BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
1
LỜI CÁM ƠN
Quá trình thực hiện đề án môn học đã giúp nhóm chúng tôi tìm hiểu thêm
được nhiều kiến thức bổ ích về pháp luật, đồng thời quan trọng hơn là chúng tôi đã
hiểu và biết cách phân tích, đánh giá một văn bản pháp luật. Có được những kiến
thức trên phần lớn là nhờ vào sự quan tâm hướng dẫn tận tình của đội ngũ ban
giảng viên môn Luật và chính sách công – Chương trình giảng dạy kinh tế
Fulbright.
Chúng tôi chân thành cám ơn thầy Phạm Duy Nghĩa đã giúp đỡ chúng tôi
trong quá trình hoàn thành đề án này.
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
2
Mục lục
I. Tổng quan:..............................................................................................................................................3
II. Thực trạng pháp luật về lĩnh vực dịch vụ an táng và quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa:..............5
III. Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành:.....................................................................................8
1. Cần thiết phải có sự can thiệp cần thiết của chính quyền không:.......................................................8
2. Chính sách có cần thiết phải thể hiện bằng luật không:......................................................................8
3. Có cơ sở pháp luật và thực tiễn chắc chắn không:...............................................................................9
4. Giảm thiểu tác động lệch lạc tới thị trường:.........................................................................................9
5. Khuyến khích cạnh tranh:...................................................................................................................10
6. Mang lại lợi ích nhiều hơn chi phí:......................................................................................................11
7. Có được xây dựng theo quy trình minh bạch, đảm bảo cơ hội bày tỏ quan điểm của các bên liên
quan không:..............................................................................................................................................12
8. Cân nhắc thiết chế thực thi:.................................................................................................................12
9. Hình thức thể hiện và ngôn ngữ:.........................................................................................................14
III. Kết luận, kiến nghị:............................................................................................................................15
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
3
I. Tổng quan:
Ngày nay, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học, kỹ thuật, đời sống kinh
tế - xã hội phát triển với một tốc độ chóng mặt, đòi hỏi các Nhà nước luôn luôn vận
động với tốc độ cao nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của xã hội cũng như thực
hiện tốt các chức năng của mình. Theo xu thế chung, hầu hết các quốc gia trên thế
giới đang hướng đến xây dựng chế độ nhà nước pháp quyền thượng tôn pháp luật,
xây dựng một nền hành chính hiện đại, hiệu quả, giảm dần chức năng quản lý nhà
nước có tính chất cai trị sang chức năng quản lý nhà nước có tính chất phục vụ để
cung ứng dịch vụ công cho xã hội, cho các tổ chức và công dân, vừa đảm bảo
quyền lợi của các đối tượng trong xã hội, vừa không kìm hãm sự phát triển của họ,
đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân được thực
thi đầy đủ và đúng luật. Việt Nam cũng đang trong quá trình này.
Tuy nhiên, trong quá trình vừa mở rộng phạm vi chức năng vừa tăng cường
hiệu quả quản lý đối với từng chức năng, Việt Nam hiện đang vấp phải những trục
trặc làm giảm sức mạnh của nhà nước trong các chức năng thiết yếu và do đó làm
suy giảm hiệu quả quản lý của nhà nước. Và cùng với quá trình chuyển đổi, những
vấn đề mới phát sinh và sự điều chỉnh lại cơ cấu, thể chế đã đặt ra thách thức cho
Việt Nam rằng nên chăng phải quản lý tất cả các lĩnh vực, các vấn đề phát sinh;
hoặc là giảm phạm vi và tăng cường sức mạnh ở những chức năng thiết yếu, cơ
bản.
Theo chúng tôi, Việt Nam trước hết nên tập trung thực hiện thật tốt những
chức năng thiết yếu của một nhà nước, và một khi đã có một thể chế mạnh, phản
ứng tức thì và hiệu quả đối với chức năng cơ bản thì sẽ tính đến việc mở rộng phạm
vi chức năng. Chính vì lẽ đó, cung cấp và bảo đảm phúc lợi cho người dân, trong
đó có cung cấp nơi chôn cất người chết là một trong những mãng thiết yếu mà nhà
nước cần quan tâm thực hiện.
Bất kỳ người nào, đã là con người thì không ai tránh khỏi quy luật sinh tử,
theo suy nghĩ của người dân Việt Nam, sống thì muốn có nơi ăn chốn ở, chết thì
muốn có nơi chôn cất. Nhu cầu được an táng là một nhu cầu tất yếu của mỗi người
dân và do vậy vấn đề xác định đất để làm nơi chôn cất (còn gọi là nghĩa trang,
nghĩa địa) có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống của người dân Việt Nam.
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
4
Có thể thấy rằng đất làm nơi chôn cất là loại đất đặc biệt, có lẽ đã xuất hiện
từ rất lâu và việc quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa cũng rất đặc biệt, gắn
với điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng dân tộc và dòng họ.
