhu cầu du lịch ngày một tăng. Du lịch trở thành một nét
sinh hoạt không thể thiếu trong cuộc sống.
Năm 2013, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, song nhu cầu du lịch vẫn phát triển.
Ngành Du lịch Việt Nam vẫn có những bước phát triển mạnh mẽ. Toàn ngành đã thu hút
7,2 triệu lượt khách quốc tế (tăng 5,15% so với năm 2012), 35 triệu lượt khách nội địa
(tăng 7,69% so với năm 2012), thu nhập từ du lịch đạt 190 ngàn tỉ đồng (tăng 18,75% so
với năm 2012), đóng góp 5% vào GDP của Việt Nam và năm 2015 ngành du lịch Việt
Nam sẽ thu hút 7-8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con số tương ứng
năm 2020 là 11-12 triệu khách quốc tế; 45-48 triệu khách nội địa. Doanh thu từ du lịch dự
kiến sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020. (theo số liệu của tổng cục du lịch). Với hàng trăm
ngàn các dịch vụ du lịch với khoảng hơn 200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
này.Trong những năm qua, du lịch phát triển đã có những đóng góp tích cực vào phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, theo đó thu nhập du lịch đã tăng từ 6,4 ngàn tỉ đồng
năm 1995 lên 17,5 ngàn tỉ đồng năm 2000 và trên 96 ngàn tỉ đồng năm 2010. Tốc độ tăng
trưởng trung bình giai đoạn 1995-2010 là 19,8%/năm.
Năm 2013, ngành du lịch Việt Nam đặt nhiều kỳ vọng về cơ hội quảng bá, khẳng định vị
trí và tăng sức cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới. Năm Du lịch quốc gia
2013 với chủ đề " Văn minh sông Hồng" tại 10 tỉnh, thành đồng bằng sông Hồng gồm Hà
Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên,
Hà Nam, Vĩnh Phúc và một số tỉnh lân cận như Phú Thọ, Bắc Giang sẽ tham gia các hoạt
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 2
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
động trong Năm du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng- Hải Phòng sẽ là cơ hội để khai
thác, quảng bá, phát huy tiềm năng của đất nước, hướng tới quảng bá điểm đến cho du
lịch khu vực Đồng bằng sông Hồng, thúc đẩy tăng trưởng nguồn khách du lịch. Được dự
báo là năm “thăng hoa” của du lịch nội địa.
Trong 6 tháng đầu năm 2013, tổng số khách quốc tế đến Việt Nam là 5.363.427 lượt, tăng
13,9% so với cùng kỳ năm 2012; 19,5 triệu lượt khách nội địa; tổng thu du lịch đạt 95
ngàn tỷ đồng. Ngành du lịch đặt mục tiêu cả năm 2013 đón 7,2 triệu lượt khách quốc tế,
tăng 5,15% so với năm 2012; 35 triệu lượt khách nội địa, tăng 7,69% so với năm 2012;
tổng thu du lịch đạt 190 ngàn tỷ đồng, tăng 18,75% so với năm 2012.
Có thể nhận thấy nhu cầu du lịch ngày càng được mở rộng. Dịch vụ du lịch đã và
đang phát triển với nhiều tiềm năng lớn. Ngành du lịch được ví như ngành công
nghiệp không khói. Là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội. Đây là mảnh
đất màu mỡ cho những doanh nghiệp trẻ, năng động.
1.2 Nhu cầu du lịch của học sinh các trường tại Hà Nội
Thông tin từ Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Hà Nội cho biết, bước vào năm học
mới năm 2013 , Hà Nội có 2.434 trường học, hơn 1,5 triệu học sinh. Năm nay, thành phố
đã bổ sung, thay thế gần 5.000 phòng học mới, 36 trường học mới. Mức kinh phí đầu tư
cơ sở vật chất, thiết bị cho các trường năm nay là 2.253 tỷ đồng, tăng 500 tỷ đồng so với
năm trước.
Như vậy, với một số lượng lớn trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông
hơn 1,5 triệu học sinh thì đây thực sự là một thị trường tiềm năng cho việc sử dụng dịch
vụ là các buổi tham quan ngoại khóa gắn với bài học thực tế và tour du lịch cho các em
học sinh.
Ngày nay, Sở Giáo dục và Đào tạo đã và đang khuyến khích các buổi tham quan hay giờ
học ngoại khóa gắn với thực tế được tổ chức một cách thiết thực. Những hoạt động giao
lưu ngoài những giờ học nghiêm khắc trên lớp, giúp mối quan hệ giữa giáo viên và học
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 3
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
sinh thân thiện hơn để những tiết giảng sau đó bầu không khí trở nên thân thiện, tích cực
hơn và hiệu quả tiết giảng cũng được cãi thiện nhiều hơn..
Trong đó nhấn mạnh các kĩ năng ứng xử với môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa
trên nền tảng được dạy các kiến thức rất cụ thể, rất chi tiết. Học sinh có thể hiểu rõ được
những giá trị của thiên nhiên, văn hóa, con người Việt Nam thông qua những tiết học sinh
động của cuộc sống thực ở ngoài không gian của trường học.
Việc tổ chức các hoạt động tạo điều kiện cho học sinh được tham gia giao lưu, thi tài, học
tập kinh nghiệm lẫn nhau cũng như nhiều hình thức động viên, khuyến khích, khen
thưởng những học sinh học giỏi, đạt giải trong các kỳ thi Olympic, thi học sinh giỏi cấp
tỉnh, cấp thành phố, quốc tế…. đã có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ và ghi nhận nỗ lực, thành
công của các em học sinh. Ngoài ra các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ
thông hầu như năm nào cũng có các chương trình tổ chức cho các học sinh cuối cấp đi
tham quan, du lịch. Để chương trình được nhất quán, linh hoạt từ khâu chuẩn bị đến các
hoạt động trong buổi tham quan thì việc cần thuê 1 công ty đứng ra tổ chức với kinh phí
phù hợp là điều tất yếu.
Song hiện tại mô hình này chưa được phổ biến do một số hạn chế có thể kể đến như:
+ Vấn đề về an toàn cho học sinh khi tham gia các hoạt động ngoài trời.
+ Vấn đề về tổ chức: Phần lớn các buổi học tập dã ngoại được thày cô của các trường tổ
chức, việc tổ chức không mang tính chuyên nghiệp nên gây nhiều khó khăn, vất vả và
chưa mang lại hết hiệu quả của nó.
+ Vấn đề về kinh phí và liên hệ với các địa điểm đến.
2. Nảy sinh ý tưởng
Tất cả các khách hàng có nhu cầu đi du lịch đểu mong muốn có được những giá trị
thực sự.Đi du lịch đã dần trở thành thói quen, sở thích, một nét sinh hoạt không thể thiếu
của bất cứ lứa tuổi nào, đặc biệt là học sinh với nhu cầu khám phá và học hỏi cao.
Trong khi đó việc học tập là công việc chính cần phải đảm bảo của học sinh thì lại đang
được phản ánh là khá nhàm chán, không mang lại ấn tượng và sự hứng thú.Vậy thì tại sao
chúng ta lại không kết hợp hai yếu tố này để có những giờ học hiệu quả hơn?
