Tải bản đầy đủ (.docx) (40 trang)

Thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo ở tỉnh bo kẹo cộng hoà dân chủ nhân dân lào trong giai đoạn 2006 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (262.25 KB, 40 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang dần chuyển mình từ xu thế đối đầu sang đối thoại và

hợp tác cùng phát triển, Thế giới bước sang thế kỷ XXI với nền văn
minh rực rỡ nhưng cũng ngổn ngang những vấn đề gay gắt mang tinh
toàn cầu. Đó là nghèo đói vẫn còn trầm trọng trên một phạm vi vô cùng
rộng lớn. Nghèo đói luôn là nỗi bất hạnh của loài người và là một
nghịch lý trên con đường phát triển. Thực tế hiện nay trong 6 tỷ người
của thế giới, thường xuyên có 2,8 tỷ người sống dưới mức 1 USA/
ngày. Hiện nay, nghèo đói đã và đang diễn ra trên khắp châu lục với các
mức độ khác nhau. Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát triển,
nghèo đói đang là vấn đề nhức nhối, thách thức đối với sự phát triển
của mỗi quốc gia, thậm chí có thể dẫn tới sự diệt vong của cả một dân
tộc. Chính vì vậy chống đói nghèo vẫn là một trong những vấn đề được
Liên Hợp Quốc quan tâm hàng đầu. Nhiều quốc gia tổ chức và diễn đàn
quốc tế lấy hoạt động chống đói nghèo làm mục tiêu quan trọng trong
chương trình hoạt động của mình.
Lào vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá
nặng nề, gây nên một bước cản vô cùng lớn trước sự tiến bước và phát
triển. Kể từ năm 1986, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào bước vào thời
kỳ đổi mới, cùng với đó là sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, đời
sống của đại đa số nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, một thực tế
không bỏ qua, Lào vẫn là một trong những nước nghèo nhất trên thế
giới và đang đối mặt với tình trạng phân hoá giàu nghèo vấn đề đói
nghèo gay gắt.
Trước thực trạng đó, nguyên Chủ tịch nước CHDCND Lào
Suphanu Vông và Chủ tịch Cay Xỏn Phôm Vi Hẳn đã xác định nghèo
đói là một thứ giặc như giặc dốt, giặc ngoại xâm, nên đã đưa ra công


1


tác xoá đói giảm nghèo là mục tiêu phấn đấu làm sao để nhân dân lao
động thoát nạn bần cùng làm cho mọi người có công ăn việc làm và
cuộc sống hạnh phúc.
Cùng với việc đẩy mạnh cải cách đối với kinh tế, tạo động lực
thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế. Chính phủ nước CHDCND Lào đã có
những chủ trương khuyến khích làm giàu trước là cần thiết cho sự phát
triển kinh tế. Đông thời đó có chính sách ưu đãi hợp lý về tín dụng, về
thuế, đào tạo nghề nghiệp để tạo điều kiện cho nước nghèo có thể vươn
lên làm đủ sống và phấn đấu trở thành khá giỏi. Các vùng nghèo, vùng
phát triển trước phải cùng nhà nước giúp đỡ, lôi cuốn các vùng nghèo,
vùng phát triển sau để cùng vươn lên nhất là những vùng đang có kế
hoạch xoá đói giảm nghèo của quốc gia, vùng khác như vùng cao, vùng
sâu, vùng xa.
Tỉnh Bo Kẹo là một trong những tỉnh miền núi và cao nguyên,
nghèo nhất Đông Bắc của nước CHDCND Lào; tỉnh Bo Kẹo có 5
huyện, 291 bản, 27.606 hộ gia đình, với dân số là 158.683 người, trong
đó dân số nữ là 79.516 người. Hiện có 3 dân tộc lớn sinh sống trên địa
bàn tỉnh, trong đó Lào Lúm chiếm 57,3%, Lào Mống chiếm 24,8%, Lào
Thang chiếm 9,4%, các dân tộc khác chiếm 11,5%. Mỗi dân tộc có lối
sống riêng, mang tập tục và tiếng nói riêng. Phần lớn số hộ đói nghèo
trong tỉnh Bo Kẹo là nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số, đói nghèo
ở Bo Kẹo không chỉ đơn thuần dừng lại ở vấn đề kinh tế mà nó đã ảnh
hưởng đến vấn đề văn hóa, dân tộc, tôn giáo, chính trị của Tỉnh. Đây
đang là thách thức với quá trình phát triển của tỉnh Bo Kẹo nói riêng
của CHDCND Lào nói chung trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Chính vì vậy làm thế nào để xoá đói giảm nghèo được là một vấn đề
cần thiết hiện nay vì nó là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản

ánh cho sự phát triển.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
2


Lào, đời sống của nhân dân địa phương đã có nhiều cải thiện đáng ghi
nhận. Do đặc thù của tỉnh, là địa bàn núi non hiểm trở, đất đai cằn cỗi,
khí hậu tương đối khắc nghiệt, so với các địa phương trong cả nước,
cho nên đời sống của nhân dân nơi đây còn nhiều khó khăn. Mức sống
và trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, tỷ lệ người
lao động trong độ tuổi lao động thất nghiệp tương đối cao, phần lớn dân
cư lao động là nông nghiệp và thủ công nghiệp. Một bộ phận bà con
dân tộc thiểu số vẫn sống kiểu du canh du cư phát nương làm rẫy, một
bộ phận nhân dân rời quê hương để đi định canh định cư ở khu vực
khác, tỉnh khác với mong muốn tìm một cuộc sống tốt hơn. Điều đó đòi
hỏi Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương cần thấy rõ
tầm quan trọng của sự nghiệp phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm
nghèo. Vì vậy, tác giả triển khai nghiên cứu đề tài: “Thực trạng công
tác xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Bo Kẹo-Cộng hoà Dân chủ Nhân dân
Lào trong giai đoạn 2006-2010, làm đề tài của khóa luận, mong đóng
góp phần nhỏ cùng với tỉnh giải quyết vấn đề thực tiễn đòi hỏi cấp bách
hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xoá đói giảm nghèo là vấn đề của toàn xã hội. Chính vì vậy, nó
được Đảng và Nhà nước Lào, các giới nghiên cứu, các nhà khoa học,
các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu. Đây cũng là lĩnh vực có nhiều
công trình và bài viết, nhưng liên quan đến đề tài này đáng chú ý nhất
là một số công trình và bài viết sau:
* Các công trình, bài viết ở Lào:
- Sổm Phết Khăm Ma Ni (2002) “Thực trạng và giải pháp xoá