Theo quy định của pháp luật đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà
nước quản lý nên việc xác định đất để xây dựng nghĩa trang, nghĩa địa là trách
nhiệm thuộc về Nhà nước. Hơn nữa, đất nghĩa trang, nghĩa địa có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân, nó là một loại hàng hóa đặc biệt
phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân theo phong tục tập quán, truyền thống
sinh hoạt cộng đồng xã hội trong việc an táng cho người chết. Do vậy, đất nghĩa
trang, nghĩa địa là một hàng hóa, dịch vụ công mà Nhà nước phải có trách nhiệm
cung cấp hoặc ủy nhiệm cho các tổ chức phi nhà nước cung cấp cho xã hội để phục
vụ nhu cầu tối cần thiết của người dân.
Nhưng thực tế, đối với trách nhiệm này, trong một thời gian dài chưa được
Nhà nước quan tâm đúng mức, chưa cung cấp đầy đủ hàng hóa và dịch vụ công
hoặc tạo lập thị trường điều tiết, kiểm soát việc cung ứng các dịch vụ này để đáp
ứng nhu cầu tối cần thiết của người dân và của cộng đồng. Từ đó đã dẫn đến tình
trạng lộn xộn, mất trật tự trong lĩnh vực này, một số nơi việc chôn cất người chết
diễn ra tự phát, không theo quy hoạch sử dụng đất và không thể kiểm soát được, cá
biệt ở những thành phố lớn do cung không đủ cầu về đất nghĩa trang, nghĩa địa nên
diễn ra tình trạng mua bán đất nghĩa trang, nghĩa địa, đẩy giá đất nghĩa trang lên
gần tương đương giá đất ở, làm cho các hộ nghèo khó lòng tiếp cận loại hàng hóa,
dịch vụ thiết yếu này, gây mất công bằng, ổn định xã hội trong việc thụ hưởng hàng
hóa, dịch vụ công do Nhà nước cung cấp.
Từ những nguyên nhân nêu trên, quản lý đất chôn người chết đặt trong mối
quan hệ cung ứng dịch vụ công của nhà nước đối với việc an táng công dân của
mình khi chết đi rõ ràng là cần thiết, và cần phải có chính sách để điều chỉnh. Do
đó nhóm chọn đề tài “Đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý đất nghĩa trang,
nghĩa địa” để nghiên cứu, đánh giá một lĩnh vực pháp luật chuyên biệt, cụ thể, qua
đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật.
Bố cục của đề tài gồm các phần sau:
-
Tổng quan
Thực trạng pháp luật
Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực nghiên cứu
Kết luận, kiến nghị.
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
5
II. Thực trạng pháp luật về lĩnh vực dịch vụ an táng và quản lý đất
nghĩa trang, nghĩa địa:
Mặc dù là một dịch vụ không thể thiếu của người dân, nhưng trong thời gian
dài nhà nước hoàn toàn không có quy định nào để điều chỉnh hay không có chính
sách nào được ban hành nhằm thực thi tốt chức năng của nhà nước. Các quy định
của pháp luật về lĩnh vực này trong một thời gian rất dài hầu như còn bỏ ngõ.
Đất nghĩa trang, nghĩa địa đã có trên thực tế từ rất lâu, nhưng chính thức thể
hiện trong quy định pháp luật thành văn từ khi nào thì nhóm chưa có thông tin
chính xác. Nếu tính từ sau khi đất nước thống nhất (1975), loại đất nghĩa địa đã
được thể hiện trong bản đồ địa chính lập theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của
chính phủ, nhưng chỉ đến Luật Đất đai năm 1987 tại Điều 36 và 43 mới có sử dụng
thuật ngữ đất nghĩa địa, tuy nhiên chỉ xác định là một trong những loại đất chuyên
dùng chứ không có thêm quy định cụ thể nào.
Luật Đất đai 1993 và các lần sửa đổi, bổ sung vào năm 1998 và năm 2001
vẫn chỉ có quy định chung về loại đất và nguyên tắc quy hoạch đất nghĩa địa (phải
được quy hoạch thành khu tập trung, xa dân cư, thuận tiện cho việc chôn cất, thăm
viếng, hợp vệ sinh và tiết kiệm đất) mà vẫn không có định thêm được nội dung gì
mới.
Từ năm 1987 đến năm 2003 các cơ quan trung ương không có hướng dẫn
nào điều chỉnh việc sử dụng đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, ngoại trừ một số hướng
dẫn của Tổng cục Địa chính về các kỹ thuật đo đạc, lập bản đồ địa chính, hướng
dẫn ghi ký hiệu loại đất trên bản đồ đối với các trường hợp có nghĩa trang, nghĩa
địa trên thực tế khi đo vẽ.
Cho đến Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực ngày 01/7/2003 mới quy định
thêm một số nội dung cơ bản nhằm xác định chế độ sử dụng loại đất này như:
- Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa là loại đất phi nông nghiệp, thời hạn sử dụng
ổn định, lâu dài (nghĩa là không thuộc loại đất được giao có thời hạn);
- Là loại đất được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất;
- Khi thu hồi đất nghĩa trang, nghĩa địa nhà nước không bồi thường về đất.