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 4
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Đối với học sinh, những chuyến dã ngoại học tập theo các tuor du lịch, như thế các em sẽ
có những chuyến đi bổ ích, khó quên với những bài học, những trải nghiệm thực tế.
Nhận thấy được nhu cầu mới với thị trường tiền năng lớn, vạch ra một hướng kinh doanh
mới đưa ra các giải pháp nhắm khắc phục các vấn đề trên và đáp ứng nhu cầu này. Công
ty sẽ liên kết với các trường học đứng ra tổ chức các buổi học tập dã ngoại theo các tuor
du lịch cho các học sinh của trường. Việc lên kế hoạch chuẩn bị sẽ hợp tác với thầy cô
trong trường để chuẩn bị các tài liệu học tập dưới dạng vừa cung cấp kiến thức vừa là
những câu hỏi để các em tự khám phá và trả lời thành bài thu hoạch và sau chuyến đi sẽ
được chấm điểm như một tiết học thực thụ ở trên lớp. Để các em phải tự mình tham gia
tích cực và chủ động kể cả không sợ bẩn vì bùn đất, tự mình trải qua tất cả các hoạt động,
thử thách trong chuyến đi.
Không chỉ phục vụ cho nhu cầu học tập mà công ty còn tổ chức các buổi tham quan, dã
ngoại cho các học sinh cuối cấp.Để tạo ra những kỷ niệm và trải nghiệm khó quên khi các
em ra trường.Bên cạnh đó là các buổi vui chơi, giao lưu cho các em học sinh giữa các
trường.Tất cả sẽ được thực hiện để đáp ứng nhu cầu của các em.
Với những em có thành tốt trong học tập như các kỳ thì HSG cấp tỉnh, thành phố, quốc
gia hay kỳ thi Olympic, cũng như đối với các cán bộ lớp năng nổ, nhiệt tình thì tổ chức
cho các em 1 buổi dã ngoại như 1 phần thưởng để công nhận và khen thưởng thành tích
của các em. Động viên và khuyến khích các em làm tốt hơn và để cho các cá nhân khác
nỗ lực hơn nữa để có những vinh dự này.
Từ những thông tin về nhu cầu thị trường đã nói ở trên, cùng với việc đánh giá, nhận
định những có hội về một thị trường mới, sản phẩm mới. Nhóm đề xuất xây dựng một
phương án kinh doanh dịch vụ du lịch với việc tổ chức các buổi học tập dã ngoại theo
các tour du lịch đáp ứng nhu cầu học thực tế của học sinh trên địa bàn Hà Nội với
tính khả thi cao.
3. Bản thân người khởi nghiệp
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 5
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Để thực hiện một ý tưởng kinh doanh mới, việc đánh giá khả năng của bản thân ngườ
khởi nghiệp là không thể bỏ qua. Khả năng tốt góp phần làm tăng tính khả thi của ý
tưởng. Dưới đây là phần đánh giá về bản thân nhóm ý tưởng:
Điểm mạnh:
+
+
Nguồn nhân lực năng động, có nhiệt huyết và có quyết tâm cao.
Nguồn nhân lực trẻ với khả năng sáng tạo và khám phá nhiều cách thức mới để đáp ứng
nhu cầu.
+ Nguồn nhân lực có tri thức và có cơ sở đào tạo khoa học.
+ Các thành viên trong nhóm ý tưởng đều đang là học sinh nên có những kiến thức cần thiết
liên quan đến nền giáo dục hiện tại và cũng hiểu rõ nhu cầu của các học sinh đối với việc
học của mình.
Điểm yếu:
+
+
Chưa có kinh nghiệm quản lý và kinh doanh.
Uy tín và khả năng tài chính không lớn.
Mặc dù chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, khả năng tài chính không cao nhưng với lòng
nhiệt huyết và quyết tâm cao công với những kiến thức đã được học, sự năng động, sáng
tạo, nhóm ý tưởng chắc chắn rằng sẽ tìm ra những biện pháp tối ưu cụ thể để khắc phục
các điểm yếu, cũng như giải quyết các khó khăn gặp phải trong quá trình thực hiện ý
tưởng để đạt được thành công.
II.
CÁCH THỨC HUY ĐỘNG VỐN
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành
thực hiện các ý tưởng kinh doanh.Về mặt pháp lý, vốn đảm bảo sự hình thành và tồn tại
của doanh nghiệp trước pháp luật.Trong điều kiện hiện tại của nhóm ý tưởng, vấn đề về
vốn là vấn đề đầu tiên mà nhóm gặp phải trong quá trình thực hiện ý tưởng.Việc huy động
vốn sẽ tiến hành bởi nhiều cách thức khác nhau để đạt được kết quả tốt nhất.
1. Sử dụng các quỹ đầu tư khởi nghiệp
Đây là biện pháp huy động vốn đầu tiên mà nhóm ý tưởng sẽ thực hiện.
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 6
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Các quỹ khởi nghiệp hoạt động giống như một quỹ đầu tư mạo hiểm, đóng vai trò là
nơi tiếp nhận, sàng lọc và rót vốn đầu tư cho những ý tưởng, giải pháp kinh doanh thực sự
sáng tạo, khả thi. Nhóm sẽ tiếp cận quỹ đầu tư khởi nghiệp của Ban quản trị dự án Học +
Làm = Giàu.
Để nhận được nguồn vốn đầu tư của quỹ , nhóm tiến hành các thủ tục, thực hiện các
quy trình xét duyệt theo yêu cầu:
Vòng sơ loại: Chủ dự án gửi bản dự án kinh doanh sơ lược cho Ban quản trị dự án
Học + Làm = Giàu.
+
Đối với những ý tưởng vượt qua vòng sơ loại, chủ dự án sẽ trực tiếp thuyết trình và bảo
vệ ý tưởng dự án với Hội đồng thẩm định (Hội đồng thẩm định do Dự án Học+Làm=Giàu
thành lập, bao gồm các chuyên gia trong ngành/lĩnh vực liên quan tới từng dự án kinh
doanh cụ thể). Nội dung thuyết trình bao gồm dự án kinh doanh cũng như cấu trúc nhân
+
sự của dự án.
Đối với những dự án kinh doanh được phê duyệt, chấp thuận rót vốn đầu tư, Hội đồng
thẩm định sẽ tiếp tục kiểm tra năng lực của đội ngũ nhân sự triển khai. Nếu chưa đạt yêu
+
cầu, các nhân sự sẽ được quỹ đầu tư cho đi học các khóa học nâng cao tương ứng.
Sau khi đội ngũ nhân sự của dự án được đào tạo theo quy chuẩn, Hội đồng thẩm định sẽ
kiểm tra năng lực lần cuối, nếu đạt yêu cầu, dự án sẽ chính thức được rót vốn để triển
khai.
Với những nhiệt huyết và sự cố gắng cùng với những nỗ lực học hỏi nghiên cứu, nhóm ý
tưởng tin vào tính thuyết phục của dự án và mong đợi sự thành công, kêu gọi được vốn
đầu tư.