đói giảm nghèo ở tỉnh Bo Li Khăm Xây nước CHDCND Lào” Luận
văn Thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Kẹo Đa La Kon SORUIVONG (2005) “Xoá đói giảm nghèo ở
tỉnh Sê Kông CHDCND Lào thực trạng và giải pháp” Luận án Thạc
3


sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Mr. Oivin,Mr. Leonell, Mr. Ifcudino (Nhóm tác giả ở Liên hợp
quốc) (1995) phát triển vùng miền núi ít người (gồm 8 tỉnh trong đó có
tỉnh Bo Kẹo) năm 1995 – 2000. Các tác giả đã đề cập đến vấn đề đầu tư
về cơ sở hạ tầng, về giáo dục và y tế ở các vùng dân tộc miền núi; nêu
lên mối quan hệ phân cấp về tài chính giữa chính quyền địa phương
trong công tác xoá đói giảm nghèo qua hệ thống phân phối ngân sách.
- Viện nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức hội nghị bàn về sự
phát triển nông thôn ở tầm quốc gia, năm 1996. Hội nghị đã đề cập 4
nội dung: sản xuất lương thực, giáo dục và đào tạo, an ninh quốc
phòng, nâng cao chất lượng cơ sở đảng cấp xã và huyện.
- Chiến lược phát triển và xoá đói giảm nghèo quốc gia (3/ 2004).
Nxb Quốc Lào.
- Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2005-2009 (10/2005).
Nxb Quốc Lào.
- Báo các tổng hợp của Uy ban kế hoạch nhà nước Lào (2000)
Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2010 và tầm nhìn đến
năm 2020 của CHDCND Lào.
* Các công trình, bài viết ở nước ngoài:
Trên thế giới đã có một số hội nghị bàn về vấn đề đói nghèo như:
- Hội nghị về chống đói nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương do DSCAP (uỷ ban kinh tế-xã hội Châu Á, Thái Bình Dương) tổ
chức tại Băng Cốc-Thái Lan tháng 9 năm 1993 đã đưa ra khái niệm

chung về nghèo, thực trạng của đói nghèo và những giải pháp chống
đói nghèo trong khu vực.
- Hội nghị về phát triển xã hội do Liên Hiệp quốc chủ trì tại
Copennhagen (Đan Mạch) tháng 3 năm 1995. Tại Hội nghị này, các
nguyên thủ quốc gia đã tập trung thảo luận vấn đè giảm đói nghèo, hóa
hợp xã hội và nêu lên trách nhiệm của các tổ chức quốc tế và các nước
4


phát triển trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển xoá đói
giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa nước giàu và nước nghèo.
- Nguyễn Hoàng Lý (2005) “xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Gia Lai:
Thực trạng và giải pháp” Luận án Thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Thị Hằng “Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
Việt Nam” năm1996.
- Lê Xuân Bá chủ biên “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt
Nam”. Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2001.
- Nguyễn Lâm Thành “xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu
số nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hoá”, Luận văn tốt
nghiệp cử nhân chính trị-Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
năm 2005
Nhìn chung các công trình và bài biết trên đây đã đề cập đến xoá
đói giảm nghèo dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Nhưng ở
nước CHDCND Lào chưa có một công trình hay luận án nào nghiên
cứu xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Bo Kẹo một cách có hệ thống. Chính vì
vậy đây vẫn là vấn đề cần được nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn ở

tỉnh Bo Kẹo trong giai đoạn 2006-2010, từ đó chỉ rõ các yếu tố tác
động đến công tác xoá đói giảm nghèo tại tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu về công
tác xoá đói giảm nghèo ở CHDCND Lào nói chung và tỉnh Bo Kẹo nói
riêng.
- Tìm hiểu thực trạng đói nghèo ở tỉnh Bo Kẹo qua khảo sát điều
tra xã hội học.
5


- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xoá đói giảm
nghèo qua phân tích các báo cáo kinh tế xã hội của tỉnh năm 2006-2010
qua phân tích tài liệu có sẵn
- Xuất phát từ thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo trên địa
bàn tỉnh Bo Kẹo để từ đó đề xuất một số phương hướng, khuyến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả công tác xoá đói giảm nghèo của tỉnh hiện nay.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và các yếu tố tác động đến công tác xoá đói giảm
nghèo ở tỉnh Bo Kẹo.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Các chương trình xoá đói giải nghèo được triển khái ở tỉnh Bo
Kẹo
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Tỉnh Bo Kẹo.
Thời gian: 2006-2010.
5. Giả thuyết nghiên cứu
- Tình trạng thất nghiệp ở tỉnh Bo Kẹo trong giai đoạn 2006-2010
có xu hướng giảm xuống nhiều

- Trong giai đoạn 2006-2010, trình độ dân trí của nhười dân tăng
lên và tốt hơn rất nhiều
- trong giai đoạn 2006-2010, thu nhập của nhười dân ở tỉnh Bo
Kẹo tăng lên
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
Vận dụng những nguyên tắc phương pháp luận chủ nghĩa Duy vật
Biện chứng và chủ nghĩa Duy vật lịch sử của Học thuyết Mác- Lênin
vào nghiên cứu. Đồng thời để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, khóa luận
6


này sử dụng các lý thuyết của xã hội học: phân tầng xã hội, lý thuyết
phát triển nông thôn.
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phân tích tài liệu: Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu
chính là phương pháp phân tích tài liệu có sẵn, bao gồm các số liệu về
tình hình phát triển kinh tế – xã hội của Tổng cục thống kê Lào và của
Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bo Kẹo năm 2006, 2010. Các số liệu định
tính được xử lý bằng phần mềm Nvivo 6.0
7. Đóng góp của khóa luận
Dưới góc độ chính trị – xã hội, báo cáo góp phần giải quyết về
mặt lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa thực trạng công tác xoá đói,
giảm nghèo. Phân tích, đánh giá công tác xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Bo
Kẹo và đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hơn nữa
góp phần giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo của tỉnh trong giai đoạn
hiện nay.