- Về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung, trong đó có đất làm
nghĩa trang, nghĩa địa nói riêng được Luật Đất đai năm 2003 quy định cứ 5 năm 1
lần, các địa phương lập và trình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trình lên cấp trên
để phê duyệt nhằm làm căn cứ thực hiện việc quản lý đất đai. Có 3 cấp phê duyệt
theo trình tự như sau: huyện phê duyệt cho xã, tỉnh phê duyệt cho huyện, chính phủ
phê duyệt cho tỉnh. Tuy nhiên hiệu lực của quy hoạch không cao, trên thực tế rất
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
6
nhiều địa phương không đạt được các chỉ tiêu hoặc vượt quá các chỉ tiêu đã lập tức
trình cấp trên phê duyệt điều chỉnh, và điều này diễn ra khá dễ dàng. Từ đó làm cho
tính kỷ luật trong thực hiện quy hoạch về đất nghĩa trang, nghĩa địa là kém.
Theo số liệu thống kê, kiểm kê đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của cả nước, quỹ đất dành cho phát triển
nghĩa trang, nghĩa địa của các vùng cụ thể như sau: (nguồn: Vũ Văn Kiên - Vụ Đăng ký
và Thống kê đất đai - Bộ TN-MT)
Tên vùng
Diện tích (ha)
Cơ cấu trong đất
chuyên dùng
(%)
Bình quân trên
đầu người (m2)
1. Vùng Trung du MNBB
15.422
3,72
10,62
2. Vùng Đồng bằng Bắc Bộ
12.043
4,99
7,58
3. Vùng Bắc Trung Bộ
28.916
9,01
27,07
4. Vùng Duyên hải NTB
20.940
6,12
23,26
5. Vùng Tây Nguyên
4.791
1,99
8,49
6. Vùng Đông Nam Bộ
3.773
1,26
2,97
7. Vùng Đồng bằng SCL
6.402
2,21
3,56
Cả nước
92.287
4,30
10,68
Tuy nhiên hiện chưa có số liệu chính thức về việc có bao nhiên diện tích
trong quy hoạch nêu trên được sử dụng.
Đến ngày 23/5/2008, Chính phủ mới có Nghị định số 35/2008/NĐ-CP quy
định về các hoạt động xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang trên lãnh thổ Việt
Nam (nghĩa trang liệt sỹ và nghĩa trang quốc gia không phải là đối tượng điều
chỉnh). Đây là văn bản đầu tiên có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh về lĩnh vực
dịch vụ an táng và quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa. Nghị định này, do đó, có
nhiều quy định mới và cụ thể về dịch vụ an táng làm rõ hơn công tác quản lý đất
nghĩa trang, nghĩa địa. Ngoài việc quy định về trách nhiệm, thẩm quyền của các
cấp chính quyền trực tiếp thực hiện cung ứng hàng hóa dịch vụ công đất nghĩa
trang, nghĩa địa cho người dân, Chính phủ còn quy định việc xây dựng và khai thác
nghĩa trang chính thức là một ngành kinh doanh dịch vụ, được khuyến khích tham
gia, xã hội hóa từ các cá nhân và doanh nghiệp nhân tham gia đầu tư xây dựng
nghĩa trang và khai thác kinh doanh dịch vụ và nhiều ưu đãi đặc biệt theo quy định
của pháp luật.
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
7
Ngoài ra, còn có các quy định về tiêu chuẩn xây dựng và quản lý môi trường
đối với nghĩa trang, nghĩa địa:
- Bộ Xây dựng ban hành Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4449:1987 Quy hoạch
xây dựng, tiêu chuẩn thiết kế nghĩa trang. Đến năm 2008 thay thế bằng Tiêu chuẩn
Việt Nam TCVN 7956: 2008 - Nghĩa trang đô thị, Tiêu chuẩn thiết kế.
Theo đó khoảng cách thích hợp khi lựa chọn nghĩa trang đô thị:
Khoảng cách tới nghĩa trang đô thị
Nghĩa trang Nghĩa trang
Nghĩa trang
hung táng
chôn một lần
cát táng
≥ 1.500 m
≥ 500 m
≥ 100 m
Đối tượng cần cách ly
Từ hàng rào của hộ dân gần
nhất
Công trình khai thác nước sinh ≥ 5.000 m
hoạt tập trung
Đường sắt, đường Quốc lộ,
≥ 300 m
tỉnh lộ
Mép nước của các thuỷ vực lớn ≥ 500 m
≥ 5.000 m
≥ 3.000 m
≥ 300 m
≥ 300 m
≥ 500 m
≥ 100 m
Và chỉ tiêu đất an táng nghĩa trang được quy định:
TT
1
2
3
4
Cấp nghĩa trang
Cấp I
Cấp II
Cấp III
Cấp IV
Tỷ lệ đất an táng/tổng thể diện tích đất nghĩa
trang (%)
Đất an táng
Đất giao thông, cây xây, tâm linh
mộ phần
và công trình phụ trợ
45 ÷ 50
55 ÷ 50
>50 ÷ 55
<50 ÷ 45
>55 ÷ 60
<45 ÷ 40
>60 ÷ 70
<40 ÷ 30
Về diện tích các phần mộ:
Loại mộ phần
Mộ phần hung táng
Mộ phần chôn một
lần
Mộ phần cát táng
Ngăn lưu cốt hoả
táng
Đơn vị tính
m2/mộ phần
m2/mộ phần
Mộ phần người lớn
Mộ trẻ em
3÷5
3
3÷5
3
m2/mộ phần
m2/mộ phần
≤3
0,125
0,125
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định chủ yếu về bảo vệ môi trường
trong hoạt động mai táng, trong đó có quy định chung là nơi chôn cất phải có vị trí
và khoảng cách đáp ứng điều kiện vệ sinh môi trường và cảnh quan.