2. Vốn góp
Đây là biện pháp huy động vốn mà các thành viên trong nhóm ý tưởng sẽ góp vốn
vào để cùng thực hiện ý tưởng. Các thành viên có thể tùy từng hoàn cảnh cá nhân có thể
nhận sự hỗ trợ từ gia đình, người thân, lấy từ các khoản tiết kiệm…Tuy nhiên, nếu sử
dụng phần vốn này cũng sẽ thực hiện tính và trích các khoản lãi vay như đối với vay ngân
hàng để tính toán các khoản kết quả hoạt động kinh doanh cuối kỳ kế toán.
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 7
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Phần vốn này theo như hoàn cảnh thực tế của nhóm xem xét, sẽ huy động được một phần
đảng kể nhưng chắc chắn chưa đủ cho yêu cầu của ý tưởng. Nguồn vốn này tìm kiếm đơn
giản, nhanh chóng tuy nhiên không mang tính kinh tế cao, cũng như không tạo ra động
lực mạnh cho các thành viên trong nhóm.Vì thế, nhóm sẽ để biện pháp này làm biện pháp
dự phòng chỉ thực hiện khi đã sử dụng hết các biện pháp mà không kêu gọi được đầu tư,
không huy động đủ được vốn kinh doanh.
3. Vốn vay
Có thể kể đến là các khoản tín dụng thương mai, tín dụng thuê mua, tín dụng ngân
hàng.
Các khoản tín dụng đều đòi hỏi DN đi vay phải có bảo đảm tín dụng phổ biến nhất là tài
sản thế chấp.Là sinh viên, nếu không thuộc các đối tượng hoàn cảnh đặc biệt để có được
các khoản tín dụng ngân hàng rất khó.Theo Quyết định số 157 ngày 27-9-2007 của Thủ
tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh sinh viên thì mục đích cho vay là hỗ trợ cho
sinh viên có hoàn cảnh khó khăn trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt trong thời
gian theo học tại trường, bao gồm: Học phí; chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học
tập, chi phí ăn, ở, đi lại. Đối tượng cho vay vốn là sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo
học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên
nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp
luật Việt Nam.
Cụ thể, gồm các đối tượng:
+
Sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không
+
có khả năng lao động.
Sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng: hộ nghèo theo tiêu
chuẩn quy định của pháp luật, hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người tối đa
bằng 150% mức thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình nghèo theo quy định của
pháp luật;
+ Sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn,
dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú.
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 8
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Việc cho vay đối với sinh viên được thực hiện tại Ngân hàng Chính sách - xã hội địa
phương theo phương thức thông qua hộ gia đình. Đại diện hộ gia đình là người trực tiếp
vay vốn và có trách nhiệm trả nợ.Trường hợp sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ
côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động, được trực tiếp vay vốn
tại Ngân hàng Chính sách - xã hội nơi nhà trường đóng trụ sở. Mức vốn vay tối đa là
1.000.000 đồng/tháng/sinh viên (theo Quyết định 853/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về điều chỉnh mức vay đối với sinh viên, học sinh). Lãi suất cho vay ưu đãi đối với sinh
viên là 0,65% tháng.
Các thành viên trong nhóm ý tưởng đều không thuộc các đối tượng được xét vay
vốn.Trưởng hợp thực hiện vay trực tiếp cũng không có các tài sản có giá trị lớn để thế
chấp.Vì thế biện pháp huy động vốn bằng vốn vay được quyết định là không khả thi với
nhóm và loại bỏ.
4. Liên doanh liên kết
Với biện pháp huy động vốn này, nếu thực hiện nhóm sẽ gửi ý tưởng của mình tới các
công ty du lịch lớn đang hoạt động hiện nay mà nhóm đánh giá là có tiềm lực phát triển
như: Công ty Cổ phần đầu tư Mở - Du lịch Việt Nam, Công ty cổ phần Thương mại và du
lịch Vietmark, Công ty cổ phần du lịch Viettravel, Công ty TNHH du lịch Hội Á Châu để
kêu gọi liên kết thực hiện ý tưởng. Các công ty đó nếu đồng ý liên kết thì sẽ cung cấp vốn
cho nhóm ý tưởng, việc tiến hành thực hiện sẽ do nhóm ý tưởng đảm nhiệm và lợi nhuận
sẽ phân chia theo tỉ lệ phù hợp có thỏa thuận.
Biện pháp huy động vốn này có khả năng lớn sẽ gây ảnh hưởng đến kể hoạch tổ chức và
kinh doanh của nhóm ý tưởng (vì còn phải phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa hai bên) vì
thế sẽ được thực hiện cuối cùng nếu biện pháp khác như sử dụng các quỹ đầu tư khởi
nghiệp, kêu gọi đầu tư, hoặc vốn tự góp không thành công.
Với các biện pháp huy động vốn nói trên mở ra khả năng lớn cho việc huy động vốn.
Trong quá trình thực hiện nhóm ý tưởng cũng sẽ linh hoạt thay đổi, tìn kiếm những
biện pháp mới nếu phát hiện những cơ hội thị trường, cơ hội thu hút đầu tư mới.
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 9
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Nhóm ý tưởng hi vọng và tin chắc sẽ huy động đủ vốn để thực hiện kinh doanh theo
dự tính và hứa hẹn sự thành công.
III.
PHÂN TÍCH NGÀNH
1. Đặc điểm của ngành
1.1 Ngành du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động
nghỉ ngơi tích cực của con người.Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể
thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước.Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành
một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển.Mạng
lưới du lịch đã được thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.Các lợi ích kinh tế mang
lại từ du lịch là điều không thể phủ nhận, thông qua việc tiêu dùng của du khách đối với
các sản phẩm của du lịch. Nhu cầu của du khách bên cạnh việc tiêu dùng các hàng hoá
thông thường còn có những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu nâng cao kiến thức, học
hỏi, vãn cảnh, chữa bệnh, nghỉ ngơi, thư giãn…
Sự khác biệt giữa tiêu dùng dịch vụ du lịch và tiêu dùng các hàng hoá khác là tiêu dùng
các sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng. Đây cũng là lý
do làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù mà không thể so sánh giá cả của sản
phẩm du lịch này với giá cả của sản phẩm du lịch kia một cách tuỳ tiện được. Sự tác động
qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch tác động lên lĩnh vực phân
phối lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. Bên
cạnh đó, việc phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì
sản phẩm du lịch mang tính liên ngành có quan bệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh
tế. Khi một khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, du khách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho
nhu cầu về mọi hàng hoá dịch vụ tăng lên đáng kể. Trên bình diện chung, hoạt động du
lịch có tác dụng làm biến đổi cán cân thu chi của đất nước. Du khách quốc tế mang ngoại
tệ vào đất nước có địa điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ của đất nước đó.
Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch
ở nước ngoài. Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt động luân
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 10
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
chuyển tiền tệ, hàng hoá, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế
kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa…
Một lợi ích khác mà ngành du lịch đem lại là góp phần giải quyết vấn đề việc làm. Bởi
các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều cần một lượng lớn lao động. Du lịch đã tạo ra
nguồn thu nhập cho người lao động, giải quyết các vấn đề xã hội. Du lịch Việt Nam trong
thời gian qua cũng đã đóng góp rất nhiều cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất
nước. Tốc độ tăng trưởng hơn 14%/năm gần gấp hai lần tốc độ tăng trưởng của toàn bộ
nền kinh tế.