7



PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO
VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH BO KẸO
1.1. Thao tác hóa khái niệm
1.1.1. Một số khái niệm về đói nghèo.
Nghèo đói hiện nay là vấn đề mang tính toàn cầu. Các quốc gia
trên thế giới tuy khác nhau về nhiều mặt như: trình độ phát triển kinh
tế, điều kiện địa lý tự nhiên, dân số và trình độ dân trí, bản sắc văn hóa,
tín ngưỡng và tập tục, hệ tư tưởng và chế độ chính trị… nhưng đều có
những vấn đề chung, vấn đề bức xúc cần quan tâm giải quyết, một trong
những vấn đề lớn có tính toàn cầu là tình trạng đói nghèo.
Nhiều diễn đàn khu vực và thế giới đó khẳng định đói nghèo là
vấn đề bức xúc của xã hội, đói nghèo không chỉ ở phạm vi của một
quốc gia, một khu vực, mà diễn ra trên toàn thế giới, do vậy nếu không
có chủ trương, giải pháp đúng đắn ở tầm quốc gia, quốc tế sẽ đưa đến
tình trạng mất ổn định chính trị cả trong và ngoài nước như tình trạng
di dân quốc tế ồ ạt phá huỷ môi trường, tiêu cực xã hội lan rộng làm
ảnh hưởng đến cả nhân loại. Như vậy cần có giải pháp về xoá đói giảm
nghèo, muốn thực hiện điều đó cần phải có quan niệm đúng về đói
nghèo. Vậy đói nghèo là gì?
Nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế đó đưa ra nhiều khái
niệm khác nhau về nghèo đói. Có nhiều tác giả quan niệm nghèo đói là
"thiếu ăn", "thiếu dinh dưỡng", "nhà tạm bợ" hoặc là "sự thất học". Đó
là những quan điểm biểu hiện được một khía cạnh nào đó của nghèo
đói. Theo quan niệm của các nhà khoa học tại Hội nghị bàn về xoá đói
giảm nghèo ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương "Đói nghèo là tình
trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu
8



cầu cơ bản của con người đó được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ
phát triển kinh tế và phong tục tập quán của từng địa phương" là phù
hợp.
Nghèo đói được chia thành hai cấp độ: nghèo và đói.
1.1.1.1. Nghèo:
Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng địa phương đang xét về trong một thời
điểm.
- Nghèo tuyệt đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức
sống dưới ngưỡng quy định nghèo. Nghèo tuỳ thuộc vào điều kiện kinh
tế, phong tục tập quán, thói quen ăn uống, chi tiêu hay nói cách khác là
phụ thuộc vào đặc điểm dân cư từng vùng. Nghèo được phân loại như
sau:
- Nhu cầu tối thiểu: Là những đảm bảo tối thiểu, những nhu cầu
thiết yếu về ăn, mặc, ở và những nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm văn
hóa, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp.
- Ngưỡng nghèo: Là nhu cầu tối thiểu được sử dụng để làm danh
giới giữa nghèo khổ và không nghèo khổ.
1.1.1.2. Đói:
-Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống
dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo cho nhu cầu vật chất
để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, thiếu
mặc thường phải vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cộng
đồng, tuỳ thuộc vào khả năng đảm bảo nhu cầu lương thực, thực
phẩm…
- Thiếu đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống
dưới mức tối thiểu cho đủ khả năng đảm bảo có được số lương thực bữa
đói, bữa no và có khi đứt bữa 1 - 2 - 3 tháng (có calorie được cung cấp

hàng ngày bình quân đầu người năm trong khoảng 1.500 - dưới 2.000
9


Kcal).
- Đói gay gắt: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống
tối thiểu, chịu đói ăn từ trên 3 tháng trở lên (số calorie được cung cấp
hàng ngày bình quân đầu người dưới 1.500 Kcal).
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá đói nghèo ở Lào.
Không có định nghĩa duy nhất về nghèo và do đó cũng không có
một phương pháp hoàn hảo để đo được nó. Nghèo là tình trạng bị thiếu
thốn ở nhiều phương diện. Thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu
nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng lúc khó khăn, và dễ bị tổn
thương trước đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và
những khó khăn tới những người có khả năng giải quyết, ít được tham
gia quá trình ra quyết định, cảm giác bị tổn thương, bị xỉ nhục, không
được người khác tôn trọng… đó là khía cạnh của nghèo. Nhưng đo
được khía cạnh đó một cách nhất quán là điều rất khó, cần gộp lại tất cả
các khía cạnh đó vào thành một chỉ số nghèo hay thước đo nghèo đói
duy nhất là chuyện không thể. Song vẫn cần có các chỉ tiêu về nghèo
nhằm nắm bắt đánh giá mức độ (giới hạn) nghèo đói ở các khu vực.
- Theo Ngân hàng thế giới:
Hiện nay ngân hàng thế giới (WB) đó đưa ra chỉ tiêu đánh giá
mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng cách tính thu nhập quốc dân
trên một đầu người, với hai cách tính đó là: Theo phương pháp Atlas
tức là theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD theo phương pháp PPP
(Purchasing power parity) là phương pháp sức mua tương đương, cũng
tính bằng USD.
Theo phương pháp Atlas, giàu nghèo được phân ra làm 6 loại như
sau:

+ Thu nhập bình quân đầu người trên 25.000USD/năm là nước
cực giàu.
10


+ Từ 20.000USD/năm đến 25.000USD/năm là nước giàu.
+ Từ 10.000USD/năm đến dưới 20.000USD/năm là nước khá giàu.
+ Từ 2.500USD/năm đến dưới 10.000USD/năm là nước trung bình.
+ Từ 500USD/năm đến dưới 2.500USD/năm là nước nghèo.
+ Dưới 500USD/năm là nước cực nghèo.
Chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo nêu trên cũng phiến diện
bởi mới chỉ xét ở góc độ thu nhập. Thực tế nhiều nước có thu nhập bình
quân đầu người rất cao nhưng chất lượng sống của con người chưa
tương xứng, vẫn còn tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, thiếu việc làm, ô
nhiễm môi trường và những bất công trong xã hội. Nhưng cần phải
nhận thức một cách toàn diện rằng, tiêu chí về thu nhập bình quân đầu
người là rất quan trọng, song sẽ sai lầm nếu coi đó là tiêu chí duy nhất.
Vì ở nhiều nước phát triển, tuy thu nhập bình quân đầu người rất cao,
nhưng ở đó chỉ có một số ít người thuộc giai cấp bóc lột rất giàu có,
ngược lại hầu hết nhân dân lao động thời đời sống rất khổ cực nên tình
trạng đói nghèo đó đã và đang diễn ra khá phổ biến. Vì vậy cần phải
xem xét thu nhập thực tế, mức hưởng thụ của người lao động, trình độ
công bằng, tiến bộ xã hội mà quốc gia đó đạt được.
Liên hiệp quốc đó đưa ra chỉ tiêu là chỉ số nhân bản HDI
(Hunman Development Index). Chỉ số này gồm 3 loại tiêu chí như:
Phúc lợi kinh tế - xã hội cơ bản, GDP bình quân đầu người (a). Chỉ số
phản ánh trình độ giáo dục, theo tỷ lệ % dân cư biết chữ (b), và chỉ số
phản ánh tiến bộ xã hội về y tế, sức khoẻ, đó là tuổi thọ bình quân (c).
Sau khi xem xét 198 nước trên thế giới, Liên hiệp quốc đó chia thành 3
nhóm nước như sau:

+ Nhóm các nước kém phát triển gồm 42 nước có a = 227USD, b
= 32%, c = 49 tuổi.
+ Nhóm các nước đang phát triển gồm 130 nước có a = 921USD,
b = 58%, c = 59 tuổi.
11


+ Nhóm các nước phát triển gồm 26 nước có a = 15.510USD, b =
99%, c = 75 tuổi.
Theo bảng xếp hạng chung, Lào là một trong những nước nghèo
nhất thế giới với thu nhập đầu người khoảng 350USD/năm.
Do quan niệm nghèo đói giữa các quốc gia khác nhau nên khó có
thể đưa ra một chuẩn mực chung nhất cho tất cả các quốc gia. Bởi
nghèo đói là một khái niệm động, biến đổi. Những tiêu chí đánh giá
nghèo khổ tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia cũng như vào mỗi
giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên để có thể so sánh được mức độ nghèo đói
của các nước trên thế giới Ngân hàng thế giới đó đưa ra tiêu chí xác
định thu nhập ở mức nghèo là 1USD/ngày cho một người. Tức là thu
nhập cần thiết để duy trì 2.150 Calo mỗi ngày. Theo ESCAP từ những
năm 1980 đến nay đường ranh giới nghèo (Poverty line) của các nước
đang phát triển được xác định bằng số tiền chi phí cho các nhu cầu thiết
yếu về ăn, mặc, ở… mà trước hết là lương thực, thực phẩm để duy trì
sự sống với mức tiêu dựng nhiệt lượng từ 2100 đến 2300
Calo/ngày/người. Chẳng hạn Inđônêsia đầu những năm 1980 lấy mức
2100 Calo; ở Trung Quốc năm 1990 người ta lấy 2150 Calo; ở Việt
Nam lấy mức tiêu dùng nhiệt lượng 2100 Calo; trong khi đó những năm
1985 ấn Độ lại lấy mức 1750 Calo; Pakistan là 1300 Calo; Băng La Đét
là 1650 Calo/ngày/người.
Khi áp dụng vào điều kiện xã hội, lối sống, mức tiêu dùng và sức
mua của đồng tiền của từng quốc gia thì khái niệm đói nghèo được

đánh giá bằng những thước đo về số lượng khác nhau. Trong khi ngân
hàng thế giới lấy chỉ tiêu 30USD/người/tháng, thì các quốc gia khác lại


các thước

đo mức

nghèo

khổ

khác

nhau:

Malaixia



28USD/người/tháng, Srilanca là 17USD/người/tháng, Bănglađét là
11USD/người/tháng,

Nêpan



9USD/người/tháng,

6USD/người/tháng.

12

Pakixtan




- Tiêu chí đánh giá nghèo đói ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
Lào
Nghèo đói ở Cộng chủ Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay được xem
xét ở một số tiêu chí: thu nhập bình quân đầu người, nhà ở, tiện nghi
sinh hoạt, chi tiêu gia đình, hưởng thụ văn hoá trong đó tiêu chí thu
nhập bình quân nhân khẩu một tháng (hoặc năm) được xác định là tiêu
chí chính. Các tiêu chí khác được xem xét thêm khi đánh giá mức độ
nghèo đói.
Với nhận thức lấy thu nhập bình quân đầu người là tiêu chí đánh
giá nghèo đói được tính bằng tiền. Tuy nhiên, với một nước cũng ở
trình độ kém phát triển và tập quán sinh hoạt, ở Lào, gạo cũng được lấy
làm thước đo đánh giá nghèo đói. Đặc biệt đối với người nghèo đói nói
chung và nông dân nghèo ở Lào nói riêng, chỉ tiêu số lượng kilôgam
gạo nếp bình quân đầu người/tháng là rất có ý nghĩa và rất thực tế. Việc
chọn gạo nếp làm đơn vị đo lường mức độ nghèo của nông dân không
phải là quay trở lại chế độ trao đổi hiện vật giản đơn mà thực chất là
một bước thực tế hóa khái niệm về thu nhập.
Tính theo thu nhập nhân khẩu một tháng hoặc một năm được đo
bằng chỉ tiêu giá trị hoặc hiện vật quy đổi của bộ Lao động Thương
binh - xã hội, năm 2006 tiêu chuẩn xác định nghèo đói là:
- Hộ đói: Là hộ có số gạo nếp bình quân đầu người là dưới
15kg/tháng.
- Hộ nghèo: Là hộ có số gạo nếp bình quân đầu người tháng:

Dưới 60kg/người (ở thành thị), dưới 40kg/người (ở nông thôn), dưới
25kg/người (ở nông thôn miền núi).
Hoặc nếu tính theo tiền thì hộ nghèo được hiểu là hộ có thu nhập bình
quân đầu người dưới 150.000 kíp/người/tháng (vùng đô thị), dưới
100.000kíp/người/tháng (vùng nông thôn). Ngoài ra cũng có 4 tiêu
chuẩn để xác định tình trạng nghèo đói của hộ gia đình. Đó là:
13


Một là, có nhà ở tương đối tốt, một tầng trở lên (nhà gỗ hay nhà
xây).
Hai là, có cơm đủ ăn cả năm, mức sống tối thiểu quy ra gạo nếp là 135
kg/người/năm.
Ba là, có trẻ em đi học và tốt nghiệp cấp I trở lên.
Bốn là, mức sống đúng theo quy định của Bộ Y tế (ăn, ở, uống sạch).
Với 4 tiêu chuẩn trên thì hộ nào đạt dưới mức này là thuộc vào hộ nghèo
1.2. Tiếp cận xã hội học về nghèo đói, xoá đói giảm nghèo
1.2.1. Lý thuyết về phân tầng xã hội
Phân tầng xã hội là một trong những khái niêm quan trọng của xã
hội học. Đó là một khái niệm để chỉ sự phân chia các cá nhân hay các
nhóm xã hội thành các tầng lớp khác nhau. Mỗi tầng bao gồm các cá
nhân, các nhóm xã hội có địa vị kinh tế, chính trị, uy tín giống nhau.
Phân tầng xã hội diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ
kinh tế, chính trị cho đến văn hóa, v.v. Phân tầng xã hội và bất bình
đẳng có mối quan hệ mật thiết. Bất bình đẳng là nguyên nhân, phân
tầng xã hội là kết quả. Sự không ngang nhau về mọi lĩnh vực giữa các
cá nhân trong xã hội dẫn đến cơ hội và lợi ích của các cá nhân là không
như nhau, từ đó dẫn đến việc các cá nhân hay các nhóm xã hội có cùng
chung lợi ích sẽ tập hợp lại thành một nhóm. Nhiều nhóm có cơ hội và
lợi ích khác nhau ra đời. Có nhóm lợi ích và cơ hội nhiều, có nhóm thì