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
8
III. Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành:
Do trong lĩnh vực này đã có các quy định pháp luật của nhà nước điều chỉnh,
do đó nhóm đánh giá một cách tổng quát các quy định pháp luật này dựa trên 09
tiêu chí sau1:
- Sự cần thiết phải có can thiệp bằng chính sách;
- Chính sách có cần phải thể hiện bằng luật không;
- Có cơ sở pháp luật và thực tiễn chắc chắn không:
- Có giảm thiểu tác động lệch lạc tới thị trường không;
- Có khuyến khích cạnh tranh không;
- Có mang lại lợi ích nhiều hơn chi phí cho xã hội không;
- Có được xây dựng theo quy trình minh bạch, đảm bảo cơ hội bày tỏ quan
điểm của các bên liên quan không;
- Thiết chế thực thi như thế nào.
1. Cần thiết phải có sự can thiệp cần thiết của chính quyền không:
Như đã phân tích ở phần đầu, vấn đề quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa và
dịch vụ an táng rõ ràng là vấn đề chính sách công và cần có sự can thiệp. Bên cạnh
các quy định mang tính nguyên tác trong Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 35 năm
2008 của chính phủ xem việc cung cấp nơi chôn người chết như là một dịch vụ
công, nhà nước có trách nhiệm bảo đảm, đồng thời có cơ chế huy động, khuyến
khích các thành phần khác tham gia cung ứng, do đó cơ bản đã đáp ứng tiêu chí
này.
2. Chính sách có cần thiết phải thể hiện bằng luật không:
Chính sách quản lý này cần thiết phải có những quy tắc xử sự chung mang
tính bắt buộc, áp dụng lặp đi lặp lại để định hướng hành vi của chủ thể xã hội khi
hành xử trong lĩnh vực an táng. Do vậy can thiệp bằng pháp luật là cần thiết và
đúng hình thức.
Ngoài ra còn do đối tượng điều chỉnh đa dạng và phạm vi điều chỉnh rộng và
cần quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các đối tượng liên quan nên cần thiết
phải thể hiện chính sách bằng văn bản.
1
OECD (2007): “Xây dựng khung khổ thực hiện RIA” và Phạm Duy Nghĩa (2010): “Luật và Chính sách công: Một
góc nhìn từ quản trị quốc gia”
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
9
Vậy về mặt hình thức thể hiện của các quy định trong Luật Đất đai năm 2003
và Nghị định 35 là đảm bảo. Ngoài ra quy định này chỉ điều chỉnh các dịch vụ tại
nghĩa trang, nghĩa địa thông thường, không điều chỉnh nghĩa trang liệt sỹ và nghĩa
trang quốc gia (vì thuộc phạm vi các chính sách đối với người có công).
3. Có cơ sở pháp luật và thực tiễn chắc chắn không:
Hiếp pháp năm 1992 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước
thống nhất quản lý và Luật Đất đai năm 2003 giao chính phủ quy định chi tiết về
chế độ sử dụng các loại đất, do đó việc ban hành Nghị định 35 năm 2008 của Chính
phủ là hợp pháp.
Mặt khác, quyền được an táng cũng là quyền của con người (công dân) mà
nhà nước thừa nhận và đây là nhu cầu tất yếu đang tồn tại trong xã hội và ngày
càng có xu hướng phát sinh nhiều hơn, do không có chính sách điều chỉnh nên dẫn
đến bất cập trong quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa. Vì thế chính sách này có cơ sở
thực tiễn chắc chắn.
4. Giảm thiểu tác động lệch lạc tới thị trường:
Luật Đất đai năm 2003 không có quy định cụ thể, nhưng Nghị định 35 được
ban hành có những nội dung thể hiện rõ mục đích kiểm soát các giao dịch và thị
trường mua bán nền mộ đang diễn ra phức tạp trên thực tế.