1.2 . Tính nhạy cảm
Đặc điểm nổi bật của ngành là nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ mô.
Khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh số và lợi nhuận của ngành sẽ tăng do nhu cầu du lịch
được tăng lên.
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái thì khách hàng sẽ hạn chế chi tiêu, tập trung vào các
nhu cầu tối thiểu và cần thiết.Đương nhiên những hoạt động vui chơi, giải trí như du lịch
sẽ ít được chú ý tới.Khách hàng sẽ không bỏ nhiều tiền để đi du lịch. Điều này làm cho
doanh thu,lợi nhuận của ngành sụt giảm nhanh chóng.
Giá cả dịch vụ du lịch bao gồm có các dịch vụ như vui chơi,đi lại, giải trí, ăn uống…
Chính vì vậy, khi mặt bằng giá cả chung tăng lên thì giá cả của các gói dịch vụ cũng tăng
lên và ngược lại.
1.3 . Sản phẩm đa dạng
-
Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du lịch vừa được
nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ. Sản phẩm ngành du lịch cũng
rất đa dạng bao gồm:
+
Du lịch làm ăn
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 11
Khởi sự kinh doanh
+
+
+
+
+
+
+
-
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Du lịch giải trí, năng động và đặc biệt
Du lịch nội quốc, quá biên
Du lịch tham quan trong thành phố
Du lịch sinh thái
Du lịch mạo hiểm, khám phá, trải nghiệm
Du lịch hội thảo, triển lãm
Du lịch giảm stress, du lịch balo, tự túc khám phá.
Trong mỗi loại hình du lịch thì khách hàng có thể lựa chọn các điểm đến khác nhau như
Hà Nội, Hải Phòng, Nha Trang, TP. HCM, Đà Nẵng, Phú Quốc, Huế…
2. Các nhân tố tác động và tiềm năng phát triển ngành
2.1 Các nhân tố tác động đến ngành du lịch
a) Khí hậu
Là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển du lịch, nó tác động tới du
lịch ở hai phương diện :
-
Ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch
Một trong những nhân tố chính tạo nên tính mùa vụ du lịch .
+ Du lịch cả năm: Du lịch văn hóa, du lịch chữa bệnh .
+ Du lịch mùa đông: Du lịch thể thao .
+ Du lịch mùa hè: Du lịch biển, nói chung là phong phú.
Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 0C
- 270C, tổng lượng nhiệt hoạt động lên tới 8.0000C, tổng số giờ nắng 1.400 giờ. Điều đó
cho thấy các bãi biển luôn chan hòa ánh nắng và thu hút một lượng khách trong nước và
quốc tế đến đến nghỉ dưỡng, chủ yếu là vào mùa hè. Tuy nhiên, khí hậu Việt Nam cũng
có sự phân hóa phúc tạp về mặt không gian và thời gian tạo nên tính mùa vụ du lịch và
tạo nên những loại hình du lịch thích hợp, phụ thuộc vào thời gian.
Thiên tai cũng có tác động xấu đến sự phát triển du lịch. Nhật Bản là đất nước giàu và đẹp
nhưng luôn phải hứng chịu những trận động đất, gây khó khă cho phát triển du lịch, có
chăng chỉ phát triển du lich bị động. Vào những ngày cuới năm 2004, một trận sóng thần
lớn nhất từ trước tới nay xảy ra ở Đông Nam Á, Nam Á đã gây thiệt hại lớn về người và
của, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển du lịch. Điều đáng nói là sóng thần đã làm cho
nhiều du khách bị thiệt mạng, cơ sở vật chất phục vụ phát triển du lịch bi huỷ hoại nặng
nề.
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 12
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
b) Dịch bệnh
Dịch bệnh là mối đe dọa rất lớn đến đời sống kinh tế- xã hội của tất cả các quốc gia.
Dịch bệnh mang đến sự chết choc, nguy hiểm đến mạng sống, chính trị, xã hội và văn
hóa. Sự xuất hiện của các dịch bệnh như H5N1, SARS, H1N1, HIV…đã xuất hiện lan
rộng ra nhiều nước trên thế giới gây ra nỗi lo sợ cho nhân loại.
Chính vì vậy, dễ dàng nhận thấy rằng nếu trong tình trạng dịch bệnh bùng phát thì con
người sẽ ít nghĩ đến việc vui chơi, giải trí..Du lịch chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của dịch
bệnh.Khi dịch bệnh được giải quyết xong thì ngành du lịch cũng cần rất nhiều thời gian
để khôi phục niềm tin đối với khách hàng. Khách hàng không thể tìm thấy niềm vui, thư
giãn,giải trí…khi mà bệnh dịch luôn rình rập trước mắt. Đây là 1 vấn nạn chung của thê
giới ảnh hưởng tới mọi ngành kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng.
Điển hình như dịch bệnh SARS vào năm 2003 đã tác động mạnh mẽ đến ngành công
nghiệp du lịch trên thế giới.Giao thông hàng không của các hang hàng không khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương, tâm điểm của dịch bệnh này giảm gần 50%. Theo Hiệp hội
Vận chuyển hàng không quốc tế (IATA) khảng định dịch bệnh đã gây thất thu 6 tỉ USD
cho ngành hàng không năm 2003.
c) Kinh tế
Một trong mhững yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển du
lịch là điều kiện kinh tế chung. Nền kinh tế chung phát triển là tiền đê cho sự ra đời và
phát triển của ngành kinh tế du lịch. Theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế thuộc Hội
đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc, một đất nước có thể phát triển du lịch một
cách vững chắc nếu nước đó tự sản xuất được phần lớn số của cải vật chất cần thiết cho
du lịch.
Chúng ta có thể khẳng định ngày nay với sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật nhiều thành
tựu được áp dụng vào sản xuất. Điều đó đồng nghĩa vói điều kiện kinh tế của con người
được nâng cao rõ rệt và vấn đề ăn, mặc, trở thành thứ yếu. Nhu cầu được nghỉ ngơi, giải
trí và giao lưu tình cảm xuất hiện. Hiện nay, trong các nước kinh tế phát triển, du lịch trở
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 13
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
thành nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của họ. Các nhà nghiên cứu kinh tế Du
lịch đã đưa ra nhận định là ở các nước kinh tế phát triển nếu nhu cầu quốc dân trên mỗi
người tăng lên 1% thì chi phí du lịch tăng lên 1,5%. Xu hướng ngày nay là hầu hết các du
khách ở các nước phát triển đều thích tham quan ở các nước đang phát triển .Điều này rất
dễ hiểu vì chi phí ở các nước đang phát triển thấp, phù hợp với điều kiện kinh tế của
người dân hạng trung lưu và nghèo ở các nước phát triển.
Kinh tế và phát triển luôn có mối quan hệ hữu cơ, nghịch thuận lẫn nhau. Trong quá trình
phát triển của mình, du lịch luôn xem kinh tế là một trong những nguồn lực quan trọng.