ít, từ đó dẫn đến phân tầng xã hội.
Phân tầng xã hội không có ý nghĩa tuyệt đối. Do vị thế xã hội của
các cá nhân có thể thay đổi, từng ngày, từng giờ, có cá nhân hôm nay
thuộc tầng lớp này, mai lại thuộc tầng lớp khác. Bởi vì cơ hội và lợi ích
của họ không còn năm trong tầng lớp đó nữa. Lý thuyết xã hội học về
phân tầng xã hội gắn liền với hai nhà xã hội học nổi tiếng người Đức là
Karl Marx và Max Weber.
14


Karl Marx (1818 - 1883): Karl Marx chú ý đến phân tầng xã hội
dưới khía cạnh giai cấp xã hội, mỗi giai cấp có những quan hệ khác
nhau đối với tư liệu sản xuất dẫn tới giai cấp này thống trị giai cấp kia.
Theo Marx sự phân tầng xã hội là dựa trên cơ sở kinh tế, ông cho rằng
các mối quan hệ kinh tế tạo thành nền tảng của sự phân chia giai cấp,
với Mác mối quan hệ về giai cấp là chìa khoá của mọi quan hệ xã hội.
Mối lợi ích về kinh tế, quyền lực chính trị và uy tín xã hội đều
bắt nguồn từ giai cấp, sự hoạt động về của cải vật chất là hoạt động
trước tiên của con người và nó phải đến trước mọi hoạt động khác.
Khi xã hội có thể sản xuất được nhiều hơn nhu cầu tối thiểu để sinh
sống thì giai cấp xuất hiện. Có giai cấp chiếm đa số làm công việc sản
xuất và có giai cấp chiếm thiểu số thống trị chiếm đoạt số sản phẩm
dư thừa được sản xuất ra. Bất cứ xã hội có giai cấp đối kháng nào đều
xây dựng trên mối quan hệ giữa người bóc lột và kẻ bị bóc lột. Theo
Marx, lịch sử xã hội là lịch sử của các cuộc đấu tranh giai cấp, ông
cho rằng trên cơ sở các quyền lợi giai cấp đối lập, nảy sinh đều bắt
nguồn từ xung đột giai cấp, trên cơ sở các quyền lợi giai cấp đối lập,
nảy sinh từ bóc lột xã hội.
Như vậy, quyết định luận của K.Marx là bắt đầu từ kinh tế và
kinh tế là cái quyết định con người đứng ở giai cấp nào.

Max Weber (1864 - 1920): Theo quan điểm của Max Weber thì
phân tầng xã hội được cấu thành từ 3 yếu tố: Của cải - quyền lực và uy
tín. Ông cho rằng 3 yếu tố trên là không trùng lặp với nhau. M.Weber
chứng minh rằng không có sự quyết định duy nhất từ một nhân tố đến
sự phân tầng và quyền lực kinh tế có được từ các quyền lực khác, có
quyền kinh tế nhưng chưa hẳn đã có "quyền lực chính trị" và uy tín xã
hội ông dẫn ra trường hợp có nhiều nhà doanh nghiệp có địa vị kinh tế
nhưng chưa chiếm vị trí cao trong xã hội.
Cũng như K.Marx, M.Weber nhìn nhận giai cấp như là gốc rễ
15


trong các quan hệ sản xuất và sự phân chia chủ chốt giữa những người
có sở hữu và những người không có sở hữu. Khi phân tích về phân tầng
xã hội, M.Weber chú ý phân tích tầm quan trọng củ thị trường, ông coi
thị trường là cơ sở kinh tế cho mọi tầng lớp xã hội hơn là tài sản và ông
cho rằng nguyên nhân đầu tiên của sự bất bình đẳng xã hội là khả năng
chiếm lĩnh thị trường đó là cái mà nhà doanh nghiệp chiếm được nhờ
khả năng của mình và người công nhân chiếm được nhờ tay nghề của
họ. Trong cuộc cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, những cá nhân
có bản lĩnh và tài năng sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh được vị trí cao hơn
trong hệ thống phân tầng, những người yếu hơn về bản lĩnh và tài năng
sẽ phải chịu thua thiệt và giành vị trí thấp hơn trong hệ thống phân tầng
xã hội. Cơ may thị trường là yếu tố quyết định thể hiện điều kiện chung
cho số phận của cá nhân. Trong cuộc sống cơ may không phân phối đều
cho mọi người bởi mỗi cá nhân đều có khả năng về trí tuệ, giáo dục,
học vấn khác nhau, sự thành đạt của mỗi con người trong từng bậc
thang xã hội còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố sở hữu, quyền lực, và uy
tín xã hội - đây là yếu tố cơ bản để nhìn nhận vị thế của mỗi cá nhẩn
tong xã hội.

Tóm lại, khi phân tích về tầng xã hội, K.Marx chú ý đến phân
tầng dưới khía cạnh giai cấp xã hội và quyết định cuối cùng là bắt đầu
từ kinh tế, kinh tế là cái quyết định con người đứng ở giai cấp nào, tầng
bậc nào trong xã hội. Theo Weber thì phân tầng xã hội học được cấu
thành từ 3 yếu tố: của cải, quyền lực và uy tín và ông chú ý phân tích
đến tầm quan trọng của thị trường coi thị trường là cơ sở kinh tế của
mọi tầng lớp xã hội hơn là tài sản.
Trước đây trong cơ chế bao cấp thì sự phân tầng kinh tế là rất khó
nhận thấy bởi mọi tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu Nhà nước hoặc
tập thể hợp tác xã phân phối của cải nguyên tắc bình quân nhưng sự
phân tầng quyền lực lại thấy rất rõ, trong giai đoạn chuyển sang kinh tế
16


thị trường thì phân tầng xã hội đang trở thành hệ quả trực tiếp và tích
cực củ kinh tế thị trường. Sự hiện diện của phân tầng ngày càng rõ
ràng, không ai có thể phủ nhận được. Bởi vậy, nói về chiến lược chống
nghèo khổ không thể không phân tích hiện tượng phân tầng xã hội cũng
như sự phân cực giàu nghèo trong các tầng lớp dân cư.
Trong nền kinh tế thị trường ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
là cơ chế mới đã và đang phát huy được tiềm năng của các thành phần
kinh tế và tính năng động của cá nhân, các nhóm xã hội, điều đó đã làm
thay đổi diện mạo đời sống xã hội. Trong bối cảnh phát triển đó, quan
tâm đến phân tầng xã hội như là một điều tất yếu, là cách nhìn nhận
đúng đắn.
Ở nước Lào, trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất
nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, việc thực hiện chủ trương và
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế
thị trường phải đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến

bộ và công bằng xã hội. Một bộ phận nhân dân nhờ có vốn kiến thức,
kinh nghiệm sản xuất, đầu óc năng động và sáng tạo đã tiếp thu được
những công nghệ mới của khoa học công nghệ đã trở thành những
người làm ăn khá giả, giàu có, trong đó có một số người đã trở thành tỷ
phú, triệu phú, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên,
mặt trái của kinh tế thị trường đã ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội nước
Lào. Bên cạnh những hộ giàu lên nhanh chóng thì đồng thời còn không
ít bộ phận do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất, thiếu tính năng
động sáng tạo, hoặc rủi ro họ trở thành những người nghèo đói, sự phân
hóa giàu nghèo giữa các vùng, giữa các thành thị và nông thôn, giữa
các tầng lớp dân tăng nhanh, đời sống một bộ phận nhân dân, nhất là ở
vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng kháng chiến cũ, vùng đồng
bào dân tộc còn khá khó khăn.
17


Do vậy, việc ứng dụng lý thuyết phân tầng vào phân tích thực
trạng và nguyên nhân đói nghèo ở tỉnh Bo Keo là rất cần thiết.
1.2.2. Lý thuyết phát triển nông thôn
Phát triển là quá trình mà trong đó toàn thể xã hội loài người áp
dụng những công cụ hiện đại của khoa học công nghệ vào những mục
tiêu của mình qua từng thời kỳ khác nhau nhằm nâng cao chất lượng
cuộc sống cho tất cả mọi người. Quá trình này có tính chất không thể
đảo ngược.
Sự phát triển tác động bởi ba yếu tố: Kinh tế - chính trị - xã hội.
Các yếu tố có sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau, yếu tố này tạo
tiền đề cho yếu tố kia phát triển và ngược lại.
Những vấn đề phát triển kinh tế bao gồm: Thứ nhất là sự phát
triển cả sự tăng thêm về khối lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự biến
đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. Thứ hai là tăng quy mô

sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội là hai mặt có mối quan
hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối giữa lượng và chất. Thứ ba,
phát triển là một quá trình tiến hóa theo thời gian và do nhiều nhân tố
nội tại của bản thân nền kinh tế quyết định.
Muốn xoá bỏ sự lạc hậu của nông thôn, xây dựng nông thôn giàu
đẹp, tiến bộ, văn minh thì phát triển tổng hợp kinh tế - xã hội nông thôn
phải biết áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, sản xuất phải có
quy trình có tổ chức và phải hợp lý.
Muốn phát triển nông thôn cần phát triển trên nhiều phương diện.
Thứ nhất, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội như thủy lợi, giao
thông, điện, thông tin liên lạc, các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, văn hóa,
y tế, giáo dục. Thứ hai, là phải áp dụng tiến bộ kinh tế về giống cây
trồng vật nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, thích hợp với từng vùng kinh tế
sinh thái cho phép tăng năng suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm. Thứ
ba, áp dụng công nghệ sinh học vào sản xuất. Thứ tư, muốn phát triển
18


đòi hỏi phải sử dụng những công cụ và máy móc thiết bị thích hợp với
quá trình sản xuất.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Lào luôn coi trọng việc phát triển
tổng hợp kinh tế xã hội nông thôn, đặt tầm của xoá đói giảm nghèo về
kinh tế, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, với nông dân và các hộ nông
dân là nội dung nổi bật trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước.
Vận dụng lý thuyết phát triển nông thôn vào tìm hiểu thực trạng
nghèo đói cho chúng ta cách nhìn khái quát hơn về nghèo đói và
nguyên nhân của nó. Từ đó có thể đưa ra những giải pháp thiết thực
đảm bảo sự phát triển trên nhiều lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội. Hướng tới phát triển bền vững.

1.3. Vài nét về đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Bo
Kẹo
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Bo Kẹo là một tỉnh nằm phía Tây Bắc nước Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào, cách thủ đô Viêng Chăn khoảng 987 km, có diện
tích khoảng 6.196 km 2, trong đó phần núi cao hiểm trở chiếm khoảng
87 % diện tích của tỉnh, 13% còn lại là đồng bằng và trung du, phía Bắc
có chung biên giới với nước Miama với chiều dài biên giới 98 km; phía
Nam có chung biên giới với tỉnh Xay Nhạ Bu Ly với chiều dài biên giới
35 km, phía Đông bắc có chung biên giới với tỉnh Luông Năm Tha và
tỉnh Ụ Đôm Xay với chiều dài biên giới 110 km và phía Tây có chung
biên giới với nước Thái Lan với chiều dài biên giới đường bộ 48km, và
đường sông Me Kong 97 km.
Tỉnh Bo Kẹo có 5 huyện như: huyện Huôi Sai, huyện Tôn Phậng,
huyện Mâng, huyện Pac Tha và huyện Pha Ụ Đôm, có 291 bản, 27,606
hộ gia đình với dân số là 158.683 người, trong đó dân số nữ là 79.516
19


người. Hiện có 3 dân tộc lớn sinh sống trên địa bàn tỉnh, trong đó Lào
Lúm chiếm 57,3%, Lào Mống chiếm 24,8%, Lào Thang chiếm 9,4%,
các dân tộc khác chiếm 11,5%. Mỗi dân tộc có lối sống riêng, mang tập
tục và tiếng nói riêng.
Bo Kẹo có rừng che phủ chiếm khoảng 42% diện tích; khí hậu
nhiệt đới gió mùa; diện tích dành cho trồng trọt chiếm khoảng 47.917
ha. Trồng lúa chiếm khoảng 25.191 hạ và trồng cây cao su và Kêt Sạ
Na chiếm khoảng 22.726 ha. Bo Kẹo có hai con sông lớn như sông Me
Kong, sông Tha và có đường quốc lộ đi từ Bắc xuống Nam.
Về mặt địa hình Bo Kẹo chia thành ba vùng rõ rệt: Vùng núi
(không có núi trọc), vùng trung du-thung lũng và vùng đồng bằng.