Cụ thể, tại khoản 19 và 20 Điều 2 quy định: Các dịch vụ nghĩa trang bao
gồm: tổ chức tang lễ, táng bằng các hình thức quy định tại Nghị định, xây mộ, cải
táng, chăm sóc mộ, tu sửa, bảo quản tro cốt và dịch vụ phụ vụ thăm viếng, tưởng
niệm; người sử dụng dịch vụ là người đang sống có quan hệ với người được táng
hoặc người đến viếng thăm.
Do đó có thể hiểu nhà nước không cho phép việc mua bán nền đất mộ trong
nghĩa trang, nghĩa địa, mà khoản tiền phải trả chỉ là phí dịch vụ nghĩa trang. Khoản
phí dịch vụ này do Ủy ban nhân dân cấp quản lý quy định nếu là nghĩa trang, nghĩa
địa do ngân sách nhà nước đầu tư, do chủ đầu tư quyết định và phải được UBND
tỉnh chấp thuận nếu là của tư nhân.
Từ trước đến nay cũng chưa có quy định nào cụ thể về việc mua bán đất nền
mộ, mà thuật từ này chủ yếu xuất phát từ cách gọi những gì đang diễn ra trên thực
tế. Từ đó cho thấy Nghị định đã đưa ra biện pháp cấm đoán đối với thị trường, rõ
ràng là tác động rất lớn, thể hiện ý chí của nhà nước là không thừa nhận thị trường
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
10
này. Trên thực tế, trong một thời gian dài, do chưa có quy định cụ thể nên thị
trường dịch vụ an táng đã diễn ra tự phát, rối rắm và lệch lạc. Nhiều địa phương
như: huyện Từ Liêm - Hà Nội, đất chôn người chết được bán với giá 15 triệu
đồng/lô 3m2 nhưng vẫn không tìm được2; nghĩa trang Gò Dưa ở thành phố Hồ Chí
Minh mỗi khu đất mộ diện tích 2m x 3m được bán với giá 30 triệu đồng nhưng
cũng không có để bán, thậm chí có lô đến 60 triệu đồng, trong khi giá đất ở tại khu
vực chỉ 15 triệu đồng/m2, đồng thời có hiện tượng các chủ đất liền kề chuyển công
năng từ đất vườn để bán đất nền mộ cho người có nhu cầu 3. Còn ở huyện Phú Vang
- Huế, có những mô xây diện tích lê đến 2.000m2, trọ giá gần 2 tỷ đồng4.
Như vậy cho thấy thị trường đang có việc mua bán nền mộ sôi động, điều
này làm dẫn đến sự phức tạp trong quản lý nhà nước: sẽ dẫn đến việc những người
mua đất nền mộ đòi hỏi quyền sử dụng đất của mình cho những gì đã trả tiền, và
thậm chí họ còn có thể đòi hỏi phải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để họ
thực hiện các quyền của chủ sử dụng. Việc này là vi phạm nguyên tắc sử dụng đất
nghĩa trang, nghĩa địa là nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, hơn nữa nếu
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các nền mộ chỉ với diện tích rất nhỏ thì
trên toàn quốc sẽ có hàng tỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế là không
hợp lý, và cũng không hợp pháp vì pháp luật hiện hành không quy định cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho nền mộ.
Một chính sách ban hành trong đó tránh, hay giảm thiểu các tác động lệch lạc
đến thi trường còn có thể được hiểu theo cách ngược lại là thị trường đang có thất
bại và chính sách ban hành nhằm sửa chữa các thất bại do thị trường tạo ra. Từ khía
cạnh đó có thể thấy việc cấm đoán và không cho phép sự tồn tại của thị trường mua
bán nền mộ là chính sách đúng, góp phần giảm thiểu thất bại thị trường, làm cho thị
trường tốt lên.
5. Khuyến khích cạnh tranh:
Xác định cung cấp dịch vụ an táng là dịch vụ công, do đó trong Nghị định 35
cho phép các doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng và có cơ chế khuyến khích,
hỗ trợ cho các thành phần khác tham gia vào cung cấp dịch vụ này (xã hội hóa).
2
Thúy Quang, Giadinh.net, Thực hiện quy chế quản lý và sử dụng đất nghĩa trang ở Hà Nội: Âu lo tìm đất chết, ngày
06/01/2011, tại: />3
Báo Người Lao động, Thứ Sáu ngày 24/09/2010: Sốt đất nghĩa trang tại thành phố Hồ Chí Minh: Cạn kiệt nguồn
cung
4
Đăng Khoa: TT-Huế sẽ quy hoạch… nghĩa địa, nghĩa trang, ngày 06/01/2011, tại:
/>
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
11
Cụ thể tại Điều 6 Nghị định 35 năm 2008, quy định nhà nước khuyến khích
xã hội tham gia vào lĩnh vực này băng nhiều chính sách ưu đãi: cấp đất xây dựng
nghĩa trang lâu dài và không thu tiền sử dụng đất; Hỗ trợ xây dựng các công trình
hạ tầng ngoài hàng rào; Hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ kinh phí đền bù, giải phóng
mặt bằng tuỳ theo quy mô, hình thức đầu tư, công nghệ được áp dụng và tác động
đến môi trường của dự án; Hỗ trợ đầu tư và hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định
của pháp luật về đầu tư; Khuyến khích xã hội hoá đầu tư xây dựng nghĩa trang và
sử dụng các hình thức táng mới văn minh hiện đại, góp phần thay đổi tập quán cũ,
tiết kiệm quỹ đất, bảo vệ môi trường, tuỳ theo tình hình cụ thể và khả năng của
mình, chính quyền địa phương có chính sách hỗ trợ chi phí táng cho những người
sử dụng địch vụ này.