Sự tác động của điều kiện kinh tế tới phát triển du lịch thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau.
Tìm hiểu rõ vấn đề này là cách giúp những nhà quản lí và làm du lịch có những chính
sách phát triển của ngành phù hợp.
Như chúng ta đã biết, du lịch là ngành dịch vụ, nhận nhiệm vụ “chuyển tải” sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ của các ngành kinh tế khác để cung cấp cho du khách nhằm tìm kiếm
lợi nhuận. Vì vậy điều kiện kiện kinh tế đóng vai trò góp phần cung cấp các hàng hóa,
dịch vụ cho du lịch.
Trên bình diện cả nước, nền kinh tế ngày càng phát triển “thay da đổi thịt”, nhiềucông
trình cao cấp, nhiều khách sạn, resort liên kết với nước ngoài được đầu tư xây dựng. Đó là
cơ sở để chúng ta có cơ sở và đảm bảo khả năng khai thác và đón tiếp nguồn khách quốc
tế tới tham quan.
Điều kiện kinh tế có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển du lịch. Điều này cũng
đòi hỏi ngành du lịch trong qua trình phát triển của mình phải quảng bá, góp phần xây
dựng kinh tế. Có như vậy mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau mới bền vững
d) Chính trị và an toàn xã hội
Để du lịch không ngừng phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, sự
phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các hoạt động du lịch cũng như các
ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kì quan trọng. Sự bảo đảm vững chắc về quốc phòng,
an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tới tham quan.
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 14
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Du lịch, bên cạnh việc nghỉ ngơi là “thẩm nhận những giá trị vật chất, tinh thần độc đáo,
khác lạ với quê hương mình”.Điều này đòi hỏi sự giao lưu, đi lại của du khách giữa các
quốc gia, các vùng với nhau.Bầu chính trị hòa bình, hữu nghị sẽ kích thích sự phát triển
của du lịch quốc tế. Một thế giới bất ổn về chính trị, xung đột về sắc tộc, tôn giáo làm ảnh
hưởng tới việc phát triển du lịch tức là nó không làm tròn “sứ mệnh” đối với du lịch, gây
nên nỗi hoài nghi, tâm lý sợ hãi cho du khách. Bên cạnh đó, những cuộc nội chiến, những
cuộc chiến tranh xâm lược với nhiều loại trang thiết bị lợi hại làm hủy hoại tài nguyên du
lịch, các công trình nghệ thuật kiến trúc do loài người sáng tạo nên. Ở Việt Nam qua hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều công trình phục vụ phát triển du lịch bị
phá hoại, nếu tồn tại thì chỉ còn một phần và chúng ta đang ra sức kiến tạo lại tức là
chúng ta quá lạm dụng “bê tông hoá”, “nhựa hoá”, dù biết rằng nó đã mất đi phàn nào đó
giá trị nguyên bản.
Năm 2000, tại hòn đảo Bali (Inđônêxia) - nơi hấp dẫn khách du lịch của nhiều nước trên
thế giới bị đánh bom khủng bố để lại nổi kinh hoàng cho khách du lịch. Năm 2003 bệnh
SAT ở Trung Quốc, dịch Cúm gà ở Việt Nam gây nên những tổn thất lớn cho du lịch
Trung Quốc và Việt Nam và gián tiếp ảnh hưởng đến du lịch thế giới.
Từ những ví dụ trên cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của an ninh chính trị, an toàn
xã hội cho khách du lịch, và là nhân tố quan trọng tạo nên sự thành bại của ngành du lịch .
e) Văn hóa
Trình độ văn hoá cao tạo điều kiên cho việc phát triển du lịch.Phần lớn những người
tham gia vào cuộc hành trình du lịch là những người có trình độ văn hoá nhất định, nhất
là những người đi du lịch nước ngoài. Bởi vì họ có sở thích(nhu cầu) đối với việc tìm hiểu
các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, bản sắc văn hoá dân tộc hay nói đúng hơn tài
nguyên, điểm du lịch tác động đến họ theo một quá trình: Thông tin Tiếp xúc Nhận
thức Đánh giá. Phải có trình độ văn hoá thì mới hiểu hết giá trị của chuyến tham quan
du lịch .Trong các nước mà nhân dân có trình độ văn hoá cao thì số người đi du lịch ra
ngoài tăng lên không ngừng với cường độ cao. Bên cạnh độ, trình độ của người dân nước
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 15
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
sở tại, nơi đón khách cũng phải chú ý. Trình độ văn hóa thấp ảnh hưởng đến phát triển du
lịch: Ăn xin, cướp giật, ép khách mua hàng....
Việc phát triển du lịch phải mang dấu ấn của con người, tức là con người thông qua trí tuệ
của mình đưa ra những biện pháp, cách thức để phát triển du lich. Một quốc gia giàu có
về tài nguyên du lịch nhưng nếu không biết sử dụng trí óc của con người để phát huy hết
giá trị của tài nguyên đó thì coi như “muối bỏ bể”. Ngược lai có những quốc gia nghèo về
tài nguyên du lịch nhưng biết phát huy hợp lí sẽ thu hút được lượng khách du lịch rất lớn
và ngành du lịch sẽ phát triển bền vững.
2.2 . Tiềm năng phát triển của ngành du lịch
a) Tình hình phát triển của ngành du lịch
Bất chấp tình hình suy thoái của kinh tế thế giới, du lịch Việt Nam tiếp tục phát huy đà
tăng trưởng đáng khích lệ của năm 2011, 2012. Trong tháng 6/2013 đã có 417.429 lượt
khách quốc tế đến Việt Nam, nâng tổng số khách quốc tế đến Việt Nam 6 tháng đầu năm
2012 lên 3.363.427 lượt, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2011. Trong tháng 8-2012, đạt
gần 600.000 lượt khách, đưa tổng số khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 8 lên
4.384.998 lượt khách, đưa du lịch trở thành điểm sáng của nền kinh tế trong bối cảnh hiện
nay.
Hầu hết các thị trường khách đều có sự tăng trưởng mạnh, nổi bật là thị trường khách Hàn
Quốc tăng tới 41,3%; tiếp đến là Thái Lan tăng 28,6%; Malaysia tăng 25,6%; Đài Loan
(Trung Quốc) tăng 23,8%; Nhật Bản tăng 22,8%; Pháp tăng 10,7%; Trung Quốc tăng 3%
và Mỹ tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2012. Điều đáng nói, trong tổng số khách quốc tế
đến Việt Nam thì lượng khách đến với mục đích du lịch, nghỉ ngơi vẫn chiếm tỷ lệ cao
nhất, đạt 249.871 lượt, tiếp đó là khách đến vì mục đích công việc 73.513 lượt, khách
thăm thân là 73.193 lượt và khách đến vì mục đích khác là 20.852 lượt.
Hiện nay, các doanh nghiệp du lịch và các hãng hàng không cũng đang chủ động tung ra
các chương trình kích cầu, giảm giá nhằm thu hút ngày càng nhiều khách quốc tế đến Việt
Nam. Cụ thể như Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đang đưa ra
chương trình giảm giá mùa thu với mức giảm lên đến 50% đối với các đường bay quốc tế.