Trong đó núi và cao nguyên chiếm 75% diện tích tự nhiên của tỉnh, khí
hậu của tỉnh Bo Kẹo là nhiệt đới gió mùa. Mùa đông lạnh buốt, nhiệt độ
thấp nhất là 7 0C, mùa hè nóng ẩm, từ tháng 4 đến tháng 8 nhiệt độ cao
nhất 360C, hàng năm mưa nhiều cho phép phát triển một nông - lâm
nghiệp phong phú, vùng miền núi phù hợp với cây trồng, vật nuôi vùng
ôn đới. v.v. rất phù hợp với cây rừng nhiệt đới xanh tốt quanh năm.
Các sông ngòi trên có khả năng làm thuỷ lợi, phù hợp với dân nông
thôn tỉnh Bo Kẹo, phục vụ sản xuất nông nghiệp. Khí hậu tỉnh Bo Kẹo
cũng có những bất lợi là khô hạn kéo dài vào mùa đông, do vậy, khó
tăng vụ trên diện tích canh tác vào những tháng cuối mùa khô đầu mùa
mưa (tháng 3 - 4), gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của
nhân dân trong tỉnh, thậm chí lại thêm mưa đá, lũ quét gây bất lợi cho
sản xuất và đời sống cho cán bộ và nhân dân tỉnh Bo Kẹo.
1.3.2. Điều kiện văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế
Từ ngày thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước Lào đã rất quan
tâm đến phát triển giáo dục văn hoá, y tế. Đảng đã đề ra các chính sách
đưa giáo dục đi trước một bước, nhưng ở tỉnh Bo Kẹo cho đến năm
20


1995 mới chỉ có 4% dân số được học và giáo dục cấp cao, 1,9% tốt
nghiệp phổ thông trung học, 1,4% không tốt nghiệp phổ thông cơ sở,
34% không tốt nghiệp tiểu học, 13,1% tốt nghiệp tiểu học và 37,7%
không được đi học.
Từ năm 2006-2010 đầu tư lĩnh vực giáo dục là 18.219.910 triệu
kíp và y tế là 13.332.000 triệu kíp, thông tin văn hoá là 150 triệu kíp.
Nhìn chung là nhỏ nhưng do nguồn ngân sách có hạn cho nên Nhà nước
phải ưu tiên cho các lĩnh vực khác cấp bách hơn. Từ năm 2006 trở lại
đây nhìn chung trong lĩnh vực giáo dục đã phát triển với nhịp độ nhanh
về mặt số lượng, chẳng hạn, học sinh mẫu giáo tăng 18,62%, tiểu học

tăng 20,83%, phổ thông cơ sở tăng 23,46%, phổ thông trung học tăng
33,71%. Học sinh cả tỉnh có 24.214 người, nữ có 10.572 người trong độ
tuổi học sinh được đi học là 97.8%. Thực hiện xoá mù chữ được 3761
người, phổ cập tiểu học được 162 bản.
Nhiều bản chưa có trạm xá, bệnh viện, tình trạng thiếu thốn thuốc
men là nghiêm trọng. Hoạt động văn hoá còn hạn chế, chương trình
phát thanh và truyền hình còn nhỏ bé, nghèo nàn, trong khi chương
trình truyền hình của Thái Lan chiếm lĩnh gần như toàn bộ. Hưởng thụ
giáo dục văn hóa, y tế ở nông thôn, đặc biệt ở miền núi còn rất thấp.
1.3.3. Đặc điểm về dân số
Năm 2010 dân số của tỉnh là 158.683 người, nữ là 79.516 người
có 291 bản. Có 27.606 hộ gia đình. Tỷ lệ sinh đẻ 1,6%/năm, mật độ dân
số trung bình là 26 người/km 2, dân số gồm có 3 dân tộc:
- Dân tộc Lào Lùm sống ở vùng thấp và dọc theo sông Me Kong
chiếm 51,82% dân số của tỉnh.
- Dân tộc Lào Thâng sống ở vùng miền núi, sinh sống dọc theo
thung lũng và dưới chân của đồi núi, dân số chiếm 8,6%,.
- Dân tộc Lào Xủng ( Mông ) là dân tộc sống trên các dãy núi
cao, các triền núi, dân số chiếm 23,6%.
21


Cuộc sống của 3 dân tộc này có sự khác nhau: Lào Lùm phần lớn
làm ruộng, làm vườn, trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán, làm công chức
Nhà nước.
Dân tộc Lào Thâng và dân tộc Lào Xủng làm nương, làm rẫy và
trồng trọt chăn nuôi.
Nếu phân theo vùng thì dân số ở vùng miền núi và dưới chân của
đồi núi chiếm 87% dân số của tỉnh, sống ở vùng đồng bằng chiếm 13%
dân số của tỉnh. Huyện Huôi Sai là trung tâm chính trị - văn hoá của

tỉnh Bo Kẹo, là nơi đặt trụ sở văn phòng tỉnh và các sở, ban, ngành của
tỉnh.
1.3.4. Điều kiện kinh tế
Tỉnh Bo Kẹo là một tỉnh nghèo với kinh tế nông nghiệp chiếm
70,1% GDP, lao động trong nông nghiệp cũng chiếm 71,0% nguồn lao
động của tỉnh. Dịch vụ chiếm 18,2% GDP, lao động chiếm 16,0%. Còn
công nghiệp chiếm một tỷ lệ khá nhỏ bé là 20,7% GDP và lao động
chiếm 15,0%. Cơ cấu nội bộ từng ngành cũng mất cân đối. Tỉnh Bo
Kẹo là tỉnh miền núi nhưng về kinh tế nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ
đạo còn lâm nghiệp có vai trò rất mờ nhạt. Đất lâm nghiệp chiếm
81,57% tổng diện tích đất tự nhiên nhưng giá trị của ngành lâm nghiệp
năm 2010 chỉ đạt 15.652 triệu kíp chiếm 48,83% của ngành nông
nghiệp. Trong công nghiệp, ngành khai thác vàng giữ vai trò chủ yếu
(trữ lượng vàng ít) nhưng ở trình độ khai thác thủ công sơ khai. Còn lại
một vài cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng như sản xuất gạch, đồ gỗ. Các
ngành công nghiệp khác hầu như không đều có.
Dịch vụ của Bo Kẹo hầu như không phát triển chiếm một tỷ lệ
nhỏ 17,6% GDP, chủ yếu là vận chuyển hành khách. Dịch vụ du lịch rất
hạn chế. Năm 2009 chỉ đạt 6800 triệu kíp.
1.3.5. Chủ trương xoá đói giảm nghèo của CHDCNDLào và
tỉnh Bo Kẹo
22


Chính sách xoá đói giảm nghèo xuất phát từ thực trạng đói nghèo
của nước Lào và kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo mấy năm qua, Đảng
xác định xoá đói giảm nghèo là một chương trình lớn của mỗi quốc gia.
Để thực hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo góp phần phát
triển kinh tế ổn định chính trị, từng bước thực hiện công bằng xã hội,
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng đã đề ra mục tiêu

chương trình xoá đói giảm nghèo 2005 - 2010 là: "Giảm tỷ lệ nghèo đói
trong tổng số hộ của cả nước từ 20 - 25% hiện nay xuống khoảng 10%
vào năm 2010, bình quân giảm 30 nghìn hộ gia đình/năm".
Thực hiện thắng lợi mục tiêu này là cả một vấn đề lớn liên quan
đến mọi khía cạnh của đời sống; do đó phải có sự chỉ đạo thống nhất từ
Trung ương đến cơ sở, xây dựng chương trình biện pháp cụ thể phù hợp
với từng vùng, phối kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền các cấp với các
ngành, thực hiện lồng ghép các chương trình dự án và nỗ lực vươn lên
của người nghèo, hộ nghèo.
Yêu cầu cao nhất của chương trình xoá đói giảm nghèo là xoá hộ
đói giảm hộ nghèo, tăng hộ giàu, ổn định và phát triển kinh tế, thực
hiện thắng lợi mục tiêu xoá đói giảm nghèo Đại hội VIII của Đảng đề ra
trước hết cần phải thống nhất quan điểm chỉ đạo, phối hợp lồng ghép
các chương trình, dự án với chương trình xoá đói giảm nghèo. Đây là
điểm cốt lõi bảo đảm cho việc hoạch định chính sách, cơ chế, biện pháp
xoá đói giảm nghèo đúng và có hiệu quả.
- Trước tiên, xoá đói giảm nghèo phải gắn liền với phát triển kinh
tế và giữ vững ổn định chính trị.
Đói nghèo liên quan tới toàn bộ các quan hệ kinh tế, xã hội, nếu
không giải quyết vấn đề đói nghèo này sẽ nảy sinh các hiện tượng gây
mất ổn định xã hội ảnh hưởng xấu tới chính trị. Phân hóa giàu nghèo
đến một mức độ nào đó, sẽ trở thành phân hóa giai cấp, xung đột xã hội
nguy cơ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, nếu không ổn
23


định chính trị, xã hội thì xã hội sẽ trở nên rối loạn, khủng hoảng. Do đó
mọi kế hoạch kinh tế bị phá vỡ. Mặt khác, bản thân sự đói nghèo đã bao
hàm nội dung kinh tế. Vì vậy, xoá đói giảm nghèo nhằm ổn định, phát
triển kinh tế - xã hội góp phần tích cực giữ trật tự xã hội, tạo điều kiện

cần thiết đảm bảo ổn định chính trị. Đây là mối quan hệ biện chứng tác
động và thúc đẩy lẫn nhau. Cho nên thực hiện chương trình xoá đói
giảm nghèo thành công là nhân tố quan trọng củng cố, bảo vệ chế độ
chính trị, giữ vững ổn định chính trị. Thực tiễn cho thấy muốn giải
quyết bất kỳ một nhiệm vụ kinh tế - xã hội nào phải đảm bảo một điều
kiện tiên quyết là giữ vững và ổn định chính trị,
- Xoá đói, giảm nghèo phải là sự kết hợp thống nhất kinh tế và xã
hội, giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội.
- Xoá đói, giảm nghèo không thể giải quyết bằng quan điểm kinh
tế thuần tuý mà phải kết hợp với chính sách xã hội. Bản thân chính sách
xoá đói giảm nghèo là một chính sách xã hội cơ bản của Đảng, Nhà
nước. Thực tế đói nghèo vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề xã hội thì
kết quả phải quan tâm đặc biệt đến các vấn đề xã hội thì chương trình
xoá đói giảm nghèo mới có hiệu quả.
- Xoá đói, giảm nghèo phải là sự kết hợp thống nhất kinh tế và xã
hội, giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội.
Đói nghèo là vấn đề kinh tế xã hội phức tạp đa dạng liên quan tới
tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống; do đó muốn giải quyết có hiệu quả
phải có sự chỉ đạo thống nhất của Đảng và chính sách thống nhất đồng
bộ của Nhà nước được các cấp, các ngành và toàn cộng đồng nhận thức
đầy đủ ý nghĩa công tác xoá đói giảm nghèo và coi đây là trách nhiệm
thường nhật thì chương trình xoá đói giảm nghèo mới thành công.
- Xoá đói, giảm nghèo phải phát huy tính tự lực, tự chủ, tự vươn
lên của các hộ nghèo.
Đây là vấn đề mấu chốt, là yêu cầu mà mục đích trước mắt của
24


chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo. Mọi sự hỗ trợ của Nhà
nước, tác động của cộng đồng chỉ là điều kiện, sự tự vươn lên của hộ

nghèo, người nghèo mới quyết định việc xoá đói giảm nghèo. Chỉ khi
nào chuyển hóa mọi cố gắng của xã hội thành nỗ lực của bản thân
người nghèo, hộ nghèo mới vững chắc. Xã hội chỉ giúp họ vươn lên tự
giải quyết cuộc sống chứ không thể thay thế họ.
- Xoá đói, giảm nghèo phải xuất phát từ mục tiêu phát triển, về sự
phát triển toàn diện.
Suy cho cùng mọi chính sách đều nhằm làm cho đất nước phát
triển, xã hội phồn vinh. Chìa khoá giải quyết đói nghèo là sản xuất,
khoa học kỹ thuật, công nghệ, giáo dục đào tạo nhằm thúc đẩy sản xuất,
phát triển nguồn lực trong đó nguồn lực con người là quan trọng nhất.
xoá đói, giảm nghèo nhằm cải thiện đời sống người nghèo, hộ nghèo,
ổn định xã hội, thúc đẩy phát triển kỹ thuật đồng thời tạo điều kiện cho
họ phát triển về thể chất và trí tuệ. Thông qua đó, người nghèo, hộ
nghèo, thoát khỏi vòng luẩn quẩn đói nghèo - lạc hậu - chậm phát triển.
Muốn thế, chương trình xoá đói giảm nghèo phải góp phần chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn từ thuần nông, độc canh cây lúa
sang kinh tế hàng hóa, kết hợp sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo thêm
nghề, tạo việc làm thu hút lao động, tăng thu nhập cho nông dân trong
đó có hộ nghèo.
Kết hợp phát triển kinh tế với giáo dục đào tạo, áp dụng khoa học
kỹ thuật, công nghệ, từng bước nâng cao trình độ người nghèo, hộ
nghèo, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường. Trên cơ sở đó, góp
phần thiết thực giữ vững ổn định xã hội, phát triển kinh tế.
*Mục tiêu xoá đói giảm nghèo của Cộng hoà Dân chủ Nhân
dân Lào và ở tỉnh Bo Kẹo
Những mục tiêu đưa ra được căn cứ vào thực trạng, xu hướng
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bo Kẹo; nhu cầu cải thiện một bước
25



×