Nhờ có cơ chế khuyến khích này, gần đây có rất nhiều dự án tư nhân đã đầu
tư vào xây dựng nghĩa trang: dự án Lạc Hồng Viên đang được đầu tư xây dựng tại
tỉnh Hòa Bình với tổng vốn lên đến 1.500 tỷ đồng; Tây Ninh: Lần đầu tiên một nhà
đầu tư nước ngoài đã tham gia đầu tư dự án xây dựng nghĩa trang rộng 100ha mang
tên Sơn Trang Tiên Cảnh (huyện Hòa Thành, Tây Ninh) với số vốn 120 triệu USD,
chủ đầu tư dự án này là Công ty Fairy VN (liên doanh giữa Công ty Trí Phúc và
Tập đoàn Fairy Park, Malaysia); Bình Dương: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng
Chánh Phú Hòa đã đầu tư 500 tỉ đồng để xây dựng nghĩa trang công viên Bình
Dương…5
Do đó, về cơ bản chính sách đã đảm bảo khuyến khích cạnh tranh trên nền
tảng là chỉ có thị trường dịch vụ an táng chứ không phải thị trường mua bán nền
mộ. Tuy nhiên chưa có quy định nhằm hạn chế việc sau khi được trao quá nhiều
nguồn lực đất đai, tư nhân chuyển đổi mục đích và công năng sử dụng để khai thác
như một dự án địa ốc để kiếm lời.
6. Mang lại lợi ích nhiều hơn chi phí:
Bằng việc quy định các nguyên tắc quản lý và hoạt động của nghĩa trang
như: quy định thống nhất các hình thức mai táng, quy hoạch nơi mai táng, cải táng
(Điều 2 Nghị định 35); hoạt động bằng quy chế do Ủy ban nhân dân cấp quản lý
tương ứng phê duyệt hoặc thỏa thuận của Ủy ban nhân dân tỉnh đối với nghĩa trang
do tư nhân đầu tư (khoản 3 Điều 21); phân cấp quản lý cho Ủy ban nhân dân các
cấp trên địa bàn cụ thể (Điều 16); quy định tiêu chuẩn diện tích tối đa cho từng loại
mộ: không quá 5m2 cho chôn cất lần đầu và 3m2 cho cải táng (Điều 4); Việc táng
5
Tổng hợp từ các báo mạng: /> />
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
12
người chết ngoài được thực hiện trong nghĩa trang, nghĩa địa còn được thực hiện
trong khuôn viên nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo; trách nhiệm của chính
quyền đối với người nghèo, không nơi nương tựa… nhìn chung là làm giảm chi phí
và mang lại lợi ích cho xã hội nhiều hơn.
Tuy nhiên, quy chế quản lý nghĩa trang, nghĩa địa do tư nhân đầu tư đều phải
trình cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận, nhưng không nói rõ hình thức và dù
nghĩa trang đó chỉ nằm trên địa bàn 01 xã mà cũng phải trình cho tỉnh chấp thuận là
không hợp lý, trong khi quy chế quản lý nghĩa trang do nhà nước đầu tư xây dựng
thì chỉ cần Ủy ban nhân dân cấp tương ứng thỏa thuận. Và Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh còn được trao quyền chấp thuận đối với phương án khai thác kinh doanh, trong
đó có giá dịch vụ nghĩa trang, đối với các nghĩa trang do tư nhân xây dựng. Thủ tục
này sẽ làm tăng chi phí giao dịch đối với tư nhân khi đầu tư xây dựng nghĩa trang,
và do đó là một hạn chế cần khắc phục.
7. Có được xây dựng theo quy trình minh bạch, đảm bảo cơ hội bày tỏ
quan điểm của các bên liên quan không:
Qua tìm hiểu, nhóm nhận thấy quá trình xây dựng Nghị định 35 không đảm
bảo tính minh bạch và sự tham gia của các đối tượng có liên quan, không thực hiện
việc lấy ý kiến các địa phương.
Vấn đề dịch vụ an táng và quản lý đất tại các nghĩa trang, nghĩa địa đã tồn tại
nhiều bất cập trên thực tế trước khi ban hành chính sách. Lẽ ra để phục vụ việc ban
hành chính sách thì nhà nước cần tổ chức kiểm tra việc quản lý các nghĩa trang,
việc sử dụng đất tại đây nhằm đúc kết thực tiễn và khái quát hóa chúng thành quy
định pháp luật thì sẽ có được chính sách tốt hơn. Do đó nhóm nhận thấy Nghị định
35 năm 2008 chưa đảm bảo tiêu chí này.