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 16
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Nhận thức về du lịch đã có bước cải thiện và tiến bộ nhất định, nhiều chính sách tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển du lịch, các thủ tục bớt rườm rà hơn. Tuy nhiên, do xuất phát
điểm còn thấp thì phát triển du lịch còn là vấn đề mới nên mặt bằng chung về nhận thức
du lịch vẫn còn khoảng cách xa so với yêu cầu phát triển.
b) Những cơ hội phát triển của ngành du lich
Đảng và nhà nước có sự quan tâm, chú trọng phát triển du lịch. Tình hình xã hội ổn
định, kinh tế tăng trưởng đất nước hội nhập với khu vực và thế giới ngày càng sâu và toàn
diện với chính sách ngoại giao mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa, muốn làm bạn và
đối tác tin cậy của các nước, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được cải thiện, được
sự hợp tác, hỗ trợ tích cực của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là trong hợp tác ASEAN. Đây
là những thuận lợi trong mở đường cho du lịch phát triển.
Tiềm năng về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng, đậm đà bản
sắc dân tộc cùng với kinh nghiệm hơn 20 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Chiến lược
phát triển du lịch (2001 – 2010) là yếu tố quan trọng thúc đẩy du lịch phát triển trong giai
đoạn tiếp theo.
Khung pháp lý và các chuẩn mực về du lịch bước đầu được hình thành, tạo điều kiện đưa
ngành du lịch phát triển theo hướng hiện đại, đáp ứng những yêu cầu, chuẩn mực quốc tế.
Lực lượng lao động trẻ, dồi dào, thông minh, cần cù, sáng tạo và linh hoạt là yếu tố tích
cực trong phát triển dịch vụ. Đây là 1 trong những lợi thế cạnh tranh của ngành du lịch.
Cơ sở hạn tầng kinh tế được cải thiện, nguồn lực tăng trưởng kinh tế nâng cao khả năng
huy động, đầu tư của Nhà nước và khu vực tư nhân, đặc biệt là đầu tư thông qua thị
trường vốn và cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài.
Thu nhập, đời sống của nhân dân ngày được cải thiện và nâng cao.Nhu cầu giao lưu văn
hóa ngày càng tăng, có nhiều điều kiện đi du lịch hơn.
c) Những khó khăn, thách thức đối với phát triển du lịch
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 17
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Thị trường biến đổi khó lường , hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác
động mạnh mẽ đến quy mô của ngành.
Năng lực cạnh tranh của ngành du lịch còn non yếu, chất lượng và hiệu của còn thấp,
thiếu bền vững trong khi môi trường cạnh tranh giữa các quốc gia, khu vực, giữa các
ngành, vùng, sản phẩm ngày càng gay gắt.
Nhận thức, kiến thức quản lý và phát triển du lịch chưa đáp ứng yêu cầu.Cơ chế, chính
sách quản lý còn bất cập chưa giải phóng mạnh năng lực sản xuất, vai trò và năng lực của
khối tư nhân. Hệ thống văn bản quy pham pháp luật chưa thống nhất và phát huy hiệu lực,
hiệu quả toàn diện vẫn là những khó khăn đối với phát triển du lịch theo hướng hiện đại,
trình độ cao.
Kết cấu hạ tầng kém, lạc hậu, thiếu đồng bộ dẫn đến khả năng tiếp cận điểm đến du lịch
khó khăn, đặc biệt với vùng núi, vùng sâu, vùng xa.
Sản phẩm, dịch vụ còn chưa nổi bật, trùng lặp và thiếu quy chuẩn.Chất lượng chưa đáp
ứng được dẫn đến cạnh tranh kém hiệu quả, xúc tiến quảng bá chưa rõ nét. Thiếu nguồn
lực chuyên nghiệp, thiếu đội ngũ chuyên gia đầu tư ngành, lực lượng quản lý trình độ cao.
Tác động của thời tiết (thiên tai) thách thức lớn đối với du lịch.
Mức sống của phần đông dân cư còn thấp. Nếp sống văn minh, ý thức pháp luật không
nghiêm chỉnh như an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm…là những khó khăn cho
phát triển du lịch có chất lượng.
3. Rào cản ra nhập ngành
a) Luật pháp
Luật Du lịch ra đời năm 2005 được xem là cơ sở pháp lý thúc đẩy hoạt động du lịch
tốt hơn tuy nhiên đến nay vẫn gây ra một số rắc rối do thiếu những văn bản hướng dẫn thi
hành luật cho các doanh nghiệp.Ngành du lịch vẫn chưa nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ
các địa phương, nhất là việc ban hành một số chính sách gây khó khăn cho hoạt động du
lịch và chủ trương kích cầu du lịch. Ví dụ một số địa phương tăng giá vé tham quan trong
khi các tour đã được mua từ trước đó khiến doanh nghiệp phải bù lỗ...
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 18
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
b) Vốn đầu tư ban đầu
Trong bất cứ ngành nghề kinh doanh nào, vốn là yếu tố hết sức quan trọng và là điều
kiện để tiến hành kinh doanh. Với các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành du lịch vốn
càng trở lên cần thiết. Mặt khác, đối với kinh doanh ngành du lịch đòi hỏi một số lượng
vốn khá lớn. Với một công ty mới thành lập việc huy động vốn là khá khó khăn, vì vậy
đây cũng là một trong những rào cản để gia nhập ngành cho các công ty du lịch.
c) Rào cản từ đối thủ cạnh tranh
Hiện nay có hơn 960 doanh nghiệp lư hành quốc tế, trên 14.000 doanh nghiệp lữ hành
nội địa, riêng trên địa bàn Hà Nội có gần 300 công ty du lịch. Với số lượng khá lớn như
vậy, một doanh nghiệp mới gia nhập ngành sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối mặt
với các công ty hiện có.
ĐỐI THỦ CẠNH TRANH
IV.
1.
a)
•
Đối thủ cạnh tranh trực tiếp
Công ty TNHH du lịch và dịch vụ Biển Xanh
Thông tin chung
CÔNG TY TNHH DU LỊCH DỊCH VỤ BIỂN XANH là một trong những doanh nghiệp
lữ hành có uy tín ở Việt Nam hiện nay. Trong thời gian hoạt động công ty liên tục tăng
trưởng với tốc độ cao,nguồn tài chính vững mạnh, đảm bảo cho đầu tư và phát triên. Công
ty hoạt động với nhiệm vụ chính là tư vấn, thiết kế các chương trình thăm quan du lịch,
nghỉ dưỡng, gameshow,team building, hội nghị hội thảo cho các cá nhân, doanh nghiệp
trong nước. Ngoài ra còn là nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển, cho thuê xe ô tô và in ấn.
• Công ty đã lựa chọn thị trường mục tiêu để kinh doanh dựa trên cơ sở phân đoạn thị
trường.
Phân đoạn theo cơ sở địa lý
- Khai thác thị trường tiềm năng chủ yếu ở hai đoạn thị trường: Thị trường Hà Nội và đoạn
thì trường các tỉnh thành phố lân cận
+ Đoạn thị trường Hà Nội: chi ra làm các quận, đối tượng khách, học sinh, sinh viên, các
càn bộ công nhân, viên chức nhà nước, doanh nghiệp, các trung tâm tổ chức chính trị xã
hội.
+ Đoạn thị trường các tỉnh thành phố lân cận: Hưng Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh
Phúc...
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 19
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Phân đoạn theo mục đích chuyến đi : bao gồm du lịch , tham quan, nghỉ dưỡng, học tập
Phân đoạn theo dân số học
Theo độ tuổi: thanh niên, trung niên, người cao tuổi
Theo nghề nghiệp: học sinh, giáo viên. Cán bộ công nhân viên
Công ty với phương châm lấy uy tín là chủ đạo, công ty phục vụ khách hàng lấy chất
lượng để thuyết phục và giữ chân khách hàng. Luôn cải tạo và nâng cao chết lượng
chương trình du lịch. Ngoài ra công ty còn đưa ra một số chiến lượng cụ thể về sản phẩm,
giá cả thị trường với mục đích thu hút khách.
Những điểm giống với đối thủ
Nắm bắt được nhu cầu của học sinh các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ
thông trên địa bàn Hà Nội là du lịch học tập và sinh hoạt ngoại khóa, công ty đã tổ chức
các tour cho các em học sinh để tìm hiểu về các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử
trên địa bàn Hà Nội. Qua các tour, ngoài việc cho các em thời gian nghỉ ngơi thư gian,
qua đó các em có cơ hội tìm hiểu về lịch sử,đất nước, văn hóa con người Việt.
Điểm mạnh của đối thủ
+ Với đội ngũ nhân viên có chuyên môn nghiệp vụ cao, năng động, nhiệt tình, khả năng
giao tiêp tốt.
+ Có mối quan hệ rộng rã trên thị trường và khả năng đi sâu hội nhập vào thị trường trong
+
+
+
+
+
nước và ngoài nước.
Có mối quan hệ tốt với các ngành liên quan, đối tác, các khách sạn
Có nhiều kinh nghiệm và bạn hàng hoạt động du lịch từ lâu đời.
Phương tiện vận chuyển thuận lợi
Ý thức phát triển vì con người, vì cộng đồng
Điểm yếu của đối thủ
Sản phẩm đa dạng do đó lĩnh vực tổ chức các tour cho học sinh chưa được tập trung. Mới
+
+
b)
dừng lại ở bước tổ chức các buổi du lịch và các trò chơi.
Các địa điểm cho học sinh còn hạn chế ( 26 địa điểm)
Thời gian giới hạn ( ½ đến 1 ngày)
Công ty TNHH du lịch và dịch vụ Trái Tim Việt
Thông tin chung
Trụ sở chính: Số 212 Phố Tây Sơn - Thị Trấn Phùng – Đan Phượng – Hà Nội
Văn phòng giao dịch: Số 22 Nhân Hòa – Nhân Chính – Thanh Xuân – Hà Nội
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 20
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Công ty TNHH Du lịch và dịch vụ Trái Tim Việt được thành lập theo giấy chứng nhận
đăng kí kinh doanh số 0104008662 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp lần đầu ngày
23/11/2009
-
Dịch vụ cung cấp
+
Tổ chức các chương trình du lịch trong nước và quốc tế
+
Dịch vụ đặt phòng
+
Dịch vụ vận chuyển (Cho thuê xe du lịch)
+
Dịch vụ đặt vé máy bay, visa, hộ chiếu
+
In ấn, quảng cáo và truyền thông
Những điều làm tốt hơn đối thủ
+
Tập trung nguồn lực để cung cấp dịch vụ là tour du lịch dành cho học sinh
+
Hiểu khách hàng hơn về tâm lý, sở thích, yêu cầu, mong muốn do nghiên cứu kỹ khách
hàng
+
Học sinh là những khách hàng tiềm năng chưa được các công tu du lịch chú ý tới nhiều,
công ty tập trung khai thác lợi nhuận từ đối tượng này. Đây là thị trường có tiềm năng
lớn.
+
Nguốn nhân lực công ty có kinh nghiệm thực tế về những địa điểm du lịch, am hiểu sâu
về những điểm du lịch mà tour du lịch học sinh thường đến như Làng cổ Đường Lâm,
Thiên sơn Suối Ngà, Vườn quốc gia Ba Vì, Đồng Mô, Khu trượt cỏ Hòa Lạc, Lăng Bác…
+
Giá thành cạnh tranh do công ty mới thành lập
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 21
Khởi sự kinh doanh
+
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Nguồn nhân lực trẻ trung, sẵn sàng mạo hiểm, đối đầu thử thách, năng động, sáng tạo và
nhiệt tình trong công việc.
+
Sản phẩm đa dạng như tour du lịch cho học sinh cuối cấp, nhu cầu dã ngoại, khen thưởng
học sinh ưu tú, nhu cầu giao lưu, nhu cầu học tập như các buổi dã ngoại ngoại khóa.
Những điểm mạnh của đối thủ
+
Quy mô lớn, kinh nghiệm nhiều hơn
+
Nhân lực có kinh nghiệm, trình độ
+
Tour du lịch phong phú, đa dạng
+
Đã có vị trí trên thị trường
+
Ngoài du lịch còn có các dịch vụ khác như dịch vụ đặt phòng, dịch vụ vận chuyển (Cho
thuê xe du lịch), dịch vụ đặt vé máy bay, visa, hộ chiếu, in ấn, quảng cáo và truyền thông.
c) Kết luận
Sau khi thu thập thông tin về các đối thủ cạnh tranh trực tiếp, nhóm ý tưởng nhận thấy
cần có một số giải pháp cho hướng kinh doanh của mình để giảm bớt sự tấn công của đối
thủ và tăng sự canh tranh của mình.
+
Tập trung nghiên cứu,tìm hiểu nhu cầu khách hàng (học sinh)
+
Kết hợp với các thầy, cô giáo đưa bài học thực tế một cách sinh động vào các tour du lịch
(buổi học ngoại khóa)
+
Bước đầu tập trung vào du lịch học sinh, sau đó đa dạng thêm sản phẩm, dịch vụ
+
Đa dạng các địa điểm đến
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 22
Khởi sự kinh doanh
+
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Tăng thêm các gói tour có thời gian hợp lý, đáp ứng nhu cầu học sinh
2. Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Khi công việc kinh doanh của công ty có lợi nhuận thì lập tức các công ty lớn chưa có
loại hình tour du lịch học sinh sẽ tấn công vào thị trường và tung ra dịch vụ này để giành
thị trường. Việc tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩm được thực hiện đối với các doanh
nghiệp phục vụ du lịch có hoạt động trên thị trường địa bàn Hà Nội. Sau quá trình tìm
hiểu và nghiên cứu (dựa trên quy mô và mức độ tăng trưởng của các doanh nghiệp), sau
đây là phần phân tích về 2 đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn mà nhóm ý tưởng đánh giá là cần
phải chú ý.
a) Công ty cổ phần Mặt Trời Châu Á
Trụ sở chính : 9B Dã Tượng - P.Trần Hưng Đạo - Hoàn Kiếm, Hà Nội
Công ty Cổ phần Mặt Trời Châu Á (Asian Sun Travel) hoạt động với giấy phép lữ hành
Quốc tế số 0262/TCQL-GPLHQT do Tổng cục Du lịch Việt Nam cấp.Asian Sun Travel
là thành viên chính thức của các Hiệp hội Du lịch Quốc tế: Châu Á Thái Bình Dương
(PATA): Mỹ và Bắc Mỹ (ASTA), Nhật Bản (JATA), Việt Nam (VITA)
Những điểm mạnh của công ty
+ Asian Sun Travel tạo cho mình một ấn tượng riêng cho mình về các tuor du lịch mới mẻ,
hấp dẫn với phương châm “phong các du lịch mới”.
+ Tổ chức cả các tour du lịch trong và ngoài nước với chất lượng cao.
+ Đội ngũ quản lý và nhân viên có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm
+ Đang được khối lượng lớn khách hàng tin tưởng: được đánh giá là công ty có tốc độ tăng
trưởng nhanh và có uy tín cao trên thị trường Du lịch.
Những điểm yếu của công ty
+ Các tuor du lịch trong nước không đa dạng (3 tour du lịch)
+ Hầu hết là các tour du lịch dài ngày (2-4 ngày), với chi phí lớn.
+ Các gói du lịch dành cho các tổ chức trường học, học sinh chưa có.
b) Công ty TNHH lữ hành Hương Giang Hà Nội
Trụ sở chính: 47 Phan Chu Trinh, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 23
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
Thành lập năm 1997, Lữ hành HG (HG Travel) là công ty hàng đầu chuyên cung cấp các
dịch vụ và giải pháp du lịch tại Việt Nam cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong
nước và quốc tế. Công ty có 700 cán bộ, nhân viên nhiều kinh nghiệm đang làm việc tại
13 văn phòng, công ty trực thuộc tại khu vực Đông Dương và 2 văn phòng đại diện tại
Châu Âu. Đã được Tổng cục Du lịch Việt Nam trao tặng danh hiệu là một trong “Mười
Công ty Lữ hành hàng đầu tại Việt Nam” vào các năm 2003, 2006, 2007, 2008 và 2009.
Công ty TNHH Hương Giang Hà Nội là công ty con của Công ty cổ phần du lịch Hương
Giang. Năm 2003, 2006,2007 Công ty TNHH Lữ hành Hương Giang Hà Nội được công
nhận danh hiệu là một trong 10 hãng lữ hành hàng đầu Việt Nam, năm 2006 Công ty
được Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) bình chọn là 100 doanh nhân
tiêu biểu của Việt Nam, nằm trong top 10 doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng trưởng nhanh
nhất của ngành du lịch, khách sạn.
Điểm mạnh của đối thủ:
+ Công ty mẹ là công ty lớn với những tài sản chiến lược: Du lịch HG (HG Travel) hiện là
đồng sở hữu và quản lý các công ty: Du thuyền Bhaya, Du thuyền Hải Long, Du thuyền
Âu Cơ, Khu nghỉ mát cao cấp Lăng Cô, Nhà hàng What’s your nem, Nhà hàng Green
Papaya… cung cấp một giải pháp du lịch toàn diện có chất lượng cao
+ Phương thức phục vụ được thiết kế hoàn hảo thỏa mãn những yêu cầu khắt khe của mỗi
khách hàng.
+ Cung cấp nhiều dịch vụ, rất đa dạng: Tổ chức các tour du lịch trong và ngoài nước; Đặt
vé máy bay trong nước và quốc tế; Đặt xe du lịch và dịch vụ đón tiễn sân bay; Đặt phòng
khách sạn trong nước và quốc tế; Tư vấn xin thị thực xuất nhập cảnh Việt Nam và các
nước khác; Tư vấn làm bảo hiểm du lịch; Dịch vụ phiên dịch và hướng dẫn viên du lịch;
+
+
c)
Dịch vụ đặc biệt cho VIP
Điểm yếu của đối thủ
Cung cấp các dịch vụ toàn diện chất lượng nhưng giá cao không phù hợp với học sinh
Chưa đẩy mạnh các tour du lịch cho tố chức học sinh.
Kết luận
Trong giai đoạn đầu đi vào hoạt đông kinh doanh, nhóm ý tưởng nhận thấy khả năng
tấn công của các đổi thủ tiềm ẩn là không lớn (do ngách thị trường khách hàng học sinh,
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 24
Khởi sự kinh doanh
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Minh An
các tổ chức học sinh đang không được các công ty du lịch lớn chú ý đến). Nhưng với việc
đánh giá tiềm năng lớn của thị trường này, nhóm ý tưởng dự báo sẽ có rất nhiều nguy cơ
khi hoạt động kinh doanh của nhóm tăng trưởng lớn.
Khi đó, việc các công ty lớn như Công ty Cố phần Mặt trời Châu Á, Công ty TNHH lữ
hành Hương Giang Hà Nội và nhiều công ty khác tấn công để giành thị trường là điều
không tránh khỏi. Để đối phó với nguy cơ trong tương lai, sau khi nghiêm cứu kĩ đối thủ
cạnh tranh tiềm ẩn, nhóm ý tưởng đã có những thay đổi nhằm định hướng hoạt động kinh
doanh và đầu tư vào các hoạt động quan hệ khách hàng, cụ thể:
+
Thiết kế logo và đầu tư vào việc sản xuất các sản phẩm lưu niệm cho khách hàng sử dụng
dịch vụ của công ty với logo in trên đó.
+ Tập trung xây dựng và lưu trữ cơ sở dữ liệu về khách hàng để hiểu khách hàng và gây ấn
tượng bằng sự chu đáo trong chất lượng phục vụ.
+ Tổ chức các khóa tập huấn để cải thiện và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng của
bộ phận tiếp xúc khách hàng với phương châm “thân thiện, chu đáo, tận tình”
+ Đối với những khách hàng đã sử dụng dịch vụ của công ty, thường xuyên gửi các thiệp
chúc mừng cộng với các chương trình khuyến mại du lịch vào các ngày lễ, ngày nghỉ lớn.
Tất cả các hoạt động nêu trên nhằm mục tiêu thiết lập mối quan hệ chặt chẽ, thân thiết
với khách hàng.Tạo nên sự yêu mến và gắn bó của khách hàng với công ty.Có như thế
mới có thể giữ chân được khách hàng hiện tại khi các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
muốn giành thị phần.
V.
KHÁCH HÀNG
Khách hàng chính là học sinh bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trên
địa bàn Hà Nội. Song do sản phẩm dịch vụ là các tour du lịch học tập, các buổi hoạt động
ngoại khóa nên khách hàng chịu ảnh hưởng từ phía các thầy cô giáo và phụ huynh học
sinh. Họ có tác động không nhỏ và ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ của công ty. Vì
vậy khi phân tích khách hàng, ngoài việc phân tích đặc điểm của học sinh, công ty còn
phân tích đặc điểm của giáo viên và phụ huynh học sinh. Từ đó có các biện pháp tốt hơn
nhằm thu hút khách hàng.
1. Học sinh
a) Những đặc điểm chung
Nhóm 3, lớp D10QTDN2
Page 25