8. Cân nhắc thiết chế thực thi:
Nghị định 35 đã xác định đây là vấn đề chính sách công của địa phương, bản
thân Nghị định 35 chỉ quy định những nội dung chung, cơ bản nhất, và giao lại rất
nhiều quyền hạn cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định cho phù hợp
với điều kiện cụ thể.
Tuy nhiên khiếm khuyết là hiện có rất ít địa phương có hướng dẫn thi hành
và có những quy định cụ thể phù hợp cho địa phương, hoặc nếu có thì cũng theo
những cách rất khác nhau tại các địa phương khác nhau. Hơn nữa, do Nghị định 35
không thể hiện rõ thông điệp là không được phép mua bán đất nền mộ, do đó có
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
13
tình trạng mỗi địa phương quy định mỗi khác hoặc không có quy định gì về việc
mua bán nền mộ.
Qua tìm hiểu, nhóm nhận thấy có rất nhiều khác biệt trong quy định của các
địa phương, cụ thể như sau:
Địa phương đã
ban hành quy
chế quản lý
Hải Dương:
Tuyên Quang:
Thị xã Bến Tre:
Kon Tum:
Năm ban hành
4315/2006/QĐ-UBND
ngày 14 tháng 12 năm
2006
Trước
nghị
định
35/2008
Đặc trưng
Chiều cao các ngôi mộ không quá
01,5 mét; Độ sâu đào từ 01,5 mét
đến 02,0 mét (tùy theo địa chất nền
đất); không quy định cấm hay
không cấm việc mua bán đất nền
mộ; cũng không quy định cấm việc
mua nền mộ để dành.
33/2007/QĐ-UBND
không có quy định cấm mua bán
ngày 09 tháng 10 năm nền mộ.
2007:
05/2008/QĐ-UBND
không quy định cấm mua bán nền
ngày 25 tháng 9 năm mộ, tuy nhiên không được đăng ký
2008 của UBND thị xã thêm nền mộ để dành hoặc sử dụng
Bến Tre.
vào mục đích khác. Trừ trường hợp
vợ hoặc chồng của người mới chết
có yêu cầu được táng liền kề, phải
có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên hoặc
đang mắc bệnh hiểm nghèo thì
được mua thêm 01 (một) nền mộ
liền kề. Việc xem xét giải quyết
mua thêm nền mộ liền kề để dành
do Uỷ ban nhân dân thị xã Bến Tre
quyết định. Xem đây như là
“khoản tiền hoàn trả chi phí đầu
tư ban đầu”.
59/2009/QĐ-UBND
Chỉ thể chế bằng quyết định giao
16 tháng 11 năm 2009 nhiệm vụ cho các sở, ngành và
của UBND tỉnh Kon UBND các huyện thực hiện các
Tum
công tác quản lý nhà nước về nghĩa
trang, nghĩa địa
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
14
Tây Ninh:
Ban hành kèm theo
Quyết
định
số
09/2010/QĐ-UBND,
ngày 22/3/2009 của
UBND tỉnh Tây Ninh
Quy định về phân cấp quản lý
nghĩa trang trên địa bàn tỉnh Tây
Ninh; không nêu rõ cấm hay không
cấm mua bán nền mộ; không quy
định thủ tục cụ thể để thỏa thuận
quy chế quản lý nghĩa trang tư
nhân, thủ tục để UBND tỉnh chấp
thuận mức phí dịch vụ của nghĩa
trang do tư nhân đầu tư; không có
quy đinh về thủ tục cho phép táng
tại các cơ sở thờ tự, tôn giáo.
Hà Nội:
Ban hành kèm theo
Quyết
định
số
14/2010/QĐ-UBND
ngày ngày 16 tháng 04
năm 2010 của Chủ tịch
UBND TP Hà Nội
nghiêm cấm các hành vi khác
như mua bán, chuyển nhượng đất
trong nghĩa trang dưới mọi hình
thức. Không được giao đất mai
táng cho các đối tượng để dành, trừ
những trường hợp sau:
a) Người từ 70 tuổi trở lên;
b) Người đang mắc bệnh hiểm
nghèo không thể chữa trị;
c) Người từ 60 tuổi trở lên có vợ
hoặc chồng đã được mai táng trong
nghĩa trang thì được đặt trước một
vị trí táng cùng nghĩa trang.
Ngoài ra còn quy định xử lý các
nghĩa trang dòng họ nằm ngoài quy
hoạch, các mộ rải rác.
Như vậy ở đây có khiếm khuyết trong việc triển khai thực thi đến các địa
phương. Quy định tại Nghị định 35 năm 2008 không mang lại được sự thống nhất
về khung ban hành của các địa phương, không quy định trách nhiệm thực thi trong
hạn định về thời gian nhằm đảm báo chính sách được triển khai đều khắp trên
phạm vi cả nước. Cũng do thiết chế thực thi là chưa bảo đảm nên kể từ sau khi có
Nghị định 35 đến nay vẫn còn hiện tượng mua bán đất nền mộ tại các đô thị lớn, và
rất nhiều địa phương chưa ban hành quy chế của mình.
9. Hình thức thể hiện và ngôn ngữ:
Nghị định 35 cơ bản đảm bảo hình thức thể hiện và ngôn ngữ diễn đạt. Tuy
nhiên ở phạm vi điều chỉnh có vấn đề là Nghị định không điều chỉnh nghĩa trang
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
15
liệt sĩ và nghĩa trang quốc gia, nhưng vẫn đưa 02 nội dung này vào định nghĩa và
phần quản lý nhà nước là chưa hợp lý. Ngoài ra, như đề cập ở trên, nội dung cấm
mua bán nền đất mộ thể hiện không rõ ràng.
III. Kết luận, kiến nghị:
Từ những quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực dịch vụ an táng và
quản lý đất nghĩa trang, nghĩa địa, sau khi sử dụng các tiêu chí tại phần II để phân
tích rõ những hạn chế của pháp luật trong lĩnh vực, nhóm nghiên cứu đi đến kết
luận rằng:
Nghị định 35 năm 2008 ban hành đã ghi nhận và giải quyết được cơ bản vấn
đề trách nhiệm cung cấp dịch vụ công thiết yếu của người dân, đó là dịch vụ an
táng, trong đó có quản lý đất đai dùng cho việc an táng. Cùng với các quy định
pháp luật liên quan như Luật Đất đai năm 2003, các quy định của Bộ Xây dựng,
Nghị định 53 là thiết lập khung pháp lý khá tốt cho việc cung ứng dịch vụ an táng
và quản lý nhà nước đối với đất nghĩa trang, nghĩa địa, góp phần sửa chữa các thất
bại thị trường và đảm bảo dịch vụ công cho người dân.
Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần đánh giá, do thiết chế thực thi chưa tốt
cùng với một số quy định còn chưa rõ có thể gây tăng chi phí giao dịch cho các
bên, và ảnh hưởng đến quỹ đất, được xem là tài nguyên thiết yếu của quốc gia,
nhóm đề xuất một số nội dung sau nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này:
1. Hình thức hoàn thiện pháp luật:
Nhóm đề xuất cần ban hành một Nghị định nhằm sửa đổi, bổ sung Nghị định
số 35 năm 2008 của chính phủ. Đồng thời ban hành một Nghị định riêng quy định
việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và sử dụng nghĩa trang,
nghĩa địa.
2. Các nội dung cần hoàn thiện:
- Ban hành Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý
và sử dụng nghĩa trang, nghĩa địa.
- Xây dựng quy chế mẫu về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang với
khung nhất định về nội dung buộc Ủy ban nhân dân các cấp khi ban hành quy chế
trên địa bàn phải đảm bảo khung nội dung cơ bản này. Điều này nhằm đảm bảo tính
thống nhất đối với những vấn đề cơ bản, triển khai đồng bộ.
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
16
- Bổ sung quy định cấm việc chuyển mục đích sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa
địa đã được nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất cho các tổ chức tư nhân xây
dựng nghĩa trang, ngoại trừ trường hợp nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các mục
đích an ninh quốc phòng, công cộng theo quy định pháp luật.
- Bổ sung điều khoản nêu rõ: cấm việc mua bán, chuyển nhượng nền đất mộ
trong nghĩa trang, nghĩa địa.
- Bỏ quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy chế hoạt động và
phương án kinh doanh đối với các nghĩa trang tư nhân, chỉ nên quy định các doanh
nghiệp trước khi hoạt động phải gửi quy chế hoạt động và phương án kinh doanh
đã được doanh nghiệp phê duyệt cho cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn là đủ.
Và các cơ quan chức năng cần phát huy công tác hậu kiểm để xử phạt theo quy
định pháp luật./.
BÁO CÁO CUỐI CÙNG ĐỀ ÁN MÔN HỌC
LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
17
Tài liệu tham khảo
1. Phạm Duy Nghĩa (2010): “Luật và Chính sách công: Một góc nhìn từ quản
trị quốc gia”, chương IV “Dịch chính sách thành luật: quy trình lập pháp”.
2. Tổng hợp từ OECD (2007): “Xây dựng khung khổ thực hiện RIA: các
công cụ phân tích cho các nhà hoạch định chính sách”.
3. Fukuyama (2010): Những mảng thiếu hụt của tính nhà nước.
4. Luật Đất đai năm 2003; Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;
5. Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 19/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật
Đất đai năm 2003; Nghị định số 35/2008/NĐ-CP ngày ngày 23/5/2008 về hoạt
động xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang trên lãnh thổ Việt Nam.
6. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7956: 2008 - Nghĩa trang đô thị, Tiêu chuẩn
thiết kế (ban hành kèm theo Quyết định số 2934/QĐ-BKHCN ngày 30/12/2008 của
Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ).